Menno Simons

MENNO SIMONS

(1496-1561)

Simons Menno là một người Hòa Lan sanh năm 1496, ở làng Wirmarsum, một vùng đất khá trù phú của tỉnh Friesland; là một làng nhỏ nằm giữa hai thành phố Franeker và Bolsward, cách biển 10 dặm. Thân phụ ông là một nông dân trung bình theo Giáo hội La mã.

Simons Menno là một người thông minh, tuấn tú. Từ lúc còn thơ ấu, cha mẹ cậu có ý định biệt riêng con mình đề hầu việc Hội Thánh La mã. Bởi vậy song thân cậu đã khuyến khích con mình học hành chăm chỉ để chuẩn bị cho việc đó. Chẳng bao lâu Menno vào chuẩn viện Franciscan ở Bolsward. Mỗi ngày ông chuyên cần học tập và trau giồi đạo đức thuộc linh. Menno đã chứng tỏ mình là một người rất thông thái, sáng dạ. Trải qua nhiều năm ông miệt mài tra cứu các cổ văn và đã học thạo ngôn ngữ La tinh và Hy-lạp một cách mau chóng để trở thành một người am hiểu các tác giả cổ điển trong La tinh ngữ như Tertullian, Cyprian và Eusebius. Nhưng vốn hiểu biết La tinh và Hi văn của Menno lúc ấy không dùng làm chi khác hơn là làm xong bổn phận của một Linh mục xứ đạo. Dầu biết những cổ ngữ ấy, nhưng ông không biết về Thánh Kinh bao nhiêu. Theo những điều ông thừa nhận sau này, khi còn đi học ông chỉ biết sơ sài về Thánh Kinh; nhưng phần nhiều là lịch sử Hội Thánh và những địa hạt khác. Đó cũng là tình trạng chung của tất cả các tăng lữ, tu sĩ Giáo hội thời kỳ bấy giờ.

Tháng 3 năm 1524, ông làm một Linh mục Giáo phận Utrecht trong 12 năm. Dầu làm hết phận sự, nào là tổ chức các cuộc thờ phượng, cầu nguyện cho người bệnh, cử hành lễ an táng, Báp-têm cho trẻ em, cử lễ hôn phối, nghe nhận những lời xưng tội, giảng những bài Thánh Kinh ngắn trong ngày Chúa Nhật… Nhưng ông cảm nhận một cách sâu sắc rằng ông chưa gặp được Chúa và biệt dâng mình như Thánh chức đòi hỏi. Vì sau các cuộc lễ, thì ông đã bắt đầu tham gia vào những trò giải trí độc hại như đánh bài, uống rượu và nhiều thú vui xác thịt khác mà các bạn đồng sự của ông đã làm.

Năm 1525 một ngày trong khi ông đang hành lễ Misa, thì ông thình lình dậy lên trong đầu óc mình về mối nghi ngờ về Bánh và Rượu trong Tiệc Thánh có phải là thịt thật, huyết thật của Chúa Giê-xu không? Điều này phải chăng là một sai lạc từ Sa-tan đưa đến? Những thắc mắc đó cứ càng bức xúc, thôi thúc cả tâm hồn ông? Ông bắt đầu hoài nghi về Biến thể thuyết. Phần nào ông đã tiếp xúc với Thần học của Luther và các nhà Cải chánh khác trong quan điểm này.

Ngay khi đó một quyển sách nhỏ của Hoen, người Hòa lan đến với ông. Trong đó tác giả minh chánh về Bánh và Rượu trong bữa Tiệc Ly không có sự Biến thể nào, song chỉ là “biểu trưng cho Thịt và Máu Chúa” về sự thương khó và sự chết của Chúa Giê-xu mà thôi. Nhưng ông cũng không thấy sáng tỏ gì hơn khi tìm đọc các sách vở của Luther. Vậy ông quyết định phải quay về với Thánh Kinh – là nguồn gốc của mọi giáo lý. Ông trực diện với lời của Đức Chúa Trời, cội nguồn của sự linh cảm và mặc khải, ông bắt đầu khảo học chuyên sâu vào Thánh Kinh Tân Ước, là một “quyển sách cấm của Giáo hội” thời bấy giờ. Thế là Thánh Linh Chúa phán với ông qua Lời Ngài; và nguồn an ủi, giúp đỡ đến với ông không phải từ loài người.

Nhưng hạt giống của sự hoài nghi không ngừng tại đây. Một điểm nữa là việc “rửa tội” (báp-têm) cho trẻ em mà ông không tìm thấy có căn bản nào từ Thánh Kinh, nhưng chỉ theo lẽ đạo La mã cho rằng báp-têm là sự cần thiết và sự xưng công chính cho một người. Vấn đề này ông cũng gia công đào sâu xem thử các tác phẩm của các Giáo phụ nói gì? Ông lại khám phá rằng ngay đến các Giáo phụ cũng phạm phải sai lầm khi dạy rằng các trẻ em phải chịu báp-têm để tẩy rửa nguyên tội! Thật cũng trái hẳn với Lời Đức Chúa Trời chỉ tỏ minh bạch rằng chỉ có duy nhứt huyết vô tội của Chúa Giê-xu, Đấng cứu chuộc mới xóa sạch tất cả tội lỗi con người thôi. Ngay đến các nhà Cải chánh đương thời ông vẫn chưa nhất trí trong giáo lý này. Dầu ông chưa đủ can đảm để làm một “cuộc cách mạng” nào, nhưng đức tin ông đã khởi sự đâm rễ và lần lần bám sâu trên một nền tảng vững chắc là Lời Đức Chúa Trời. Một lần nữa Thánh Kinh đã ưu tiên đem lại cho ông ánh sáng thật. Sau khi suy cứu cẩn thận ông nhận chân rằng tất cả mọi lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn khải thị cho con người đều đã có đầy đủ trong Thánh Kinh rồi!

