Mê-si Messiah. Messie.
Danh nầy (Hê-bơ-rơ là Mashiach) đồng nghĩa với Christ (Hy-lạp là Kristos) tức là Đấng chịu xức dầu: như phong chức thầy tế lễ thượng phẩm trong Lê 4:3, 5, 16; 6:22, các vua Y-sơ-ra-ên cũng thế (ISa 10:1; 16:13; IISa 2:4, 7) và tiên tri nữa (ICác 19:16). Song danh nầy thứ nhứt chỉ về Vua của dân lựa chọn, là Đấng được xức dầu không chừng mực để làm trọn mưu định Đức Chúa Trời cho dân đó tức là cứu chuộc, và các Tiên tri trong Cựu Ước trải qua các đời đều chứng rằng Vua đó sẽ đến. Vì lý do đó, Tân Ước chép hai lần “Đấng Mê-si, nghĩa là Đấng Christ” (Giăng 1:41; 4:25), nên Tân Ước thường chép Đấng Christ kèm với Jêsus thành một Danh riêng của Ngài.
Trong Cựu Ước thấy người Do-thái, dân lựa chọn Ngài, có lòng trông đợi Đấng Mê-si sẽ đến. Tia sáng sớm nhứt về sự trông đợi nầy thấy trong truyện tích sự sa ngã (Sáng 3:15), vì “dòng dõi” người nữ là chỉ về Đấng Mê-si; song Calvin cho rằng có ý rộng hơn, tức chỉ về một số người, sau khi đã được cứu chuộc bởi Đấng Mê-si là Chúa Jêsus Christ là Đấng làm đầu Hội Thánh, sẽ họp lại thành một đạo quân để thắng hơn điều ác? Sự trông đợi đó được tỏ ra trong đời Nô-ê về dòng dõi của Sem: “Đáng ngợi khen Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem thay!” (Sáng 9:26). Kế đó, tới lời Chúa hứa cho Áp-ra-ham, song ở đó lời hứa cho dòng dõi Sem trở nên lời hứa cho một chi họ (Sáng 12:2-3; 22:18; 26:4; 28:14); và bởi chi họ Áp-ra-ham cả thế gian sẽ được phước vì khỏi lời rủa sả A-đam. Trong Sáng 49:10 đi một bước dài: “Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Do-thái, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó” (Sáng 49:10). Ấy là lần thứ nhứt lời hứa đó chỉ đặc biệt về một người. Khúc tiếp đó thường trích là lời tiên tri của Ba-la-am (Dân 24:17-19). “Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp” đó chỉ về sự vinh hiển như cây phủ việt chỉ về quyền thế của một vua. Lời tiên tri nầy chắc đã được ứng nghiệm một phần trong Đa-vít (IISa 8:2, 14); song vì Đa-vít là hình bóng chỉ về Đấng Christ thì mới được ứng nghiệm trọn vẹn khi Đấng Mê-si đến. Lời tiên tri Môi-se trong Phục 18:15-19 cũng chỉ về Đấng Mê-si, và Chúa Jêsus vớIPhi-e-rơ đều nói đến (Giăng 5:45, 47; Công 3:19-26). Nhiều người tưởng rằng những khúc trong Ngũ kinh về “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” chỉ về Đấng Mê-si.
Thời kỳ thứ hai của lời tiên tri về Đấng Mê-si gồm cả đời của Đa-vít. Nhiều khúc trong sách Thi-thiên chỉ về Đấng Mê-si trong Tân Ước, như: Thi 2:1-;16:1-;22:1-;40:1-;110:1-. Trong thời kỳ nầy lời tiên tri nói rõ hơn nhiều. Danh Đấng chịu xức dầu, tức là vua được tỏ ra, và Đấng Mê-si phải từ dòng dõi Đa-vít. Đấng Mê-si mô tả rất cao trọng, và nước Ngài sẽ rất lớn về phần thuộc linh hơn là về phần vật chất, như trong Thi 2:1-;21:1-;40:1-;110:1-. Trong các Thi-thiên khác thấy Đấng Mê-si đang chịu đau khổ và tự hạ mình như Thi 22:1-;16:1-;40:1-.
