Người

Người Man. L’homme.

I. Trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ dùng mấy danh từ chỉ về người:

a. ‘Âdhâm: Dùng chỉ tên người đầu tiên trên trái đất (Lu 3:38; Rô 5:14; ICôr 15:45), hoặc để gọi, hay chỉ một loài. Nguyên gốc chữ nầy không rõ. Trong Sáng 2:7 ‘âdhâm có liên quan với chữ ‘âdhâmah, nói lên bổn thể người có một phần từ đất, nhưng có người tin tên ‘âdhâm có nghĩa “đỏ như lửa”, chỉ đất mà người được nắn lên như có trong dãy núi Hauran tại xứ Mê-sô-bô-ta-mi.

b. Danh từ ben-‘âdhâm, có nghĩa là “Con loài người” (Dân 23:19; Gióp 25:6; Êxê 2:3), có khi có nghĩa chỉ về sự bạc nhược và không xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời (Thi 11:4; 12:1, 8; 14:2). Trái lại, có khi chữ ‘âdhâm, như trong Truyền 7:28 lại chỉ về sự tôn trọng người.

c. Chữ ‘enôsh (Thi 8:4; 10:18; 90:3; 103:15, nhiều lần trong Gióp nữa) chỉ về người trong sự vô quyền, yếu đuối, hay chết, trái với ‘#sh. Sáng 4:26 dịch là Ê-nót, tên của con Sết. So Thi 10:18.

d. Chữ ‘#sh chỉ người nam có sức mạnh và nghị lực hơn so với người nữ, cũng mang ý như vậy đối với các loài vật (Sáng 7:2); hay khi so sánh giữa chồng với vợ (‘Ishshàsh Sáng 2:23, 24); về phần phẩm giá và công đức (Giê 5:1, “thử có thấy một người chăng”); về người có giá trị (Châm 8:4).

e. Chữ gebber cũng chỉ về người nam mạnh sức so với phụ nữ (Gióp 3:3), so với người không ra trận (Xuất 10:11 và Mat 8:9), và người nam không nên mặc quần áo người nữ (Phục 22:5). Người anh hùng và dõng sĩ cũng gọi bằng gebber (Các-quan-xét 6:12), có khi chỉ về Đức Chúa Trời (Ês 10:21), và Đấng Mê-si (Ês 9:6). Khi đi chung với chữ ‘#sh thì thêm ý sức mạnh càng hơn.

Tiếng Hy-lạp dịch anthrôpos chỉ cách chung về một người (Mat 12:12; Mác 10:27), dầu có khi chỉ về người trong thiếu thốn và yếu đuối (ICôr 3:3, 4), như câu “tôi nói như cách người ta nói” (ICôr 15:32), v.v…; chắc tỏ ra so sánh giữa sự hư nát và không hư nát (IICôr 4:16 “người bề ngoài hư nát, song người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn”. Vậy, Phao-lô so sánh người có tánh xác thịt (ICôr 2:14), là người cũ (Rô 6:6), với người mới (Cô 3:9, 10).

Chữ Anèr từ tiếng Hy-lạp, dịch qua tiếng La tinh là chữ “vir”, tức người mạnh sức, so với người nữ trong sự yếu đuối (ICôr 11:13; IIPhi 3:7), nhưng ý chung nhất là chỉ về người (Mác 6:44).

II. Bổn thể người.– Ý Kinh Thánh về bổn thể người có thể tóm tắt bằng lời Phao-lô: “người bởi đất mà ra, là thuộc về đất (ICôr 15:47), khi đem so sánh thì trái với Sáng 1:27, “Đức Chúa Trời dựng nên loài người giống như hình Ngài”. Việc dựng nên đó là kết quả sự bàn luận đặc biệt của Đức Chúa Trời với chính mình Ngài (câu 26). Vậy người là vật thọ tạo, được nắn nên từ “đất”, theo “hình Đức Chúa Trời”. Cựu Ước dùng mấy chữ để tỏ ý Ngài:

a. Bàra’, có nghĩa là “dựng nên”, nguyên gốc không chắc, dùng năm lần trong Sáng 1:1- để tỏ ra căn nguyên vũ trụ (câu 1), căn nguyên của các vật sống dưới nước, và chim bay trên trời (câu 21), và căn nguyên loài người (câu 27); chữ nầy vẫn liên quan với công việc sáng tạo của Đức Chúa Trời.

b. Yàcar, có nghĩa lấy bụi đất “nắn nên”, làm thành, “nhào lộn” (Sáng 2:7).

c. Bàràh có nghĩa là “làm nên”, như chép “Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ” (Sáng 2:22).

Bởi công việc đặc biệt của Đức Chúa Trời, người trở nên nephesh hayyah (loài sanh linh), dường như đó chỉ về hơi sự sống mà người có chung với các loài vật khác (Sáng 1:20, 21, 24), nhưng khác nhau ở chỗ vì “Đức Chúa Trời… hà sanh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh” (nishmath hayyim, nghĩa thật là hơi của những sự sống). Trừ ra Sáng 7:22, chữ neshàmàh tức “hơi”, chỉ dùng về người. Trong Gióp 32:8 chỉ về việc dựng nên của Ngài: “Có thần linh ở trong loài người và hơi thở (nishmath) của Đấng Toàn năng cho chúng sự khôn sáng”, so với Ês 42:5 “Đức Chúa Trời… ban hơi sống (neshàmàh) cho dân”. Vậy, người khác với các vật khác, nhưng vẫn là một trong những loài thọ tạo của Chúa.

