Sách Xa-cha-ri

Sách Xa-cha-ri The book of Zechariah. Livre de Zacharie (Đức Giê-hô-va đã nhớ đến).

I. Tác giả.– Là người thứ mười một tùy theo trật tự của mười hai tiên tri nhỏ. Trong lời nói về mình (Xa 1:1) thì người xưng là con trai Ba-ra-chi, và cháu của Y-đô, như ở trong sách E-xơ-ra (5:1; 6:14) người được gọi là con trai của Y-đô. Lẽ tự nhiên có thể giả định, vì chính tiên tri nói đến tên cha mình là Ba-ra-chi, mà sách E-xơ-ra chỉ nói đến Y-đô, tỏ rằng Ba-ra-chi đã chết sớm, và không còn vòng xích nào xen vào giữa hai ông cháu đó. Xa-cha-ri, giống Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên trước người, vừa là thầy tế lễ, vừa là tiên tri. Người dường như đã hành chức hồi còn nhỏ tuổi (Xa 2:4); và được sanh ra tại Ba-by-lôn; tại đó người trở về với đoàn phu tù thứ nhứt dưới quyền Xô-rô-ba-bên và Giê-sua. Nhằm tháng thứ tám trong năm thứ II đời Đa-ri-út (độ 520 T.C.) Xa-cha-ri hành chức cách công khai. Trong chức vụ đó, người đồng làm việc với tiên tri A-ghê. Cả hai tiên tri đều có một mục đích lớn ở trước mặt mình; cả hai đều để hết nghị lực mà xây cất Đền thờ thứ hai. Ta thấy sự xây cất lại Đền thờ một phần lớn là do ảnh hưởng của họ. Không thể nào không thấy chức tế lễ của Xa-cha-ri rất quan trọng trong các cảnh ngộ như thế, để làm trọn phận sự đặc biệt đã giao phó cho người. Nền móng Đền thờ thật đã được xây dựng, song chỉ có thế thôi (Exơ 5:16). Vì từ lúc khởi công đã gặp nhiều sự phản đối nên người Do-thái ngã lòng không thể làm xong việc xây Đền thờ và dầu có bức thơ của vua Đa-ri-út gởi tới cho phép xây cất lại đền thờ và hứa bảo hộ cho họ, nhưng họ không để hết tâm trí mà làm việc, vì lòng họ đã nguội lạnh. Vào hồi đó không còn người nào xứng đáng để đốc thúc dân sự dấy lên, hơn là một người tiên tri với sự sốt sắng của một chi họ thầy tế lễ. Có chép: “Ấy vậy, các trưởng lão của dân Giu-đa bắt tay cất lại Đền thờ; công việc được may mắn, y lời tiên tri của tiên tri A-ghê và của Xa-cha-ri, con trai của Y-đô” (Exơ 6:14). Nếu có thể tin những truyện về sau của người Do-thái, thì Xa-cha-ri giống như A-ghê, là nhân viên trong Nhà Hội Lớn; và cũng chép các Thi-thiên hát trong Đền thờ thứ nhì: là Thi 137:1-; 146:1–148:1-, theo bản Septante; Thi 125:1-; 126:1- theo bản Peshito, và Thi 111:1- theo bản La-tinh. Có lẽ các Thi-thiên đó cũng hát lúc làm lễ Khánh thành các vách tường Giê-ru-sa-lem dưới thời Xô-rô-ba-bên.

Những điều trong sách Xa-cha-ri chép giúp chúng ta thêm sự quí trọng tánh nết của người. Tuy nhiên, ta có thể nhận xét vài chỗ trong sách tỏ ra Xa-cha-ri đã học ở Ba-by-lôn. Xa-cha-ri dựa theo phương pháp của các tiên tri trước mình, và viết theo lối hành văn của họ. Dường như Giê-rê-mi là người Xa-cha-ri ưa thích hơn hết; nên bởi đó mới có tục ngữ Do-thái rằng: “Thần của Giê-rê-mi ở trong Xa-cha-ri.” Song về những sự đặc biệt của lời tiên tri, thì Xa-cha-ri lại gần gũi với Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên hơn. Giống hai tiên tri đó, Xa-cha-ri ưa các hiện tượng; Xa-cha-ri dùng các hình ảnh tượng trưng và hiểu theo nghĩa bóng hơn là những hình ảnh cụ thể, rõ rệt; các lối nói bóng thêm ý nghĩa sâu xa cho những lời tiên tri; giống như hai tiên tri đó, Xa-cha-ri ngắm xem các thiên sứ phục sự trước Đức Giê-hô-va và làm trọn lời truyền bảo của Ngài trên đất. Trong các tiên tri chỉ có Xa-cha-ri nói đến Sa-tan. Không thể nghi ngờ được trong các điều đặc sắc nầy có một số là do sự học hỏi nhận được ở xứ Canh-đê. Nhưng nói chung, lối văn của Xa-cha-ri là tinh sạch và thoát khỏi lối văn lạ lẫm của người Canh-đê.

