Phao-lô, Sứ đồ

Phao-lô, Sứ đồ Apostle Paul. Apôtre Paul (Hy-lạp Paulos; La-tinh Paulus, nhỏ).

I. Nguồn gốc tỏ tiểu sử Phao-lô. 1. Sách Công vụ các sứ đồ chép những việc cần yếu về Phao-lô liên quan với đời thứ nhứt của Hội Thánh. Sử liệu nầy rất có giá trị, đáng tin, thật do Lu-ca chép. 2. Có mười ba thơ tín của Phao-lô soạn trong Tân Ước được công nhận; còn thơ Hê-bơ-rơ không chắc là của Phao-lô, dầu lời lẽ và ý nghĩa thơ đó giống với Phao-lô. Xét kỹ mười ba thơ tín đó, tấn sĩ Moffatt làm chứng rằng: Dầu có sự bàn luận khác nhau, như hai thơ I Tê-sa-lô-ni-ca và II Tê-sa-lô-ni-ca, song vẫn chứng rằng đều do Phao-lô làm ra vậy. 1. Thứ tự các thơ tín.– Cứ như giám mục Lightfoot đoán định, có nhiều lời bàn luận vì khó quyết định thơ Ga-la-ti chép lúc nào. Có một phái học giả quyết định thơ Ga-la-ti là thơ tín sớm hơn hết của Phao-lô viết trước khi có giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem (Công vụ các sứ đồ 15:1-). Đứng đầu phái nầy là Ramsay. Dầu có một số học giả khác không hiệp với ý trên, nhưng thứ tự mà Lightfoot đã sắp đặt thật là chính đáng. Nay xin theo đó mà kể ra thứ tự mười ba thơ tín của Phao-lô. a) Tập thứ nhứt, I Tê-sa-lô-ni-ca và II Tê-sa-lô-ni-ca: Hai thơ nầy từ thành Cô-rinh-tô gởi đi, vào khoảng năm 52-53 S.C. Harnack nói: Thơ I Tê-sa-lô-ni-ca như gởi cho Hội Thánh là người tín đồ ngoại bang ở Tê-sa-lô-ni-ca; và thơ II Tê-sa-lô-ni-ca gởi cho tín đồ là người Do-thái tại đó. Song nhiều nhà giải nghĩa không cho thuyết đó là phải. Milligan chứng quyết I Tê-sa-lô-ni-ca có chép như II Tê-sa-lô-ni-ca, và là thơ thứ nhứt Phao-lô chép. Hai thơ nầy chép rất nhiều về Chúa tái lâm, bởi thế hiệp đúng với các ý kiến các môn đồ đầu tiên tỏ ra trong mấy đoạn mở đầu sách Công vụ các sứ đồ. Vậy có thể quyết định hai thơ nầy do Phao-lô viết ở thành Cô-rinh-tô (Công 18:1-).

b) Tập thứ nhì. ICôr và IICô-rinh-tô, Ga-la-ti, và Rô-ma chép vào khoảng 55-58 S.C.. Ấy là một tập luận về lẽ đạo lớn của thần học. Mục đích mấy thơ nầy cốt phản đối sự gắng sức giữ Luật pháp và phép cắt bì của tín đồ là người Do-thái từ thành Giê-ru-sa-lem đến, và nhân sự tranh biện cùng họ để làm dịp tiện truyền bá lẽ đạo được xưng công nghĩa bởi đức tin (Công 15:1-3; Ga 2:1-10). Niên hiệu các thơ nầy không chắc chắn. ICôr viết tại Ê-phê-sô, lúc Phao-lô ở đó gần ba năm (Công 20:31, ICôr 16:8; Công 20:1). Vài tháng sau, tại Ma-xê-đoan, Phao-lô chép IICôr (IICôr 2:13; 7:5, 13; 8:16-24). Thơ Rô-ma viết ở thành Cô-rinh-tô (Rô 16:23; Công 20:2), do bà Phê-bê là nữ chấp sự Hội Thánh Xen-cơ-rê, đem đến La-mã (Rô 16:1). Về Rô 16:3-16, Von Soden viết rằng: “Những lời chào thăm nầy, chắc Phao-lô định ý gây mối giao thông giữa các tín đồ theo mình với Hội Thánh La-mã, lại cũng tỏ ra Phao-lô không phải chỉ chuyên quyền lấy danh riêng mình mà viết.” Có người hỏi: “Ở La-mã sao Phao-lô quen biết rộng như vậy?” Ấy vì La-mã là nơi trung tâm sanh hoạt của thế giới bấy giờ, nên mọi người sống thời ấy đều qua lại nơi này, như đời nay dầu chúng ta có lẽ chưa đến Paris nhưng có thể có bạn hữu tại đó rồi; bởi đó Phao-lô quen biết nhiều tại La-mã.

