Sách Xuất Ê-díp-tô ký, hoặc Sách Xuất Ai-cập Ký Exodus. Livre d’Exode.
Sách nầy là lịch sử Y-sơ-ra-ên: (1) Bị làm tôi mọi. (2) Được chuộc. (3) Dâng mình về phần tôn giáo và chính trị cho Đức Chúa Trời. Có hai phần riêng biệt. (a) Đoạn 1:1–19:1-, lịch sử của sự giải phóng Y-sơ-ra-ên từ lúc ban đầu làm tôi mọi ở Ai-cập đến khi họ tới núi Si-na-i. (b) Đoạn 20:1–40:1- — sự ban luật pháp và tổ chức Y-sơ-ra-ên trở nên “một nước thầy tế lễ và một dân thánh.” Hai phần, dầu khác nhau về các sự kiện, nhưng có sự liên hiệp chặt chẽ; sự thiết lập luật pháp trong phần thứ hai căn cứ trên những sự thực lịch sử thuật lại ở phần trên. Danh từ Xuất, tức Xuất Ai-cập, tức “đi ra, ” lấy từ bản Septante, và bản tiếng Hy-lạp của người Do-thái ở thành Alexandrie đã ở trong xứ mà chính người Y-sơ-ra-ên đi ra. Người Do-thái ở Pha-lê-tin đặt tên cho sách nhờ hai tiếng Hê-bơ-rơ ở đầu sách, Elleh Shemoth, “ấy là các tên.” Sự phân biệt khỏi sách Sáng thế ký được tỏ bởi các hoàn cảnh khác nhau, nhờ đó mà tỏ ra Y-sơ-ra-ên lúc ban đầu như so sánh với cuốn sách Sáng thế ký. Bảy câu đầu là lời tiểu dẫn tóm tắt ôn lại những biến động trước đó và nói về tình hình hiện tại. Cuốn sách chép sự hoàn thành của Hội mạc. Các phần sách nầy có lẽ được viết trên giấy rời papyrus hoặc giấy da chiên (dựa theo một bảng khắc của Thothmès III, chiến trận của vua được chép trên giấy da và treo trong đền thờ thần Am-môn). Những chỗ đứt quãng trong truyện tích, và những sự lặp lại, hiệp với lý thuyết rằng có những phần khác hẳn nhau, soạn riêng biệt bởi Môi-se như các biến động xảy ra, và được đọc trước công chúng trong các thời gian nối tiếp nhau. Hết cả có thể thu lại thành một sách lúc gần mãn đời Môi-se, trừ ra một vài lời thêm vào là lời giải nghĩa.
Nếu không phải Môi-se là tác giả sách Xuất Ê-díp-tô ký thì có một điều rất khó giải nghĩa là: người chép dường như không biết sự lớn lao riêng của mình là người chủ động quan trọng nhứt. Môi-se là người rất được tôn trọng trong xứ Ai-cập (11:3), song tác giả trong lúc công nhận chức vụ lớn lao của Môi-se, chú ý đặc biệt về sự người thiếu tài phú bẩm tự nhiên, sự sơ xuất về tánh nết, và bởi đó có những sự ngăn trở chức vụ mình, và những sự hình phạt người chịu; sự vội vàng can thiệp giữa người Y-sơ-ra-ên và người Ai-cập, tội giết người, việc dân Y-sơ-ra-ên từ chối người làm kẻ lãnh đạo, và sự lưu đày trong một khoảng thời gian quan trọng là 40 năm. Sau đến sự lưỡng lự vô tín khi nghe tiếng gọi của Đức Chúa Trời, và sự cứng cỏi nói là tự mình không đủ tài mặc dầu có phép lạ làm cho người tin rằng ấy là quyền phép của Đức Chúa Trời làm cho mình có thể làm được (3:10-13). Kế đó, chính Chúa đến thăm người (có lẽ bất thường và giáng bịnh nguy hiểm) vì chểnh mảng không làm phép cắt bì cho con (4:24-26). Kế đến sự trách Đức Giê-hô-va vì mình thất bại lời tâu đầu tiên với Pha-ra-ôn, điều đó đem sự cay đắng hơn nữa trên Y-sơ-ra-ên (5:20-23). Sự can đảm của người trước Pha-ra-ôn chẳng bao giờ được khen. Không phải do sự khôn ngoan, hoặc thấy trước của người, song là sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời được tỏ rất rõ suốt cả sách. Chiến trận thứ nhứt của dân Y-sơ-ra-ên là ở dưới quyền dẫn dắt của Giô-suê. Chỉ có một điều có thể nói là bởi sự khôn khéo của người, ấy là sự tổ chức một đoàn quan xét giúp đỡ mình trong việc xét đoán cho dân sự (18:1-), ý kiến nầy lại thuộc Giê-trô chứ không phải Môi-se. Cũng những đức tánh đó thấy trong sách Ngũ kinh, sau người không thể giữ lòng tin quyết khi bị Mi-ri-am và A-rôn công kích (Dân 12:1-); thái độ nóng nảy tại Mê-ri-ba và tại Ca-đe, đập hòn đá cách vô lễ và bởi đó bị Đức Chúa Trời không cho bước chân vào xứ đã hứa. Nếu Môi-se thật là tác giả thì ta có thể trông đợi hết thảy mọi sự như thế, song không một tác giả nào khác lại làm thinh về tánh nết vĩ đại của Môi-se. Hãy so sánh ba câu chót trong Phục truyền luật lệ ký thêm bởi người sửa lại đó thuật lại về sự chết của Môi-se. Thật ra, cả sách tỏ ra Môi-se là tác giả.