II. Nội dung sách.– Sách Xa-cha-ri có thể chia làm hai phần: 1:1–8:1- là phần trên; 9:1–14:1- là phần dưới.

Phần trên là lời tiên tri của Xa-cha-ri. Vài câu đầu là lời đánh thức dân Y-sơ-ra-ên; dường như dựa vào lời tiên tri trước của A-ghê, nói tổ tiên phải chịu khổ sở vì lìa bỏ Chúa, nên người khuyên họ phải thật lòng trở về cùng Ngài. Dưới đó, tác giả thuật ra mười sự hiện thấy mà mình đã thấy (1:1–6:1-).

1. Ban đêm, thấy bốn người cỡi ngựa (1:7-17). Thiên sứ cầu nguyện Chúa cho thành Giê-ru-sa-lem, Chúa hứa lại ban ơn thương xót cho thành Giê-ru-sa-lem.

2. Thấy bốn cái sừng (1:18-19). Bốn cái sừng đó là bốn kẻ thù nghịch làm tản lạc dân Y-sơ-ra-ên.

3. Lại thấy bốn người thợ rèn là những tay làm kinh động bốn quân nghịch (1:20, 21).

4. Thấy người cầm dây đo (2:1-5). Thành Giê-ru-sa-lem có đông cư dân và súc vật lắm; Đức Chúa Trời sẽ vùa giúp và bênh vực cho. Ngài sẽ ngự giữa vòng dân Ngài; sẽ có nhiều nước thật lòng trở về cùng Ngài (2:6-13).

5. Thầy tế lễ cả Giê-hô-sua đứng trước mặt thiên sứ Đức Giê-hô-va và Sa-tan đối địch người (3:1-) Chúa quở trách Sa-tan, sai Giê-hô-sua lột bỏ áo bẩn, và mặc áo đẹp đẽ làm hình bóng về sự từ bỏ tội lỗi cho dân, và lời hứa sẽ làm cho đầy tớ Ngài là hậu tự của Đa-vít sẽ dấy lên.

6. Đầy tớ Đức Giê-hô-va là Chồi mống dấy lên (3:8-10).

7. Thấy bảy cái đèn bằng vàng (4:1-). Bảy cái đèn chỉ về bảy mắt của Đức Chúa Trời. Lại có hai cây Ô-li-ve chỉ về hai người chịu xức dầu: một là Xô-rô-ba-bên; một là Giê-hô-sua, tức là Vua và Thầy tế lễ: có ý là hai người giúp đỡ lẫn nhau, (so Khải 11:3, 4).

8. Thấy một cuốn sách bay (5:1-4); hễ ai trộm cắp hoặc thề gian sẽ bị xử tử.

9. Thấy một người đàn bà ngồi giữa một cái đấu, chỉ về Ba-by-lôn sẽ bị hình phạt (5:5-11).

10. Thấy bốn cỗ xe ra từ giữa hai hòn núi bằng đồng (6:1-8), thấy Chúa đi tuần khắp thế gian. Ngài lại nói làm mão triều thiên mà đội lên đầu cho Giê-hô-sua, tỏ ra đền Chúa sẽ nên trọn (6:9-15).

Tổng ý mười sự hiện thấy kể trên là: Đền thờ sẽ được xây lại, kẻ thù địch phải bị hủy diệt, những người phu tù được tha về, tội lỗi được xóa. Thần linh của Chúa đầy dẫy trên Thầy tế lễ và Vua của họ.