c) Tập thứ ba. Thơ Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và Phi-lê-môn: đều viết vào khoảng năm 61-63 S.C.. Để quyết định thời kỳ nầy là đúng, thì phải lấy kỳ hạn Phê-tu đến thay Phi-líp làm bằng cớ và theo đó mà tính (Công 24:17). Trước kia có người tưởng tập này viết vào khoảng năm 60 S.C., nhưng nay không ai công nhận. Tóm lại, để quyết định thời điểm viết sách, phải lấy lịch sử Phao-lô lần đầu bị giam cầm rồi được thả ra. Ấy vì bốn thơ nầy đều do Phao-lô khi ông ở trong ngục La-mã lần thứ nhứt, miễn là Phao-lô thật đã được thả. Thứ tự chép bốn thơ không chắc chắn. Thơ Cô-lô-se (4:7) và Ê-phê-sô (6:21) do Ti-chi-cơ đưa đến, và thơ Phi-lê-môn do Ô-nê-sim đem đi (Philm 10, 13). Hai người đồng đến Cô-lô-se (4:7-9). Như vậy, ta biết ba thơ nầy từ La-mã gởi đi cùng một lúc. Ai nấy thường tưởng trong bốn thơ nầy thơ Phi-líp là thơ cuối cùng; ấy vì thấy trong thơ đó Phao-lô cân nhắc sự sống và sự chết (Phil 1:21), trông đợi được tha (Phil 1:25), nên liên quan với ba thơ kia. như trong Philm 22, Phao-lô cũng có hy vọng được tha. Song Lighfoot đặt Phi-líp trước ba thơ kia, vì có lẽ đạo chung với tập thứ nhì trong Phil 3:1- có chép tình hình Phao-lô hồi tưởng lại mà thuật ra, và vì Phil 2:1- dự liệu trước đạo Đấng Christ tranh luận với Trí huệ giáo (Gnosticisme). Sự tranh luận lớn nầy chung qui vào thơ Cô-lô-se và Ê-phê-sô. Ở đây không dám quyết định thứ tự nào là phải, song vẫn khó cắt nghĩa sao bấy giờ Lu-ca không cùng đi với Phao-lô (Phil 2:20). Thơ Ê-phê-sô cũng là thơ Cô 4:6 nói là gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê và nhiều người tin là một bức thơ chung đặt cho “những kẻ trung tín trong Đức Chúa Jêsus Christ” cả mọi nơi. Thơ Phi-lê-môn dẫu gởi cho cá nhân, song rất trọng yếu đối với xã hội. Lúc chép tập thứ ba nầy Phao-lô đạt tới bực cao siêu trong sự thấu hiểu Ngôi vị Đấng Christ vậy.

d) Tập thứ tư, I Ti-mô-thê, Tít, IITi-mô-thê thường gọi là các thơ tín về chức mục sư. Các nhà thần đạo các nước cho ba thơ nầy là do Phao-lô chép. Nhưng thỉnh thoảng có người phản đối rằng I Ti-mô-thê và IITi-mô-thê có lời văn khác nhau, họ nào có biết thơ đã chia ra trước sau, thì những tiểu tiết trong đời Phao-lô sẽ khác mà lời văn cũng khác: đó là lẽ cố nhiên. Huống chi lời văn trong bốn tập đều có đặc sắc riêng. Đó là lệ chung của các nhà trước giả: tùy theo đầu đề mà đặt bút vậy. Va, lời văn thay đổi là do sự tấn tới về học thức và phần thuộc linh của tác giả. Nếu bốn tập cùng một lối hành văn thì liệu có tránh được mối nghi ngờ lớn hơn?

2. Quan niệm Phao-lô trong các thơ.–Trong mười ba bức thơ của Phao-lô thấy rất rõ Phao-lô tấn tới về sự hiểu biết Đấng Christ và đạo Ngài càng ngày càng hơn, ở trong các thơ ấy, ta thấy rõ Phao-lô tập thích ứng trong mọi hoàn cảnh khác nhau, và nhìn những vấn đề khó giải quyết của thế gian với những giá trị vĩnh viễn trong đời sống bằng cặp mắt sáng suốt. Ngoài số mười ba thơ đó, Phao-lô còn viết mấy thơ khác nữa, nhưng thất lạc mất rồi. ICôr 5:9 trưng dẫn rõ một thơ đã viết trước IITê 3:17 chép “mọi thơ của tôi”, chứng tỏ rằng ngoài thơ đó, Hội Thánh còn nhận nhiều thơ khác của Phao-lô. IICôr 2:4 không nói rõ là thơ nào, song có học giả cho rằng đó là thơ gởi giữa ICôr và IICôr hoặc là chỉ về IICôr 10:13; là một bức thơ riêng lẻ. Cô 4:16 nói đến một bức thơ gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê mà ai nấy đều tin là thơ Ê-phê-sô. Nếu không phải thế, nay còn ít nhứt hai thơ ngụy tác gởi cho Lao-đi-xê để thế cho khuyết điểm đó. Cứ như Phao-lô viết trong IITê 2:2: “hoặc thơ nào tựa như chúng ta đã gởi” tỏ ra bấy giờ đã có những kẻ mạo danh Phao-lô mà viết để đánh đổ và làm hư những giáo lý chơn chánh của Phao-lô. Vậy Phao-lô sớm răn bảo tín đồ phải nhận rõ chữ ký của mình có thật không (IITê 3:17; ICôr 16:21; Ga 6:11; Cô 4:18). Điều này là rất cần thiết vì dường như Phao-lô có đọc cho các thơ ký như Tẹt-tiu chép thơ (Rô 16:22). Còn thơ Phi-lê-môn và Ga-la-ti do chính tay Phao-lô viết ra (Ga 6:11; Philm 19). Điểm đáng lưu ý ở đây là bốn tập thơ nầy có hiệp với lịch sử mà Lu-ca chép trong sách Công vụ các sứ đồ, riêng tập thứ tư chắc là viết sau những việc chép trong sách Công vụ các sứ đồ. Mỗi tập hiệp với hoàn cảnh đặc biệt có những vấn đề rất nên chú ý trong một miền hoặc mấy miền nhứt định. Phao-lô thường nói đến những vấn đề đó, hoặc về thần đạo, về Hội Thánh hay về những điều thường thức, một cách khôn ngoan lạ lùng, và ứng nghiệm những nguyên lý vĩnh viễn của đạo Tin Lành Đấng Christ cốt để làm gương mẫu cho những người hầu việc Ngài đời sau noi theo. Ấy cũng là ý của Phao-lô, vì thấy ông coi các thơ tín mình là trọng yếu lắm, nên trong ITê 5:27 khuyên “Tôi nhơn Chúa nài xin anh em hãy đọc thơ nầy cho hết thảy anh em đều nghe, ” lại nói trong IITê 3:14 “Ví bằng có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thơ nầy, thì hãy ghi lấy, chớ giao thông với họ.” Bởi thế, ta thấy Phao-lô không coi các thơ tín mình như một bức thư thông thường, song là những bức thơ với lời dạy dỗ quyền năng mà ông gởi cho các tín đồ. Vậy trong ICôr 7:17 chép: “Ấy đó là điều tôi dạy trong hết thảy các Hội Thánh.” Phao-lô trong câu đó lấy lời mình dạy cũng có quyền như lời Chúa Jêsus chép trong chính đoạn đó. Phao-lô chỉ muốn tín đồ tuân theo. Vậy, có tín đồ Cô-rinh-tô cho rằng điều gì Phao-lô khó nói ra thì mượn thơ tín để dọa nạt (IICôr 10:9). Lời đó dầu quá đáng, nhưng dường như trong IICôr 10:11, Phao-lô công nhận khi chép: “Khi chúng tôi vắng mặt, lời trong thơ thể nào, thi khi có mặt, việc làm cũng thể ấy.” Vả lại trong IICôr 13:2, 10 thấy Phao-lô làm cách nghiêm nhặt nữa. Khi xem Cô 4:16 có thể tin rằng thơ của Phao-lô chẳng những chỉ gởi cho một hội, song cũng truyền đưa cho nhau đọc để được ích lợi về phần đời sống thuộc linh của mọi tín đồ. Theo ý đó thấy ICôr 1:2 ngoài câu “gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô” lại có chép “cho mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Chúa Jêsus Christ chúng ta.” Cũng vậy, thơ Phi-lê-môn dầu là bức thơ gởi cho cá nhân, nhưng bàn luận về vấn đề xã hội là việc bán tôi mọi là việc có quan hệ đến cả thế gian. Hai thơ I Ti-mô-thê, IITi-mô-thê và thơ Tít dầu gởi cho hai mục sư đó nhưng phần nhiều luận về cách ứng xử trong Hội Thánh luôn những việc giáo hữu bội đạo, buông lung, tình dục, v.v… đều ngăm đe phá hại Hội Thánh trong Đế quốc La-mã. Phao-lô chẳng những chỉ muốn Ti-mô-thê tuân theo lời dạy (IITi 3:10), song cũng khuyên “điều con đã nghe nơi ta… hãy giao phó cho mấy người trung thành cũng có tài dạy dỗ kẻ khác” (IITi 2:2.) Vậy Phao-lô chẳng những lo đến Hội Thánh bấy giờ song lo đến Hội Thánh trong tương lai càng hơn. Phao-lô cho mình là người có “chức việc của Đức Chúa Jêsus Christ giữa dân ngoại” (Rô 15:16; Êph 3:7, 13), và coi mình có quyền truyền đạo cho muôn người như nói: “Tôi mắc nợ cả người Hy-lạp lẫn người dã man” (Rô 1;14), và bởi đó cho người La-mã nữa (Rô 1:15). Vậy, không thể nào hạn chế thơ của Phao-lô chỉ gởi cho một Hội Thánh hoặc một xứ nào vì thật những thơ ấy đã phổ biến cho cả thiên hạ trong mọi đời.