Sự khác đó càng rõ hơn khi Kinh Thánh chép: “Hãy làm nên loài người như hình (celem, tức image) ta và theo tượng (demuth, tức similitude) ta” (Sáng 1:26). Có người nói “hình” chỉ về phần thân thể, và “tượng” chỉ phần luân lý người; người khác thì cho rằng: “hình” chỉ về phần tự nhiên, và “tượng” về phần người nhận lấy; ý kiến khác lại cho rằng: “hình” chỉ về phần vật chất, và “tượng” chỉ về phần vô hình.

Nhưng thật ra theo Kinh Thánh chép, dường như hai danh từ đó không khác nhau; dầu chữ celem (image) trong Sáng 1:27 được dùng để tỏ ra mọi sự khác nhau giữa người với thú vật, và liên lạc người với Đấng Tạo hóa mình. Laidlaw dựa vào Sáng 9:6 và Gia 3:9 để khẳng định: “Không thể phản đối, hình đó là thuộc loài người”, vậy khi làm hại người đồng loại là làm hại hình ảnh Đức Chúa Trời trên người đó. Calvin cũng nói: “hình Đức Chúa Trời là sự tốt lành hoàn toàn của bổn thể người”. Nên chú ý, theo Kinh Thánh, người được dựng nên theo hình của “Elohim”, tức là Đức Chúa Trời Ba ngôi, không phải theo một trong Ba ngôi đó; như Phao-lô trong ICôr 11:7 gọi người “là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.

Vậy thì, “hình” hay “tượng” đó là gì? Chắc là thân thể người, tức là đền của Đức Thánh Linh (“nhà tạm” IICôr 5:1), và thần linh người có lý trí, chịu cảm động và được hà hơi vào. Bởi đó nhân cách con người liên quan với sự cao trọng của thiên thượng, và phân rẽ mình với sự ở dưới, làm cho người trở nên một bổn thể riêng: có lý trí, tự cảm biết và tự quyết định, mà Đấng Tạo Hóa có ý cho người giao thông với Ngài. Trong Tân Ước, Êph 4:24 và Cô 3:10, chép: “người mới tức là người được dựng nên giống Đức Chúa Trời trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật, ” và “người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn”. Như vậy, sự hiểu biết, sự công bình và sự thánh sạch đều thuộc tánh hạnh người như Ngài vốn dựng nên. Vậy, được giống hình ảnh Đức Chúa Trời là đặc ân Chúa giành cho con người, nên người là trổi hơn mọi vật thọ tạo.

Kinh Thánh có chép về Con độc sanh của Đức Chúa Trời: “Con là hình bóng của bổn thể Ngài ” (Hêb 1:3); song chép về người thọ tạo thì ghi: “sẽ giống như Ngài” (I Giăng 3:2). Vậy, dù ở trong sự sa ngã, con người có lời Ngài hứa sẽ đổi mới theo hình Ngài (so IICôr 3:18); trái lại, Chúa Jêsus là hình Đức Chúa Trời vì “bình đẳng với Đức Chúa Trời”, dầu tạm “lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người” (Phil 2:6, 7).

III. Nguyên gốc của loài người.– Như đã nói trên, Kinh Thánh dạy rõ nguồn gốc loài người là từ Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chép hai lần về cuộc tạo thành: thứ nhứt trong Sáng 1:1-2:3 có tính cách chung, và thứ nhì trong Sáng 2:4-25 có tính cách riêng từng phần. Trong cả hai, người được Chúa tôn vinh hơn hết.

Trong truyện tích thứ nhứt (Sáng 1:1-2:3), con người được tạo thành sau khi đã sáng tạo muôn vật, mà trong cuộc sáng tạo ấy, loài lần lần tiến lên từ điểm chưa hoàn chỉnh đến điểm tuyệt đích là người. Trong toàn thể cuộc tạo thành thấy có trật tự, Kinh Thánh ghi lại đó là một công cuộc xảy ra trong sáu “ngày”, “ngày” ở đây đo bằng sự tối tăm hiện đến và tan đi. Trong sự hỗn độn của”ngày thứ nhứt” có sự phân rẽ sáng ra cùng tối, và sau đó có sự phân rẽ nước ở dưới và ở trên khoảng không, ấy là “ngày thứ nhì”. Kế đến có sự phân rẽ nước với đất khô, và trong bốn “ngày” nầy, theo trật tự liên tiếp, có các cây cối mọc lên, các vì sáng trong khoảng không hiện ra, cùng với sự xuất hiện của các sanh vật ở biển, trong khoảng không và trên đất khô. Khi mọi sự đã sắm sẵn, con người được dựng nên bởi một mạng lịnh nghiêm trang của Đấng Chí cao. Vả lại, dầu các vật khác được dựng nên và sanh sản “tùy theo loại”, nhưng Chúa chỉ dựng người một mình để bày tỏ sự thông sáng mà duy nhất chỉ Ngài có, được phơi bày một cách rõ ràng, nhờ Chúa mà con người có sự sống, mang hình ảnh của Ngài, và phân biệt nam và nữ. Bởi thế, không lạ gì mà Kinh Thánh gọi người thứ nhứt là “A-đam, con Đức Chúa Trời” (Lu 3:38).