Tiến sĩ Scofield lấy đoạn 7:1- và 8:1- làm phần riêng và đặt lời đầu đề: Sứ mạng từ Ba-by-lôn; vấn đề về các lễ kiêng ăn (7:1-3); lời Chúa đáp: a) lễ Kiêng ăn chỉ là bề ngoài; họ nên nghe lời các tiên tri đã khuyên (7:4-7); b) vì lý do nào mà lời cầu nguyện của họ không được nhậm (7:8-14); c) Chúa không đổi ý định ban phước cho Y-sơ-ra-ên trong nước (8:1-8); d) Dân sự hãy nghe hai đấng tiên tri của sự lập lại, tức A-ghê và Xa-cha-ri (8:9-19); đ) Giê-ru-sa-lem sẽ còn làm nơi trung tâm của tôn giáo Ngài trên đất (8:20-23).

Phần dưới (9:1–14:1-) phải chăng ra từ ngòi bút của Xa-cha-ri; nhiều giả thuyết đã đề cập đến nhưng không có chứng cớ nào chắc chắn. Có thuyết nói trong phần nầy có xen lời ghi chép của Giê-rê-mi và Ô-sê, họ cho rằng từ 9:1–14:1- là do một hoặc hai người khác chép ra sau Xa-cha-ri, điều nầy khó dò xét được, nhưng thật có một thứ văn chắp nối ở các đoạn nầy. Ở 9:1-11:3 nói về kẻ thù địch phải chịu sửa phạt thế nào, người Y-sơ-ra-ên phục hưng thế nào. Xem xét 11:4-7; 13:7, 8, 9 nói về những thí dụ, có phân biệt gương tốt và gương xấu. Đến đoạn 12:1–14:1- thì đồng ý với ba tiên tri Sô-phô-ni, Ê-xê-chi-ên, và Giô-ên: thảy đều nói người ngoại bang sẽ muốn diệt thành Giê-ru-sa-lem, nhưng Chúa sẽ giữ gìn thành đó mà diệt mọi kẻ thù địch.

Xa-cha-ri là một tiên tri, được Chúa ban cho sự nhận định và phán đoán phải trái rành rẽ lắm, ông biết Chúa bảo ông phải đặt vua và thầy tế lễ làm trung tâm điểm của nước. Các tiên tri khác thường hay nói về chiến tranh, về việc quân thù địch phải đổ huyết và nhà ở bị phá hủy. Xa-cha-ri ít nói đến điều đó, nhưng thích nói về sự bình an, về nước nha được phục hưng, tội lỗi bị tiêu diệt, về Thần Linh Chúa dường như đi khắp thế giới. Xa-cha-ri chẳng những khuyên dân chúng xây dựng lại Đền thờ mà còn hết lòng đem đạo đức và chân lý thuộc linh dạy dỗ những người xây đền, khiến họ hiểu biết chân lý một cách thông suốt nữa. Xa-cha-ri cũng nói tiên tri kỹ hơn về Đấng Mê-si (3:8; 6:12; 9:9; 11:12; 12:10; 13:1, 6, 7).