3. Sự mở mang trong các thơ tín Phao-lô.– Điều nên chú ý ở đây là bốn tập thơ trên bày tỏ những sự tấn bộ chính đáng của Phao-lô từ lúc ông mới từng trải ơn điển Chúa và lấy đó làm nền tảng. Đứng trước những vấn đề mới, Phao-lô đều thấy chung một lẽ thật căn bản: Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, Con Đức Chúa Trời, Đấng tỏ ra cho Phao-lô thấy trên đường Đa-mách. Đó là chìa khóa Phao-lô dùng để mở toang những vấn đề mới. Các thơ tín nói rõ lời Lu-ca thuật trong sách Công vụ các sứ đồ về thực sự cốt yếu tức là Chúa Jêsus phục sanh đã hiện đến cùng Phao-lô cũng như trước đó đã hiện ra cho mười hai Sứ đồ cùng hơn năm trăm anh em vậy (ICôr 15:4-9). Nói lên bậc nữa, Đức Chúa Trời “bày tỏ Con Ngài ra trong Phao-lô” (Ga 1:16), lại kêu gọi ông cách đặc biệt để đi truyền đạo cho dân ngoại, ấy vậy Phao-lô được kể ngang hàng với các Sứ đồ khác, và đứng trong địa vị biệt lập (Ga 2:1-10). Khi mới bắt đầu truyền đạo, Phao-lô liền giảng dạy “Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời” (Công 9:20), và từ đó những lời giảng của Phao-lô vẫn không thoát ra khỏi chân lý đó như chép trong sách Công vụ các sứ đồ.

Điều làm cho Phao-lô quyết định về thần đạo toàn nhờ ở sự từng trải việc hối cải trên đường Đa-mách. Cứ mỗi tập thơ tín Phao-lô đều thuật lại thực sự đó, và mỗi khi Phao-lô đòi quyền Sứ đồ cũng thấy bao hàm ý đó (ITê 2:4-6; IITê 2:15; 3:6, 14). Như trong tập thơ thứ nhứt chép: “Chúng tôi… là Sứ đồ của Đấng Christ” (ITê 2:6). Trong tập thứ nhì chỉ cần đọc ICôr 9:1 và 15:1-11, tại đó Phao-lô làm chứng đạo mình là thật vì đã thấy Chúa Jêsus phục sanh. Trong IICôr 10:1–13:1- và Ga 1:1–2:1- Phao-lô binh vực chức Sứ đồ mình. Trong tập thứ ba ở Phil 3:12-14 Phao-lô chỉ về sự ăn năn đổi lỗi của mình: “Chính tôi đã được Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi”, song Phao-lô “không tưởng mình đã đạt đến mục đích, ” nên “nhắm mục đích mà chạy.” Ấy là chìa khóa của đời sống và thơ tín của Phao-lô, và cũng cắt nghĩa vì cớ nào Phao-lô cứ chăm chú, cứ cố gắng. Thơ Êph 3:2-13 cũng như thế, vì tại đó Phao-lô nói Chúa đã dùng sự khải thị khiến mình biết lẽ mầu nhiệm của Tin Lành đã viết gởi cho anh em đọc, và bởi đó anh em công nhận Phao-lô hiểu rõ lẽ mầu nhiệm của Đấng Christ. Trong tập thứ tư, ITi 1:15, 16 chép: “Trong những kẻ có tội ta là đầu. Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta… để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài và được sự sống đời đời.” Phao-lô cứ chiến đấu vì đạo Chúa và đứng vững đến cuối cùng (IITi 4:6-10). Ông có thể làm được điều này vì có Chúa Chúa Jêsus giúp đỡ ông (IITi 4:17) như trên đường Đa-mách. Những sự từng trải riêng của Phao-lô chép như thế, vẫn liên lạc các thơ tín với nhau.

