Quan tổng đốc Governors. Procurateur.
Tiếng Hy-lạp là hégemon, trong Tân Ước dùng để chỉ chức quan cai trị trên xứ Giu-đê thuộc hoàng đế La-mã. Chức quan nầy dùng cho Bôn-xơ Phi-lát (Mat 27:1-), Phê-lít (Công 23:1-; 24:1-) và Phê-tu (Công 26:30). Chức của quan tổng đốc có nói trong Lu 3:1, dưới bài “Quan trấn thủ, ” có giải nghĩa rằng sau trận đánh tại Actium (27 T.C.). Sê-sa Au-gút-tơ chia những tỉnh của đế quốc La-mã làm hai: một phần cho thượng nghị viện, còn bao nhiêu thuộc về mình. Những tỉnh thuộc hoàng đế có quan Khâm sai (Legati) cai trị. Không có quan giữ kho bạc nào (queestor) được dự phần trong các tỉnh thuộc về hoàng đế, song cơ nghiệp và huê lợi của kho hoàng đế đã có những procuratores coi giữ. Có khi quan tổng đốc kiêm luôn chức Khâm sai cai trị một tỉnh. Ấy là điều đặc biệt cho các tỉnh nhỏ và các miền ngoại ô của tỉnh lớn hơn, đó cũng là sự liên quan giữa xứ Giu-đê và Sy-ri.
Những dinh thự của quan tổng đốc được đặt ở tại Sê-sa-rê (Công 23:23), tại đó quan tổng đốc có một tòa án (25:6), phòng xử kiện (25:23), và có một công hội giúp việc cho mình khi gặp việc gì khó xử (25:12). Trong Tân Ước, chỉ thấy quan tổng đốc có quyền tư pháp. Vậy Đấng Christ bị giải đến trước Bôn-xơ Phi-lát như người phạm đến chính trị (Mat 27:2, 11), quan tổng đốc ngồi trên tòa án nghe lời tố cáo (Mat 27:19). Phê-lít nghe lời kiện cáo Phao-lô, và lời của Sứ đồ binh vực mình tại Sê-sa-rê (Công 24:1-), và Phao-lô gọi Phê-lít là “quan án” (Công 24:10), như danh từ đó mô tả trách nhiệm chính của Phê-lít. Quan tổng đốc cũng được ngụ ý đến lần nữa trong quyền tư pháp ở IIPhi 2:14. Quan đó có một đạo binh đi theo làm đoàn quân hộ vệ (Mat 27:27), và dường như mỗi khi có ngày quan trọng thì lên thành Giê-ru-sa-lem ở tại lâu đài Hê-rốt trong đó có praetorium, tức trường án (Mat 27:27; Mác 15:16 so Công 23:35).