Về phần dưới (9:1–14:1-), tiến sĩ Scofield chia và đặt đầu đề như sau: Lời phán của Chúa nghịch cùng các thành xung quanh xứ Pha-lê-tin (9:1-8; xem lời chua về câu 8 ở dưới); Chúa Jêsus Christ được tỏ ra là Vua khi Ngài giáng thế lần thứ nhứt (câu 9); sự giải cứu Giu-đa và Ép-ra-im trong tương lai, và nước lan rộng khắp thế gian (9:10-17); sự bổ sức cho Giu-đa và Ép-ra-im trong tương lai (10:1-8); Y-s ơ-ra-ên tản lạc và được nhóm lại (10:9-12), sự giáng thế lần thứ nhứt và sự chối bỏ Đấng Mê-si, với kết quả: là sự thạnh nộ (11:1-6); có sự thạnh nộ đó vì dân sự đã lìa bỏ Đấng Mê-si (11:7-14); Con thú và sự phán xét nó (11:15-17); Giê-ru-sa-lem bị vây bởi Con thú và cơ binh nó (12:1-3; xem Khải 19:19-21); sự vây: Giu-đa được bổ sức; Chúa giải cứu (12:4-9); Đức Thánh Linh được đổ ra; Đấng bị đâm được tỏ ra cho dân sót lại đã được cứu (12:10), sự ăn năn của dân sót (12:11-14); dân sót ăn năn quay về thập tự (13:1); hình tượng và tiên tri giả không còn (13:2-5; xem Ês 2:18; 10:11); sự giảng đạo cho dân Y-sơ-ra-ên sau khi Đấng Christ tái lâm (13:6, 7); Tóm lại: Kết quả sự xâm lăng của dân ngoại dưới quyền Con Thú (13:8, 9); tóm tắt những biến động lúc Chúa lấy vinh hiển mà tái lâm: a) Ha-ma-ghê-đôn (14:1-3); b) sự tái lâm trong vinh hiển thấy được: địa dư xứ Pha-lê-tin được đổi (14:4-7; xem câu 4, 10). c) Con sông của nơi thánh (14:8; so Êxê 47:1-12; Khải 22:1-2); d) Nước Đức Chúa Trời được lập trên đất (14:9-15). đ) Sự thờ phượng trong nước Đức Giê-hô-hô-va cai trị (14:16-21).

Tiến sĩ Scofield chú thích về Xa-cha-ri như sau:

Tiểu dẫn.– Xa-cha-ri, giống A-ghê, là tiên tri cho dân sót trở lại sau 70 năm. Có nhiều ý nghĩa hình bóng trong những lời tiên tri của Xa-cha-ri, song những phần khó hiểu nầy có thể giải nghĩa dễ dàng trong ánh sáng của toàn thể lời tiên tri có liên quan với nhau. Những lời tiên tri về Đấng Mê-si, khi so sánh với các lời tiên tri khác về nước, là hoàn toàn rõ rệt. Cả hai sự giáng lâm của Đấng Christ là ở trong lời tiên tri của Xa-cha-ri (Xa 9:9 với Mat 21:1-11 và Xa 14:3, 4). Hơn A-ghê và Ma-la-chi, Xa-cha-ri bày tỏ tâm trí của Đức Chúa Trời về các cường quốc ngoại bang ở xung quanh dân sót được lập lại. Chúa đã ban phép tắc cho các cường quốc đó (Đa 2:37-40), và sẽ đòi họ phải đối nại với Ngài; sự thử, bao giờ cũng vậy, là cách họ đối đãi với dân Y-sơ-ra-ên. Xem Sáng 15:18, lời chua 3, câu 6; Xa 2:6.

Cho nên, sách Xa-cha-ri chia làm ba phần lớn: (I) Những sự hiện thấy làm hình bóng trong ánh sáng của sự trông cậy về Đấng Mê-si, 1:1-6:15. (II) Sứ mạng từ Ba-by-lôn, 7:1-; 8:1-; (III) Đấng Mê-si bị chối bỏ về sau được quyền phép 9:1–14:1-.

Xa 1:8.– “Người” (câu 8) là “chúa tôi” “thiên sứ nói cùng tôi” (câu 9), và “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” (câu 10, 11). “Người” đó “đứng trong những cây sim” (câu 8). Tiên tri nói cùng người rằng “Hỡi Chúa tôi” (so Sáng 19:2), song khi “người” trả lời thì tiên tri nhận biết mình đã nói với một thiên sứ — “thiên sứ nói cùng tôi” (câu 9). Trong câu 10 người của sự hiện thấy lại là “người đứng trong những cây sim.” Trong câu 11, người đó được gọi là “thiên sứ của Đức Giê-hô-va, ” và với người đó những (kẻ cỡi) “ngựa hồng, ngựa xám và ngựa trắng” nói: “Ta đã đi lại trải qua…, ” v.v.. Kế đến (câu 12) “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va (tức “người, ” “chúa tôi, ” “thiên sứ nói cùng tôi”) cầu thay cho Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa. Niên hiệu của sự cầu thay là mãn 70 năm phu tù của Do-thái.