Trong truyện tích thứ nhì (Sáng 2:4-25) trật tự lại khác, vì người không phải là điểm tuyệt đích, song là điểm trung tâm. Người là một vật thọ tạo bằng bụi đất, song có hơi thở của Đức Chúa Trời trong lỗ mũi, cầm quyền trên muôn vật như thay thế Ngài trên đất vậy, muôn vật bao chung quanh người và phục quyền người. Thêm vào đó có nói đến nơi cư trú đầu tiên của người ở trên đất và mối tương giao tuyệt vời giữa người với Chúa. Truyện tích thứ nhì nầy là bổ sung cho truyện thứ nhứt; song không hề mâu thuẫn, và những giống nhau nhiều hơn là khác nhau. Tôn chỉ của truyện tích thứ nhất là nói về nguồn gốc của loài thọ tạo; truyện thứ nhì chép sự dựng nên chính con người, tức A-đam của lịch sử” (Laidlaw).

Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi một số người công kích nói quá lẽ về sự khác nhau trong hai truyện: ví dụ như cách hành văn ở truyện thứ nhất hay hơn truyện thứ hai, về thứ tự, truyện thứ nhì không chép đất ra từ nước, đất khô không thể mọc cỏ, người hiện ra trước, sau có thú vật, chim trời, và cuối cùng người nữ; ngoài ra còn nói đến sự khác nhau của công việc Ngài, ở truyện thứ nhứt dùng danh từ “dựng nên”, “phân rẽ”, “làm nên”, và truyện thứ nhì dùng “nắn nên”, “cho”, “lấy”. Dầu vậy, sự khác nhau đó không đáng kể, về trật tự dầu khác nhưng phạm vi và mục đích hai truyện giống nhau.

Về mặt khoa học, có người phản đối hai truyện tích trong Sáng thế ký và cuộc tạo thành, vì dường như không đúng với địa chất học. Địa chất học không công nhận trật tự các “ngày” trong Sáng thế ký: ví dụ như theo địa chất học, thảo mộc có trước động vật, song ở đây lại nói cả hai loài đồng thời hiện ra; hay loài cá biển và chim trời có trước mọi sanh vật sống trên cạn; song truyện tích lại nói chim trời có sau cá và trước khi có cả hai thì đã có nhiều thứ sanh vật trên cạn, v.v… Sự khác nhau về mặt khoa học này được giải thích như sau:

1. Trong Sáng thế ký không chép theo lối của khoa học, vì là tiểu dẫn cho lịch sử về tội lỗi của người, và sự chuộc tội của Đức Chúa Trời; nên chỉ phác họa căn nguyên thế gian và sự sắm sẵn để đạt tới mục đích đó. Cho nên, chỉ nhấn mạnh ở khởi điểm là cuộc tạo thành vũ trụ bởi Đức Chúa Trời, và điểm tuyệt đích là dựng nên người theo hình Ngài. Giữa hai biến động lớn đó, chỉ nói đến mấy công việc kia của cuộc tạo thành tùy theo sự liên quan với đại đề của tội lỗi và sự cứu chuộc. Vậy, mục đích hai truyện là thực nghiệm, không phải tưởng tượng; nhưng theo thần học chứ không theo khoa học.

2. Nhiều nhà địa chất học danh tiếng như Dana, Dawson Haeckel, v.v… đã bị thuyết phục vì những sự giống nhau ở điểm chung giữa truyện tích và địa chất học, trừ sự phân biệt với các phần riêng. Haeckel viết ông rất kính phục Môi-se ở chỗ biết nhiều về cõi thiên nhiên và hai truyện chép về cuộc tạo thành đều đơn sơ và tự nhiên… Đây là điểm nổi bật khi so với những thần thoại lộn xộn về cuộc tạo thành lưu truyền trong phần nhiều các dân tộc đời thái cổ. Haeckel lấy hai truyện của Môi-se, khiến ta chú ý về “ý phân rẽ và phân biệt những nguyên chất vốn đơn sơ và sự tấn bộ lần lần” tại đó.

Có người nói truyện cuộc tạo thành của Y-sơ-ra-ên là nhờ tục truyền xứ Ba-by-lôn mà chép, song “không thể nào tin rằng tác giả thờ độc thần của Sáng 1:1-, 2:1- có mượn một chi tiết nào, dầu rất nhỏ mọn, từ thi ca đa thần của Marduk và Tiamat”. Trong sách “thần thoại Hê-bơ-rơ” của Bauer, xuất bản năm 1802, có lời: “Không thể coi truyện tạo thành trong Kinh Thánh như là một thần thoại, hoặc coi là do từ thần thoại Ba-tư hay Ba-by-lôn sau khi Y-sơ-ra-ên làm phu tù thì càng vô lý”. Sau có Eerdmans, Giáo sư trường đại học Leyden, chứng rằng: “Khi xem xét đầy đủ lời các nhà công kích… chỉ dẫn đến những kết quả không thể nào hiệp lý.”