Các thơ tín đều bày tỏ quan niệm Phao-lô về Đấng Christ được mở rộng. Khi mới hối cải, Phao-lô đã biết rõ rằng người ta được cứu là nhờ tin vào Đấng Christ, là Cứu Chúa chuộc tội, chớ không nhờ những việc Luật pháp (Công 13:38, 39). Vì thế mà trong tập thơ thứ nhứt, có nói đến “công việc của đức tin anh em, công lao của lòng yêu thương anh em, sự bền đỗ về sự trông cậy của anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ” (ITê 1:3). Lại nói đến, “anh em là kẻ được lựa chọn” (ITê 1:4). “Tin Lành chúng tôi” (1:5), “sự sống lại của Cứu Chúa” (1:10). Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh đều dự phần về sự cứu chuộc (IITê 2:13-17), và ấy bao gồm sự lựa chọn, đức tin, sự nên thánh, và sự được vinh hiển. Hết thảy đều bởi tin Đấng Christ, nhờ ơn điển mà được cứu, chớ không phải nhờ việc làm. Hai ý đó là đầu đề quan trọng của tập thứ nhì, cũng là điều nhấn mạnh của tập thứ ba với tập thứ tư. Vậy, theo như trên đã nói, thì phải công nhận sự từng trải của Phao-lô lúc mới tin Chúa là sự cải cách trọn vẹn chớ không phải là sự tuần tự tiến hóa. Một nhà danh sĩ kia nói: “Nếu xem xét cả lịch sử Phao-lô như các thơ tín tỏ ra, thì ta phải khẳng định nhân cách Phao-lô bị xô đẩy mạnh, biến đổi một cách dữ dội hơn là dần dần, có phải không?” Một người khác viết: “Tin Lành Phao-lô rao giảng có bao gồm trong sự trở lại đạo của ông, và bởi sự suy gẫm và cầu nguyện Phao-lô có thể làm cho rõ ràng những sự tỏ ra trong sự từng trải đó.” Nói thế không có ý cho rằng Phao-lô không tấn tới nhiều về phần thuộc linh đâu, song sự tấn tới đó có nguồn gốc từ nền tảng đã xây dựng trước. Thật có sự tấn tới lắm, và cũng nhờ Phao-lô ứng dụng liên tiếp về quan niệm của ông đối với Đấng Christ. Có lúc Phao-lô chỉ chú trọng về một mặt nào đó của chân lý, thì chỉ vì dịp tiện mà ông đang nói tới, chứ không phải vì ông mới khám phá.

Về bốn tập thơ tín có thể nói đại khái như vầy: Tập thứ nhứt nhấn mạnh về sự tái lâm của Chúa, thứ nhì nhấn mạnh về sự cứu rỗi thế gian, thứ ba nhấn mạnh về Đấng Christ, và thứ tư nhấn mạnh về chức vụ mục sư. Song không nên tưởng rằng Phao-lô không chép một Tin Lành cứu rỗi đầy đủ trong tập thứ nhứt, không đạt đến nguyên nhân chính về ngôi vị Đấng Christ là Chúa cho đến tập thứ nhì, và chưa hiểu mục sư cho đến tập thứ tư. Muốn biết rõ như thế, đọc giả cần chú ý ITê 2:1- (tập thứ nhứt) đã chép rõ về công việc Phao-lô nhờ mục sư và truyền đạo, và đã luận về lẽ đạo Đấng Christ là Chúa, bình đẳng với Cha (ITê 1:1, 3; IITê 1:1; 2:13).

Dầu trong mỗi tập thơ Phao-lô chú trọng khác nhau về lẽ đạo của sự tương lai, nhưng trong mỗi tập cũng tỏ ra sự trông đợi Chúa tái lâm, cho đến giờ cuối cùng là khi đến sự qua đời của chính mình (IITi 4:8, 18). Trong các thơ tín, Phao-lô rao giảng Tin Lành đầy trọn nhờ ơn điển mà được cứu, song chú trọng về mặt chơn lý rất cần trong lúc thuận tiện, dầu chưa họp thành hệ thống. Trong tập thứ nhứt, Phao-lô giúp đỡ các tín đồ Tê-sa-lô-ni-ca để họ không hiểu lầm sự tái lâm của Chúa. Trong tập thứ nhì, Phao-lô binh vực Đạo cứu rỗi bởi ơn điển, vì giữa các tín đồ có người vẫn giữ lề thói Do-thái-giáo, và tìm cách làm mất sự tự do của tín đồ dân ngoại, họ khuyên phải theo các lễ nghi Do-thái-giáo dầu là tín đồ Đấng Christ. Công 15 chép rõ lời bác bỏ của Phao-lô, và tỏ ra sự phấn đấu rất lớn trong cả chức vụ Phao-lô. Phil 3 cũng nói đến song lúc đó Phao-lô đã thắng trong sự tranh luận.

