Sa-bát

Sa-bát Sabbath. Sabbath, (Shabbath, “ngày yên nghỉ, ” từ shâbath, “thôi làm”).

I. Căn nguyên.– Tên nầy dùng để chỉ mấy lễ trọng, song thường dùng đặc biệt cho ngày thứ bảy trong tuần lễ, sự buộc giữ ngày đó cách nghiêm nhặt không phải chỉ ở trong bộ luật chung của Môi-se, nhưng trong mười điều răn cũng đề cập đến nữa. Sự lập ngày Sa-bát nên ngày thánh là cùng một lúc với cuộc Sáng tạo. Kinh Thánh chép lần thứ nhứt về ngày Sa-bát, dầu không gọi bằng tên đó, song tìm được trong Sáng 2:3 cuối lời chép về sáu ngày tạo thành. Có vài người cho rằng đó chỉ là một lời trưng dẫn trước về điều răn thứ tư, vì Kinh Thánh không có thuật lại việc giữ ngày Sa-bát giữa cuộc Tạo thành và ra khỏi Ai-cập. Song điều đó phù hợp với lối chép Kinh Thánh, vì Kinh Thánh không hay chép các biến động thường. Không thiếu chứng cớ gián tiếp về sự giữ ngày Sa-bát đó, như khoảng thời gian giữa lúc Nô-ê thả chim ra khỏi tàu, một công việc hiệp với công việc hằng tuần, (Sáng 8:7-12); và trong tuần lễ về sự cử hành phép hôn phối (Sáng 29:27, 28), song trái lại, khi có một dịp tiện đặc biệt liên quan với sự cấm lượm ma na trong ngày Sa-bát, thì sự thiết lập ngày đó được kể như đã biết rồi (Xuất 16:22-30). Ấy cũng là một trong các sự Môi-se thiết lập theo từ đời các tổ phụ, và được bày tỏ trong đời Luật pháp nầy: “Hãy nhớ ngày Sa-bát, và giữ làm ngày thánh.”

II. Nguyên do lập ngày Sa-bát.– Ấy là để bày tỏ sự vui mừng về Đức Chúa Trời làm xong công cuộc sáng tạo của Ngài. Có người nói Môi-se dẫn một nguyên do khác về sự lập ngày Sa-bát, ấy là để kỷ niệm sự giải thoát khỏi vòng tôi mọi ở xứ Ai-cập (Phục 5:15). Dường như Môi-se trong khi nhắc lại Luật pháp, đã quên nguyên do mà chính Đức Chúa Trời phán tại núi Si-na-i (Xuất 20:11)! Những lời thêm vào Phục 5:15 đó là một duyên cớ đặc biệt để giữ ngày Sa-bát cách vui vẻ và tỏ lòng nhơn từ, mở rộng phước hạnh ngày đó cho tôi tớ và những súc vật gánh nặng, giống như chủ nữa. “Hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi” (Phục 5:14). Những sự thử hạn chế mạng lịnh về ngày Sa-bát ra từ sự hiểu lầm tinh thần ngày đó, và coi như là ngày tự ép mình nghiêm nhặt hơn là ngày được ơn riêng ban cho. Song thật ra, sự cấm làm việc chỉ là phần phụ vào ý được yên nghỉ vui vẻ và dưỡng sức lại trong sự thông công với Đức Chúa Trời, là Đấng “nghỉ và lấy sức lại” (Xuất 31:17 so 23:12).

Lần thứ nhứt, sự ngày Sa-bát được thiết lập rất minh bạch là trong Xuất 16:23-29 lập cho dân Y-sơ-ra-ên để họ giữ theo. Ít lâu sau lại được phép trong điều răn thứ tư. Theo gương lập ngày Sa-bát, thì cũng lập tháng thứ bảy, năm thứ bảy và năm hân hỉ. Như một ngày thứ bảy là ngày thánh, thì mỗi tháng thứ bảy và mỗi năm thứ bảy cũng vậy. Về sự giữ tháng thứ bảy, chỉ cần nói ít. Tháng đó mở đầu với lễ Thổi kèn, và trong lễ đó có ngày chuộc tội và lễ Lều tạm, –ngày lễ chót nầy là ngày vui nhứt trong các lễ của người Hê-bơ-rơ. Trung tâm điểm tháng đó là lễ Lều tạm, hoặc Thâu trử mùa, vì năm và công việc năm đó đã xong. Luật về năm Sa-bát thật rõ rệt. Như cấm làm việc trong ngày thứ bảy, đất cũng phải được nghỉ trong năm thứ bảy. Cứ bốn mươi chín năm thì tận cùng với bảy tuần năm, bởi thế được gọi là “năm hân hỉ.” Trong Xuất 23:10, 11, ta thấy năm Sa-bát có liên quan chặt chẽ với ngày Sa-bát, và lời dạy về năm Sa-bát cũng giống điều răn thứ tư. Theo sau ngay có lời tuyên bố lần nữa về luật Sa-bát. Bởi thế, phải thừa nhận rằng trong các khúc sách đó, ta thấy hai sự thiết lập đều giống như nhau.