Sách Xuất Ê-díp-tô ký được viết bởi một người quen biết những điều rất nhỏ mọn cả Ai-cập lẫn bán đảo Si-na-i. Đường từ Ai-cập đến Hô-rếp được mô tả về những đặc sắc địa phương rất tinh tường của một người đã chứng kiến; không có người nào chứng kiến cuộc hành trình của Y-sơ-ra-ên ngoài Môi-se xem xét kỹ như vậy. Những phép lạ hiệp với nơi chốn, thời gian và hoàn cảnh đã xảy ra; mười tai vạ tỏ ra thuộc xứ Ai-cập, sự cung cấp điều cần dùng cho Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng có tương hiệp với những đặc sắc quốc gia của xứ. Canon Cook nói thật đúng rằng: “Ta thấy cõi thiên nhiên khắp cả, song cõi thiên nhiên trong cánh tay Đấng Chủ tể.”
Chỉ có một người trong những hoàn cảnh của Môi-se có thể lấy đặc sắc địa phương mà mô tả sự lưu lạc trong đồng vắng tại núi Si-na-i. Cùng một lúc chính những sự phản đối về mấy điều trong các tiểu tiết của Môi-se về địa vị khác nhau của bán đảo ngày nay trong vài mặt, chỉ chứng quyết sự cổ xưa và chân thật của lời chép người. Đồng vắng ngày nay thật không thể nào có thể cung cấp sự cần dùng cho chừng đó người, cũng không phải là lời để đáp lại sự phản đối đó mà nói rằng ấy là Đức Chúa Trời xen vào mà nuôi nấng họ. Về những sự can thiệp bởi Chúa lo liệu chỉ hạn chế trong các dịp đặc biệt. Thông thường, dựa theo cách Đức Chúa Trời đối đãi với con cái Ngài thì họ thường nhờ vào những nguồn lợi tự nhiên.
Các bảng khắc trong cả Ai-cập và bán đảo, rất sớm vào hồi Snefru, dòng vua thứ III, ba dòng vua tiếp theo, và dòng của Hatasu, vợ góa của Thothmès II (chết đuối trong Biển Đỏ) mô tả những sự thắng trận trên Mentu, những người ở trên núi của bán đảo, và các bộ lạc khác ở đó. Những điều ấy chứng tỏ rằng thời bấy giờ thật có một dân tộc lớn như vậy đến nỗi họ có thể chống với đạo binh Ai-cập. Những người Ai-cập thành công trong sự khai mỏ đồng bóng láng tại Sarbet el Khadim và Mughara, tại đó có nhiều bảng khắc cổ. Những suối và giếng nước vào hồi đó còn giữ cẩn thận, hầu cho có thể mở cuộc bang giao với các người kiều ngụ tại đó. Bảng khắc về mỏ vàng tại gần Dakkeh nói đến một giếng sâu chừng 60 thước, đào bởi lệnh của Seti I và Ram-se II. Những cây cối cũng được gìn giữ và trồng cây mới. Song từ khi người Ai-cập mất quyền thì người A-rạp trải các đời đốn cây, làm cho đất trở nên khô cằn từ đó xứ không còn phì nhiêu.
Những sự giống nhau không định trước giữa vị trí hiện tại của bán đảo và truyện kể trong Xuất Ê-díp-tô ký chứng quyết sự đúng và chân thật của sách. Xuất Ê-díp-tô ký mô tả những nơi chẳng có nước cho dân sự uống và nay nơi đó không tìm đâu được có nước; hoặc nơi mô tả có nước dư dật trong các nơi có suối, thì có tìm thấy dấu tích một chỗ xưa có rất nhiều nước; và những đường đi mà lương thực không tìm được, thì bánh ma na là phép lạ của Chúa để nuôi đoàn dân đông đúc. Địa điểm những đoàn du mục hãm đánh Y-sơ-ra-ên thì người ta thấy trùng hợp đúng các nơi họ bị đánh theo tên địa phương tỏ ra hiện nay. Lời truyền khẩu không thay đổi của người Do-thái, mà Xuất Ê-díp-tô ký nói đến, chứng quyết sách là thật vì cớ vô số sự thuận hiệp chép trong sách.