Trong suốt thời gian đó, Menno hoàn toàn không hay biết gì về một phong trào đang bùng phát rất mạnh tại Netherland, và tại đó đã trở thành chiếc nôi cho những sứ điệp Tin lành thuần khiết của Melchior Hoffman và các cộng sự viên của ông này, và cũng tràn qua thung lũng Emden năm 1530. Lại cũng có phái tà giáo nổi lên do Jan Matthys chủ trương. Sau khi người này chết đi, thì Jan ở Leidon lên thay thế.

Những sự bắt bớ, tàn sát do các tà giáo hay là các giáo sư giả xướng xuất, được chính quyền tiếp sức cho đã làm cho Menno thực sự xúc động. Biến cố này khiến cho Menno suy nghĩ rất nhiều. Một năm sau ông đã can đảm đi bước quyết định. Tháng 1 năm 1536 ông đã ly khai khỏi Giáo hội La mã, lúc đó ông được 40 tuổi. Về chuyển biến này ông đã tuyên bố: “Đây là một sự tình nguyện lựa chọn, chẳng có ai bắt buộc quyến rũ tôi!”. Làm như thế ông chỉ nhất định đứng về phía Chúa Christ, Đấng đã yêu thương ông. Đây là bước xác định tái cung hiến đời mình cho Cứu Chúa Giê-xu. Luther, Zwingli, Calvin,… Tất cả họ đều đã chiếm lĩnh được vị trí quyền năng hơn, mạnh mẽ hơn, an toàn hơn; và ảnh hưởng của họ còn sâu xa hơn, lâu dài về sau. Ông biết chắc rằng con đường ông đã chọn không có một hứa hẹn gì cho tương lai ngoài ra sự sỉ nhục, nghèo đói, bắt bớ và khốn nạn. Như tác giả thư Hi-bá-lai đã nói về Môi-se: “Bởi đức tin Môi-se lúc khôn lớn từ bỏ danh vị là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, đành đứng chung với dân Đức Chúa Trời để chịu hà hiếp ngược đãi hơn là tạm hưởng sự vui thú của tội lỗi” (Hê-bơ-rơ 11:24). Cuối cùng Menno đã đến với Obbe Philippe để thọ Thánh lễ Báp-têm. Obbe Philippe là lãnh tụ của cộng đồng Cơ Đốc mang tên ông: Phái Obbenites – Họ là những người thuộc một nhóm Cải chánh của Giáo hội Annabaptist Hòa Lan mà về sau có tên rất quen thuộc là Mennonites, vang dội khắp nơi.

Tháng 1 năm 1536 ông cũng chính thức từ chức Linh mục, xa cách khỏi Giáo hội La mã tức là ông đã tự đóng cánh cửa của một sự nghiệp sáng chói và đời sống dễ chịu thoải mái. Ông lựa một hướng đi bất định mặc dầu biết chắc rằng đời sống mình sẽ bấp bênh, khốn khổ, bần cùng. Thêm vào đó là mạng sống ông lập tức bị đe dọa, tù đày, khổ nhục và sự chết đang chờ đợi! Ông đã hiến trọn tâm thần mình phục vụ Chúa và đồng bào, vui mừng đi con đường thập tự và bằng lòng hiến tế sinh mạng mình làm “công ích” cho Danh Vinh Hiển của Đức Chúa Trời và Hội Thánh Ngài. Ông ra đi vì Chúa khác với các nhà Cải chánh khác muốn được danh dự và quyền hành cao trọng ngoài đời và trong đạo; họ vẫn còn nhận lương hậu, địa vị tốt, họ chẳng bao giờ nếm trải cảnh thiếu hụt. Ông bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, bị những kẻ thù say máu săn đuổi mạng sống, mặc dù ông không làm điều gì sai trái hoặc gây thiệt hại cho ai. Ông hoàn toàn tin cậy nơi lời hứa của Đức Chúa Trời và cứ đứng vững trên “Vầng đá của các thời đại”. Menno đem lòng yêu mến và phục vụ Vị Chủ Cao Cả và Hội Thánh Ngài với tất cả nhiệt tâm. Ông phó giao cuộc đời mình trong tay Chúa Toàn Năng.