I. Cựu Ước.– Sau thời Đa-vít, những lời dự ngôn về Đấng Mê-si ngừng lại một kỳ, cho đến khi các tiên tri dấy lên mà chép những lời trong phần thứ ba Cựu Ước. Thật rất lạ, Ê-sai nói: “Một gái đồng trinh sẽ chịu thai sanh ra một trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên” (7:10-17). Nhân cách của con trai rất được chú trọng trong lời tiên tri: Đấng Em-ma-nu-ên sẽ cai trị xứ (8:8) cùng khúc tiên tri tham khảo (9:1-), dường như chỉ Em-ma-nu-ên là một với Vua có năm tước hiệu “Đấng lạ lùng, Đấng Mưu luận, Đức Chúa Trời quyền năng, Cha đời đời, Chúa bình an” (Ês 9:6), thuộc dòng dõi Đa-vít (11:2). Đức Chúa Trời ngự trong Ngài đầy dẫy khôn ngoan và quyền phép nên Ngài có thể cai trị dân Chúa trong nước đời đời Ngài. Vậy, đủ biết Đấng Mê-si là Vua và Đấng trị vì thuộc nhà Đa-vít phải đến để cải cách và lập lại dân tộc Do-thái và làm tinh sạch Hội Thánh như tả vẽ trong Ês 11:1-;40:1–66:1-. Những hạnh phước về sự lập lại đó chẳng phải riêng của dân Do-thái, các dân ngoại cũng sẽ dự phần nữa (Ês 2:1-;66:1-). Mi 5:2 (so Mat 2:6) tỏ rõ nơi sanh ra của Đấng Mê-si; Xa 12:10-14 lại tỏ ra là thuộc dòng Đa-vít; Đa 9:25-26 tỏ ra khi nào sẽ tới; Aghê 2:9 định sẽ tới trong lúc còn có Đền thờ thứ hai; và Mal 3:1;4:5-6 so Ês 40:3-5 đều tỏ ra sẽ có sứ giả dọn đường cho Đấng Mê-si. Tiếc thay! Dân Giu-đa nhờ Thi 2:1-; Giê 23:5-6; Xa 9:9 mà trông đợi một Vua toàn thắng đến, song bỏ qua những lời tiên tri tỏ ra Đấng Mê-si phải chịu đau đớn trước đã (Ês 53:1-; Lu 24:21, 26, 27).
Sự trông đợi Đấng Mê-si của người Do-thái trong thời kỳ sau khi đã đóng Cựu Ước được tỏ ra một phần bởi những lời ngụ ý trong Tân Ước. Những người Pha-ri-si cùng những người trong dân Do-thái trông đợi Đấng Mê-si như một vua về phần vật chất, chỉ ít người trông đợi về phần thuộc linh như Si-mê-ôn và An-ne (Lu 2:30, 38), những người Sa-ma-ri bị khinh (Giăng 4:25, 42), và tên trộm cướp trên thập tự (Lu 23:42). Chính các Sứ đồ cũng tiêm nhiễm quan niệm về Đấng Mê-si vật chất như người Pha-ri-si, chỉ sau khi Chúa phục sanh mới tỏ ra hiểu rõ Đấng Mê-si phải đến chịu đau khổ trước đã (Mat 20:20-21; Lu 24:21; Công 1:6).
Trái lại, các Rabbins trong dân Do-thái tưởng tượng có Đấng Mê-si là con Giô-sép phải đau đớn khác với Đấng Mê-si con Đa-vít phải trị vì, nên bỏ những lời tiên tri chứng rằng Chúa Jêsus thật là Đấng Mê-si; song những lời tiên tri về sự đau khổ và sự vinh hiển phù hiệp với nhau đến nổi phải quyết định chỉ có một Đấng Mê-si mà thôi (so Ês 52:7, 13, 14, 15; 53:1-). Còn có một phần dân Do-thái nghi ngờ, không trông đợi Đấng Mê-si nữa.
