The second coming of Jesus Christ. L’Avènement de Jésus Christ.
I. Chứng cớ chắc chắn.– Vấn đề Chúa Jêsus Christ tái lâm không phải là thuyết lý mới trong Hội Thánh, song suốt cả Kinh Thánh đều nói đến. Điều đó được tỏ cách rõ ràng và đơn sơ trong những phần sau nầy: khi Chúa vừa thăng thiên, hai thiên sứ làm chứng: “Jêsus nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy” (Công 1:11). Hêb 9:28 chứng nữa: “Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.” Vấn đề nầy nói đến hơn 300 lần trong Tân Ước, trung bình một trong 25 câu. Dầu vậy, có người chỉ trích biến động nầy, cho là không cần thiết và không được kể đến trong chương trình Đức Chúa Trời; song thái độ chính người đó là một chứng cớ cho thấy Đấng Christ chắc trở lại, vì trong IIPhi 3:3-5a chép: “Trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê… nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu?” vì… muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.” Kinh Thánh tỏ ra chắc chắn Đấng Christ trở lại bằng ba cách: a) Như thấy ở trong Công 1:11 và Hêb 9:28, Kinh Thánh cũng có nhiều câu chép trực tiếp về Đấng Christ tái lâm. b) Cựu Ước mô tả hai bức tranh về sự Đấng Mê-si đến: (1) Như Đấng đau khổ, khiêm nhường, tự hạ, bịnh khinh dể, là “Đầy tớ của Đức Giê-hô-va” tự dâng mình hầu việc, và làm của lễ như thấy trong Thi 22:1-; 69:1-; Ês 53:1-. (2) Như một Vua, có nhân cách oai nghi, quyền phép và uy thế, bắt phục những kẻ phu tù của Ngài và của dân Ngài như thấy trong Thi 2:1-; 45:1-; 72:1-; Ês 11:1-. Chỉ có một trong hai bức tranh được ứng nghiệm khi Chúa giáng sanh; nên hãy “tìm cho biết thời kỳ nào, … về sự vinh hiển sẽ theo sau” (IIPhi 1:10, 11), tức bức tranh thứ hai về sự Đấng Christ tái lâm sẽ được ứng nghiệm. c) Suốt cả Kinh Thánh, có nhiều câu liên lạc hai sự giáng lâm Đấng Christ như những vòng xích. Đây, xin lấy những câu tương hiệp với nhau, theo phần c nầy, để bày tỏ chứng cớ chắc chắn về Đấng Christ tái lâm.
1. Gót chân của dòng dõi người nữ và đầu con rắn (Sáng 3:15). Khi Đấng Christ giáng thế thì đã làm ứng nghiệm phần dưới lời tiên tri thứ nhứt trong Kinh Thánh nầy, tức Sa-tan đã làm gót chơn Ngài đau thương ở Chỗ Sọ (đồi Gô-gô-tha). Khi ngài tái lâm thì sẽ giày đạp đầu con rắn (IITê 2:8). Cả tấn thảm kịch đó được mô tả trong Khải 12:1 đến 20:3.
2. Ca-in và A-bên; Hê-nóc và Nô-ê (Sáng 4:1–6:1-). Truyện Ca-in và A-bên làm hình bóng về Đấng Christ giáng thế, vì A-bên chỉ về Đấng đổ huyết “huyết nói tốt hơn của A-bên” (Hêb 11:4; 12:24); còn Ca-in chỉ về những kẻ ghét Ngài vô cớ đến nỗi giết Ngài (Thi 35:19; 69:4; Giăng 15:25). Hê-nóc và Nô-ê là kiểu mẫu về những tín đồ, khi Chúa tái lâm, được cất lên với Ngài và thoát khỏi cơn giận của Đức Chúa Trời (Mat 24:37; Giu 14).
3. Chúa Con bị chối bỏ và trị vì (Thi 2:1-). Sứ đồ Phi-e-rơ trích lại hai câu đầu vì được ứng nghiệm nơi thập tự (Công 4:25-28), là khi “Hê-rốt và Bôn-xơ-Phi-lát, với các dân ngoại, cùng dân Y-sơ-ra-ên thật đã nhóm họp tại thành nầy đặng nghịch cùng Đầy tớ thánh Ngài là Chúa Jêsus… để làm mọi việc tay Ngài và ý Ngài đã định trước.” Thi 2:6-9 đòi Ngài phải tái lâm để được ứng nghiệm, như Khải 19:15 chép Ngài sẽ “cai trị họ bằng một cây gậy sắt.”