Trong tập thứ ba, sự tranh luận lan tràn đến Tiểu A-si, nhứt là trong trũng Lycus, vì có sự lẫn lộn Do-thái giáo (về phái Essenisme) và thần bí giáo với triết học ngoại bang, (phái Trí-huệ-giáo mới) xen vào các Hội Thánh tại đó. Vậy, Phao-lô phản đối hết sức với tà giáo đó vì họ dạy Chúa Jêsus không phải là Con Đức Chúa Trời. Nên Phao-lô trong hai thơ Cô-lô-se và Ê-phê-sô cắt nghĩa kỹ càng về các lẽ đạo Cứu Chúa là Đấng Christ, Ngài đã sống lại, Ngài cầm quyền phán xét, và tín đồ Đấng Christ sẽ sống lại v.v…. Trong tập thứ tư cũng có chép về sự tranh luận đó, dầu khác nhau nhưng có xảy ra tại thành Ê-phê-sô và đảo Cơ-rết. Mặt tà giáo của phe Do-thái (có lẽ giống người Pha-ri-si) ở đây được tỏ rõ hơn, và hơi nhắc lại sự tranh luận với phe Do-thái trong tập thơ thứ nhì. Bấy giờ Phao-lô đã cao tuổi, sắp đến lúc qua đời, và đạo Đấng Christ có những kẻ thù nghịch bên trong và bên ngoài. Phao-lô thiết tha mong mỏi các mục sư và truyền đạo thanh niên trong Hội Thánh sẽ trở nên những cột trụ tương lai cho đạo Ngài, nên lời nói của Phao-lô càng khẩn khoản, ân cần. Vậy trong tập thứ tư nầy lời bàn luận lúc ôn hòa, lúc khẩn thiết tùy thuộc vào tình hình mỗi lúc. Vả, Phao-lô vì thường nhớ lại những việc quá khứ và bước từng trải của mình thì trong tập nầy tả rõ tâm tánh một người già cả. Trong tập đó lối văn không uyển chuyển bằng thơ ICô-rinh-tô; cảm tình không nồng nàn hăng hái bằng thơ IICô-rinh-tô, và lời bẻ bác không khéo bằng thơ La-mã và thơ Ga-la-ti. Nhưng luận lý thì rành mạch lắm. Mỗi thơ tín thuận hiệp với thứ tự của mỗi tập. Mỗi tập thuận hiệp với thời thế trong đời sống Phao-lô và bày tỏ tư tưởng và cảm tình của Phao-lô tùy từng lúc mà thay đổi. Vậy, muốn biết sự tấn tới về tư tưởng Phao-lô thế nào nên theo thứ tự niên đại của các thơ tín mà nghiên cứu kỹ càng, thì mới biết đến nơi đến chốn.

II. Niên hiệu và thứ tự Phao-lô.– Không thể xác định rõ niên hiệu và thứ tự lời nói cùng việc làm của Phao-lô, chỉ có thể biết sơ lược thôi. Lu-ca chép kỹ các thời kỳ về Cứu Chúa giáng sanh (Lu 2:1-3), về lúc Ngài bắt đầu chức vụ truyền đạo (Lu 2:23), và về Giăng đến giảng và làm phép báp-têm (Lu 3:1, 3), song khi chép sách Công vụ các sứ đồ thì phần nhiều Lu-ca không để ý ghi các niên hiệu. Trong số 23 học giả danh tiếng, dưới đây xin chép bảng kê niên hiệu chức vụ Phao-lô của 3 người để thấy rõ sự khác nhau của họ.

Để khảo cứu niên hiệu và thứ tự, phải nhờ lời tự thuật các bước từng trải của Phao-lô, ví dụ như ông nói: “Sau ba năm, tôi lên thành Giê-ru-sa-lem” (Ga 1:18, theo nguyên văn); lại nói: “Sau đó mười bốn năm, tôi lại lên thành Giê-ru-sa-lem” (Ga 2:1). Lu-ca chép khi Phao-lô ở Mi-lê ông nói với trưởng lão Ê-phê-sô rằng mình đã kiều ngụ tại Ê-phê-sô “trong ba năm” (Công 20:31). Những thời gian nầy có trước khi Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng và bị bắt, song chưa tính gồm cả thời gian từ lúc Phao-lô hối cải đến khi bị giam cầm. Trong IICôr 12:2, Phao-lô lại nói đến một sự từng trải kia “cách mười bốn năm trước, ” tức là trước khi ông ở Ma-xê-đoan, gởi thơ IICôr nầy trong cuộc hành trình thứ ba. Nếu theo mười bốn năm đó mà tính, thì biết Phao-lô bây giờ đương ở Tạt-sơ, và Ba-na-ba còn chưa mời Phao-lô đi An-ti-ốt (Công 11:25), và bởi thế thời gian mười bốn năm đều chồng lên nhau, lại gồm ba năm tại Ê-phê-sô. Bởi thế mà dù có tính suốt các năm kể trên thì vẫn không có tổng số đúng! Tuy vậy, nếu cứ dựa theo sát sách Công vụ các sứ đồ và các thơ tín, thì gỡ được đôi chút mối khó khăn nầy:

a) Sự chết của Ê-tiên.– Lúc Ê-tiên chết, Phao-lô còn “trẻ tuổi” (Công 7:58). Theo lệ Do-thái, Phao-lô giống các thanh niên Do-thái khác đến 30 tuổi mới được gọi là “thầy” (Rabbin). Hồi đó, có lẽ Phao-lô đã là một người đứng đầu các thầy, hoặc đã làm nghị viên trong Tòa Công luận (Công 26:10). Bôn-xơ-phi-lát mãi đến năm 36 S.C. mới bị cách chức, nhưng trước đó hai năm chức vị người đã bị lung lay rồi. Vậy, Ê-tiên chết vào lúc Phi-lát đã hoặc sắp bị cách chức, nên không dám cậy quyền mình để ngăn trở người Do-thái làm việc trái phép tức giết thánh đồ. Năm 29 hoặc 30 S.C., tức năm Chúa Jêsus bị đóng đinh, Phi-lát đã tỏ ra thái độ hèn nhát, song vẫn còn giữ được lệ luật. Nhưng đến ngày Ê-tiên chết, dường như lề lối bề ngoài của Luật pháp không còn nữa. Xét việc đó, thì Ê-tiên chết vào khoảng 34 hoặc 35 S.C..