IV. Sự duy nhứt của nhân loại.– Có thể nói điều này được tỏ rõ trong Kinh Thánh cũng như trong khoa học: Như thấy trong truyện Tạo thành và truyện Nước lụt. Trong bài giảng cho người thành A-thên, Phao-lô chứng quyết như thế (Công 17:26), đây cũng là nền tảng của phương pháp cứu chuộc người trong Kinh Thánh (Giăng 3:16). Trong Kinh Thánh, nhân loại được mô tả là “những con cái A-đam” (Phục 32:8), ra từ một cặp vợ chồng (Sáng 1:27; 3:20), và nguyên từ một cá nhân (Sáng 2:18; so ICôr 11:8). Bởi đó, danh từ A-đam đặt cho loài người, cũng như đặt riêng cá nhân (Sáng 1:26; 2:5-7; 3:22-24; 5:2). Trong Tân Ước, lẽ đạo nầy được ứng dụng vào lịch sử của sự cứu chuộc, tức Đấng Christ như là “A-đam thứ nhì”, lập lại điều “A-đam thứ nhứt” đã làm mất (ICôr 15:21, 22, 47-49).

Ngòai Kinh Thánh, có mấy thuyết lý về nguồn gốc con người, về lịch sử đời thái cổ, và địa vị đầu tiên của nhân loại. Có người nói loài người có mấy căn nguyên, tức những dòng giống người từ thủy tổ khác nhau, như A-đam v.v…; hoặc mấy dòng giống chủng tộc từ thủy tổ trước A-đam là người sanh ra người Do-thái và những dòng giống bạch chủng. Dầu có một vài nhà sanh vật học nói có từ 2 đến 63 thủy tổ loài người như thế, nhưng chính Darwin không đồng ý với các thuyết đó, và chứng quyết rằng mọi dòng giống người đều ra từ một cội rễ đầu tiên, vậy hiệp với Kinh Thánh.

V. Thuyết lý Tấn hóa học về Căn nguyên loài người.– Từ năm 1859, Darwin xuất bản sách: “De l’Origine des Espèces par voie de Sélection Naturelle”, thuyết lý nầy được hưởng ứng rộng rãi, cho đến ngày nay, nó vẫn được khoa học và giáo dục học công nhận. Như có người viết: “Thuyết lý nầy đã từ thế giới động vật qua thế giới bất động vật, từ thái dương hệ qua vũ trụ, từ cõi thiên nhiên đến những hiểu biết của loài người thông qua nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, v.v…, đến nỗi lộn lạo về sự tấn hóa của các động vật với máy hơi nước, máy in, nhựt trình, điện khí v.v… Dầu thuyết lý nầy lan rộng như thế, song kết quả chưa chắc chắn, còn cần phải bàn luận; vậy, vẫn là một lý thuyết chưa thành thực sự. Vì thuyết này đi ngược với lẽ đạo Kinh Thánh về người và nguồn gốc con người, bởi đó không thể nào tin cậy thuyết tiến hóa được”.

Một trong những nội dung thuyết tiến hóa của Darwin như sau : Trong vạn vật xung quanh ta, mỗi một cơ thể (organisme) đều dự phần vào việc tranh đấu để sanh tồn. Trong cuộc tranh đấu này, phần nào yếu thì bị loại ra, còn phần mạnh và tốt đẹp hơn thì tồn tại. Những phần sống sót đó là do tạo hóa đã chọn lựa, bởi thế sanh ra danh từ “sélection naturelle” (tức tự nhiên được chọn hoặc đào thải); trong vòng các sanh vật cao quí hơn được bổ trợ bởi “Sélection sexuelle” (tức lựa chọn theo hai giống hoặc bị đào thải), nhờ ảnh hưởng đó thì những giống đực hoàn toàn nhứt được ưa thích hơn giống cái, và được chọn như vậy để sanh sản chủng loại mình. Từ các cơ thể được chọn như thế, truyền lại trong dòng giống mình mọi đặc tính, bởi đó có một cuộc chuyển biến không nhứt định. Darwin cho rằng “từ một vài hình thể hoặc từ một cơ thể mà có hơi sự sống thổi vào, sẽ tiến hóa ra vô số hình thể rất đẹp đẽ và lạ lùng” (Darwin).

Khi dùng thuyết tiến hóa kể trên để quyết định về nguồn gốc con người, các nhà khoa học chỉ bị thuyết phục ở chỗ có sự giống nhau giữa người và thú vật ở một vài điểm như sau:

1. Về những đặc điểm của hình thái học (morphologie): người và thú giống nhau bởi các cơ quan trong thân thể; hay đều có thể mắc các chứng bịnh giống nhau; hoặc giống nhau về số cân, máu, v.v…

2. Về những đặc điểm của thai hình học (embryoligie) người và thú giống nhau bởi sự sanh ra từ một tiểu noãn (ovule) và người cũng như động vật khác, phải trải qua một kỳ lớn lên theo luật tiến hóa.

3. Về các cơ quan: từ buổi đầu (organes rudimentaires) con người đã có những cơ quan không cần thiết, bị coi là vô ích, và có lẽ di hại vì sanh chứng bịnh, ở loài thú cũng có những cơ quan ấy nhưng nó không bị coi là thừa vì các loài thú rất cần đến những cơ quan này.

4. Về trí khôn: người và thú đều có trí khôn tuy là không cùng một bậc và rất khác nhau.

5. Về cổ sinh vật học (paléontologie): khi so sánh những vật hóa thạch (fossiles) còn lại trong đất của người và thú, kết quả cho thấy người văn minh hiện tại có sự tương quan mật thiết với loài vượn, mà theo những người ủng hộ thuyết Darwin- ấy là tổ tông loài người. Về sau, để binh vực thuyết của mình, họ đã lấy máu của người và thú để thí nghiệm.

