Mầu nhiệm, Sự Mystery. Mystère.
Nguyên văn Hy-lạp dịch sự mầu nhiệm là mustérion, từ mustés nghĩa là “một người được dẫn vào sự mầu nhiệm”. Ngày nay nghĩa thường dùng là “một sự tự mình tối nghĩa hoặc không hiểu được”, nhưng ấy không đúng với ý nghĩa mustérion đó, tức là một sự bí mật, chỉ tỏ cho người nào có phép, là sự không biết trước khi chưa tỏ ra, dầu dễ hay khó. Lịch sử danh từ nầy trong sự thờ tà thần xưa là quan trọng, vì thường dùng “những sự mầu nhiệm” để chỉ về những tục lệ giấu kín mà chỉ những người theo được biết mà thôi. Vậy trong thành Athènes xưa có “Les Mystères d’Éleusis” là rất danh tiếng và liên quan với sự thờ Déméter là nữ thần của trái đất; “Les Mystères Orphiques” liên quan với Dionysos là thần rượu người La-mã xưa, liên quan với Isis nữ thần của thuốc người Ai-cập xưa, với Mithras thần của sự sáng người Ba-tư xưa.
Trong Tân Ước dùng danh từ “sự mầu nhiệm” 27 lần: 20 lần bởi Phao-lô, 3 lần trong bốn sách Tin lành và 4 lần trong Khải Huyền. Lối dùng trong Tân Ước là một lẽ thật thuộc linh trước kia là kín giấu, không thể chỉ bởi luân lý mà biết, nhưng nay đã được tỏ ra. Khác với các tôn giáo xưa kể ở trên, về những sự mầu nhiệm của đạo Tin lành, mỗi tín đồ của Đấng Christ có thể biết rõ được, chỉ các người chưa tin không được biết mà thôi (IICôr 4:3-4). Đấng Christ và Hội Thánh hiệp làm một là “sự mầu nhiệm lớn” như thế (Êph 5:32). Hội Thánh bội đạo trở nên “sự đáng gớm ghê trong thế gian” cũng là một sự mầu nhiệm (Khải 17:5; IITê 2:7-8) so với “sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn” (Khải 10:7), tức là sự cứu chuộc khỏi mọi tội ác với kết quả của nó, trước là sự mầu nhiệm giấu kín trong những mưu toan bí mật Đức Chúa Trời, tỏ ra cách mờ tối bởi những hình bóng và lời tiên tri trong Cựu Ước, song nay trong Tân Ước được tỏ ra càng ngày càng rõ tùy theo sự mở mang của nước Tin lành đến sự đầy trọn. Vậy, “sự mầu nhiệm của sự tin kính” (ITi 3:16) ấy là phương pháp Chúa được tỏ ra bởi Đấng Christ (Cô 1:26-27). Đấng Christ “giấu kín” trong Đức Chúa Trời là “sự mầu nhiệm” đã được tỏ ra (Giăng 1:1, 14; Rô 16:25-26), để cứu chuộc cả dân ngoại cũng như người Y-sơ-ra-ên mà trong Cựu Ước, dường như sự cứu chuộc đó chỉ dành riêng cho dân Ngài. “Sự giàu vinh hiển của sự mầu nhiệm đó… là Đấng Christ ở trong anh em (bây giờ bởi đức tin là sự sống giấu kín, Cô 3:3), là sự trông cậy về vinh hiển, là sự sống mình tỏ ra (ICôr 2:7, 9; IICôr 4:17).
Có sáu “sự mầu nhiệm” trong Tân Ước:
1. Chúa thành nhục thể (ITi 3:16).
2. Sự mầu nhiệm của sự bội nghịch (IITê 2:7).
3. Phép giao của Đấng Christ với Hội Thánh nghĩa là sự hiệp một thuộc linh của Chúa với Hội Thánh Ngài (Êph 5:32).
4. Sự hợp nhứt của người Do-thái và dân ngoại làm một đoàn thể là Hội Thánh hiện tại (Êph 3:4-6) là việc của Đức Thánh Linh.
5. Y-sơ-ra-ên sẽ được phục hưng và lập lại lần cuối cùng (Rô 11:25).
6. Sự sống lại của thân thể (ICôr 15:51).
Trong ICôr 13:2 “những sự mầu nhiệm” chỉ về các mưu toan giấu kín từ trước, nay tỏ ra, “sự hiểu biết” chỉ về lẽ thật đã biết từ lâu. Vậy, trong Mat 13:11; Mác 4:11; Lu 8:10, “những sự mầu nhiệm” thường đi đôi với “những ví dụ” tức là những sự mầu nhiệm về nước Đức Chúa Trời trước giấu kín, nay được biết bởi ơn tứ Ngài, song cho những kẻ chưa tin vẫn còn là “ví dụ” vì họ chỉ thấy vỏ ngoài không nếm được thịt bên trong (ICôr 2:9, 10, 14, 15; Thi 25:14; IGiăng 4:20, 27; Giăng 15:15). “Những sự bí mật thuộc về Đức Chúa Trời” (Phục 29:29 so Gióp 11:7; Rô 11:33-34), song những sự được tỏ ra là của tín đồ để vâng phục. Môi-se, các tiên tri và các Sứ đồ thực hành “không giấu kín gì”; Chúa Jêsus cũng truyền như vậy (Mat 10:27; 28:19). Phao-lô cũng truyền rao mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng giấu chi hết (Công 20:20, 27), dầu trước hết chỉ dạy những điều sơ lược cho tín đồ mới song cũng đặt mục đích là giúp họ trưởng thành (ICôr 2:6; 3:2; Hêb 5:12). Đấng Christ, có quyền che khuất sự bày tỏ chính mình Ngài là Đức Chúa Trời trong sự hành chức vụ của Ngài ở thế gian, ấy trước khi Đức Thánh Linh xuống ngày Ngũ-tuần (Mác 4:33; 9:9; Lu 9:21). Song những kẻ hầu việc Ngài không có quyền đó, như Phao-lô chép: “Chúng tôi từ bỏ mọi điều… giấu kín” (IICôr 4:2). Tín đồ phải giảng, nhận hay không là trách nhiệm của người nghe (IICôr 2:15-16).