4. Sự đau thương và vinh hiển của Chúa Con (Thi 22:1-; 23:1-; 24:1-). Thi 22:1- tả tỉ mỉ sự thương khó của Ngài trên thập tự; Thi 23:1- tả Đấng Christ hằng sống, đã sống lại, mà được vinh hiển, là “Đấng Chăn chiên Lớn” (Hêb 13:20, 21) đang yêu thương và nuôi dưỡng các chiên. Thi 24:1- dự ngôn về Chúa lấy quyền năng và vinh hiển mà tái lâm; “kìa, mọi mắt sẽ trông thấy” Ngài trên đất lần nữa (Khải 1:7), “khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra” (IIPhi 5:4). Cả ba Thi-thiên nầy mô tả chức Tiên tri, Thầy Tế lễ, và Vua của Ngài.
5. “Năm” ban ơn và “Ngày” báo thù. (Ês 61:1, 2). Câu 1 và 2a đã được ứng nghiệm khi Ngài giáng thế, và Ngài đọc trong nhà hội tại Na-xa-rét (Lu 4:17-21), hoặc về phần tâm thần hoặc về phần chức vụ Ngài. Song khi đọc đến “năm ban ơn của Đức Giê-hô-va” thì Ngài ngừng lại giữa câu, vì năm ban ơn đó cứ tiếp. Nhưng khi Ngài tái lâm, ta sẽ đến những lời tiếp theo mà Chúa không đọc đến, tức “Ngày báo thù của Đức Chúa Trời” là “Ngày thạnh nộ” Đức Chúa Trời là cơn đại nạn.
6. Chúa Jêsus dự ngôn về sự thương khó và vinh hiển (Mat 16:21-27). Lần thứ nhứt Ngài đến thì phán với các môn đồ kết cuộc Ngài phải đau khổ và phải chết (câu 21), còn về phần các môn đồ phải được hoạt động bởi đồng một tâm thần với Ngài để dâng mình làm của lễ (câu 24-26). Sau câu 27, Ngài dẫn các môn đồ đến hy vọng về Chúa lấy vinh hiển mà tái lâm “để thưởng cho từng người tùy việc họ làm.” Trong câu 28 và đoạn sau cũng dùng sự hóa hình làm bức tranh về sự tái lâm vinh hiển của Ngài (IIPhi 1:16-18). Mat 23:37-39 cũng chỉ về hai sự giáng lâm của Ngài: Vì dầu Giê-ru-sa-lem làm cho Ngài than phiền vì chối bỏ Ngài (câu 37, 38), nhưng Ngài trông đợi ngày họ sẽ nói rằng: “Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!” (39) là ngày Chúa tái lâm.
7. Tiệc Thánh (ICôr 11:23-26). Tín đồ giữ lễ Tiệc Thánh nầy thì “nhớ” đến Ngài (câu 23-25) và bởi thế “thì rao sự chết của Chúa” (26a), song trông đợi sự tái lâm Ngài khi đọc “cho tới lúc Ngài đến” (26b). Vậy, tín đồ trở nên một vòng xích liên lạc hai sự giáng lâm Chúa.
8. Những việc Thầy tế lễ thượng phẩm (Hêb 9:24-28). Đây, tả vẽ ba sự hiện đến của Ngài: Thời quá khứ trên đất (câu 26); thời hiện tại trên trời (câu 24); thời tương lai trên đất (câu 28). Đó là những việc của Thầy tế lễ thượng phẩm để làm trọn sự cứu chuộc cho dân sự, như hình bóng trong ngày lễ Chuộc tội (Lê 16:1-).
–Sự hiện đến lần thứ nhứt.Thầy tế lễ thượng phẩm ra ngoài đến nơi bàn thờ làm lễ đã chỉ định. Kế đó thì lấy huyết vào nơi chí thánh, trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Thầy tế lễ thượng phẩm dâng huyết chuộc tội thế cho dân sự. Trong lúc đó, dân sự đứng ở ngoài chờ đợi cách mong mỏi. –Sự hiện đến lần thứ hai. Khi thầy tế lễ đi ra, dân sự thỏa lòng vì biết phép chuộc tội đã làm xong. Thái độ tín đồ đời Tân Ước cũng nên như thế. Xem Hêb 9:28.
