Quyền tư pháp

Quyền tư pháp Judicial power. Pouvoir judiciaire.

Quyền tư pháp của người Y-sơ-ra-ên có thể chia làm ba bước:

Bước thứ nhứt.– Người tư pháp là gia trưởng một nhà, có quyền đoán định điều phải hay quấy, điều thẳng hay cong quẹo; cũng có quyền khép con trai, con gái vào tội chết nữa (Sáng 38:24). Người trong một nhà phải giữ quyền lợi cho nhau, binh vực lẫn nhau. Nếu một người trong nhà bị người ngoài làm hại, ắt cả nhà phải báo thù cho người đó (so Sáng 34:1-).

Bước thứ hai.– Người tư pháp từ bực gia trưởng một nhà trở nên tộc trưởng một họ, như Môi-se theo lời Giê-trô khuyên, lựa chọn bảy mươi người lập làm trưởng lão và trưởng tộc làm quan xét cho dân chúng (Xuất 18:13-27). Số là trong xứ Ai-cập dường như dân Hê-bơ-rơ không có người đồng bào làm quan xét riêng cho họ, điều đó, tự nhiên là nguyên nhân sanh ra nhiều sự lầm lỗi. Khi rời bỏ xứ Ai-cập, Môi-se cầm quyền tư pháp, song thật khó lòng xét lẽ công bình không tây vị cho hai triệu năm mươi vạn người; bởi đó, nên mới lập ra chế độ phán lệ (système de jurisprudence). Môi-se lập ra các quan xét trên mười, năm mươi, một trăm, một ngàn người, — tổng số độ 78.600 quan xét. Những tòa án nầy, dầu chia từng trật, song không cho cơ hội để chống án. Tòa thấp hơn nếu gặp việc khó thì giải lên tòa cao hơn. Nếu việc dễ dàng, thì quan xét trên mười người định lấy, song nếu khó xử quá cho người, thì chuyển lên một tòa cao hơn, và cứ thế cho đến khi tới Môi-se. Có mấy loại vấn đề kia, tòa trên mười, năm mươi và trăm người không định gì hết, thì dân sự đệ lên tòa cao hơn vì quyền tài phán gốc (tức Môi-se). Nếu tòa án nào đã quyết định, thì vụ đó kết thúc, không thể chống án (Xuất 18:25, 26). Về sau đến đời Phục-truyền, thì khuôn phép tư pháp càng mở rộng, phàm con cái ngỗ nghịch phải bắt đến trước mặt các trưởng lão, nếu quả có tội thì phải phải bị ném đá chết (Phục 21:18-21). Bấy giờ, gia trưởng không có quyền xử tử con cái nữa. Khi trưởng lão gặp vụ án khó xử, thì có thể cầu xin Chúa xử đoán cho (Xuất 22:8, 9, xem Phục 21:1-9). Hồi chiếm lấy xứ Pha-lê-tin, các quan xét được lập lên trong mỗi thành và miền phụ cận (Phục 16:18), như vậy cho Y-sơ-ra-ên một phương pháp quyết định nhanh chóng và rẻ. Dầu hiến pháp không qui định, song các quan xét thường được lựa chọn giữa vòng người Lê-vi và hạng người có học thức. Chức vụ được lựa chọn bởi cách bầu cử. Sử gia Josèphe có giải nghĩa rõ, và mấy khúc Kinh Thánh cũng chứng quyết thật có (xem Phục 1:13). Sự chọn lựa Giép-thê là bởi dân sự bỏ thăm (Quan 11:5-11).

Bước thứ ba.– Quyền tư pháp từ trưởng lão mà thuộc về quốc vương. Trưởng lão bấy giờ dầu có quyền phán xét (ICác 21:8-13), song đã có hai bộ phận tư pháp mới là vua và thầy tế lễ, nên quyền của trưởng lão ngày một rút hẹp lại.

a) Quyền tư pháp của vua.– Phàm việc lớn lao quan trọng trong dân đều thuộc vua cai quản (ISa 8:20; IISa 15:2-6; ICác 3:9; IICác 15:5). Như vua Sa-lô-môn xây riêng một hiên để làm nơi xét đoán (ICác 7:7). Song, hàng trăm vụ án, thì một mình vua không xét xuể, nên lập quan án để xét xử theo lẽ phải. Quyền tư pháp đã do các quan án nắm giữ, những tệ nạn từ đó mà sanh ra nhiều, đến nỗi có kẻ ăn hối lộ, trái pháp luật, gieo hại cho dân. Cứ xét trong sách các tiên tri cũng đủ rõ (Ês 1:23; 5:7, 20, 23; Mi 3:11; 7:3; Êxê 22:12, 13).

b) Quyền tư pháp của thầy tế lễ.– Nếu có vụ án nào khó xử, người ta nhờ đến thầy tế lễ, thì thầy tế lễ lại cầu xin Đức Chúa Trời xét đoán cho (Phục 17:8-13; 19:15-21).

Sau khi từ Ba-by-lôn về nước, trưởng lão các thành vẫn có quyền tư pháp (Exơ 7:25; 10:14). Thành nào nhỏ thì có bảy trưởng lão, thành lớn có hai mươi ba. Vụ án nào các trưởng lão không xử đoán được thì giao lại cho Tòa Công luận tại thành Giê-ru-sa-lem quyết định. Đó là một đoàn thể có quyền lập hiến và tư pháp, hành động với quyền tự trị rất rộng đến nỗi không những cầm quyền trên các vụ án của công dân hiệp với luật Do-thái (nếu không có quyền đó không thể có Tòa án Do-thái) song cũng giữ quyền lớn trong sự hình phạt trọng tội. Tòa Công luận hành quyền độc lập về sự tuần phòng, bởi đó có Kinh Thánh có chép họ đã phái những quân lính đi lùng bắt tội nhân (Mat 26:47; Mác 14:43; Công 4:3; 5:17, 18). Về các vụ không nặng đến án tử hình, thì chỉ cần sự phán xét của tòa Công luận là đủ (Công 4:2-23; 5:21-40). Nhưng những tội nặng đến án tử hình thì cần phải có quan tổng đốc ưng thuận, việc này không những nói rõ trong Giăng 18:31 mà cũng tỏ trong sự tra án Chúa Jêsus như thuật trong ba sách Tin lành đầu. Bằng lòng hay không, trong các trường hợp đó, quan tổng đốc có thể nhứt quyết theo ý mình ứng dụng luật pháp hoặc Do-thái, hoặc La-mã làm phương châm. Tòa Công luận có thể khép án tử hình những công dân La-mã, là người không phải người Do-thái dám bước qua giới hạn mà vào nơi thánh Đền thờ. Ngay trong vụ đó cũng phải có quan tổng đốc ưng thuận, nhưng dường như các quan La-mã thường để mặc luật pháp hành động khép án những người xúc phạm đến tình cảm người Do-thái như thế (xem Công 21:28, 29; Công 22:1–26:1-). Những ai có quốc tịch La-mã thì không được phép hình phạt người đó trước khi chưa thành án (22:25); nếu cứ hình phạt, thì người tư pháp đã trái phép (16:37). Án nào không giải oan được thì được phép kêu lên hoàng đế La-mã xét xử (25:10-12). Tóm lại, những người có quốc tịch La-mã đều được đối đãi cách đặc biệt như vậy.

Lên đầu trang