Tiến sĩ Scofield chú thích:
Mat 13:11.– “Sự mầu nhiệm” trong Kinh Thánh là một lẽ thật trước đã giấu kín, nay được khải thị bởi Chúa, song trong đó một phần siêu phàm hẳn còn, mặc dầu có sự khải thị đó. Những sự mầu nhiệm lớn hơn là:
1. Những sự mầu nhiệm của nước trên trời (Mat 13:3-50).
2. Sự mầu nhiệm về người Y-sơ-ra-ên đui mù trong thời đại nầy (Rô 11:25).
3. Sự mầu nhiệm về các thánh đồ còn sống được cất lên cuối thời đại nầy (ICôr 15:51-52; ITê 4:14-17).
4. Sự mầu nhiệm về Hội Thánh đời Tân Ước là một đoàn thể gồm người Do-thái và người ngoại (Êph 3:1, 11; Rô 16:25; Êph 6:19; Cô 4:3).
5. Sự mầu nhiệm về Hội Thánh là vợ Đấng Christ (Êph 5:28-32).
6. Sự mầu nhiệm về Đấng Christ sống trong tín đồ (Ga 2:20; Cô 1:26-27).
7. Sự mầu nhiệm về Đức Chúa Trời là Đấng Christ, nghĩa là Đấng Christ là Đức Chúa Trời hoàn toàn trở nên xác thịt trong một thân thể trong đó có mọi sự khôn ngoan của Chúa (Cô 2:2, 9; ICôr 2:7).
8. Sự mầu nhiệm về những phương pháp bởi đó sự tin kính của người được bổ lại (ITi 3:16).
9. Sự mầu nhiệm về sự gian ác (IITê 2:7; Mat 13:33).
10. Sự mầu nhiệm về bảy ngôi sao (Khải 1:20).
11. Sự mầu nhiệm về Ba-by-lôn (Khải 17:5, 7).
Mat 13:3.– Bảy thí dụ trong Mat 13:1- mà Chúa gọi là “những sự mầu nhiệm của nước thiên đàng” (câu 11). Nếu xét chung với nhau thì đã nói lên hiệu quả của Tin lành hành động ở thế gian trong thời đại nầy, nghĩa là thời đại gieo giống bắt đầu khi Chúa ta hành chức vụ riêng và kết thúc với “mùa gặt” (câu 40-43). Nói tóm lại, kết quả đó là cỏ lùng và lúa mì lẫn lộn, cá tốt lẫn với cá xấu (câu 47-50), trong phạm vi tín đồ Đấng Christ làm chứng. Ấy là Hội Thánh chung khắp cả.
Cô 2:2.– “Sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời” tức là Đấng Christ trở nên xác thịt có cả bổn thể Đức Chúa Trời và mọi sự khôn ngoan thông sáng để cứu chuộc loài người và làm cho hòa thuận với Đức Chúa Trời.
IITê 2:3.Trước khi Chúa Jesus Christ đến, có những biến động xảy ra theo thứ tự sau:
1. Sự mầu nhiệm của điều bội nghịch đương hành động, song từ đời các sứ đồ đã bị Chúa hạn chế (câu 7).
2. Sự bội đạo của Hội Thánh bề ngoài (câu 3, Lu 18:8; IITi 3:1-8).
3. Đấng ngăn trở cần phải dời đi (câu 6-7). Đấng ngăn trở là một ngôi vị, và vì “sự mầu nhiệm” bao giờ cũng chỉ phải có phần siêu phàm, nên Đấng đó chỉ có thể là Đức Thánh Linh trong Hội Thánh “cần phải cất đi” (câu 7; ITê 4:14-17).
4. Người tội ác tức là kẻ nghịch cùng luật pháp sẽ được tỏ ra (câu 8-10; Đa 7:8; 9:27; Mat 24:15; Khải 13:2-10).
5. Ngày của Đức Giê-hô-va (câu 9-12; Ês 2:12).
6. Đấng Christ lấy sự vinh hiển mà đến và hủy diệt kẻ nghịch cùng luật pháp (câu 8; Khải 19:11-21).
Êph 3:6.– Dân ngoại bang sẽ được cứu không phải là sự mầu nhiệm (Rô 9:24-33; 10:19-21). Sự mầu nhiệm giấu kín trong Đức Chúa Trời là mục đích của Chúa khiến dân Do-thái và dân ngoại bang trở nên một đoàn thể hoàn toàn mới tức là Hội Thánh, thân của Đấng Christ được lập nên bởi báp-têm bằng Đức Thánh Linh (ICôr 12:12-13) và trong đó một sự phân biệt ở dưới đất giữa người Do-thái và dân ngoại biến mất (Êph 2:14-15; Cô 3:10-11). Sự khải thị lẽ mầu nhiệm nầy mà Đấng Christ dự ngôn song không giải nghĩa (Mat 16:18), đã giao cho Phao-lô. Chỉ trong thơ tín Phao-lô, ta thấy lẽ đạo, địa vị, sự bước đi và số phận Hội Thánh.