Chẳng bao lâu sau khi Menno Simons từ bỏ La mã Giáo, ông liền gặp phải tai ương từ quê hương và tỉnh nhà mình là thành phố Friesland. Ông bèn lánh sang tỉnh lân cận để tránh sự bách hại, cám dỗ, và cũng để tìm địa điểm yên tĩnh, kín đáo giành nhiều thì giờ cầu nguyện, học Thánh Kinh chiều sâu và khởi sự viết các tác phẩm Thần học đầu tay của mình.

Chúng ta không biết đích xác thì giờ và nơi chốn ông Obbe Philippe thủ lãnh của Giáo hội Anabaptist ôn hòa đã làm lễ báp-têm cho Menno. Tiếp theo là Menno lập gia đình với cô Gertrude, một phụ nữ thùy mị, đoan trinh, một người vợ đã hết lòng nâng đỡ ông rất nhiều trong chức vụ gian khổ và nhọc nhằn trong thời gian sau này. Hai ông bà Simon và Gertrude có ba con.

Càng ngày Menno càng được biết rộng rãi hơn giữa các tín hữu Anabaptist như là một nhà lãnh đạo tin kính, đầy quyền năng, tài ba, ân tứ. Một số đông tín hữu cùng các giáo phẩm của Cộng đoàn Cơ Đốc rất mong muốn Menno nhận chức Giám mục hay Trưởng lão. Họ đến với ông và khuyến cáo ông hãy dâng các “ta lâng” mà ông đã nhận được từ Đức Chúa Trời để làm thỏa mãn tâm linh đói khát của hằng bao nhiêu linh hồn, cũng như những con cừu lạc mất chưa có người đem về ràn Ngài. Nhiều lần ông khước từ vì thấy trách nhiệm khá nặng nề. Ông xin họ hãy cầu nguyện nhiều hơn cho ông. Nhưng sau một thời gian ngắn ông đã thuận phục ý Chúa, cũng theo lời yêu cầu của giáo dân mà nhận chức Giám mục; cũng bởi Obbe Philippe, là người đã làm báp-têm cho ông trước đó, tấn phong cho ông.

Năm 1542 vua Charles V ký sắc lệnh chống lại Menno, cùng treo giải thưởng 100 đồng vàng cho ai bắt được một người thuộc phái Anabaptist và số tiền cao hơn nếu đem Menno nộp cho ông ta! Menno luôn bị các kẻ thù theo dõi, và người ta đủ quyền hạng bắt nộp ông để lấy tiền thưởng! Tình hình tồi tệ đến nỗi Menno đã có lần nói: “Tôi không thể tìm trong xứ này một nơi nào đủ an toàn để người vợ yếu đuối và 3 đứa con thơ dại của tôi ẩn tránh 1 năm hay 6 tháng được. Đây là số phận ông từ năm 1536-1554. Trong vòng 18 năm mạng sống của ông bị săn rình thường xuyên và gia đình ông phải chịu khốn đốn cùng cực.

Tuy nhiên, dầu bị khủng bố nghiệt ngã như vậy, song Menno vẫn cứ trung tín trong chức vụ. Ông đi nhiều nơi như Groningen, Tây Friesland, Olderseen,… Nhưng ở đâu, lúc nào Đức Chúa Trời cũng ở cùng ông, ban phước cho thánh nhiệm ông và cho ông thâu gặt rất nhiều thành quả lớn lao cho Nhà Ngài.

Menno Simons là một người giảng Tin lành thuần chánh, ông không chỉ được Chúa kêu gọi mà còn được tràn đầy quyền năng Thánh Linh; một Sứ đồ của Phúc Âm đã nếm trải vô vàn khổ nhục. Ông cũng là một vị Mục sư trung tín, tận hiến, hết lòng vì bầy chiên, gây dựng Hội Thánh của Đức Chúa Trời cách hăng say và không hề chùn bước.

Menno còn là một nhà lãnh đạo tiên phong, mẫu mực, không hề nghĩ đến thân mình mà luôn luôn tìm “đồng cỏ xanh tươi, mé nước trong lành bình tịnh” cho bầy chiên của Chúa được thỏa thuê. Menno Simons lại là một nhà Thần học chính chuyên lúc nào cũng cương quyết, can đảm bên vực Chánh giáo.

Theo một tin tức đáng tin cậy thì, Menno Simons đã qua đời an hưởng Nước Trời tại Wustenfelde, ngày 31-1-1561; tức là 25 năm sau ngày ông rời bỏ Giáo hội La mã. Ông đã được an táng trong khu vườn nhà ông. Như vậy dầu ông còn sống hay đã chết, thì ông vẫn chứng tỏ mình là một vị anh hùng của Giáo hội Cải chánh. Nhưng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, ngôi mộ của ông ngày nay không còn dấu vết nào, không ai biết đích xác. Năm 1906, một tấm bia kỷ niệm đã được đặt ngay chỗ mà tương truyền của đa số tín giáo tin là khu vực mà Menno đã từng hoạt động thuở sinh tiền. Như bất cứ chiến sĩ đức tin kiên dũng nào khác, tiểu sử Menno không có đoạn kết, vì Thánh Kinh làm chứng “Dẫu người chết rồi vẫn còn dạy cho hậu thế bài học đức tin” (Hê-bơ-rơ 11:4).

Lên đầu trang