Nước Water. Eau.
Các triết nhân Hy-lạp tin rằng nước là một nguyên chất bởi đó tạo nên mọi vật. Trong lịch sử cuộc tạo thành (Sáng 1:2), nước cũng là một trong ngũ hành.
Vì có ít nước trong xứ Pha-lê-tin, nên dân sự thường ra ngồi gần dòng nước chảy. Người ta thường ước ao được uống nước nơi mình sanh trưởng, như Đa-vít (ISử 11:17).
Chỉ một nguồn duy nhất cung cấp nước cho xứ là mưa. Hơi nước bốc từ biển lên các đám mây mà thành mưa và tuyết sa xuống trên núi. Nước đó làm các nguồn và suối được đầy. Dòng nước ở Pha-lê-tin rất ngắn và ít, phần lớn các sông đều nhỏ, ngoại trừ sông Giô đanh, về mùa hè thì nước rất ít hoặc khô hẳn. Nhưng ở Giê-ru-sa-lem, quanh năm mức nước mưa lên được từ 65cm đến 95cm. Nếu gặp quân địch lấp mất nguồn nước thì dân nguy ngay (IICác 3:19-25). Phần nhiều làng phải đến các dòng nước múc về, việc xách nước phần nhiều do đàn bà, con gái làm (Sáng 24:11; Giăng 4:7); nếu không đủ phải dùng đến hồ chứa nước. Phần nhiều mưa sa xuống dốc phía Tây các núi, vì vậy tại đó nhiều dòng nước. Các nơi có đá vôi thì thấm hết nước, giếng cũng ít thấy đào, dầu Kinh Thánh nói đến giếng nhiều lần.
Hồ chứa nước thường xây trên mặt đất hoặc lớn hoặc nhỏ. Dân cư Giê-ru-sa-lem thường dùng nước chứa bằng cách nầy, có nhiều công dân vào thành để lấy nước. Người ta vừa tìm ra được nhiều hồ, một phần ở trong khu riêng của Đền thờ. Năm nào mùa hè dài và khô, nước ngày càng ít đi và trở nên tù hãm, dơ bẩn, không uống được, gây nguy hiểm cho sức khỏe. Nhiều khúc Kinh Thánh nói đến hồ chứa nước đủ cho dân uống, ngoài ra còn có thể tát nước vào ruộng song có giới hạn.
Trọn mùa hạ, không có mưa; cây cối phần lớn được tưới bằng những giọt sương. Những nơi nào, các dòng đủ nước, người ta đặt máy dẫn thủy nhập điền. Trong thời đế quốc La-mã, chắc các máy đó càng nhiều hơn. Những cây ăn trái rất cần nước trong mùa hè. Thiếu nước là một đại nạn (Xuất 15:22; Phục 8:15; IICác 3:9; Thi 63:1; Châm 9:17; Êxê 4:11; Ca 5:4).
Trong cuộc viễn hành, người ta dùng túi da để chứa nước (Sáng 21:14). Kẻ khát đến xin uống thì người ta múc cho uống (Sáng 24:17; Giăng 4:7). Khách đến nhà, thì chủ nhân lấy nước cho rửa chân (Sáng 18:4; Lu 7:44). Tân Ước thì nói đến nước chịu lễ báp-têm (Công 8:38). Phi-lát rửa tay trong nước để tỏ mình vô tội (Mat 27:24). Chúa Jêsus nói với người đàn bà Sa-ma-ri về nước hằng sống (Giăng 4:14) “Chiên con… sẽ chăn giữ và đưa chúng (những kẻ được chuộc) đến những suối nước sống” (Khải 7:17).
Kinh Thánh thường dùng các dòng nước chỉ bóng về sự nguy hiểm như “Khi ngươi vượt qua các dòng nước…” (Ês 43:2); chỉ về sức mạnh như “khác nào nước chảy…” (IISa 5:20), chỉ sự đắc thắng “như nước lớn vỡ bờ…” (Ês 28:2); chỉ sự sợ hãi như “lòng dân sự bèn tan ra như nước” (Giô 7:5); sự chóng qua như “nước đã chảy qua” (Gióp 11:16); sự giải khát “như suối nước trong nơi đất khô” (Ês 32:2); chỉ sự bình an như “dẫn tới mé nước bình tịnh” (Thi 23:2) chỉ niềm vui chính đáng như “hãy uống nước hồ con chứa” (Châm 5:15); thú vui không chính đáng “nước ăn cắp lấy làm ngọt ngào” (Châm 9:17); cái gì đổ ra dư dật, như huyết (Thi 7:3); cơn giận (Ôs 5:10); sự chánh trực (Am 5:24); tiếng than siết (Gióp 3:24).