Trong các dân ngoại có sự trông đợi về một thời đại hoàng kim sẽ được lập lại trong thế gian. Người Do-thái dự phần về hy vọng đó, song liên quan với sự đến của một Ngôi vị đặc biệt tức là Đấng Mê-si. Những người Do-thái đó tìm một vua trên đất, vì cớ đó hy vọng về Đấng Mê-si tự nhiên có, không nhờ sự khải thị của Chúa. Song những lời tiên tri Kinh Thánh bác bỏ mệnh đề đó, vì chẳng những tiên tri về một Tiên tri mà cũng về một Vua và một Thầy tế lễ nữa, là Đấng Mê-si sẽ giải cứu dân sự được khỏi tội và dạy họ về con đường của Đức Chúa Trời như chép trong Thi 22:1- ; 40:1- ; 110:1- và Ês 2:1- ; 11:1-; 53:1-. Trong các đoạn nầy và chỗ khác nữa, sự đến của Đấng Mê-si vượt quá dân Do-thái và tới cả dân ngoại nữa, nên trái với quan niệm riêng cho dân Do-thái. Cứ xem xét Kinh Thánh sẽ thấy sự mở rộng ý về Đấng Mê-si là do bởi sự khải thị của Đức Chúa Trời. A-lê-lu-gia! Một ngày kia dân Do-thái sẽ “nhìn xem Đấng mình đã đâm… sẽ thương khóc…” vì nhận biết Chúa Jêsus đã đến một lần rồi, thật là Đấng Mê-si của mình (Xa 12:10; Giăng 19:37; Khải 1:7).
II. Tân ước.– 1. Chúa Jêsus giữ ý kiến của Đấng Mê-si. Chúa Jêsus coi mình là Đấng Mê-si (Mat 11:2-10; Lu 7:18-27; 9:18-20; Mat 16:13-16; Mác 8:27-30; 14:61-62), và thật chỉ mình là Đấng Mê-si dân chúng hy vọng, hay là chỉ về một Đấng Mê-si mà Ngài tự định ra? Những lý lẽ sau để giải thích vấn đề này:
a) Người Do-thái đời bây giờ coi Chúa Jêsus chỉ là Đấng tiên tri (Mat 21:14, 46; Mác 6:15) chớ không coi là Đấng Mê-si. Có người trong một đảng kia (chữ hán Tây lộ thi) thì muốn Ngài làm ngay những việc của Đấng Mê-si. Song Ngài không chịu người ta ép mình làm Vua (Giăng 6:15; Mat 4:8-10; Lu 4:5-8; Mác 14:47-48).
b) Chính Chúa Jêsus phán sau này Ngài sẽ tái lâm, dựng nước mới, phán xét muôn dân (Mat 6:10; Mác 9:1; Lu 12:23; 22:30; Mat 19:28; 25:1- ; Mác 13:1- ; 14:61-62; so ITê 4:15-17).
c) Chúa Jêsus đang làm Đấng Mê-si, không phải chỉ thuộc về lúc tận thế mà ngay trong hiện thế. Ngài đã rõ hết ý chỉ Đức Chúa Trời, và trổi hơn các tiên tri. Xét các sách Tin lành: Khi Ngài bắt đầu hành chức vụ, chưa hề tự xưng mình là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời; song chỉ phán là “Con người”, tức dẫn danh từ trong Đa 7:13. Ngài không nói trước vì sợ nhân dân hiểu lầm mà ép làm vua thế gian.
d) Theo tiên tri Cựu Ước, Đấng Mê-si trước phải làm Đầy tớ hèn mọn, sau mới được là Chúa tôn vinh. Vậy, Ngài thường phán mình phải chịu khổ mà chết (Mat 12:40; Lu 9:22; Mác 8:31-9:1, 30-32; 14:24). Sau quả ứng nghiệm với lời tiên tri Ês 53:1-.