Xét chung (câu 8-17), sự hiện thấy thứ nhứt của Xa-cha-ri tỏ ra Do-thái đang ở trong sự tan lạc; Giê-ru-sa-lem ở dưới quyền sở hữu của kẻ thù; và các dân ngoại không lo đến thành đó. Hoàn cảnh đó hiện nay vẫn còn tiếp tục (1909 S.C.), và lời Đức Giê-hô-va đáp cho sự cầu thay của thiên sứ cứ qua tới thời chót của sự cai trị bởi dân ngoại, khi “Đức Giê-hô-va sẽ còn yên ủi Si-ôn, ” (câu 16, 17; Ês 40:1-5).

1:18.– Sừng là hình bóng về vua dân ngoại. Xem bài Sừng.

1:20.– Về nghĩa bóng thợ rèn ở câu nầy, xem bài Thợ Mộc.

2:1.– Giống như trong Xa 1:8-11, “người” trong câu 1 là “thiên sứ nói cùng tôi” của câu 3. Dây đo (hoặc cây sậy) được dùng bởi Ê-xê-chi-ên (Êxê 40:3, 5) là hình bóng về sự sửa soạn xây cất thành và Đền thờ trong thời của nước vinh hiển. Đây cũng có nghĩa đó, như thượng hạ văn (câu 4-13) tỏ ra. Vấn đề sự hiện thấy là sự lập lại dân tộc và thành. Lời tiên tri nầy chưa được ứng nghiệm bằng cách nào. Trật tự là: (1) Chúa trong sự vinh hiển tại Giê-ru-sa-lem, câu 5 (so Mat 24:29, 30).

(2) Sự lập lại Y-sơ-ra-ên, câu 6. (3) Sự phán xét của Đức Giê-hô-va trên các dân tộc, câu 8, “sau sự vinh hiển” (Mat 25:31, 32). (4) Phước lành đầy trọn của đất trong nước có Đức Giê-hô-va cai trị, (câu 10-13).

3:1.– Nghĩa sự hiện thấy thứ 5 nầy, xem bài Trở Lại.

3:10.– Nghĩa “trong ngày đó” xem bài nước.

4:2.– Nghĩa bóng về chân đèn và cây ô-li-ve, xem bài Ô-li-ve.

5:1.– “Cuốn sách” trong hình bóng Kinh Thánh, có nghĩa là sách được viết hoặc của Đức Chúa Trời hoặc của người (Exơ 6:2; Giê 36:2, 4, 6 v.v. Êxê 3:1-3, v.v.). Sự hiện thấy thứ 8 của Xa-cha-ri là sự quở trách tội lỗi bởi lời Đức Chúa Trời. Hai tội nói đến là sự phạm đến cả hai bảng luật pháp. Trộm cắp là vi phạm quyền lợi của người lân cận; thề là vi phạm đến sự tôn kính mà Đức Chúa Trời đòi. Như vậy bao giờ luật pháp cũng chỉ có thể rủa sả (câu 3; Ga 3:10-14).

5:6-11– Trong sự hiện thấy về cái đấu, đây là một đồ dùng để đong và tiên tri có thể nhận biết. Những phần tử là: một cái đấu (ê-pha) hoặc sự đo lường; một người đàn bà ở trong cái đấu; một khối chì tròn đậy trên miệng cái đấu trong đó nhốt người đàn bà; câu 9, hai người đàn bà có cánh như cánh cò, có phận sự là nắm lấy cái đấu, bay lên và đem đặt ở trong xứ Ba-by-lôn (Si-nê-a). Điều làm hình bóng “ấy là hình dáng chúng nó trong cả đất” (câu 6).

Theo nghĩa bóng, “vật đo” (hoặc “chén”) chỉ về cái gì đã đến sự đầy trọn, đến nỗi Đức Chúa Trời phải phán xét điều đó (IISa 8:2; Giê 51:13; Ha 3:6, 7; Mat 7:2; 23:32). Người đàn bà, theo nghĩa xấu về luân lý, bao giờ cũng làm hình bóng, mặt tôn giáo, về điều gì ở ngoài địa vị mình. Người “đàn bà” trong Mat 13:33 có liên quan với lẽ đạo, một phạm vi cấm không cho phép (ITi 2:12). Tại Thi-a-ti-rơ, người ta cho phép một người đàn bà đạo đức xấu dạy dỗ (Khải 2:20). Mặt Hội Thánh bội đạo của Ba-by-lôn được chỉ bóng bởi một người đàn bà không tiết nghĩa, đầy dẫy sự ham muốn, sống xa hoa trong sự giàu có bởi buôn bán (Khải 17:1-6; 18:3, 11-20).

