NIKON
(1605-1681)
Nikon là một vị Thượng Phụ Giáo Chủ người Nga, một nhân vật lỗi lạc xuất chúng và rất quan trọng. Nikon ra đời từ một gia đình nông dân gốc người Finland. Tên cha mẹ đặt là Nicetas hay Nikita Minin. Ngay từ ấu thơ đã sớm tập tành sự kiêng ăn, nguyện gẫm hằng giờ, và học hành rất dễ dàng, mau tiến bộ. Ông mong ước sẽ làm một tu sĩ nên đã vào tu viện. Thế nhưng sau đó ông đã kết hôn và thành một Linh mục cai quản một giáo xứ. Ông hoàn toàn dâng mình nên được tấn phong và đổi đến phục vụ ở Moscow, một thành phố lớn. Bước đường đời ông lại khá thương tâm, chưa đầy 30 tuổi mà các con ông đã lần lượt nối nhau qua đời hết. Ông thắc mắc, và tin rằng có thể đây là một hình phạt của Đức Chúa Trời dành riêng cho ông chăng? Hoặc, Chúa muốn chỉ dạy cho ông về thánh ý của Ngài trong việc này không? Ông bèn khuyên vợ mình vào một nữ tu viện, còn riêng ông vào một dòng tu ở miền Bắc nước Nga. Sau nhiều năm ông được cử làm tu viện trưởng một nhà tu ở Bạch Hải. Ông đã từng được mời đến Moscow để tham dự Giáo hội nghị. Nga Hoàng lúc đó là Alexis rất chú ý đến ông và cảm động về tình trạng của ông lắm, nên bổ chức ông làm Tổng quản trị các tu viện ở thủ đô Norgorod. Vua này cũng đã trao cho ông một nhiệm vụ hành chánh (không rõ chức gì) và thường tham khảo ý kiến ông về quốc sự.
Bản chất của Thượng Phụ Giáo Chủ Nikon rất nhân từ, đức độ. Ông thường để ý bênh vực cho người nghèo, cô thế, quả phụ, cô nhi; vì hạng người này không có quyền biện hộ cho mình trước tòa án khi lỡ lầm phạm tội hoặc bị vu cáo. Năm 1649, ông được phong lên làm Giám mục ở thành phố Norgorod. Ngồi trên ghế quan trọng này, ông đã đóng góp nhiều sáng kiến tỏ ra có tài cải cách và đã giúp dẹp yên một cuộc bạo động. Năm 1652, ông lên chức Thượng Phụ Giáo Chủ. Nhiều lần ông khiêm tốn từ chối thánh nhiệm to tát này, nhưng vì Hoàng đế thúc giục, động viên nên cuối cùng ông phải nhận với điều kiện là phải được Hội đồng giáo phẩm và giáo dân chấp thuận. Ông đề ra một điều luật về Thánh chức Thượng Phụ Giáo Chủ phải được các cấp triệt để tuân hành, vâng phục; hơn nữa Hoàng đế và Giáo hội phải nghe lời ông như một “người chăn bầy” hay “một người cha”. Thế là ông đã mặc nhiên nâng địa vị ông lên quyền hành tối cao. Dĩ nhiên chức vụ to lớn thì trách nhiệm cũng khá nặng nề. Vì vậy chỉ trong vòng 6 năm hành chức, thì cả trong đạo lẫn ngoài đời đã phát sinh ra lắm điều rối ren rạng nứt, chống đối nhau. Không còn cách nào khác, ông đã quay về với tu viện của mình. Trong thời gian ông rời khỏi tòa Thượng Phụ Giáo Chủ thì có sự xôn xao trong dư luận chia ra nhiều phe phái. Phe thì ủng hộ, phe khác thì đả kích ông. Một mặt ông tuyên bố rút lui vào tu viện, nhưng quyền hành cao cả ông vẫn nắm giữ. Phe thù nghịch lại được dịp công kích, tuyên truyền không mấy có lợi cho ông. Họ cho ông là tham quyền cố vị, độc tài, sai lầm, và đạp chân lên thế quyền, họ đòi cất chức ông. Nhưng bên ủng hộ lại đề cao, bênh vực ông, đòi phải đưa vụ việc ra Hội đồng các Thượng Phụ Giáo Chủ phân xử. Các Giáo chủ họp lại khuyên ông nên từ chức hoặc công khai ra đối chất ở tòa án dân sự. Ông cứng rắn bình chân như vại, không chấp nhận lời khuyên nào hết!
Bỗng nhiên tháng 12 năm 1664, ông Nikita Nikon trở về thành phố Norgorod, và nghiễm nhiên cư trú trong Tòa Thượng Phụ Giáo Chủ. Ông hành lễ trong các Giáo đường, và theo thông lệ thì mời Hoàng đế dự. Vua từ chối và ra lệnh cho ông trở về tu viện chờ các Thượng Phụ Giáo Chủ phán quyết. Tháng 5 năm 1666, một Hội đồng có các Thượng Phụ Giáo Chủ ở Antioche, Alexandria và nhiều Giám mục, cùng đại biểu các nơi đến phó hội. Họ xem xét và nghị án ông, đồng thời cất chức và lưu đày ông. Ông Nikon chẳng khi nào được phục chức lại. Tuy có lần hoàng đế Alexs đã viết thư an ủi ông. Nhưng Hoàng đế kế tiếp sau đó đã đày ông đi xa hơn. Và ông Nikita Nikon qua đời vào ngày 17-8-1681 trong lúc đi đường.
Có một sử liệu khác nói ông đã được hồi chức và qua đời bình an trong tuổi già; được an táng theo nghi thức long trọng của một Thượng Phụ Giáo Chủ. Dầu sao đi nữa, xét về sự nghiệp thuộc linh, tấm lòng ông kính yêu Chúa và sự nhiệt tình của ông đối với Giáo hội. Chánh thống Nga, không phải là không đáng đề cao đâu. Công trạng to lớn nhất của ông về mặt văn hóa Cơ Đốc mà ông đã để lại là các sách giáo khoa về giáo lý, hoặc những nguyên tắc chỉ đạo về việc cải tổ Giáo hội ông đã biên soạn và phát hành không phải là vô ích, nhưng đã được đem ra áp dụng và thi hành nhằm mục đích đưa Giáo hội trên đường vững lập và tiến bộ hơn.