Xem bài: Hội Mạc, vì tại đó tỏ ra sách là chân thật.
Trong sách có vài hình bóng về Đấng Christ như Môi-se (Phục 18:15), A-rôn (Hêb 4:14-16), chiên con lễ Vượt qua (Xuất 12:46; Giăng 19:36; ICôr 5:7, 8), ma na (Xuất 16:15; ICôr 10:3), hòn đá tại núi Hô-rếp (Xuất 17:6; ICôr 10:4), hòm bảng chứng (Xuất 37:1; Rô 3:25; Hêb 4:16), Hội mạc (Xuất 40). Nói về Đấng Christ, Giăng 1:14 chép rằng: “ở giữa chúng ta, ” theo nguyên văn là “hội mạc ở giữa chúng ta.”
Nhận xét ý biên tập sách nầy không phải chỉ chú trọng về mặt lịch sử, nhưng cốt tả kỹ Đức Chúa Trời bấy giờ cai trị dân Ngài thế nào; sách cho thấy rõ hơn về Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng; muôn vật đều phải vâng theo mạng lịnh Ngài. Chúa là Đấng thành thực: Ngài hứa với Áp-ra-ham sẽ ban xứ Ca-na-an cho dòng dõi người làm sản nghiệp, thì lời hứa đó đời đời không thay đổi. Chúa là Đấng ban ơn: đã giúp dân về mặt dẫn dắt dạy dỗ, lại ban cho dân cơm áo và đồ dùng hằng ngày. Chúa là Đấng Chí thánh: hễ Ngài ban ra luật lệ và điều răn thì dân của Ngài đáng nên kính cẩn tuân theo. Chúa là Đấng kỵ tà: quyết không cho phép dân lựa chọn tôn vinh thần nào khác. Chúa là Đấng lập giao ước: muốn người Y-sơ-ra-ên thờ Ngài làm Chúa, lại càng muốn họ làm dân lựa chọn của Ngài.
Người tin đạo Đấng Christ đều thích đọc sách nầy, vì bề ngoài sách Xuất Ê-díp-tô ký kể tất cả những hành trình gian nan của Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập, mà kỳ thực bề trong là ngụ ý: người Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập, trải qua đồng vắng, ví như Hội Thánh ở thế gian, rồi sau có thể lên xứ Ca-na-an ở trên trời.
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho Xuất Ai-cập Ký như sau:
Xuất Ai-cập, tức “đi ra, ” thuật lại sự cứu chuộc dòng dõi Áp-ra-ham khỏi làm nô lệ tại xứ Ai-cập, và bày tỏ, bằng hình bóng về mọi sự cứu chuộc. Bởi thế, sách nầy đặc biệt là sách của sự cứu chuộc. Song vì mọi sự cứu chuộc đều có liên quan tới Đức Chúa Trời, và sự liên quan đó được tỏ ra bằng sự thờ phượng, thông công, và hầu việc. Vậy Xuất Ai-cập, trong sự ban bố luật pháp và sự lo liệu về con sinh tế và chức tế lễ, chẳng những trở nên sách của sự cứu chuộc, song bởi hình bóng cũng là sách nói về những điều kiện mà mọi sự giao thông với Đức Chúa Trời nhờ đó mà có.
Nói rộng nghĩa, sách nầy dạy rằng sự cứu chuộc là cần thiết cho bất cứ sự quan hệ nào với Đức Chúa Trời thánh; và dạy rằng dầu là một dân được cứu chuộc cũng không thể giao thông với Ngài nếu không luôn luôn được tẩy sạch mọi sự ô uế.
Trong sách Xuất Ê-díp-tô ký cho thấy Đức Chúa Trời, trước có quan hệ với dân Y-sơ-ra-ên chỉ bởi giao ước Ngài lập với Áp-ra-ham, nay Ngài đem họ đến cùng với chính Ngài như một dân tộc bởi sự cứu chuộc, Ngài đặt họ dưới giao ước của Môi-se, và ngự giữa họ trong đám mây của sự vinh hiển. Thơ Ga-la-ti cắt nghĩa sự liên lạc luật pháp với giao ước của Áp-ra-ham. Trong các điều răn, Đức Chúa Trời dạy dỗ Y-sơ-ra-ên những sự công bình Ngài đòi hỏi nơi họ. Sự từng trải dưới mười điều răn cho Y-sơ-ra-ên biết về tội; và sự lập chức tế lễ và của lễ (đầy dẫy những hình bóng quí báu về Đấng Christ) ban cho dân tội lỗi một con đường tha tội, tinh sạch, lập lại để thông công, và thờ phượng.
Sách Xuất Ê-díp-tô ký chia làm ba phần lớn: (I) Y-sơ-ra-ên trong xứ Ai-cập (1:1–15:1-). (II) Từ Biển Đỏ đến núi Si-na-i (16:1–18:1-). (III) Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i (19:1–40:1-).