b) Phao-lô từ Đa-mách trốn đi.– Phao-lô chép việc nầy xảy nhằm lúc “quan tổng đốc của vua A-rê-ta giữ thành Đa-mách” (IICôr 11:32). Xét như sau: Vua A-rê-ta là người A-rạp, không phải người La-mã, là cậu vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba. A-rê-ta dường như giữ chức đó vào 37 S.C. tức là năm hoàng đế La-mã là Ti-be-rơ băng và Caligula lên trị vì. Có người nói: “Đa-mách bấy giờ không có A-rê-ta cai trị. Kẻ thù nghịch Phao-lô chính là một tên đứng đầu đảng cướp rình bắt Phao-lô ở ngoài thành.” Thuyết nầy thật khó công nhận! Sử gia Josèphe không viết gì về A-rê-ta người A-rạp trong khoảng thời gian này đã cai trị Đa-mách, nhưng các nhà khảo cổ không khảo được mảnh bia tàn hay đồng tiền cổ nào đủ làm chứng cớ đế quốc La-mã hồi 35-36 S.C. gồm có thành Đa-mách. Ramsay có viết: “A-rê-ta trước 37 S.C., đóng giữ Đa-mách là việc có thể được.” Phao-lô trốn khỏi Đa-mách là cùng năm ông lần thứ nhứt đến Giê-ru-sa-lem sau khi trở lại đạo (Công 9:26; Ga 1:18). Nếu biết đúng năm nào hai việc đó xảy ra, và trừ hai hay ba năm, thì là năm Phao-lô trở lại đạo. Theo thuyết của Lightfoot, Phao-lô trở lại đạo 34 S.C., song nói “ba năm” chắc có ý trọn ba năm. Bởi thế, không thể biết chắc tính như vậy có đúng hay không?

c) Hê-rốt Ạc-ríp-ba I, qua đời.– Cả Lu-ca (Công 12:1-4, 19-23) và sử gia Josèphe chép hơi giống nhau về sự chết của Hê-rốt nầy. Năm đầu trị vì của Cơ-lốt, hoàng đế La-mã, tức là năm 41 S.C., Hê-rốt chịu phong làm vua. Josèphe viết: Trước khi chết, Hê-rốt đã làm vua toàn xứ Giu-đê trong ba năm. Bởi vậy, có thể đoán định đó là năm 44 S.C. Hê-rốt qua đời, tức sau Lễ Vượt Qua năm đó, vì Hê-rốt bắt Phi-e-rơ cầm tù nhằm ngày Lễ Vượt Qua đó (Công 12:3). Xét Công 11:29-12:25, Lu-ca chép việc Hê-rốt giết Gia-cơ và việc Phi-e-rơ ra khỏi ngục vào giữa khoảng thời gian Phao-lô cùng Ba-na-ba lên Giê-ru-sa-lem rồi trở về An-ti-ốt, chớ không nói rõ việc làm của Hê-rốt nhằm vào lúc Phao-lô và Ba-na-ba lên Giê-ru-sa-lem. Vì Lu-ca chỉ chép: “Đương thuở đó, ” vậy chỉ có thể nói Phao-lô lên Giê-ru-sa-lem nhằm lúc Hê-rốt giết Gia-cơ, chớ không thể nói chắc ở vào trước hoặc sau năm 44 S.C. được. Công 11:30 chỉ chép “các trưởng lão, ” không chép các Sứ đồ (so Công 15:4), hoặc giả khi Phao-lô và Ba-na-ba đến Giê-ru-sa-lem thì các Sứ đồ vắng mặt chăng; vì bấy giờ sau khi Gia-cơ bị giết (Công 12:1-), Phi-e-rơ ra khỏi ngục rồi lại đi nơi khác (Công 12:17). Song các Sứ đồ sau lại trở về Giê-ru-sa-lem nữa (Công 15:4), nên Lightfoot mới định cuối 44 S.C. hoặc 45 S.C., là lúc Phao-lô và Ba-ba-na lên thành Giê-ru-sa-lem; không biết đúng không.

Lại xét thêm: Công 9:26 và 11:29, 30 dẫu nói Phao-lô lên Giê-ru-sa-lem, song không biết lần sau nầy có phải là lần Ga 2:1 nói đến chăng? Ramsay viết rằng Phao-lô lần đó lên Giê-ru-sa-lem theo Ga 2:1 là một với Công 11:29; song Lightfoot viết rằng sự lên Giê-ru-sa-lem chép trong Ga 2:1 là lần thứ ba như chép trong Công 15:4. Vậy, chỉ có thể quyết định chắc chắn Phao-lô theo Ga 2:1 và Công 15:4 lên Giê-ru-sa-lem sau cuộc hành trình lần thứ nhứt như chép trong Công 13:1- và 14:1- thôi.

d) Lần thứ nhứt Phao-lô lưu hành truyền đạo.– Khi Phao-lô và Ba-na-ba đến đảo Chíp-rơ, Công 13:7 chép Sê-giút Phau-lút làm quan trấn thủ ở đảo đó. Trên một bia cổ Hy-lạp có đề năm 53 S.C. có tên Sê-giút Phau-lút làm quan trấn thủ song không nói ở đảo Chíp-rơ, nên chắc là trước năm đó. Song cũng không biết chắc có phải ông hành chức đó 51S.C hay 52 S.C. nên khi làm trấn thủ có lẽ vào cuối năm 50 S.C. hoặc đầu năm 51 chăng.