9. Lời chứng kết luận (Khải 21:1–22:1-). Trong lời chép sau cùng của Kinh Thánh, hai sự giáng lâm tả vẽ một cách lạ lùng đáng chú ý. Về Chúa đến lần thứ nhứt, thì danh từ “Chiên Con” Chúa dùng bảy lần trong Khải 21:9, 14, 22, 23, 27; 22:1, 3), điều đó khiến ta chú ý về sự Ngài chết chuộc tội. Song về sự Chúa đến lần thứ hai cũng được chép ba lần trong Khải 22:7 “kìa, ta đến mau chóng;” 22:12, “Nầy, ta đến mau chóng:” và 22:20, “Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: phải ta đến mau chóng.” Bởi đó lời cầu nguyện của tác giả là: “A-men, lạy Đức Chúa Jêsus xin hãy đến.”
II. Mục đích.– Kinh Thánh quyết rằng chỉ có sự tái lâm của Đấng Christ mới giải quyết được các vấn đề khó của thế gian, và loài người ngoài Đức Chúa Trời thì không thể nào làm trọn những dự định của mình. Những ý sau đây luận đến mục đích của sự tái lâm Ngài, và mọi điều sẽ được nên trọn lúc đó.
1. Sự tái lâm Ngài sẽ kết liễu Thời đại hiện tại, là thời đại khởi sự với sự giáng sanh Ngài.– Thời đại hiện nay chỉ là một trong những thời kỳ nối tiếp nhau. Nhiều nhà tư tưởng cho rằng ý nghĩa sâu nhiệm của lịch sử chỉ là những biến động nối tiếp nhau. Có một khoa triết lý về Sử ký đòi hỏi phải thấu hiểu những duyên cớ để làm chìa khóa giải nghĩa những biến động đó. Vậy, Kinh Thánh tỏ ra Đức Chúa Trời đối đãi thế nào với loài người trong bảy thời đại nối tiếp nhau: a) Thời đại vô tội (Sáng 1:26-3:24).
b) Lương tâm (Sáng 3:22-8:14). c) Quyền hành chính (Sáng 8:15-11:26). d) Lời hứa cho tổ phụ (Sáng 11:27-Xuất Ê- díp-tô Ký 19:8). đ) Luật pháp (Xuất 19:8-Công 2:1-). e) Ân điển (Công 2:1–Khải 3:22). ê) Nước (Khải Huyền, đến đời đời; ICôr 15:24-28).
Giới hạn thời đại này được chỉ dẫn trong Kinh Thánh bởi lời “cho đến, ” như trong ICôr 11:26 và Êph 1:14. Cũng vậy, cuối cùng của thời đại luật pháp Môi-se được chỉ dẫn bởi lời “cho đến” trong Hêb 9:10.
Chúa Jêsus gọi cuối cùng của thời đại nầy là “Mùa gặt.” Trong thời nầy, có hai thứ hột giống phải mọc lên với nhau cho đến kỳ mùa gặt, và đến hết thời đó mới được phân rẽ (Mat 13:39 so 12:30; Khải 14:14-16).
2. Sự tái lâm Ngài liên quan về các hạng người trong xã hội.– Kinh Thánh phân chia xã hội làm ba phần: người Do-thái; các Dân ngoại; Hội Thánh. Xem ICôr 10:32 chỉ về cả ba; và Công 15:14 chỉ về Hội Thánh, 15:16 Y-sơ-ra-ên, và 17:18 các Dân ngoại.
1. Hội Thánh.– Về thời kỳ Hội Thánh cũng dùng lời: “cho đến” (Rô 11:25). a) Đấng Christ sẽ đến để cất Hội Thánh lên với Ngài, ngay lúc đó có sự biến hóa trên thân thể các tín đồ: tín đồ nào ngủ trong Chúa, thân thể sẽ được sống lại không hay hư nát; còn tín đồ đang sống, thân thể sẽ biến hóa giống như thân thể vinh hiển của Ngài (ICôr 15:25; ITê 4:13-18; ICôr 15:51-53; Phil 3:20, 21). b) Đấng Christ tái lâm xét đoán công việc tín đồ cốt để thưởng cho tùy theo việc thiện hay ác đã làm lúc còn trong xác thịt (Khải 22:12; IICôr 5:10; Mat 16:27; Lu 14:14; ICôr 4:5; IITi 4:6-8). c) Ngài sẽ xưng Hội Thánh là Tân phụ mình (Mat 25:6; Khải 19:7-9); vì Tân phụ có phần với Tân lang về danh, cơ nghiệp, và vinh hiển, nên chắc chắn sẽ đồng trị với Ngài (Khải 3:21; 20:6).