đ) Chúa Jêsus coi mình là do Đức Chúa Trời chọn lựa dùng để cứu ai tin cậy mình. Vì vậy, Ngài không làm hiệp với ý của dân chúng về Đấng Mê-si mà từ xưa họ đã ấp ủ, song chịu khổ dâng mình làm của lễ cứu chuộc là ý chỉ đặc biệt của Đức Chúa Trời.
2. Các Sứ đồ luận về Chúa Jêsus là Đấng Mê-si rằng: Ngài bị hại là do Đức Chúa Trời sai khiến; Ngài ở thế gian làm công việc của Đấng Mê-si chưa xong; Ngài chết rồi sống lại, đó là chứng cớ Ngài thật là Đấng Mê-si; nay Ngài dầu ở trên trời, song sẽ tái lâm, lập nước Ngài trong thế gian, những kẻ tin Ngài đều được sống lại và được sự sống đời đời. Trong ngày lễ Ngũ tuần đầu tiên, Phi-e-rơ trưng dẫn Cựu Ước làm chứng Ngài là Đấng Mê-si nay ở trên trời, cho đến chừng nào kẻ thù nghịch bị để ở dưới chân Ngài (Công 2:34-35; so Thi 110:1). Trong bài giảng tại thành An-ti-ốt, Phao-lô cao giọng hô lớn Chúa Jêsus là Đấng Mê-si của Cựu Ước (Công 13:16-41; so 17:3). Lại nói: Đấng Christ tức là Đức Chúa Trời, vì dầu là Đấng Mê-si của người Giu-đa, song đối với mọi người tin, Ngài là Cứu Chúa.
Tiến sĩ Scofield chú thích những Thi-thiên chỉ về Đấng Mê-si:
Thi 118:29.– Tóm tắt. Chính Chúa đã phán quyết những Thi-thiên chép lời chứng về Đấng Christ (Lu 24:44, v.v.), và những lời Tân Ước trích từ những Thi-thiên đó tỏ ra thật chỉ về Đấng Mê-si. Trong Thi-thiên thấy:
1. Đấng Mê-si đang chịu đau thương (so Thi 22:1-), và đang vào sự vinh hiển của nước Ngài (so Thi 2:1-; 24:1- với Lu 24:25-27).
2. Đấng Mê-si tỏ ra trong ngôi vị Ngài:
a) Như Con Đức Chúa Trời (Thi 2:7), và chính Đức Chúa Trời (Thi 45:6-7; 102:25; 110:1).
b) Như Con người (Thi 8:4-6).
c) Như Con Đa-vít (Thi 89:3-4, 27, 29).
3. Đấng Mê-si tỏ ra trong các chức Ngài:
a) Như Tiên tri (Thi 22:22, 25; 40:9-10).
b) Như Thầy tế lễ (Thi 110:4); và
c) Như Vua (Thi 2:1-; 24:1-).
4. Đấng Mê-si tỏ ra trong các công việc khác nhau của Ngài. Như Thầy tế lễ, Ngài dâng mình làm của lễ (Thi 22:1-; 40:6; so Hêb 10:5-12), và trong sự phục sanh như là Thầy tế lễ và kẻ chăn chiên, vẫn hằng sống để cầu thay (Thi 23:1- so Hêb 7:21-25; 13:20). Như tiên tri Ngài tuyên bố Danh Đức Giê-hô-va như là Cha (Thi 22:22; so Giăng 20:17). Như vua, Ngài làm trọn giao ước với Đa-vít (Thi 89:1-), và lập lại quyền của loài người trên cuộc tạo thành vinh quang mới (Thi 8:4-8; Rô 8:17-21), và thi thố quyền Đức Chúa Cha trên hết mọi loài (ICôr 15:25-28).
5. Các Thi-thiên chép về Đấng Mê-si cũng tỏ những tư tưởng bề trong, những sự phấn đấu của linh hồn, của Đấng Mê-si khi Ngài còn ở thế gian (Thi 16:8-11; 22:1-21; 40:1-17).