Sự ứng dụng hẹp về sự hiện thấy thứ 9 của Xa-cha-ri bởi thế được tỏ ra. Người Do-thái bấy giờ ở trong xứ đã bị bắt làm phu tù tại Ba-by-lôn. Bề ngoài, họ đã bỏ hình tượng, nhưng họ đã học trong Ba-by-lôn sự ham muốn tư lợi không thể thỏa lòng (Nê 5:1-9; Mal 3:8), là tinh thần thương mại đến cực độ mà Y-sơ-ra-ên vốn là dân chăn nuôi trước đây không có, nhưng từ đó trở đi lại là đặc tánh của họ suốt các đời. Những điều đó không nên có trong dân và xứ của Đức Chúa Trời. Về phần hình bóng, Ngài đoán xét họ như thuộc về Ba-by-lôn, và sai họ đến đó xây một đền thờ — vì họ không thể có phần gì về đền thờ Ngài. “Người đàn bà” được đem “đặt vào chỗ nó (câu 11). Ấy là sự phán xét đạo đức của Đức Giê-hô-va trên những sự thuộc về Ba-by-lôn trong xứ và dân của chính Ngài.

Về phần tiên tri, ứng dụng cho Ba-by-lôn của sách Khải Huyền được tỏ ra. Hội Thánh dân ngoại bấy giờ cũng chấp nhận mọi sự gian ác của người giàu, về phần lẽ đạo chỉ là sự “lộn xộn” như tên chỉ ra, và sự bại hoại đến nơi trung tâm của thương mại, giàu có và sung sướng, tất cả đều sa vào sự phán xét của Đức Chúa Trời (Khải 18:1-).

6:1.– Muốn giải nghĩa sự hiện thấy thứ 10 của Xa-cha-ri phải dựa vào câu 5. Điều được chỉ bóng bởi bốn cỗ xe với những ngựa không phải là bốn cường quốc của Đa-ni-ên, song là “bốn gió trên trời” ra từ nơi mà chúng nó đứng trước mặt Chúa của khắp đất (câu 5). Những “gió” đó là thiên sứ (Lu 1:19; Hêb 1:14), và được giải nghĩa là bốn thiên sứ của Khải 7:1-3; 9:14, 15. Bốn vị thiên sứ đó cũng có một chức vụ đối với đất, và giống với chức vụ “bốn gió” của Xa 6:1-8, tức sự phán xét. Biểu hiệu (xe cộ và ngựa) phù hợp hoàn toàn với ý đó. Trong Kinh Thánh, biểu hiệu xe cộ và ngựa bao giờ cũng chỉ về quyền phép của Đức Chúa Trời về sự phán xét đối với đất (Giê 46:9, 10; Giôên 2:3-11; Na 3:1-7). Vậy, sự hiện thấy đó nói về những sự phán xét của Chúa trên các dân tộc ngoại bang phía Bắc và phía Nam trong ngày của Chúa (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21).

6:11.– “Đội mũ triều thiên trên đầu Giê-hô-sua, ” xem nghĩa bóng trong bài Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.