III. Mục đích.– Mục đích hai sự thiết lập đó là để tỏ ra sự nhân từ, khoan dung mà từ trước tới nay không hề có như vậy, tức ban quyền lợi cho những hạng người, là cho các tôi trai, tớ gái, cũng cho cả thú vật ngoài đồng.– ấy là mục đích chính ở đây. “Khách ngoại bang” cũng được hưởng quyền lợi đó nữa. Mục đích nhơn đức đó được tỏ rõ hơn trong điều lệ đầy đủ của năm Sa-bát chép ở Lê 25:2-7. Mục đích lớn của cả hai sự thiết lập: ngày Sa-bát và năm Sa-bát, rõ ràng là để ngăn trở người Hê-bơ-rơ có tư tưởng là mình có thể cứ làm chủ hoàn toàn vật gì. Năm hân hỉ phải coi là làm trọn các điều lệ về Sa-bát, bất luận coi là năm thứ bốn mươi chín, hay là năm thứ bảy của một tuần năm Sa-bát, hoặc coi là năm thứ năm mươi, ấy là vấn đề có nhiều quan niệm khác nhau. Tính cách nhân đức của điều răn thứ tư được bày tỏ rất rõ trong Phục 5:12-15. Dầu vậy, theo điều răn đó người Y-sơ-ra ên có quyền lợi là được dự phần đặc ân của các tổ phụ mình, nhưng lời tuyên bố trong sách Xuất Ê-díp-tô ký liên lạc với các chỗ khác, thì có ý cao thượng hơn và rộng rãi hơn.

Phương pháp làm việc và sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời dự định là làm gương cho loài người tuân theo để làm việc và nghỉ ngơi. Bởi đó, thời gian được chia ra rõ ràng thành từng tuần, mỗi tuần là bảy ngày, gồm sáu ngày Tạo thành với ngày Sa-bát theo sau. Làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy làm cho đời sống của con người phù hợp với phương pháp của Đấng Tạo hóa. Khi chia thời gian đời sống mình như vậy, người có thể ngước mắt xem Đấng làm gương cao cả là Đức Chúa Trời. Cũng nên nhớ rằng: điều răn thứ tư không hạn chế về một ngày thôi, song cũng dạy về sự cần phải chia thì giờ trong tuần lễ, và bảo phải làm việc trong sáu ngày cũng như bảo ngày Sa-bát phải yên nghỉ. Ý nghĩa cao thượng nầy làm cho ngày Sa-bát liên quan với lẽ đạo của Ngài, và bởi vậy, là chứng cớ lớn về đức tin của con người đến Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa. Nhưng với những điều đã nêu trên, ta chỉ quả quyết về một nguyên lý chung của sự nghỉ ngày Sa-bát, và cần phải tìm chỗ khác các tiểu tiết để làm rõ hơn nguyên lý này, đó là: ngày Sa-bát là một khoảng thời gian thánh trong công việc hằng ngày để con người có sự nghỉ ngơi, trong ngày đó họ không làm việc nhưng vẫn có lương thực để ăn (Xuất 16:29), theo Sáng 3:19 thì vì thủy tổ loài người sa ngã phạm tội nên con người phải làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, nhưng trong ngày Sa-bát sự rủa sả phải đình lại một ngày; và khi đã vui mừng nhớ đến các sự thương xót Đức Chúa Trời trong ngày đó, thì con người lại được Chúa ban cho sức mới để làm việc trong tuần lễ kế tiếp.