Những câu hỏi chưa có lời giải đáp của thuyết tiến hóa nhiều và lớn đến nỗi các nhà sinh vật trứ danh phải phản đối, công kích. Vấn đề khó nhứt là tìm vòng xích thiếu mất giữa người và các loài kém người. Năm 1894, dường như người ta đã tìm một loài mạo xưng là hầu nhân (pithécanthrope: tức nửa người nửa khỉ); và tưởng ấy là vòng xích thiếu mất đó, song chỉ càng thêm sự bàn cãi. Virchow (thuộc phái tiến hóa) phải xưng nhận rằng: “Không có loài hầu nhân hoặc một thứ vượn nào gồm đầy đủ các đặc tính của tổ tiên loài người”.

Dầu Darwin luận rằng thủy tổ loài người là giống khỉ, nhưng nhiều người theo phái đó có ý khác nhau và gợi ý rằng: “Cuộc truy nguyên người biến mất vào trong sự tối tăm của thủy tổ loài động vật có vú”, lại có ý công nhận “người đã được sanh ra cách riêng biệt”. Trong phái đó, người khác nói “người được tấn hóa từ loài kém mình bởi những cuộc thay đổi (mutation), nghĩa là bởi những cuộc chuyển biến không liên tiếp rất lớn”. Nếu họ đã nhận có những bước “nhảy xa” và “nhảy cao” trong phép tấn hóa như thế, thì lời nhà khoa học Otto đem lại ý nghĩa mới cho người nào bởi Kinh Thánh tin rằng Chúa dựng nên người: “Bước nhảy xa hoặc nhảy cao cuối cùng là rất lớn, đến nỗi đem cho người sự tự do và sự giàu có của đời sống thần hồn không thể ví sánh được với sự gì trước đã có”.

Những lẽ phản đối ức thuyết Darwin có ba mặt:

1. Ức thuyết đó phủ nhận kết cuộc (téléologie), mà lấy lẽ tự nhiên đào thải thế vào.

2. Ức thuyết đó cho rằng phương pháp tấn hóa có sự tuần tự chậm chạp và không thể cảm biết.

3. Ức thuyết đó quả quyết rằng cơ thể được tấn bộ liên tiếp từ hình thể thấp hèn nhứt đến hình thể cao quí nhứt. Tuy nhiên, có những lý do chính đáng để không thể công nhận thuyết tiến hóa:

1. Lý lẽ đi ngược với sự sáng tạo.– Tấn hóa thuyết chối kết cuộc luận rất rõ ràng và đặc biệt. Theo thuyết Darwin dường như phải chọn vận may mà bỏ cuộc tạo thành. Trí khôn, mục đích, ý định trước, mưu toan, sự dẫn dắt và quyền giám sát của Đức Chúa Trời bị bài trừ đi trong phương pháp tấn hóa. Chính Darwin, dầu vốn có ý khuynh hướng về một Đấng Tạo Hóa sau lấy làm tiếc mà viết rằng: “Vì đã vị nể dư luận quần chúng mà dùng danh từ trong Ngũ kinh, song thật ra lời mình chỉ có ý chỉ về một phương pháp hoàn toàn chưa biết đến”.

Darwin đã nhận biết mình tin quá lẽ về quyền “tự nhiên đào thải” trên những giống xứng đáng nhứt được sống sót lại. Darwin viết: “Quyền tự nhiên đào thải chỉ hành động bởi những sự chuyển biến thêm lên, nhỏ nhặt, theo nhau và thuận hiệp; không thể thay đổi thình lình hoặc nhiều; chỉ có thể hành động từng bước ngắn và chậm”. Điều này đi ngược với kết cuộc luận, nhưng là một đặc điểm chung của thuyết. Weismann viết: “Ý ức thuyết nầy là lấy lực lượng của động cơ (force mécanique) thế cho ‘chuẩn lực’ (force directrice) để cắt nghĩa căn nguyên sự chuyển biến của tấn hóa thuyết”. J.A. Thomson nhận rằng: “Không có chứng cớ nào hợp lý về thuyết người ra từ loài kém hơn mình. Thực sự về thuyết tấn hóa ép ta tin, song những chứng cớ thì lại không có!… Bất cứ nơi nào xét các động vật trong cõi thiên nhiên dường như phải có mục đích… nếu cuộc tấn hóa người đến điểm cuối cùng có ‘Ngôi Lời’ thì chắc khởi đầu cũng phải có nữa”. Nơi nào có một mục đích, phải có một trí khôn đang đạt đến mục đích nhứt định đó; và nơi nào có trí khôn, có thể có cuộc sáng tạo buổi ban đầu; khi nhận có cuộc tạo thành, thì cũng phải nhận có ý Thần cai trị trên hết. Điều này minh chứng truyện chép trong Kinh Thánh về cuộc tạo thành đặt Đức Chúa Trời tại ban đầu, và nhận vũ trụ là công việc sáng tạo Ngài, thì không trái với khoa học như phái tấn hóa tưởng đâu”.

2. Sự chuyển biến không giới hạn.– Điều này không đúng với thực tế ở chỗ: sự phát triển bao giờ cũng có, song ở trong giới hạn nhứt định. Động vật hoặc thảo mộc là một cơ thể chỉ hoàn toàn và cân đối đến một mức của nó, không thể có sự phát triển tuần tự mãi mãi từ vật đơn sơ đến vật phức tạp hơn, nếu như thế thì đâu là giới hạn của thế giới sinh vật?