7:2.– “Những người, ” tức những phu tù tại Ba-by-lôn. Chức việc của những người Do-thái làm phu tù đó có liên quan với một ngày kiêng ăn lập bởi người Do-thái để kỷ niệm sự hủy phá Giê-ru-sa-lem, cả thảy đều do chính ý muốn của họ; và không cầu hỏi ý Đức Chúa Trời. Lúc khởi đầu chắc họ có sự ăn năn thật trong việc giữ ngày đó; nay điều đó đã trở nên hình thức, chỉ là một lễ bề ngoài mà thôi. Những Người Do-thái bị tan lạc muốn bỏ lễ nầy, song phải xin phép các thầy tế lễ. Toàn thể vấn đề, giống nhiều điều trong lẽ đạo về Christ giả mạo của tân phái; những việc đo là ngoài Kinh Thánh, được thêm vào, chiếu lệ, và vô ích. Đức Giê-hô-va nhân dịp này mà gởi một sứ điệp của Ngài cho dân tan lạc. Sứ điệp đó chia làm năm phần: (1) Sự kiêng ăn của họ chỉ là một hình thức của tôn giáo; thật ra họ nên chú ý đến lời các “tiên tri đời trước” rao ra (câu 4-7; so Ês 1:12; Mat 15:1-10). (2) Họ biết được tại sao trong 70 năm họ cầu nguyện mà không được đáp lời (câu 8-14; so Thi 66:18; Ês 1:14-17). (3) Ý định không thay đổi của Đức Giê-hô-va, và phước lành của Y-sơ-ra-ên trong nước vinh hiển ngày sau (Xa 8:1-8; so một trật tự giống thế trong Ês 1:24-31 với 2:1-4). (4) Những sứ giả của phu tù được khuyên nên nghe các tiên tri trong “những ngày đó” tức A-ghê, Xa-cha-ri, và Ma-la-chi, và nên làm sự công bình; như thế hết thảy mọi sự kiêng ăn và những bữa tiệc sẽ trở nên sự vui vẻ và mừng rỡ (câu 9-19). (5) Họ được vững tâm rằng Giê-ru-sa-lem dầu vậy sẽ là nơi trung tâm tôn giáo của trái đất (câu 20-23; so Ês 2:1-3; Xa 14:16-21).

8:3.– Tóm tắt sự nên thánh, xem bài Sự Nên Thánh.

8:6.– “Dân sót lại” trong câu 6, 11, 12 chỉ về dân sót của Giu-đa từ Ba-by-lôn trở về, và giữa vòng họ Xa-cha-ri đang nói tiên tri. Xem Rô 11:5, lời chua.

8:14.– Tóm tắt sự ăn năn, trong Cựu Ước. Xem bài Sự Ăn Năn.

8:23.– Về những ngày đó, xem bài Nước.

9:8.– Dường như đây chỉ về sự tiến chiếm và sự trở về của Alecxandre (câu 13) sau trận Issus, là người đã bắt phục các thành nói trong câu 1-6, và sau trở về nước Hy-lạp và không làm hại Giê-ru-sa-lem. Song ý nghĩa lớn hơn tập trung về những ngày sau rốt còn trong tương lai (Công 2:17, lời chua), như phần cuối của câu 8 tỏ ra, vì có nhiều kẻ hà hiếp đã đi qua Giê-ru-sa-lem từ đời Alecxandre.

9:9.– Những biến động tiếp theo sự bày tỏ nầy về Đấng Christ như Vua được thuật lại trong các sách Tin lành. Đức tin thật của đoàn dân kêu lên: “Hô-sa-na” được chép trong Mat 21:11, và Chúa Jêsus không bị lừa gạt chút nào bởi sự đón tiếp dường như là Vua, vì Ngài khóc về Giê-ru-sa-lem, và báo trước về sự hủy diệt thành hầu đến (được ứng nghiệm năm 70 S.C.; Lu 19:38-44). Chính đoàn dân đó ít lâu sau đã kêu la về Ngài: “Hãy đóng đinh nó trên cây thập tự!”

9:10.– Sau khi đã giới thiệu Vua trong câu 9, thì câu 10 và các câu sau ngưỡng trông đến sự tận thế và nước vinh hiển. Trừ câu 9, thời đại hiện nay không thấy nói trong Xa-cha-ri.

10:1.– “Mưa cuối mùa.” Xem bài Thánh Linh.

10:4.– Đây là thời ky thuộc về tương lai “Đá góc nhà sẽ ra từ nó (Giu-đa) Xuất 17:6; IIPhi 2:8, lời chua), đinh ra từ nó (Ês 22:23, 24), cung chiến trận ra từ nó, ” v.v…. Cả quang cảnh là thuộc những biến động tập hợp xung quanh sự giải cứu dân Do-thái trong xứ Pha-lê-tin trong thời có sự xâm lấn phía Bắc dưới quyền “Con Thú” (Đa 7:8; Khải 19:20), và “Ha-ma-ghê-đôn, ” (Khải 16:14; 19:17). Sự giải thoát sau cùng hoàn toàn được xảy ra bởi sự tái lâm của Chúa (Khải 19:11-21), và trước đó Ngài đã thêm sức mạnh cho Y-sơ-ra-ên khi dân nầy bị áp bức quá đỗi (Mi 4:13; Xa 9:13-15; 10:5-7; 12:2-6; 14:14). Có thể có sự ứng nghiệm trước trong những sự đắc thắng họ Macchabées, điều nầy Kinh Thánh không chứng quyết hoặc không công nhận.