IV. Các thứ việc cấm trong ngày Sa-bát.– Có một bẫy lớn bao giờ cũng giấu kín trong danh từ việc làm, vì dường như điều răn thứ tư cấm làm việc và ép phải lười biếng. Nhưng trong điều răn đó tỏ rõ các thứ việc nào bị cấm. Ấy là công việc hèn hạ và buôn bán. Sách Ngũ kinh giải tỏ ba sự ứng dụng về nguyên lý chung nầy (Xuất 16:29; 35:3; Dân 15:32-36). Những lời chép trong Ê-sai về ngày Sa-bát không thêm điều gì; song những khúc trong Giê-rê-mi và Nê-hê-mi tỏ rõ rằng nếu đem hàng đi bán và mua hàng đó thật là phạm đến ngày Sa-bát. Trước khi bị phu tù, dường như đánh giặc trong ngày Sa-bát không phải là trái luật pháp; nhưng theo sách Apocryphe chép, dân Do-thái giữ ngày Sa-bát mà nghỉ đánh trận thì hậu quả thật rất tai hại. Dầu vậy, cũng có sự ích lợi về luật nghỉ ngày Sa-bát, vì dưới thời đế quốc La-mã cai trị, người Do-thái được miễn đi lính. Nhưng việc đó cũng gây ra điều tai hại vì khi Pompey vây thành Giê-ru-sa-lem, cũng như lần cuối cùng hoàng tử Tít vây thành, người La-mã được đắc thắng vì cớ người Do-thái nghỉ theo luật Sa-bát đó.

Khi xem xét tinh thần của luật pháp và lời phê bình Đấng Christ, thì thấy rõ là trong ngày Sa-bát khi làm những công việc thế gian để được lợi thì bị cấm; bởi đó có câu tiểu dẫn hạn chế mạng lịnh và quả quyết: “Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày, ” chỉ như vậy mới có thể yên tâm nghỉ ngày Sa-bát. Vậy, vẫn chú trọng về việc các tôi tớ và súc vật làm việc nặng cũng phải dự phần yên nghỉ trong ngày Sa-bát.

Đây nên ôn lại những sự kể trên: -Tinh thần ngày Sa-bát là sự vui vẻ, tươi mới, và thương xót, để nhắc lại sự nhơn từ của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa và Đấng Giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi làm nô lệ. Kế đó ta thấy tuyển dân này có một mạng lịnh, đó là thời giờ và sản nghiệp không được kể là thuộc hẳn riêng của họ, vì ngày thứ bảy trong mỗi tuần là biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời để loài người được yên nghỉ theo gương mẫu của sự yên nghỉ Ngài, và để cho mọi người có quyền lợi ngang nhau. Sau đó, bởi luật giữ ngày Sa-bát, những nguyên lý lớn của Đức Chúa Trời và xã hội đòi thì giờ và sản nghiệp mỗi người được lan rộng và mở mang, dân Y-sơ-ra-ên cũng phải giữ luật về năm Sa-bát và năm hân hỉ. Qua cách dân Y-sơ-ra-ên thực hiện và các lời tiên tri dạy dỗ đều tỏ ra các phương diện kể trên.

V. Kinh Thánh dạy ngày Sa-bát nên thế nào?– Ngày Sa-bát là một dấu và một giao ước đời đời, và sự thánh khiết ngày đó có liên quan với sự thánh khiết của con người: “để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va làm cho các ngươi nên thánh” (Xuất 31:12-17; Êxê 20:12). Sự vui mừng là dấu hiệu của sự hầu việc. Môi-se tuyên bố rằng dân sự sẽ có nơi tế lễ, và “các ngươi sẽ ăn tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vui vẻ cùng gia quyến mình” (Phục 12:7; 14:26; 16:14, 15; 26:11). Tác giả Thi-thiên cũng nói rằng: “Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, chúng tôi sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy” (Thi 118:24). Ê-sai quở trách những lễ kiêng ăn chỉ giữ bề ngoài thay thế cho những công việc làm phúc, và bởi lời hứa rằng người nào gọi ngày Sa-bát là ngày vui vẻ, tôn trọng Đức Chúa Trời mà làm công việc Ngài trong ngày đó, thì sẽ được thỏa mãn trong Ngài (Ês 58:3-14). Nê-hê-mi truyền cho dân sự, trong ngày thánh của Đức Giê-hô-va: “Chớ để tang, cũng đừng khóc lóc… Hãy đi ăn vật gì béo, uống đồ gì ngọt, và hãy gởi phần cho những người không có sắm sửa gì hết” (Nê 8:9-13).