Hoàn nguyên mẫu (réversion au type) dường như không theo phương pháp nhứt định nào, và sự phối giống giữa các loài (như con la) rõ ràng không theo thuyết tiến hóa, nó được xem như là luật của sự tiến bộ. Tuy nhiên, Elam viết: “Một mụt nhỏ trên mũi con cá nào, ấy không phải là chứng cớ con cá đó trổi hơn đồng loại mình”.

3. Khoảng cách giữa các loài.– Không có thuyết lý nào trong thuyết tiến hóa có thể bắc cầu qua vực sâu giữa những chủng loại muôn vật. Sự chuyển biến dần dần từ loài bất động vật đến loài động vật, từ loài thảo mộc đến loài sanh vật, từ một loài thảo mộc hoặc sanh vật đến một loài thú khác, từ loài thú đến loài người; đều không thấy trong cõi thiên nhiên. Các nhà khoa học trứ danh công nhận như thế. Du Bois-Raymond chủ trương có bảy điều bí ẩn hạn chế sự nghiên cứu thuyết tấn hóa về bảy mặt:

a. Có thể chất và lực lượng.

b. Căn nguyên sự cử động.

c. Căn nguyên sự sống.

d. Sự mưu luận được tả ra trong Muôn vật.

e. Có ý thức.

f. Tư tưởng thông minh và căn nguyên tiếng nói.

g. Vấn đề ý muốn tự do.

A.R.Wallace, người binh vực thuyết “tự nhiên đào thải”, nhưng lại nhận định rằng: “Ít nhứt có ba bước trong sự tấn hóa trong cõi động vật, khi đã có một duyên cớ mới hoặc một lực lượng hành động”, tức khi “mới có sự sống, sự cảm biết với ý thức, và mới có người”.

4. Thuyết tấn hóa đối với người.– Nói đến điều này lại càng rắc rối, càng có nhiều vấn đề mà thuyết tiến hóa không giải thích được. Về trí khôn, người giống thú song thật khác nhau xa. Dầu có theo thuyết lý nào của thuyết tiến hóa cũng không dễ giải nghĩa về ý thức, tư tưởng, tiếng nói, đạo đức và tôn giáo của con người. Nếu ra từ loài kém mình, con người làm sao có thể công nhận những nghĩa vụ luân lý, tự do chọn lấy những điều phải trái, biết làm theo lương tâm, có trách nhiệm và có sự cắn rứt lương tâm? Chứng tỏ con người là một loài riêng biệt, độc lập, và khác hẳn với loài vượn. Loài người là câu đố trong vũ trụ, vì theo Orr thì: “Ý thức và vô ý thức khác nhau xa vì ta biết phân biệt giữa những phần tử vật chất đang cử động và ý thức bề trong của người”.

Không thể nào từ cõi vật chất bề ngoài qua cõi ý thức bề trong. Dầu hết sức thử bắc cầu song không thể qua vực sâu được. Bởi đó, A.R.Wallace đã bỏ thuyết lý “bổn thể, những sở năng, đạo đức, trí thức, thuộc linh của người, là bắt đầu từ loài kém người”.

5. Những loài giữa các cuộc chuyển biến không có.– Điều này đánh đổ chính cội rễ của thuyết Darwin. Thực tế chứng minh rằng vòng chuyển biến từ loài nầy sang loài kia chẳng những không có mà lại càng hiếm hoi nữa. Dầu bàn luận nhiều, nhưng các nhà khoa học ủng hộ thuyết tiến hóa không thể đồng ý với nhau về tổ tiên của loài ngựa ngày nay. Du Bois có tìm ra tại đảo Java phần trên của một cái sọ, phần đầu một cái xương, và ít răng, ông tưởng rằng những di tích ấy là của một loài thú có vú giống như người, song không đủ chứng cớ. Còn Virchow thì hoài nghi, cho rằng những phần đó không phải từ một con thú mà ra, và cho phác họa bức tranh của Du Bois để làm chứng cái sọ đó vốn là vòng xích tỏ ra sự chuyển biến từ loài khỉ sang loài người chỉ là tưởng tượng thôi. Trong số 24 nhà khoa học tra xét những phần đó thì không thể hiệp ý nhau, và 1899, trước mặt Hội khảo cứu về người tại Lindau, có người đọc rằng “Những phần tưởng thuộc loài hầu nhân (pithécanthropus erectus) chỉ là của một con khỉ”.

6. Thuyết tiến hóa với sách Sáng thế ký.– Kinh Thánh công nhận sự tiến hóa trong một giới hạn rất nhỏ và nhứt định. Đối với các loài kém người, Đức Chúa Trời phán rằng: “Đất phải sanh ra cây cỏ” (Sáng 1:10). “Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không” (câu 20), và “đất phải sanh các vật sống tùy theo loại” (câu 24). Ấy tỏ ra không phải là một việc trực tiếp của Đấng quyền phép cao cả, song như là sức sáng tạo đó đã ban cho nước và đất. Chỉ trong việc dựng nên người, thì Đức Chúa Trời làm việc cách trực tiếp: “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta… Ngài dựng nên loài người” (câu 26, 27). Bước “nhảy xa” và bước “nhảy cao” biến mất trước câu quan trọng: “Đức Chúa Trời phán”. “Vạn vật chỉ là hiệu quả mà nguyên nhân là Đức Chúa Trời”. Vậy, theo Lord Kelvin thì lời dạy dỗ của Paley là thật… tức “vật sống động là nhờ một Đấng Tạo Hóa cầm quyền cai trị mãi mãi”. Điều cần nhớ thêm là Kinh Thánh với cuộc sáng tạo trong đó đã đương đầu với mọi sự thử thách của các thời đại, và chính Chúa Jêsus chứng quyết rằng: “Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm, một nét trong luật pháp (Cựu Ước) cũng không qua đi được” (Mat 5:18).