đ) Phao-lô lần đầu đến Cô-rinh-tô.– Chỗ độc giả nên chú ý là Ga-li-ôn làm trấn thủ xứ A-chai (Công 18:2). Phao-lô kiều ngụ tạICô-rinh-tô, Xứ A-chai rõ ràng đã được một năm rưỡi thì Ga-li-ôn mới đến nhậm chức. Khi Phao-lô mới đến Cô-rinh-tô thì A-qui-la và Bê-rít-sin từ Ý-đại-lợi vừa mới về (Công 18:2), vì vua Cơ-lốt có chỉ truyền mọi người Do-thái phải lánh khỏi thành La-mã. Sau khi Ga-li-ôn đến xứ A-chai, người Do-thái liền kiện Phao-lô, sau Ga-li-ôn từ chối không xét xử: nên Phao-lô vẫn ở lại xứ. Sau đó ít lâu, Phao-lô cùng A-qui-la và Bê-rít-sin dời sang xứ Sy-ri (18:18). Cứ như Deissmann viết thì Ga-li-ôn, em của Sénèque, đến nhậm chức trấn thủ xứ A-chai nhằm hồi tháng 7 năm 51 hoặc có lẽ năm 52 S.C.. Theo một bia đá cổ tìm được tại Delphi cũng nói đến Ga-li-ôn là trấn thủ xứ A-chai và vua Cơ-lốt được cử làm hoàng đế 26 lần rồi, v.v…, nên bởi đó có thể biết chắc Ga-li-ôn bắt đầu làm trấn thủ trong mùa Hạ năm 51 hay 52 S.C.. Vì Phao-lô ở Cô-rinh-tô một năm rưỡi rồi và ở đó hết hai năm thì Phao-lô bỏ Cô-rinh-tô nên có lẽ khoảng thời gian ấy là đầu mùa Thu 52 hay đúng hơn là 51 S.C.. Vậy biết rõ Phao-lô chép II Tê-sa-lô-ni-ca không sau thời đó. Tóm lại, các việc Phao-lô lưu hành truyền đạo lần thứ hai, cuộc đại hội nghị tại Giê-ru-sa-lem và chuyến ông lưu hành lần thứ nhứt v.v… đều rơi vào đầu năm 52 S.C..

e) Phao-lô ở Trô-ách.– (Công 20:6). Về việc nầy Lu-ca chép thời gian trong năm rõ ràng hơn, tức khi những ngày ăn bánh không men qua rồi và gặp nhau trong năm ngày. Ramsay tính: Chiều Chúa nhựt, Phao-lô ở Trô-ách họp lại thờ phượng Chúa cho tới buổi tối, và qua sáng sớm hôm sau là ngày thứ hai, Phao-lô cùng các người đồng bạn cùng đi đường. Bởi đó, Ramsay luận đến thời kỳ giữ Lễ Vượt Qua ở thành Phi-líp đó, và quyết định vì không đúng vào năm 56, 58 hoặc 59 S.C., song theo Lu-ca chép thì hiệp vào năm 57 S.C. nếu không lầm thì đây là lần cuối cùng Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem. Ví bằng niên đại Lu-ca chép đúng không sai, thì sự suy tính của Ramsay cũng hiệp lẽ. Dầu Lightfoot cứ khẳng định là năm 58 S.C., nhưng theo thuyết của Ramsay vào năm 57 S.C. thì đúng hơn.

g) Bốt-tiu Phê-tu kế chức Phê-lít.– Phê-lít đến nhậm chức năm nào không biết chắc được. Có người nói Phê-lít làm quan trấn thủ vào năm 52 S.C.. Cứ theo Kinh Thánh chép khi Phao-lô bị xét đoán, thì Phê-lít “làm quan án trong nước nầy đã lâu năm” rồi (Công 24:10). Hai năm sau, Bốt-tiu Phê-tu mới đến thay Phê-lít (Công 24:27). Nhưng theo giáo phụ Eusèbe viết thì Phê-lít đến nhậm chức năm cuối cùng vua Cơ-lốt trị vì, tức 54 S.C.. Song ấy là sai lầm, vì cứ như sử gia Josèphe viết thì Phê-lít vào đời hoàng đế Néron. Kinh Thánh lại chép Phê-lít “làm quan án trong nước nầy đã lâu năm” (Công 24:10), v.v…. Vậy, Ramsay có sửa chữa sự sai lầm của Eusèbe như sau: “Hê-rốt Ạc-ríp-ba I qua đời nhằm 44 S.C., và Hê-rốt Ạc-ríp-ba II mới lên ngôi vào năm 50 S.C.. trong khoảng đó cách nhau 6 năm. Eusèbe không để ý, chỉ cho rằng Bốt-tiu Phê-tu đến thay Phê-lít và năm thứ X đời vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba II. Vậy, nếu tính đúng từ 50 S.C. thì 59 S.C. là năm Phê-lít đến nhậm chức, đúng với sự thực đã khảo cứu để làm chứng.”

Nếu thuyết Ramsay đúng thì lại biết thêm Phao-lô xuống tàu sang La-mã từ trước mùa Hè 59 S.C., qua đầu mùa Xuân 60 S.C. mới tới (Công 28:11). Khi Lu-ca đóng sách Công vụ các sứ đồ thì chép: “Phao-lô ở trọn hai năm tại một nhà trọ đã thuê” (28:30). Căn cứ vào cuối năm 63 hoặc đầu năm 64 S.C., Phao-lô được thả ra và lưu hành như chép trong ba thơ gởi cho Ti-mô-thê và Tít, thì biết Phao-lô qua đời đầu mùa Hạ 68 S.C. hoặc có lẽ 67 S.C., trước khi hoàng đế Néron băng. Về việc nầy sau sẽ luận đến.