Ngày Sa-bát được gọi là ngày thờ phượng riêng trong nơi thánh (Lê 19:30; 26:2). Cũng gọi là ngày nhóm họp thánh (Lê 23:3). Trong ngày Sa-bát, sự thờ phượng công khai cốt là gấp đôi của lễ buổi sáng và buổi chiều, và thay bánh trần thiết mới trong nơi thánh. Về sau, sự thờ phượng trong nơi thánh cũng thêm âm nhạc làm cho sinh động (Thi 68:25-17, v.v..) Ngày nay, dân sự có thói quen thăm viếng các đấng tiên tri (IICác 4:23) và dạy các con cái những lẽ thật mà ngày đó nhắc nhở, bởi thế liên hệ tới bổn phận cha mẹ; ấy là “ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va, ” không phải chỉ ở trong nơi thánh song cũng “trong các nơi ngươi ở” (Lê 23:3).

VI. Luật về ngày Sa-bát được giữ thế nào?

1. Trong đời Cựu Ước.– Trong Kinh Thánh không chép nhiều về việc dân sự giữ ngày Sa-bát giữ thế nào. Trong Cựu Ước chỉ nói đến những trường hợp đặc biệt là liên quan đến sự dọn đồ ăn. Bánh ma na không ban cho dân sự trong ngày Sa-bát, song ngày trước người ta phải lượm một phần gấp đôi (Xuất 16:22-30), giống như sự yên nghỉ năm Sa-bát được bù lại bởi sự phong phú lạ lùng trong năm trước. Không được nhen lửa trong ngày Sa-bát, ai phạm tội đó phải bị xử tử (Xuất 35:2, 3; so 31:14), một người đi lượm củi trong ngày Sa-bát đã bị ném đá (Dân 15:35). Trong mùa cày và trong mùa gặt là lúc người ta dễ bị cám dỗ để làm việc, luật pháp ghi rằng dẫu bận việc đồng áng cũng phải giữ ngày Sa-bát (Xuất 34:21). Các tiên tri thường quở trách dân sự va cả các thầy tế lễ về sự phạm đến luật nầy (Ês 56:2; 58:13; Êxê 22:26 so 44:22), và thúc giục lòng sốt sắng cải cách của Nê-hê-mi sau khi từ Ba-by-lôn về (Nê 13:15-19). Từ đó không có chứng cớ nào cho thấy người Do-thái xao lãng ngày Sa-bát, chỉ trừ những người bội đạo cách công nhiên như chép trong các sách Apocryphe.

2. Trong đời Đấng Christ.– Trong Tân Ước chú trọng đến ngày Sa-bát lắm. Người Do-thái có thể sai lầm về cách giữ ngày Sa-bát, nhưng không bao giờ họ thôi giữ ngày đó. Bất cứ đi đâu, sự nghiêm giữ ngày Sa-bát vẫn là một dấu rất rõ, để tỏ ra một người là thuộc Do-thái-giáo. Cách Đấng Christ giữ ngày Sa-bát là một việc chính trong đời Ngài mà những kẻ thù nghịch là phe Pha-ri-si hết sức rình để chỉ trích. Họ đã đặt ra nhiều cấm lệ về ngày Sa-bát mà thật không có trong luật đó. Trong số cấm lệ đó có nhiều điều kỳ khôi và độc đoán mà trong Mat 23:4 Chúa Jêsus đã quơ trách họ là: “Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.” so Mat 12:1-13; Giăng 5:10). Trong đời Chúa, sự bại hoại ngày Sa-bát đã trở nên rất thường, việc này cũng được tỏ ra trong cả những sự phản đối về công việc Ngài làm trong ngày đó, và cả về cách Ngài cư xử trong các dịp mà người Pha-ri-si rình xem chắc chắn sẽ phản đối (Mat 12:1-15; Mác 3:2; Lu 6:1, 5; 13:10-17; Giăng 5:2-18; 7:23; 9:1-34).