2. Y-sơ-ra-ên.– Đối với sự Chúa tái lâm, cũng có chép hai lần “cho đến” về phần Y-sơ-ra-ên (Mat 23:39; Lu 21:24). a) Khi Đấng Christ tái lâm, dân Y-sơ-ra-ên sẽ phục hưng phần thuộc linh. Vì lần thứ nhứt Đấng Mê-si đến, “dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, ” nhưng bấy giờ Đấng Mê-si sẽ đến từ Si-ôn cất sự vô đạo ra khỏi họ (Rô 11:25, 26). b) Y-sơ-ra-ên sẽ được lập lại thành dân tộc. Đấng tiên tri Ê-sai vui mừng chờ đợi ngày đắc thắng đó (Ês 62:1-7).
Xa-cha-ri mô tả dân Y-sơ-ra-ên lúc cuối cơn Đại nạn, đang cầu xin một Đấng Giải cứu, và Chúa nhờ dịp đó để phán: “Họ sẽ nhìn xem Ta là Đấng họ đã đâm” (Xa 14:1-5 với 12:10). A-mốt mô tả một bức tranh vinh hiển và phước lành khi Y-sơ-ra-ên được lập lại thành một dân tộc (Am 9:11-15 so Công 15:14).
Nên chú ý, sự tái lâm của Chúa chia làm hai phần: trước là vì Hội Thánh, sau là vì Y-sơ-ra-ên.
3. Các dân ngoại.– a) Các dân ngoại cứ hành động “cho đến” kỳ Chúa tái lâm, song lúc đó sẽ bị đoán xét. Nên chú ý về lời “cho đến” như chép trong Đa 2:34 tt; 7:9 tt, 7:25 tt vì Lời Chúa tỏ ra thời kỳ chính phủ các dân ngoại có giới hạn. Các dân ngoại là cơ nghiệp Ngài (Thi 2:8). Vì họ không chịu phục Ngài cai trị bởi đạo Tin lành, nên Đức Chúa Trời đã bảo Ngài phải dùng phương pháp khác – tức bằng võ lực. Xem Thi 2:8.9. b) Chính Đấng Christ tái lâm để cai trị thế cho họ. Xem Đa 2:1-; 7:1-, v.v. c) Khi tái lâm, Ngài sẽ đem ơn phước thuộc linh cho mọi dân (Xa 14:16).
4. Sự tái lâm của Ngài là kỳ muôn vật đổi mới khỏi sự rủa sả.– Xem Công 3:19-21, và chú ý lời “cho đến” lần nữa. Ấy là lúc Chúa hiện ra cách tỏ tường (Mat 24:30; IITê 2:8). a) Lúc tái lâm, Chúa hiện ra để trừ diệt quỉ Sa-tan và sự chết (ICôr 15:26). Để diệt sự chết, Ngài phải “bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ” (Hêb 2:14). Điều đó đã bắt đầu từ nơi thập tự (Giăng 12:31), sẽ kết liễu trong sự Khải thị và nước Ngài (Khải 19:20, 21; 20:1-3, 10, 14). b) Ngài tái lâm để cất sự rủa sả khỏi muôn vật (Rô 8:19-22). c) Ngài tái lâm để đem lại sự trị vì công bình, vinh hiển, bình an và thịnh vượng (Ês 11:1-10) câu 1-5 tỏ ra một Vua công bình; câu 6-9, muôn vật được lập lại; câu 10, cả dân Do-thái và dân ngoại được lãnh phước như nhau. Bởi vậy, theo Kinh Thánh, Đấng Mê-si được gọi là “Cây gậy” và “Gốc” của Y-sai sẽ thật nhận lấy sự vinh hiển đã hứa lúc Ngài mới giáng sanh (Lu 1:32, 33).
III. Những điều đáng chú ý.– Nguyên văn Tân Ước dùng ba tiếng Hy-lạp để mô tả sự tái lâm của Đấng Christ: “parousia” sự hiện diện của Ngài; “apokalypse” sự khải thị của Ngài; “epiphany, ” sự hiện đến của Ngài. Khi nghiên cứu các khúc Kinh Thánh dùng ba tiếng đó và mấy tiếng khác, thì thấy những điều đáng chú ý về sự tái lâm của Ngài như sau:
1. Sự tái lâm của Ngài xảy ra thình lình và bất ngờ.– Mat 24:1- mô tả parousia của Đấng Christ như: “chớp nhoáng”… thình lình thấy rõ, và lan khắp cả. Không ai ngờ, vì giống như nước lụt đời Nô-ê. Giữa những việc thường làm hằng ngày, người ta ăn uống, cưới gả, cho đến nước lụt tới và họ chết hết thảy, chỉ trừ mấy người đã vào tàu với Nô-ê. Cũng vậy, trong Lu 17:1- apokalypse của Đấng Christ được phát họa: “nhanh như chớp” để dẫn “Ngày của Con người” đến. Ngày đó sẽ giống ngày của Nô-ê và Lót, vì đem sự phán xét cho những người ở ngoài tàu và những người ở Sô-đôm, nhưng đem sự yên ổn cho những người ở với Nô-ê và Lót.
