Nhã Ca

Nhã Ca Song of Solomon. Cantique des Cantiques.

Trong Kinh Thánh quốc văn, Nhã Ca là sách cuối cùng trong năm sách văn thơ Cựu Ước. Ấy là theo lối sắp đặt của bản Septante; song theo bản Hê-bơ-rơ, Nhã Ca ở giữa Gióp và Ru-tơ, và là một trong năm cuốn sách được thu nhỏ thành một loại riêng để tiện đọc trong 5 ngày lễ trọng. Nhã Ca thường đọc ngày thứ tám trong lễ Vượt-qua và được giải thích theo nghĩa bóng chỉ về sự tích xuất Ai-cập. Nhã Ca của Sa-lô-môn cũng gọi là “Nhã Ca trong các bài ca” (1:1). Cách nói lặp lại hai lần của người Hê-bơ-rơ như Chúa của các chúa, trời của các từng trời, và hư không của sự hư không, v.v…. (Phục 10:17; ICác 8:27; Truyền 1:2), cốt để thêm một sức mạnh tuyệt đối tỏ ra là một bài ca rất quí giá.

I. Cách chia bố cục và giải nghĩa.– Đọc sách Nhã Ca, ta thấy đó là một cuộc đối đáp qua lại. Điều này nói đến rõ hơn trong bản Hê-bơ-rơ, còn bản quốc văn thường cách một hàng. Có người tưởng, trừ các con gái Giê-ru-sa-lem, chỉ có hai người quan trọng nói chuyện với nhau; song người khác lại cho là có 3 người được dẫn vào trong bài của người nữ Su-la-mít, ba người đó là một gái quê, người bạn tình của cô gái và Sa-lô-môn.

Nội dung cuả sách Nhã Ca xoay quanh người nữ này, nàng đã được hứa gả cho một chàng đồng xứ, song trong khi Sa-lô-môn và những kẻ cùng đi tới phía Bắc (6:10-13) thì chú ý đến nàng, đem về Giê-ru-sa-lem. Tuy xung quanh mình có rất nhiều cung nữ, nhưng vua Sa-lô-môn vẫn hằng bày tỏ tình yêu để mong được nàng yêu lại. Song nàng chống lại mọi sự vấn vương. Khi Sa-lô-môn khen nàng, thì nàng trả lời bằng cách khen ngợi người yêu mình ở chốn quê hương. Ngày cũng như đêm, nàng ao ước được nhìn thấy người mình yêu, thường nhớ lại lời người yêu để giữ lòng chung thủy. Nàng rất thành thật với người yêu và với lời hứa nguyện của mình. Cuối cùng, hai bạn tình bị chia rẽ đã được gặp mặt nhau, và các anh em nàng khen ngợi nàng vì đã chống mọi sự cám dỗ. Suốt cả sách, Sa-lô-môn không đáng khen, vì đã dùng mọi cách để cám dỗ người nữ phạm tội với người yêu, không giữ lòng chung thủy (7:1-9). Theo lời giải nghĩa nầy, bài ca tán tụng một tình yêu thật, thắng hơn mọi sự cám dỗ trong một cung điện, tình yêu đó đủ sức mạnh để chống với mọi cách quyến rũ của một nhà vua.

Lời giải nghĩa trên gọi là ức thuyết người chăn chiên, căn cứ vào những lời người nữ Su-la mít, người đọc hiểu rằng đây là lời mong mỏi yêu thương nói với người yêu ở xa (1:4, 7; 2:16). Nhưng nếu cho rằng những lời bày tỏ sự yêu thương đó trong suốt bài ca là trực tiếp với chính vua Sa-Lô-môn, thì dễ hiểu hơn. Có thể một cô gái quê đơn sơ không am hiểu về đời sống và công việc triều chính. Nàng nghĩ đến vua, người chăn dắt dân sự (so Giê 23:4) giống như hình ảnh một người chăn bầy ở chân đồi nơi quê hương mình, nhưng lại không biết bày tỏ như thế nào nên nàng mượn những hình ảnh trong đời sống chăn chiên mà mình đã thông thạo để tâu vua. Bởi đó, suốt cả bài ca, nàng tự nhiên tả vẽ hình ảnh theo một đời sống chăn bầy và trồng trọt mình đã quen.