Vậy, ta thấy phe Pha-ri-si tố cáo Chúa Jêsus, vì Ngài chữa lành người bịnh trong ngày Sa-bát; dầu cho nếu bò, lừa, hay chiên của họ sa xuống hố ngày đó, mà họ kéo lên khỏi lập tức thì họ không kể là trái luật pháp. Họ cũng dẫn súc vật ra ngoài suối cho uống trong ngày đó cũng như trong những ngày thường (Mat 12:9-13; Mác 3:2; Lu 13:10-17). Khi những môn đồ Chúa trong ngày Sa-bát đi qua đồng lúa mì bứt mấy bông, tuốt trong bàn tay mà ăn vì đang đói, những người Pha-ri-si tố cáo dường như là các môn đồ Chúa đã gặt, quạt, và giã lúa vậy. Chúa đáp lại: “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ không phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người” (Mác 2:23-28). Ngày Sa-bát được lập lên là có ích cho loài người, và con người không phải là tôi mọi, song “làm chủ ngày Sa-bát.”

3. Trong đời các Sứ đồ.– Các thơ tín Tân Ước, chỉ trừ một vài chỗ, đều yên lặng về vấn đề ngày Sa-bát. Các Sứ đồ chẳng bao giờ đặt luật lệ giữ ngày Sa-bát, không bao giờ tố cáo sự phạm ngày đó, và trong những danh sách kẻ phạm pháp không nói đến những người phạm ngày Sa-bát. Cô 2:16, 17 dường như là một cớ xác đáng để hủy bỏ ngày Sa-bát trong thời đại Tin lành; câu Hêb 4:9 có lẽ cũng chỉ bóng về sự yên nghỉ ngày Sa-bát. Ngày các nhà hội Do-thái-giáo thờ phượng là ngày thứ bảy trong tuần lễ (Mat 12:9, 10; Công 13:14). Hội Thánh Đấng Christ trong đời các Sứ đồ lập từ ban đầu nhóm họp thờ phượng ngày thứ nhứt của tuần lễ, là ngày Đấng Christ sống lại từ trong kẻ chết, vì sự xưng công bình của chúng ta (Công 2:1; và có lẽ 20:7). Ngày đầu tuần lễ đó, Phao-lô chỉ dẫn cho người tín đồ ở Ga-la-ti và Cô-rinh-tô quyên tiền giúp Hội Thánh (ICôr 16:1, 2). Ngày thứ nhứt đó được gọi là “ngày của Chúa” (Khải 1:10). Ngày nay, giống sự chỉ định trước về ngày thứ bảy, biệt riêng cả ngày thứ nhứt trong số bảy ngày để làm ngày Sa-bát cho Chúa. Ngày đó cũng nhắc lại sự Chúa cứu chuộc dân Ngài. Sau lại có chứng cớ Chúa ban phước cho ngày nầy về phần vật chất và thuộc linh.

4. Trong Hội Thánh đầu tiên.– Khi nhờ những đài kỷ niệm của Hội Thánh đầu tiên còn lại, ta cũng được chỉ dẫn ý kể trên. Lại nữa, đối với những tín đồ đầu tiên, dường như không lẫn lộn sự giữ “ngày của Chúa, ” là ngày đầu tuần lễ, với ngày Sa-bát Do-thái-giáo. Có khi các giáo phụ đầu tiên nói đến ngày của Chúa, vì so sánh với ngày Sa-bát. Chiếu chỉ cấm xử án trong ngày của Chúa bởi Constantin, có lẽ vì muốn cho ngày đó của các tín đồ Đấng Christ ngang sự tôn trọng với các ngày lễ của người ngoại đạo, hơn là có ý chỉ về ngày Sa-bát hoặc điều răn thứ tư. Song nhiều hoàng đế về sau cấm nhiều việc khác mà ngày thường cho là vô tội. Có thể, vì hay đọc điều răn thứ tư trong ngày Chúa nhựt tại các nhà thờ, thì có tín đồ lẫn lộn ngày Sa-bát với ngày của Chúa, dầu vẫn khác nhau luôn, vì ngày Sa-bát theo luật pháp, và ngày của Chúa theo ơn điển. Vậy, trong Hội Thánh Đấng Christ, ngày của Chúa đã thế cho ngày Sa-bát của người Do-thái.

Trích từ sách William Smith, LL.D.