Nay có thể tính ngược lại từ 59 S.C. đến 57 S.C. thì thấy rõ ấy là năm Phao-lô bị bắt tại Giê-ru-sa-lem. Phao-lô ở thành Ê-phê-sô hai năm ba tháng (Công 19:8, 10), và trong 20:31 gọi chẵn là ba năm. Phao-lô phải mất một năm để tới thành Giê-ru-sa-lem, từ Lễ Ngũ Tuần trước (ICôr 16:8) đến Lễ Ngũ Tuần sau (Công 20:16.) Vậy, từ mùa Xuân 57 S.C. Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem thì có thể tính ngược lại mà biết cuối 53 S.C. Phao-lô đến Ê-phê-sô (Công 19:1.) Ga-li-ôn đến cai trị thành Cô-rinh-tô vào mùa Hạ 51 hoặc 52 S.C., và bấy giờ Phao-lô đã ở đó được một năm rưỡi rồi (Công 18:11); bởi thế Phao-lô có đủ thì giờ đi lữ hành từ Cô-rinh-tô đến Ê-phê-sô, kế đến Sê-sa-rê, rồi dường đến Giê-ru-sa-lem (Công 18:21 và câu sau), sau lại đến Ê-phê-sô (19:1). Bắt đầu từ cuộc hành trình thứ hai của Phao-lô đến mùa Hạ 51 hoặc 52 S.C., tính ngược lại hai năm thấy cuộc hành trình thứ hai đó (Công 16:1-6) bắt đầu từ năm 49 hoặc 50 S.C.. Đại hội nghị tại Giê-ru-sa-lem khoảng vào năm đó. Trước đây hai (hoặc ba) năm, tức 47 và 48 S.C. (hoặc 48-49), chắc là thời kỳ Phao-lô đi lưu hành truyền đạo lần thứ nhứt. Phao-lô ở tại An-ti-ốt độ vài tháng (Công 14:28.) Vậy, theo đó mà tính, thì cuối năm 44 hoặc đầu năm 45 S.C. chắc là lúc Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem như Công 11:29, 30 chép. Trong khoảng khi lên Giê-ru-sa-lem, ngược lại đến năm Phao-lô và Ba-na-ba cùng ở An-ti-ốt (Công 11:26), vài năm Phao-lô ở Tạt-sơ, xứ Si-li-si, ba năm Phao-lô lui ở A-ra-bi sau khi hối cải (Ga 1:17, 18), và năm Phao-lô mục kích việc giết Ê-tiên (Công 7:58). Nhưng niên đại đầu tiên đó không chắc đúng, nhưng cứ tính theo sự thực thì năm 30 S.C. có lẽ là năm Phao-lô gặp Chúa trên đường Đa-mách. Bởi vậy, năm ông ra đời có lẽ vào khoảng 1-5 S.C., có lẽ gần 1 S.C.. Nếu thật thế, và năm Phao-lô qua đời 67 hoặc 68 S.C. là đúng thì có thể ước đoán tuổi Phao-lô được. Khi Phao-lô từ La-mã gởi thơ cho Phi-lê-môn (câu 9) vào năm 61-63 S.C., thì “đã già rồi.”

III. Sự dự bị truyền đạo của Phao-lô.– Nếu chưa xét kỹ và chưa hiểu rõ những hiệu lực đã gây dựng Phao-lô thành Sứ đồ, thì không thể cắt nghĩa đúng lời dạy và việc làm của ông được. Có người không làm vậy, nên hiểu lầm Phao-lô và chức vụ ông. Vì Phao-lô tự xưng “đã làm nhiều việc hơn các Sứ đồ khác” (ICôr 15:10, và chép trong Ga 1:7-9 rằng: “Ai truyền cho anh em một Tin Lành nào khác với Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them, ” nên phải xét có thật không. Deissmann viết đúng: “Về phần thuộc linh, Phao-lô là quyền lực lớn trong đời các Sứ đồ, ” và bởi đó, “sử gia nào suy xét những sự đầu tiên của đạo Đấng Christ thì thấy Phao-lô là thứ nhứt sau Chúa Jêsus.” Feine nói rằng: “Phao-lô đã hiểu thấu thể yếu của chức vụ Đấng Christ.” Nếu thử giải nghĩa những ảnh hưởng dự phần trong sự gây dựng đời sống Phao-lô chỉ bằng tập quán và ngoại cảnh, thì không tránh khỏi sự sai lầm. Phao-lô là người thể nào là do tư chất vốn có, cộng với sự từng trải về Chúa Jêsus Christ và tình thế lúc bấy giờ. Thử bàn luận đến những điều khiến đức tin Phao-lô nảy nở, đưa đến sự tăng trưởng thuộc linh:

a) Thành Tạt-sơ.– Địa dư có quan hệ rất lớn đến đời người. Thuở nhỏ, Giăng Báp Tít sống trong một thành nhỏ thuộc miền núi xứ Giu-đê (Lu 1:39), sau dời đến đồng vắng. Chúa Jêsus, lúc nhỏ, ở tại Na-xa-rét và các miền phụ cận. Cả giăng Báp Tít lẫn Chúa đều yêu thích thiên nhiên, ấy vì đã in đậm cảnh trí chỗ ở thuở niên thiếu. Còn Phao-lô sanh ra và lớn lên tại Tạt-sơ, là một thành lớn và khi đứng tuổi lại đến ngụ trong các thành lớn đế quốc La-mã. Bởi đó Phao-lô ít thích những vẻ đẹp cõi thiên nhiên, song hằng dò xét để hiểu thấu lòng người. Phao-lô lấy làm hãnh diện vì sanh trưởng tại thành Tạt-sơ danh tiếng (Công 21:39). Chẳng những thế, Phao-lô còn là “công dân” của thành nữa. Như vậy thì biết gia đình Phao-lô không phải mới di cư từ Giu-đê đến Tạt-sơ, song đã sanh cơ lập nghiệp tại đó nên có trọn quyền công dân tại thành. Thành Tạt-sơ là kinh đô Si-li-si, bấy giờ nó thuộc xứ Sy-ri là một tỉnh đế quốc La-mã, có danh hiệu là nơi đô hội và là thành tự do (urbs libera). Tạt-sơ ở trên bờ sông Cydnus giữa một đồng bằng. Ramsay nhờ Sáng 10:4 chủ trương thuyết dân cư thái cổ là người Hy-lạp lộn với người Viễn Đông. Đông

Lên đầu trang