2. Sự tái lâm của Ngài theo đúng Chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.– (ICôr 15:22-24). “Như trong A-đam, mọi người đều chết, … trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại, nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình.” Người thứ nhứt trong cuộc đắc thắng khải hoàn lớn là Đấng Christ sống lại sau khi bị đóng đinh; sau đó, đến những người hội họp với Đấng Christ là những người dự phần với sự đắc thắng Ngài khi tái lâm (parousia); cuối cùng đến phần chót cuộc khải hoàn là “lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha.”
Những mục đích của Đức Chúa Trời dần dần được làm trọn trải qua các đời. Muôn vật thảy đều sẽ phục Ngài lần nữa, và kẻ thù cuối cùng bị diệt là chính sự chết (ICôr 15:26).
3. Sự tái lâm của Ngài là lúc mọi thánh đồ sẽ nhóm họp trước mặt Ngài.– Dường như có hai phần trong sự nhóm họp đó: (1) Các thánh đồ được cất lên đến sự hiện diện Ngài lúc tái lâm (ITê 2:19) (2) Các thánh đồ được Đấng Christ giới thiệu với Đức Chúa Trời là Cha (ITê 3:13).
Những tiểu tiết về sự nhóm họp lớn đó được tả rất linh động trong ITê 4:13-18 và ICôr 15:51-58. Sẽ có tiếng hô lớn truyền lịnh bởi chính Chúa; tiếng của thiên sứ trưởng; tiếng kèn của Đức Chúa Trời. Bấy giờ Chúa từ trời xuống; thân thể các thánh đồ đều sống lại; các tín đồ còn sống trên đất sẽ được biến hóa, và hết cả đều được cất lên trong đám mây để gặp Chúa nơi không trung. Ấy sẽ là Hội Thánh rất lớn trong lịch sử, và dân sự Đức Chúa Trời sẽ ở với Ngài mãi mãi. Một hy vọng như thế vẫn giục lòng tín đồ khỏi sờn ngã, nên Kinh Thánh khuyên “anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.”
4. Sự tái lâm của Ngài thúc giục tín đồ hãy hoàn toàn nên thánh.– Lời cầu nguyện Phao-lô cho các tín đồ hội Tê-sa-lô-ni-ca được “nên thánh trọn vẹn” là nhờ hy vọng “anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ đến.” (ITê 5:23, 24 so ITê 3:13; ICôr 1:8; IGiăng 3:3).
Thánh Giăng cũng viết trong câu sau cùng có dùng “parousia” trong Kinh Thánh. “Hãy ở trong Ngài, hầu cho, nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài trong kỳ Ngài ngự đến” (I Giăng 2:28). Vậy, ta biết phải cần một lời đắc thắng: Cứ ở trong Ngài, để được đứng vững trước mặt Đấng Christ khi Ngài tái lâm.
5. Sự tái lâm của Ngài sẽ vinh hiển.– Trong các thơ gởi cho Ti-mô-thê và Tít, Phao-lô dùng “epiphany” để tả vẽ sự tái lâm của Chúa. Điều nầy gợi ý về sự sáng láng và vinh hiển khi Ngài đến. Trong các thơ nầy, Phao-lô nói về ba cục diện đặc biệt về sự tái lâm:
a) Ngài đến như Đấng Cứu thế.– (IITi 1:9, 10). Hai câu nầy chỉ về Đấng Christ giáng thế để đem sự sống và sự không hề chết được chiếu sáng bởi Tin lành. Tin lành vinh hiển nầy của ân điển Đức Chúa Trời và của sự sống đời đời phải được rao để làm chứng cho muôn dân trước khi Ngài tái lâm (Mat 24:14).
b) Ngài đến như Đấng đoán xét.– (IITi 4:1-8). Nhiều câu Kinh Thánh chép về Tòa án Đấng Christ, là nơi các tín đồ sẽ chịu đoán xét để nhận lời khen và phần thưởng (IICôr 5:10; Mat 16:27; Gia 1:12; IIPhi 5:4; ITê 2:19; Khải 2:10). Điều nầy khác hẳn với sự phán xét người không được cứu trước Tòa án trắng (Khải 20:11-15).
c) Ngài đến như vua (IITi 4:1). “Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề danh là: VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA” (Khải 19:16). Trong ITi 6:14, Phao-lô kết thúc lời khuyên Ti-mô-thê cách nghiêm trang như sau: “Ta khuyên con, trước mặt Đức Chúa Trời… và trước mặt Đấng Christ, … con phải giữ điều răn nầy, không vết tích, không chỗ trách được, cho đến kỳ hiện ra (epiphany) của Chúa Jêsus Christ.”