Có người lại giải nghĩa khác, cho rằng người con gái ấy không phải là Su-la-mít, nhưng là con gái Pha-ra-ôn mà Sa-lô-môn cưới. Bởi vì theo Nhã Ca, nàng là người ngoại bang, da ngăm đen, và là con gái một vị hoàng đế (1:5; 7:1). Nhưng lý do da đen là vì cớ mặt trời rọi cháy (1:6); và danh hiệu con gái hoàng đế có lẽ chỉ là một sự đặt để, bởi vì người con gái trong Nhã Ca có địa vị thấp hèn (1:6; 2:9), nhưng lại được cất nhắc lên ở địa vị cao do lòng thương xót (6:12; so ISa 2:8).

Có người coi bài ca nầy như một bi kịch với bốn hồi, hoặc năm, hoặc sáu hồi. Bossuet tưởng mình tìm ra bảy hồi, mỗi hồi đủ một ngày với ngày cuối cùng là ngày Sa-bát, vì ngày đó, người yêu không đi ra làm việc như thường. Vậy, Bossuet chia như sau: 1:1-2:6; 2:7-17; 3:1-5:1; 5:2-6:9; 6:10-7:11; 7:12-8:3; 8:4-14.

Delitzsch chia làm sáu hồi:

Hồi I. Tình yêu của đôi trai gái (1:2-2:7). Cảnh đó ở trong triều vua Sa-lô-môn.

Cảnh 1. Vấn đáp giữa người nữ Su-la-mít và các cung nữ, con gái Giê-ru-sa-lem, trong bữa tiệc (1:2-8).

Cảnh 2. Sa-lô-môn vào; vấn đáp giữa vua và người nữ, chưa là vợ mình (1:9-2:7).

Hồi II. Cùng tìm và cùng thấy nhau (2:8-3:5). Cảnh ở trong nhà quê người nữ Su-la-mít.

Cảnh 1. Nàng vui vẻ thuật lại truyện gặp vua (2:8-17).

Cảnh 2. Nàng thuật lại giấc mơ tưởng đã mất người yêu mà lại tìm được (3:1-5).

Hồi III. Đem người nữ đã hứa gả đến cung điện và cử hành lễ cưới (3:6-5:1)

Cảnh 1. Rước đi đến cung điện (3:6-11).

Cảnh 2. Vấn đề giữa Sa-lô-môn và người nữ đã hứa trong phòng huê chúc (4:1-16). Ở đây tưởng tượng làm lễ cưới; theo đó 5:1 có lời chào thăm của Sa-lô-môn với tân phụ mình, và sau có lời khuyên các khách.

Hồi IV. Sự yêu thương bị coi thường song về sau được lại (5:2-6:9).

Cảnh 1. Bóng tối ngã trên đời của đôi bạn mới cưới. Người nữ Su-la-mít mơ tìm người yêu song không được (5:2-6:3).

Cảnh 2. Nàng đã tìm lại người yêu (6:4-9).

Hồi V. Người nữ Su-la-mít đẹp song là công chúa khiêm nhường (6:10-8:4).

Cảnh 1. Trong vườn thượng uyển. Vấn đáp giữa người nữ Su-la-mít và các con gái Giê-ru-sa-lem (6:10-7:6).

Cảnh 2. Trong cung điện; Sa-lô-môn và người nữ ở một mình (7:7-8:4).

Hồi VI. Lời chứng quyết tình yêu của người nữ Su-la-mít trong nhà nàng (8:5-14).

Cảnh 1. Sa-lô-môn và vợ mới trước mặt các bà con của người nữ (8:5-7).

Cảnh 2. Người nữ Su-la-mít trong nhà cha mình; vấn đáp giữa nàng, các anh em cùng vua (8:8-14).

