Mật ong

Mật ong Honey. Miel.

Xưa xứ Ca-na-an nhiều mật, nên gọi là đất “đượm sữa và mật” (Xuất 3:8, 17; Lê 20:24). Vả, thứ mật sản xuất trong xứ đó phần nhiều ở đồng nội hoặc ở trong hang (Phục 32:13; Thi 81:16), hoặc ở rừng cây (ISa 14:25-26). Giăng Báp-tít ăn thứ mật đó (Mat 3:4). Con ong là vật nhỏ nhưng gây mật rất ngọt. Chúa cấm dâng mật trên bàn thờ với của lễ chay (Lê 2:11), ấy chắc vì mật làm cho các vật khác dậy men, làm cho bánh chua, không dùng được với thịt quay, hoặc vì cớ ong là loài không sạch (Lê 11:23), hoặc vì Chúa không muốn dân sự theo thói tục người ngoại bang, thường dùng mật ong trong của lễ cúng thần tượng. Dầu vậy, Chúa truyền phải dâng mật đầu mùa cho Ngài (Lê 2:12), ấy vì để riêng nuôi dưỡng các thầy tế lễ chớ không dâng trên bàn thờ.

Kinh Thánh thường dùng mật làm thí dụ về ý tốt đẹp: Luật pháp Chúa “ngọt hơn mật” (Thi 19:10; 119:103); Sự khôn ngoan (Châm 24:13-14); và ân điển Chúa (so Phục 32:13; và lời đáp câu đố Sam-sôn Quan 14:18). Trong Êxê 16:13, 19 Chúa trách dân Ngài vì dâng mật cho hình tượng và trong Châm 25:16, 27, Sa-lô-môn nói ăn mật nhiều quá thì chán, ấy chắc chỉ những sự sung sướng về phần xác và thế gian. Còn nói về sáp coi Thi 22:14; 68:2; 97:5; Mi 1:4.

Lên đầu trang