IV. Những điều liên quan với sự tái lâm của Chúa.– Đối với tín đồ, biến động chính khi Chúa tái lâm là sự sống lại của thánh đồ và sự nhóm hiệp chung của hết thảy tín đồ với Chúa ở nơi khoảng không. Điều đó được tỏ rõ trong ITê 4:13-18 và ICôr 15:22, 23. Khi nghiên cứu các câu Tân Ước về sự tái lâm của Chúa, ta thấy có những điềm báo hiệu liên quan với sự tái lâm của Ngài như sau:
1. Thời bội đạo.– (IITê 2:3). Thơ thứ nhất Phao-lô gởi cho Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca cốt để cho họ biết về việc Chúa tái lâm và sự nhóm họp chung hết thảy tín đồ với Ngài. Nhưng tín đồ Tê-sa-lô-ni-ca có ý lẫn lộn về vấn đề nầy, vì lúc bấy giờ họ đang ở giữa cơn bắt bớ dữ dội, nên họ tưởng rằng thời kỳ Đại nạn và cơn Thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã tới. Bởi đó, trong thơ thứ hai, Phao-lô cải chính ý sai lầm đó, và nhắc lại cho họ biết: đối với các tín đồ, sự tái lâm của Chúa nghĩa là “chúng ta hội hiệp với Ngài” (IITê 2:1). Ngày của Chúa tức ngày phán xét và thạnh nộ của Đức Chúa Trời, không thể bắt đầu trước khi Đấng Christ chưa hiện đến và cất dân Ngài khỏi cảnh tượng thạnh nộ và phán xét đó. Nhiều điều khác cũng phải xảy ra trước khi sự tái lâm của Ngài tỏ ra cơn giận của Đức Chúa Trời nghịch cùng mọi quyền lực của sự dữ; trước hết là cơn bội đạo. Điều đó chưa xảy đến trong thời của Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca lúc bấy giờ. Nhưng dân sự Ngài trên đất ngày nay biết kỳ bội đạo đó đã bắt đầu rồi. Bổn phận tín đồ phải biệt mình riêng ra khỏi sự bội đạo đó trong sự hầu việc Đấng Christ, và hết sức truyền lẽ thật của Tin lành ra khắp thế gian. Tuy vậy, ngày nay ta thấy phần đông Hội Thánh chung đang ở trong sự sai lầm và sự bội đạo.
2. Đấng Ngăn trở sẽ lui khỏi công việc loài người (IITê 2:7). Về một mặt, câu nầy chỉ về quyền phép ngăn trở của Đức Thánh Linh trong công việc quốc gia và tôn giáo. Trong mỗi thời đại, Ngài đã ngăn cản sự hành động trái luật pháp mà Sa-tan đã định để dọn đường cho Antichrist, tức kẻ nghịch cùng luật pháp. Chương trình Đức Chúa Trời về sự nhóm họp từ các nước một dân biệt riêng cho danh Ngài phải được hoàn thành; Tin lành phải được giảng khắp thế gian; sau đó Đấng Ngăn trở “cần phải cất đi” (Công 15:14; Mat 24:14).
3. Người tội ác sẽ hiện ra (IITê 2:3). Nên chú ý, theo IITê 2:1-, hai sự hiện đến và hành động của Antichrist được tả vẽ như sự hiện đến (parousia) và sự khải thị (apokalypse), là hai tiếng Hy-lạp cũng dùng để tả sự tái lâm của Đấng Christ. Nhiều khúc Kinh Thánh trong Cựu Ước và Tân Ước tả vẽ rất tỉ mỉ công việc của kẻ hủy diệt đó (Êxê 28:1-10; Đa 7:8; 9:24-27; 11:36-45; IITê 2:1-12; Khải 13:3-10; 19:20; 28:10).
4. Cơn Đại nạn.– Antichrist hiện ra sẽ dẫn đến cơn Đại nạn; IITê 2:4 chép về Antichrist: “Kẻ đối địch tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời, hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong Đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.” Trong Mat 24:15, Chúa bảo khi nào “thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi Chí thánh, ” bấy giờ sẽ có cơn Đại nạn. Đây là thời kỳ Đại nạn, nhứt là cho người Do-thái (Đa 12:1). “Ấy là kỳ tai hại của Gia-cốp” (Giê 30:7). Nhưng kết quả cơn đại nạn sẽ rải khắp thế gian.