11:7.– Quang cảnh thuộc về sự giáng lâm thứ nhứt. Tốt đẹp và Dây buộc — Nghĩa văn tự là “thanh lịch và sự hiệp một;” thứ nhứt, chỉ về thái độ của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên Ngài, khi sai Con Ngài đến với họ (Mat 21:37); thứ nhì, chỉ về mục đích Ngài hội hiệp Giu-đa và Ép-ra-im lại lần nữa (Êxê 37:15-22). Đấng Christ, khi Ngài giáng thế lần thứ nhứt, đến với ân điển (Giăng 1:17) để làm cho hiệp một (Mat 4:17), và bị bán lấy 30 miếng bạc (Xa 11:12, 13). “Vẻ đẹp” (tức sự thanh lịch) bị “chặt ra từng khúc” (câu 10, 11) có nghĩa rằng Giu-đa bị từ bỏ cho sự hủy diệt đã nói trước trong câu 1-6, và ứng nghiệm năm 70 S.C.. Sau sự nộp Chúa lấy 30 miếng bạc (câu 12, 13) “Dây buộc” (tức sự hiệp một) đứt ra (câu 14), chỉ về sự Chúa từ bỏ tạm thời; mục đích hội hiệp Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. Trật tự của Xa-cha-ri đoạn 11:1- là:

(1) Cơn giận nghịch với xứ (câu 1-6), được ứng nghiệm trong sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem sau khi Đấng Christ bị bỏ (Lu 19:41-44).

(2) Duyên cớ cơn thạnh nộ đó là vì dân Do-thái đã bán và chối bỏ Đấng Christ (câu 7-14).

(3) Sự dấy lên của “hình tượng kẻ chăn chiên, ” Con Thú (Đa 7:8; Khải 19:20) và sự hủy diệt nó (câu 15-17).

11:11.– Thí dụ Cựu Ước. Xem bài Thí Dụ.

11:11.– “Con chiên rất khốn nạn, ” tức “phần còn sót lại theo sự lựa chọn của ân điển” (Rô 11:5); những người Do-thái đó không chờ đợi sự tỏ ra của Đấng Christ trong sự vinh hiển, song tìm Ngài khi Ngài đến lần thứ nhứt. Về họ, Kinh Thánh chép là “chiên nghe theo ta, ” và “biết.” Đây không phải là phương diện đoàn thể dân ngoại hoặc Hội Thánh dân ngoại, mà chỉ là các tín đồ ra từ Y-sơ-ra-ên trong thời đại nầy. Về mặt đoàn thể, Hội Thánh không có ở trong lời tiên tri Cựu Ước (Êph 3:8-10).

11:15.– Đây chỉ về Con Thú. Xem bài Con Thú.

12:1.– Gánh nặng. Xem bài Nước.

12:8.– Tóm tắt về Nước trong Cựu Ước. Xem bài Nước.

Xa 13:8.– Xa 13:1- trở về đề mục của Xa 12:10. Những câu 8, 9 trưng dẫn về sự đau khổ của dân sót lại (Ês 1:9; Rô 11:5) có trước cơn tranh chiến lớn. Xa 14:1- là sự ôn lại cả vấn đề. Trật tự là:

(1) Sự nhóm họp các dân, câu 2 (xem “Ha-ma-ghê-đôn, ” Khải 16:14; 19:11, lời chua.

(2) Sự giải cứu câu 3.

(3) Sự trở lại của Đấng Christ trên núi Ô-li-ve và sự thay đổi về hình thức của quang cảnh, câu 4-8.

(4) Sự lập nước, và phước lành đầy đủ trên đất, câu 9-21.

14:4.– Núi Ô-li-ve chia làm hai. Xem bài Ô-li-ve.

14:9.– Sự đáp lại cuối cùng bài cầu nguyện trong Mat 6:10. Xem bài Nước.

Scroll to Top