Nhu mì Humble. Douceur.
Nguyên văn trong Cựu Ước Hê-bơ-rơ là ‘anawah, từ nguyên gốc ‘anaw có nghĩa chịu đau đớn, bị bắt bớ, bị bắt ép, và chỉ về đức tính tốt đẹp nảy sinh từ những từng trải đó
Cựu Ước.– Cựu ước chép: “Môi-se là người rất khiêm nhường (nguyên văn: nhu mì) hơn mọi người trên thế gian”, dầu ông được những sự khải thị của Ngài và bị dân sự phản đối (Dân 12:3; so IICôr 12:1-6). Kinh Thánh cũng chép: “Nhu mì” của Chúa làm cho người nên sang trọng (nguyên văn IISa 22:36; Thi 18:35). Bản quốc văn có khi dịch ‘anawah là khiêm nhượng (Thi 137:6; 149:4; Châm 3:34; Ês 61:1), hiền từ (IISa 12:36; Thi 18:35; 22:26; 25:9; 37:11; 45:4), khốn cùng (Thi 9:12, 18). Sô 2:3 khuyên: “Hãy tìm kiếm sự nhu mì” (so Châm 15:1; 16:14; 25:15; Truyền 10:4). Chúa hứa ban cho người nhu mì những ơn phước đặc biệt (Thi 22:26; 25:9; 37:11; 147:6; 149:4; Ês 11:4; 29:19). Có lời tiên tri về Đấng Christ rằng: “Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ nhu mì” (nguyên văn Ês 61:1).
Tân Ước.– Nhu mì (prautés) trong Tân Ước chẳng những chỉ là một đức hạnh tự nhiên, song cũng là một ơn ban cho tín đồ Đấng Christ, là một trong những trái của Thánh Linh (Ga 5:22 dịch: mềm mại). Ý nghĩa nhu mì như nhà triết học Aristote đã nói, nhưng nhờ đạo Đấng Christ được thêm ý rất cao thượng: dầu đứng trước sự khinh bỉ thì vẫn cứ khiêm nhường. Nhu mì là tinh thần của chính Cứu Chúa (Mat 10:29 so IICôr 10:1). Trước tiên phải có sự khiêm nhượng, sau bởi đó mới được sự nhu mì, và kết quả sự nhu mì là sự tiết độ. Tín đồ phải nhu mì và phải tỏ ra đức tính này đối với nhau (Êph 4:2; Cô 3:12; ITi 6:11; Tít 3:2); nhu mì phải là đặc điểm của các giáo sư Đấng Christ và người nào cầm quyền (IITi 2:25); người đời phải nhận lấy lời cứu rỗi cách nhu mì (Gia 1:21); tín đồ “Hãy lấy cách ăn ở tốt… bởi nhu mì mà ra” (Gia 3:13), và phải hiền hòa (nhu mì), sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy mình (IIPhi 3:15).