5. Ngày của Chúa.– (Mat 24:29, 30). Ngày này có trưng dẫn nhiều lần trong Cựu Ước. Khi Chúa tái lâm, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng điều ác và kẻ làm ác sẽ được tỏ ra, để chuẩn bị cho việc lập nước và quyền cai trị của Ngài trên mọi dân tộc (Ês 11:1-16; 12:1-6; 24:22-27:13; 35:1-10, v.v.).
Trong Tân Ước chép về Ngày của Chúa như là sự ngự đến (epiphany) của sự hiện diện (parousia) Đấng Christ (IITê 2:8), để phản kháng “người tội ác.” Cũng được mô tả như là sự khải thị (apokalypse) của Ngài từ trời, “với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời và không vâng phục Tin lành của Chúa Jêsus Christ” (IITê 1:7).
6. Cơn phục hưng, đổi mới.– (Công 15:16). Kinh Thánh dự ngôn rõ về sự giải cứu và lập lại nhiều dân tộc, kể cả người Do-thái, khi Đấng Christ tái lâm. Ngôi Nước cùng sự trị vì của Ngài sẽ đem sự giải cứu và phước lành cho hết thảy. Muôn vật đang chờ đợi Ngài đến (Rô 8:19).
7. Sự cất dân Đức Chúa Trời lên.– Ta dành đến phần cuối cùng nầy để luận đến sự cất các tín đồ (Anh: Rapture), hoặc đang ngủ hoặc còn sống, đều lên hội hiệp với Đấng Christ nơi không trung lúc Ngài tái lâm, dầu thật ra, ấy là bước thứ nhứt, lúc Ngài tái lâm. Khi nào sự nầy xảy đến? Có phải là khi Đấng Ngăn trở cần phải cất đi không? (IITê 2:7). Có giống Hê-nóc trước nước lụt không? Hay là Lu 17:37 có nói đến “xác chết ở đâu, chim ó nhóm tại đó, ” tức ở giữa cơn đại nạn chăng? Kinh Thánh không chép đúng lúc nào sự cất lên sẽ xảy ra, song ta có thể chắc chắn về mấy điều sau nầy:
a) Dân Đức Chúa Trời sẽ thoát khỏi cơn thạnh nộ của Chúa tỏ ra nghịch cùng những kẻ thù nghịch Ngài lúc Ngài đến. Đúng như Nô-ê và Lót đã thoát khỏi, thì Chúa cũng khuyên chúng ta nên cầu nguyện để được tránh khỏi. Lời Đức Chúa Trời hứa là chắc chắn cho những người “ở trong Đấng Christ” (Lu 21:36; Khải 3:10; ITê 1:10; 5:9).
b) Ta biết rằng Chúa muốn nhóm hiệp vừa khi mùa gặt đã sẵn sàng, “Vậy, hỡi anh em, hãy nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến. Hãy nhìn xem kẻ làm ruộng: họ bền lòng chờ đợi sản vật quí báu dưới đất cho đến chừng nào đã được mưa đầu mùa và cuối mùa” (Gia 5:7-9). Đây là lời hứa về “mưa”, điều nầy bày tỏ rằng có lời hứa quyền phép và sự phục hưng cho các tôi tớ Ngài, dầu sự tái lâm Ngài hoãn lại bao lâu cũng không hề gì.
c) Chúa khuyên chúng ta phải chuẩn bị và tỉnh thức (Mat 21:42) kẻo sự tái lâm xảy ra lúc bất ngờ. Đức Chúa Trời mong rằng các đầy tớ Ngài đang hết lòng hầu việc Ngài lúc Chúa tái lâm (so Lu 19:13).
Bất cứ trật tự các biến động về Chúa tái lâm xảy ra thế nào, ta biết Chúa sẽ đem ân điển và sự vinh hiển cho dân Đức Chúa Trời (IIPhi 1:13; 4:13; 5:1). Như sự Đấng Christ hóa hình trên núi, sự tái lâm cũng tỏ ra quyền phép Ngài như vậy (IIPhi 1:16). Đó sẽ là thời kỳ các con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra (Rô 8:18, 19); và mọi công việc chúng ta sẽ được thử bởi lửa (ICôr 3:13). Vậy, đối với hết thảy tín đồ yêu mến sự hiện ra của Đấng Christ (epiphany), thì sự tái lâm của Ngài chính là “sự trông cậy hạnh phước, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Chúa Jêsus Christ” (Tít 2:13).