VI. Địa vị đầu tiên và hiện tại của người.– Khoa học nói về nhân loại (anthropologie) ngày nay đã đem căn nguyên người đến một đời thượng cổ rất xa, thường phỏng đoán chừng 100.000 đến 500.000 năm và có khi tính nhiều hơn số đó nữa. Haecket đã lấy số ngôi sao Sirius cách xa trái đất mà tính thời gian của toàn thể phương pháp tiến hóa là bao lâu. Nghĩa là mặt trời cách xa trái đất độ 150.000.000 cây số, và sao Sirius cách xa trái đất gấp 1.000.000 lần nữa. Vậy, theo Haeckel thời gian từ cơ thể rất đơn sơ, từ mầm hay giống hay tiểu noãn tấn hóa đến người không thể tính được. Phái tiến hóa đem nguồn gốc nhân loại ngược đến một thời gian mà người ngày nay không thể tính được. Vài người phái đó nói vốn có mấy thủy tổ đầu tiên, và dường đã tìm vật hóa thạch còn lại mà họ cho rằng con người đồng thời với mấy loài vật đã tuyệt diệt, dầu không thể tính loài nào có trước. Nhưng mà, có nhiều nhà khoa học trứ danh không nhận các lối tính đó, một trong số nhà khoa học cho rằng địa vị các thể chất khác nhau đến nỗi địa chất học phải hạn chế thời gian mình trong một khoảng 100.000 năm; vậy phái tấn hóa cũng phải như thế!

Về người đầu tiên, các nhà khoa học cũng không thống nhất được với nhau nhau. Có người tin người đầu tiên thuộc đệ tam kỷ tằng (terrain tertiaire) tức theo loài khoáng vật mà địa chất học tính là kỳ thứ ba từ buổi đầu vật chất mới có. Người khác nói nói người đầu tiên thuộc đệ tứ kỷ tằng (terrain quaternaire) tức kỳ thứ tư kể từ buổi đầu, hoặc phần thứ tư nhờ lớp có những vật hóa thạch, cũng gồm lại thời kỳ băng hay tuyết (âge glacial). Vì giới hạn và thời gian lâu dài không nhứt định của bốn kỷ tằng, nên quyết định lúc nào người đầu tiên hiện ra theo phái tấn hóa không phải dễ dàng! Các phép tính căn cứ vào những di tích mới ra thì khác hẳn đến nỗi không thể nhứt định. Song “thời kỳ nước đá” có người tính dài chừng 500.000 năm và đã qua từ 25.000 đến 7.500 năm về trước theo nơi ở trên trái đất. Vậy, có thể đặt câu hỏi: “Có phải cuối cùng thời kỳ nước đá đó là cơn hồng thủy của nhựt ký Nô-ê có ghi chép vào sách Sáng thế ký chăng?” (J.W.Dawson).

Theo niên đại học về các nước cổ như Tàu, Ba-by-lôn, Ai-cập dường như phản đối với Kinh Thánh về người đầu tiên hiện ra hồi nào. Song các nhà khoa học tinh thông có ý khác nhau về đời thượng cổ của các nước đó. Lối tính về Ai-cập thường khởi đầu từ đời vua Menes: tức theo Champollion là 5.867, theo Brugsch là 4.455, theo Lepsius là 3.892, và theo Wilkinson chỉ là 2.320 năm, T.C.. Lối tính về Ba-by-lôn, Bunsen khởi đầu lịch sử là 3.784, Brandis là 2.458, Oppert là 3.540 T.C.. Có lẽ nhờ những sự mới tìm ra sau, các nhà niên đại học đó sẽ hòa hiệp với Kinh Thánh. Nên nhớ lời Hommel: “Niên đại về ngàn năm thứ nhứt trước Đấng Christ có thể nhứt định, về ngàn năm thứ hai trước Đấng Christ có biến động dường như nhứt định, song ngàn năm thứ ba trước Đấng Christ, thì niên hiệu hết thảy không chắc chắn”. Các phép tính theo Cựu Ước như Ussher căn cứ trên những gia phổ các tổ phụ và dòng dõi thì ngắn gần 1.500 năm hơn những niên đại tính theo bản Septante. Xem bài Niên hiệu.

Theo Kinh Thánh, phận sự của loài người là “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, cùng các vật sống hành động trên mặt đất (Sáng 1:28); phải như là “kẻ quản lý” của Chúa (Tít 1:7), và kẻ “cùng làm việc với Đức Chúa Trời” (ICôr 3:9). Chúa đặt người đầu tiên trong vườn Ê-đen, dầu chính nơi đó ngày nay không ai biết, nhưng theo Kinh Thánh mô tả cẩn thận thì ở mặt Đông xứ Pha-lê-tin, trong và gần Ba-by-lôn. Ấy là nơi ở thứ nhứt.

