Mão

Mão Turban, crown. Mitre, Couronne.

I. Mão thánh mà các thầy tế lễ Do-thái đội làm bằng vải gai mịn rất đẹp, dài độ ba thước rưỡi chít lại. Nguyên văn Hê-bơ-rơ từ Canãph tức là “cuộn tròn”. Chỗ ngang trán có một sợi dây màu tím buộc cái thẻ bằng vàng ròng, trên đó có khắc chữ: Thánh cho Đức Giê-hô-va (Xuất 28:4; 29:6; 39:28, 31; Lê 8:9). Chắc Êxê 21:31 chỉ về sự cất chức vua và thầy tế lễ của Sê-đê-kia.

II. Mão miện của vua có cái cẩn vàng và ngọc; có cái làm toàn bằng vàng (IISa 1:10; IICác 11:12; IISử 23:11; Thi 21:3). Vua ngoại bang cũng đội mão vàng (ISử 20:2). Trong Tân-Ước, nguyên văn Hy-lạp Diadema thường dịch mão miện, song có chỗ có thể dịch (thưởng cho). Dầu vậy, “nhiều mão miện” trong Khải 19:12 là chỉ về Đấng Christ là Vua của các vua; vậy trong Khải 13:1 thấy Sa-tan cũng đội mão miện vì nó muốn chiếm vị Đấng Christ. Stephanos trong Khải 14:14 chỉ về mão miện bằng vàng của Đấng Christ là Đấng đắc thắng; nghĩa bóng lấy từ hình ảnh chiếc mũ kết bằng lá và hoa của người giựt giải trong các cuộc đấu sức, ấy cũng có nghĩa Chúa lấy mão miện làm phần thưởng cho tín đồ thắng thế gian, xác thịt và Sa-tan, phần thưởng đó là:

a) Không hay hư nát (ICôr 9:35).

b) Vui mừng (ITê 2:19 theo một nguyên bản).

c) Công nghĩa (IITi 4:8 so với Khải 3:11; Xuất 39:30 thấy công nghĩa là phần thưởng riêng mình).

d) Vinh hiển (IIPhi 5:4).

đ) Sự sống (Khải 2:10).

III. Chàng rể và vợ mới cũng đội mão đẹp (Nhã 3:11; Êxê 16:12). Những người xưa dự tiệc có khi cũng đội mão miện (Ês 28:1). Song Ês 28:5 tỏ ra “Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trở nên mão miện chói sáng và mão miện rực rỡ của dân sót Ngài”. Cũng nên xem Châm 12:4; 14:24; 17:6.

IV. Khi Chúa Jêsus chịu thương khó, Ngài phải đội mão gai (Mat 27:29; Mác 15:17; Giăng 19:2). Chắc mục đích những lính La-mã chỉ cốt nhạo báng Ngài chớ không có ý thêm sự đau đớn.

Lên đầu trang