Dầu chia Nhã Ca như một bi kịch, nhưng cách chia như vậy bị phủ nhận với những bằng cớ hợp lý: Bài ca không thích hợp với thể văn bi kịch, và trong đó không có ý định mờ ám nào. Để có một chuyện văn xuôi thì phải thêm mấy phần sót lại cho liên quan với nhau. Bởi đó, người giải nghĩa thường thêm các phần sót đó tùy theo ý riêng mình. Thật ra, bài ca như có hiện nay là một bài liên tiếp nhau, và đại ý là sự yêu thương của Sa-lô-môn và tân phụ. Tuy là có mấy cảnh không liên quan với nhau, và thỉnh thoảng đổi ý từ cảnh nầy sang cảnh kia cách thình lình. Và dầu lối sắp đặt bài ca không hiệp với ý phương Tây vì hay tuân theo trật tựOnspan> và lý cớ, nhưng sách Nhã ca thích hợp hoàn toàn với lối làm thi ca của phương Đông.

II. Sự dạy dỗ.– Có ba phương pháp để tìm sự dạy dỗ trong Nhã Ca: nghĩa bóng, nghĩa theo văn tự, và nghĩa hình bóng. Người Do-thái vẫn lấy Nhã Ca làm rất quí, thường coi như là một nghĩa bóng thuộc linh với một nội dung duy nhất là dạ﹠dỗ về sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên xưa. Đức Chúa Trời là “Lương nhơn”, và Y-sơ-ra-ên là kẻ được yêu thương. Vào thế kỷ thứ III S.C., Origène, người nổi tiếng về lối dạy dỗ theo nghĩa bóng, đã dạy Hội thánh Đấng Christ bài ca này, nhưng thay đổi một ít. Đấng Christ trở nên Lương nhơn, và Hội Thánh Ngài hay linh hồn các Lương nhơn trở nên kẻ được yêu thương. Xem bài Scofied ở dưới. Nếu dạy theo lối văn tự thì bài ca là một truyện trong lịch sử, là một sự tích về Sa-lô-môn yêu người nữ Su-la-mít. Nghĩa hình bóng làm cho hai lối dạy trên hiệp nhau. Trong bài ca, tình yêu thương tự nhiên giữa vị vua lớn và người con gái hèn hạ làm thí dụ về sự yêu thương lẫn nhau giữa Đức Giê-hô-va và dân sự Ngài. Ngoài nội dung hay, sự tích nầy còn được chép vì làm hình bóng về lẽ thật lớn lao đó. Bởi thế, Nhã Ca tương tự với các Thi-thiên về Đấng Mê-si, là những bài nhờ sự từng trải riêng, hoặc chức vị của Đa-vít và Sa-lô-môn, và tỏ ra những lẽ thật về Vua lớn. Sự so sánh tình yêu thương lẫn nhau giữa Hội Thánh và Chúa làm Đầu mình, với tình yêu thương giữa tân phụ và tân lang thường chép trong Tân Ước (Êph 5:25-33; Khải 19:7-9; 21:9).

III. Niên hiệu và trước giả.– Về niên hiệu và trước giả Nhã Ca, theo ức thuyết kẻ chăn chiên thì không thể do Sa-lô-môn chép. Dầu Sa-lô-môn có lỗi nhưng không đủ cớ tin ông là người phạm tội ác lớn như thế, nên không thể công nhận ức thuyết kẻ chăn chiên đó là đúng. Vả lại, xem xét chứng cớ về trước giả và niên hiệu, thì bài ca (1:1) chép rõ “Sa-lô-môn đã làm”. Sự khôn ngoan của tác giả được tỏ rõ trong bài ca rất giống với mọi sự hiểu biết của Sa-lô-môn. Lời nghĩa bóng vẫn dùng trong những bài của vua chẳng những phản chiếu cõi thiên nhiên, song cũng nói lên những ý thích của vua. Suốt cả bài ca tỏ ra trước giả hiểu rộng cũng như Sa-lô-môn, đó là sự hiểu biết về cây cối, từ cây hương nam đến chùm kinh giới, hay về thú vật như chim chóc, loài bò sát, và cá, v.v…. Bài ca cũng vẽ bức tranh rất đúng về đời Sa-lô-môn. Bài ca tỏ ra được chép trong thời mà văn chương Hê-bơ-rơ rất phong phú, và một thời dân tộc rất thịnh vượng. Dầu khi nói với người nữ Su-la-mít dùng một vài tiếng Aramaique từ nguyên gốc Aryen, ấy không phải là lạ vì Sa-lô-môn thường thông thương với các nước ngoài.