Tiến sĩ Scofield chú thích về sự tái lâm Đấng Christ như sau nầy:
Ês 42:1.– Điều chép ở đây về Đầy tớ Chúa sẽ đến, có hai phương diện: (1) Đầy tớ đó được mô tả là yếu đuối, bị khinh dể, bị chán bỏ, và bị giết; (2) và cũng là người chinh phục, đầy quyền năng, báo thù các dân tộc và lập lại Y-sơ-ra-ên (như 40:10; 63:1-4). Các đoạn mô tả mặt thứ nhứt liên quan với sự Ngài đến lần thứ nhứt, và đã được ứng nghiệm; mặt thứ nhì liên quan với sự tái lâm của Ngài, và chưa được ứng nghiệm.
ICôr 1:7.– Có ba lời được dùng về sự tái lâm Chúa: (1)– Parousia “sự hiện diện đích thân.” Phao-lô cũng dùng chỉ về Sê-pha-na “đến” (ICôr 16:17), về Tít (IICôr 7:6, 7), và về “sự đến” của chính Phao-lô với Hội Thánh Phi-líp (Phil 1:26). Lời đó chỉ có nghĩa về sự hiện diện của người, và dùng về sự tái lâm của Chúa vì biến động đó liên quan tới phước lành của các thánh đồ (ICôr 15:23; ITê 4:14, 17), và sự hủy diệt “người tội ác” (IITê 2:8). (2)– Apokalupsis, “cất màn cho lộ ra”, “khải thị.” Lối dùng lời đó chú trọng về sự mắt thấy Chúa trở lại. Chữ đó dùng về Chúa (IITê 1:7; IIPhi 1:7, 13; 4:13); về các con cái Đức Chúa Trời liên quan với việc Chúa tái lâm (Rô 8:19), và về người tội ác (IITê 2:3, 6, 8), và bao giờ cũng chỉ sự mắt thấy được. (3)– Epiphaneia, “hiện ra” dịch là “sự chói sáng” hoặc “tỏ ra” (IITê 2:8), và chỉ có nghĩa sự hiện ra. Lời nầy dùng về cả hai sự giáng lâm Ngài (IITi 1:10; IITê 2:8; ITi 6:14; IITi 4:1, 8; Tít 2:13).
Mal 3:1.– Sự giáng lâm của Chúa được dự ngôn. Xem bài “Giăng Báp-tít.”
Xa 12:1.– Sự tái lâm của Chúa được dự ngôn. Xem bài “NƯỚC, ” phần Scofield.
Ês 59:20.– Thời gian mà “Đấng Cứu chuộc sẽ đến Si-ôn” là chắc chắn, tùy sự so sánh bởi Rô 11:23-29 như theo sau sự làm đầy đủ Hội Thánh bằng dân ngoại. Đó cũng là thứ tự của khúc sách quan hệ về các thời kỳ (Công 15:14-17). Trong cả hai khúc Kinh Thánh nầy thì việc Chúa trở lại Si-ôn là sau sự kêu gọi Hội Thánh ra.
Mat 24:3.– Mat 24:1- với Lu 21:10-24 trả lời câu hỏi bằng ba mặt. Thứ tự như sau đây: “Lúc nào những sự đó sẽ xảy ra?” Tức sự hủy phá Đền thờ và thành. Lời đáp Lu 21:20-24. Câu hỏi thứ nhì và thứ ba là: “Có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?” Lời đáp: Mat 24:4-33. Câu 4:14 có hai sự giải nghĩa: (1) Về tính cách của thời đại: — chiến tranh, nước nọ nghịch cùng nước kia, đói kém, dịch lệ, bắt bớ, và các Christ giả (so Đa 9:26). Điều đó không phải mô tả một thế gian đã trở lại đạo. (2) Lời đáp trong câu 4-24 ứng dụng cách đặc biệt cho kỳ tận thế, tức tuần lễ thứ 70 của Đa-ni-ên (Đa 9:24-27 lời chua). Hết thảy những sự đó chỉ rõ tính cách đặc biệt của thời kỳ nầy gồm lại trong lúc tận thế. Câu 14 trưng dẫn đặc biệt về sự rao truyền Tin lành một lần nữa bởi dân Do-thái sót lại, rằng nước Đức Chúa Trời đã “đến gần” (Ês 1:9; Khải 14:6, 7; Rô 11:5, lời chua). Câu 15 cho ta biết một dấu về sự gớm ghiếc (Đa 9:27, lời chua), — “người tội ác” hoặc “Con thú” (IITê 2:3-8; Đa 9:27; 12:11; Khải 13:4-7).
Mat 25:1.– Ba phương diện về sự tái lâm Chúa. Xem bài Nước.