Tiến sĩ Scofield chú thích về ngày Sa-bát:

Nê 9:14.– Câu quan trọng nầy ấn định chắc chắn thời gian của ngày Sa-bát, về sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, được ban cho loài người (Sáng 2:1-3). So Xuất 20:9-11. Trong Xuất 31:13-17, ngày Sa-bát là một dấu hiệu giữa Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên.

Sáng 2:3.– Trong Cựu Ước, tiếng Hê-bơ-rơ “qodesh” dịch là làm nên thánh, biệt riêng, dâng cho, và thánh khiết. Trong câu nầy, có nghĩa là để ngày thứ bảy riêng ra thờ phượng Chúa.

Mat 12:1. 1) Ngày Sa-bát (“nghỉ việc”) tỏ ra trong Kinh Thánh là ngày của Đức Chúa Trời yên nghỉ khi Ngài đã làm xong công cuộc tạo thành (Sáng 2:2, 3). Trong vòng 2.500 của lịch sử loài người, tuyệt nhiên không nói gì về ngày đó. Tại núi Si-na-i, ngày Sa-bát được tỏ ra (Nê 9:13, 14), làm một luật pháp (Xuất 20:8-11), và mang lấy tánh cách là một “dấu hiệu” giữa Đức Giê-hô-va và dân Y-sơ-ra-ên, để luôn nhắc lại cho họ về sự biệt mình riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời (Xuất 31:13-17). Giữ ngày đó tức là hoàn toàn yên nghỉ (Xuất 35:2, 3); và bởi lịnh đặc biệt Đức Giê-hô-va truyền phải xử tử một người vì đã lượm củi trong ngày Sa-bát (Dân 15:32-36). Ngoài việc cứ giữ của lễ thiêu tiếp theo (Dân 28:9) và sự liên quan với những ngày lễ hằng năm (Xuất 12:16; Lê 23:3, 8; Dân 28:25), thì ngày thứ bảy chẳng bao giờ là ngày dâng của lễ thờ phượng, hoặc một cách nào làm lễ theo tôn giáo. Ấy chỉ là một ngày hoàn toàn yên nghỉ cho người và vật, là điều có ích cho con người. Lời của Đấng Christ là: “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người” (Mác 2:47). 2) Chúa Jêsus thấy luật giữ ngày Sa-bát bao bọc bằng lớp vỏ tức những điều phải giữ theo mà các thầy Ra-bi thêm vào (Mat 12:2), và những điều hạn chế không thấy gì cả trong Luật pháp, đến nỗi chính Ngài cũng bị kể là phạm ngày Sa-bát bởi những nhà cầm quyền tôn giáo thời bấy giờ. Ngày Sa-bát cũng sẽ được giữ trong thời đại của nước Đức Chúa Trời (Ês 66:23). 3) Ngày thứ nhứt của tín đồ Đấng Christ còn giữ mãi, trong thời đại ơn điển, nguyên lý về một phần bảy thời giờ được kể là thánh đặc biệt, song trong mọi phương diện khác hẳn với ngày Sa-bát. Một đàng là ngày thứ bảy, đàng khác là ngày thứ nhứt. Ngày Sa-bát kỷ niệm Đức Chúa Trời yên nghỉ công việc tạo thành; ngày thứ nhứt kỷ niệm Đấng Christ sống lại. Ngày thứ bảy Đức Chúa Trời yên nghỉ, còn ngày thứ nhứt Đấng Christ không thôi hoạt động. Ngày Sa-bát kỷ niệm một cuộc sáng tạo đã xong xuôi, ngày thứ nhứt kỷ niệm sự cứu chuộc đã hoàn thành. Ngày Sa-bát là ngày của Luật pháp bắt buộc, ngày thứ nhứt là ngày tình nguyện thờ phượng và hầu việc. Ngày Sa-bát nói đến trong Công vụ các sứ đồ chỉ liên quan với người Do-thái, cả Tân Ước còn lại chỉ nói đến hai lần thôi (Cô 2:16; Hêb 4:9). Trong hai khúc nầy; ngày thứ bảy là ngày Sa-bát được giải nghĩa cho tín đồ Đấng Christ không phải giữ, song là một hình bóng về sự yên nghỉ hiện tại mà tín đồ vào đó khi “đã nghỉ công việc mình” (Hêb 4:10), và tin cậy Đấng Christ.

Lên đầu trang