Tiến sĩ Scofield chú thích về sách Nhã Ca:

Tiểu dẫn.– Đối với một trí khôn không hiểu sự thuộc linh, thì sách Nhã Ca rất mầu nhiệm và không thể hiểu được trong cả Kinh Thánh; còn đối với những nam nữ rất thánh khiết trải các đời, thì tại đó tìm được nguồn gốc của sự vui vẻ thanh sạch và cao quí. Sách chép về tình yêu của Chúa và Tân lang tương xứng với mối liên quan trong tình yêu giữa vợ và chồng, nhưng đối với những người có trí óc hẹp hòi thì xem sự ràng buộc nghĩa vợ chồng trong Nhã Ca như là điều bất khiết cho mình.

Sự giải nghĩa có hai phần: Trước nhứt sách nầy tỏ ra tấm lòng của Đức Giê-hô-va đối với dân Y-sơ-ra-ên, là vợ “dưới đất” (Ôs 2:1-23), nay bị để, song sau được lập lại, chưa là dân tộc Y-sơ-ra-ên, chỉ là dân sót (Ês 10:21), là Y-sơ-ra-ên thuộc linh trong Y-sơ-ra-ên (Rô 9:6-8). Lời giải thứ nhì và rộng hơn là về Đấng Christ, là Con, và Tân phụ trên trời của Ngài tức là Hội Thánh (IICôr 11:1-4).

Theo nghĩa nầy, có thể chia làm sáu phần:

I. Tân phụ giao thông trong sự yên nghỉ với Tân lang, 1:1-2:7.

II. Sự tạm để và lập lại, 2:8-3:5.

III. Sự vui vẻ của sự giao thông, 3:6-5:1.

a. Tân phụ nói, 3:6-11.

b. Tân lang nói, 4:1-15.

c. Tân phụ nói, 4:16.

d. Tân lang đáp lời, 5:1.

IV. Sự phân rẽ về lợi chung.– Tân phụ thỏa lòng, Tân lang làm việc khó nhọc cho người khác, 5:2-5.

V. Tân phụ đang tìm, 5:6-6:3.

a. Các con gái Giê-ru-sa-lem nói, 5:9.

b. Tân phụ đáp lại, 5:10-16.

c. Các con gái Giê-ru-sa-lem nói, 6:1.

d. Tân phụ đáp lời; 6:2, 3.

VI. Sự giao thông không dứt được, 6:4-8:14.

a. Tân lang nói, 6:4-7:9.

b. Tân phụ nói, 7:10-8:4.

c. Tân lang nói, 8:5-7.

d. Tân phụ nói, 8:8.

e. Tân lang nói, 8:9.

f. Tân phụ nói, 8:10-14.

1:1.– Về phần I Sách nầy, những tư tưởng êm ái của Đấng Christ đây là chép cho Tân phụ Ngài, dầu chưa được hoàn hảo, nhưng cũng rất yên ủi. Những sự cảm hóa trong lòng Tân phụ là phần của sự sửa dạy bề trong mà Êph 5:25-27 gợi đến.

2:9.– “Tường chúng tôi” đây tỏ ra Tân phụ đã trở về nhà mình: Tân lang đến tìm nàng tại đó.

4:9.– “Em gái ta” đây có nghĩa rất yêu quí, vì chỉ chính lòng thanh bạch trắng trong với tình yêu nồng nàn, giống như sự hiện diện vinh hiển Chúa chói sáng song thánh sạch không tả xiết. Tội lỗi hầu làm cho ta mất tài sức để đứng chân không trước bụi gai đang cháy nầy.

5:6.– Nên chú ý, mục tiêu chính của Tân phụ là Tân lang chứ không phải lễ vật của chàng, –một dược và sự rửa chơn (Giăng 13:2-9).

6:1.– Khi Tân phụ làm chứng về duyên tốt của chính Tân lang, ấy tỉnh thức các con gái Giê-ru-sa-lem ước ao tìm kiếm Ngài.

Lên đầu trang