Song không hề tìm được dấu tích của người đầu tiên. Mấy cái sọ (Neanderthal, Engis, Lansing, v.v…) đã tìm được mà phái tấn hóa giả định rằng là thuộc người đầu tiên, thật ra dường như của người đã được tiến hóa nhiều rồi. Nhà tấn hóa trứ danh Huxley viết rằng: “Không có lý nào coi sọ Neanderthal đó là trung gian giữa người và khỉ”, và “về sọ thứ nhì chỉ là một sọ trung bình, có lẽ thuộc về một nhà triết học hoặc có thể chứa bộ óc rỗng của người dã man”. Cái sọ Lansing tìm tại Mỹ châu 1902 S.C., gần giống sọ của người Hồng mao ngày nay. Cả đến cái sọ của người đặt là Cro-Magnon mà người ta tưởng tượng thuộc cổ thạch khí thời đại (paléolithique) thì Dawson coi là sọ chứa bộ óc lớn hơn óc người trung bình ngày nay. Người đầu tiên không thể ví sánh với người mọi rợ ngày nay, vì người mọi ngày nay đã suy đồi lần lần từ một giống tốt hơn. Lịch sử không nói đến người mọi rợ không có sự giúp đỡ mà đến một bậc tốt hơn, song nói đã từ một giống tốt hơn suy đồi đến một bậc kém hơn. Bất luận xét phương diện nào về nguyên địa vị loài người, nên phải nhớ: “Không cần giả định rằng người đầu tiên là loài hầu nhân, từ đó lên đến địa vị thật là người bởi một phương pháp chậm chạp và dần dần; cũng không cần tả vẽ người đó như là một người mọi rợ, hoặc như trí thức ngang với người hiện tại, là “Kẻ kế tự của mọi thời đại”. Kinh Thánh chứng rõ người thứ nhứt là một sanh linh đạo đức, có thể sống tự do trong sự vô tội, song đã dùng ý tự do mình có mà đánh mất nguyên địa vị đó”. Câu trong sách Apocryphe (sagesse 2:23) dạy về người rằng: “Đức Chúa Trời đã tạo nên người không hề chết, và làm nên người là hình ảnh của sự vĩnh viễn chính Ngài”. Vậy, thấy thuyết tấn hóa luận về người không có gì chắc chắn, song Kinh Thánh chép: “Nhưng lời Chúa còn lại đời đời” (IIPhi 1:25). Tiến sĩ Scofield chú thích về người:

Sáng 1:26, 27. Sự dựng nên người.– Truyện dựng nên người đây nói cách chung; và truyện trong Sáng 2:7, 21-23 nói từng phần. Những thật sự tỏ ra là:

1. Người được dựng nên chớ không phải tấn hóa.

a. Điều nầy được tỏ ra cách đặc biệt và được chứng quyết bởi Đấng Christ (Mat 19:14; Mác 10:6).

b. Huxley chứng rằng: Có một vực lớn, một sự khác nhau dường như vô cùng giữa người hèn hạ nhứt và thú vật cao quí nhứt chứng quyết điều đó.

c. Con thú cao đẳng không có ý thức về Đức Chúa Trời, tức là bản năng đạo đức.

d. Khoa học và các sự mới tìm ra không thể làm gì để bắc cầu qua vực thẳm đó.

đ. Người được làm nên như hình và tượng Đức Chúa Trời (xem bài Thần linh, người).

Sáng 1:11.– Không cần phải giả định rằng mầm sự sống của các hột giống bị hư mất bởi sự phán xét lớn lật đổ trật tự đầu tiên, đến nỗi “đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực” (câu 2). Khi tu tạo lại đất khô và ánh sáng thì đất “sanh sản” như mô tả. Trong sự tai hại lớn đó, sự sống của động vật hư mất, và dấu tích còn lại là vật hóa thạch. Để các vật hóa thạch vào cuộc tạo thành đầu tiên, (câu 1) thì khoa học không có sự phản đối với căn nguyên vũ trụ và người như chép trong Sáng thế ký. Nên chú ý: chẳng bao giờ tìm thấy người trong các vật hóa thạch.

Sáng 1:26 và ITê 5:23.– Về tam nguyên tố của người. Xem bài Thần linh, người.

Sáng 4:1.– Ca-in (được) là hình bóng của một người chỉ thuộc về đất. Đạo của người không có biết gì về tội lỗi, hoặc mình cần phải được chuộc tội. Người theo đạo như thế được mô tả trong IIPhi 2:1-. Tại đó chép bảy điều về người đó:

1. Thờ phượng theo ý riêng.

2. Tức giận với Đức Chúa Trời.

3. Không chịu đem con sinh chuộc tội.

4. Giết em mình.

5. Nói dối Chúa.

6. Trở nên một người du đãng.

7. Nhưng Chúa lo đến người.

Sáng 36:31.– Một đặc điểm chung về Kinh Thánh là ở đây các vua Ê-đôm được chép trước các vua Y-sơ-ra-ên. Nguyên lý nầy được tỏ ra trong ICôr 15:46. Những điều thứ nhứt là “tự nhiên”, tức điều tốt nhứt của người, bao giờ cũng thất bại; những điều thứ nhì là “thuộc linh”, tức những điều thuộc về Đức Chúa Trời, luôn thành công. Ví dụ như A-đam chép trước Đấng Christ; Ca-in chép trước A-bên; Dòng dõi Ca-in chép trước dòng dõi Sết; Sau-lơ chép trước Đa-vít; Y-sơ-ra-ên chép trước Hội Thá

Lên đầu trang