Ma-thi-ơ, Sách The Gospel According to Matthew. Évangile selon Matthieu.
Sách Tin lành theo Ma-thi-ơ được chép bởi Sứ đồ nầy; ấy hiệp với toàn thể các góa phụ Hội Thánh xưa.
I. Ngôn ngữ sử dụng viết sách.– Mỗi văn sĩ đầu tiên nói đến Ma-thi-ơ chép sách Tin lành đều chứng rằng Ma-thi-ơ viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ tức là tiếng Sy-ri Canh-đê hoặc gọi là Aramaique dùng trong xứ Pha-lê-tin thế kỷ I S.C.. Song có người tin rằng Irénée, Origène, Eusèbe và Jérôme thật chỉ về một sách khác, là sách Tin lành theo người Hê-bơ-rơ cũng gọi là sách Tin lành của 12 Sứ đồ mà các tín đồ Giu-đa đều tin có dùng. Vậy không quyết định chắc chắn được, chỉ biết mỗi văn sĩ đầu tiên hay dùng sách Tin lành Ma-thi-ơ bằng tiếng Hy-lạp, bởi đó có thể biết đúng Ma-thi-ơ bằng tiếng Hy-lạp là thuộc đời các Sứ đồ và Hội Thánh từ đó dùng đến luôn. Vấn đề Ma-thi-ơ vốn chép bằng tiếng Sy-ri, Canh-đê, hoặc tiếng Hy-lạp không đặt nặng lắm, vì như có hiện nay bằng tiếng Hy-lạp là nhờ Hội Thánh Sứ đồ đầu tiên công nhận.
II. Cách hành văn.
1. Ma-thi-ơ dùng thành ngữ “để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán” (Mat 1:22; 2:15), và trong 2:5 và mấy câu sau thì vắn tắt (Mat 2:17; 3:3; 4:14; 8:17; 12:17; 13:14, 35; 21:4; 26:56; 27:9).
2. Trưng dẫn Đấng Mê-si là “Con vua Đa-vít” chép trong sách nầy 8 lần, trong Mác và Lu 3 lần.
3. Giê-ru-sa-lem được gọi là “thành thánh” (Mat 4:5; 24:15; 27:53).
4. Thành ngữ “sunteleia tôn aiônôn” dùng 5 lần (Mat 13:39, 40, 49; 24:3; 28:20) và chỉ một lần trong Hêb 9:26, quốc văn dịch là “tận thế” song đúng hơn theo Thayer là “sự đầy trọn thời đại” tức trước khi Đấng Christ tái lâm.
5. Thành ngữ “nước thiên đàng” dùng độ 33 lần; song các sách khác hay dùng “nước Đức Chúa Trời”, cũng sử dụng thành ngữ này ở sách Ma-thi-ơ nữa.
6. “Cha ở trên trời” dùng độ 22 lần và vì không giải nghĩa thì ấy chỉ về lối người Do-thái thường nói về sách Tin lành nầy.
III. Sự công nhận sách.– Người ta ai nấy đều công nhận sách này thuộc Kinh Thánh; song có một số người đặt nghi vấn ở hai đoạn đầu, và nó được chứng minh như sau:
1. Mọi bản viết tay và các bản sao đều có hai đoạn nầy; và các giáo phụ Hội Thánh thế kỷ thứ II và III có trích dẫn.
2. Tài liệu hai đoạn rất tự nhiên vì ưu tiên viết cho người Do-thái.
3. Bắt đầu đoạn 3 là tùy theo Mat 2:23; và 4:13 trưng dẫn 2:23).
4. Lối văn và thành ngữ trong hai đoạn nầy giống như dùng trong các đoạn sau. Origène đầu thế kỷ thứ III viết sách Tin lành Ma-thi-ơ là sách được công nhận trước nhất trong bốn sách Tin lành mà Hội Thánh Đức Chúa Trời dưới trời công nhận mà không bàn cãi gì. Irénée, Tertullien, Clément ở Alexandrie với bản Muratorian, v.v…, đều làm chứng sách Ma-thi-ơ thuộc Kinh Thánh.
IV. Niên hiệu và nơi chép.– Theo lời truyền khẩu phổ thông trong Hội Thánh xưa, sách Ma-thi-ơ chép trước ba sách Tin lành khác và vì đặt đứng đầu tỏ ra là thật vậy. Irénée (độ 175 S.C.) viết rằng Ma-thi-ơ chép lúc Phi-e-rơ và Phao-lô còn ở tại La-mã, lúc ấy vào khoảng 60-70 S.C.. Eusèbe viết là khi Ma-thi-ơ lìa Pha-lê-tin để sang ngoại quốc. Clément ở Alexandrie viết rằng các trưởng lão từ khi lập Hội Thánh đều làm chứng “Hai sách Tin lành chép gia phổ Chúa (Ma-thi-ơ và Lu-ca) được chép trước nhứt”. Điều này trái với lý lẽ cho rằng về phần sử ký, Ma-thi-ơ và Lu-ca phải dựa vào sách Mác nhiều mà chép. Một điều chắc chắn là Ma-thi-ơ được chép trước khi Giê-ru-sa-lem bị phá đổ, (năm 70 S.C. xem 24:15). Vậy thì, niên hiệu đúng hơn cả là sách Ma-thi-ơ tiếng Hy-lạp chép trong khoảng 60-70 S.C., lúc Ma-thi-ơ tại xứ Pha-lê-tin. Song nhà thần học Zahn thì cho rằng có sách Ma-thi-ơ bằng Aramaique chép tại xứ Pha-lê-tin từ năm 62 S.C., và bằng tiếng Hy-lạp từ 85 S.C..
V. Nội dung và đặc điểm.– Mat 1:1- và 2:1- nói rất kỹ về việc Chúa Jêsus giáng sanh. Đó là nội dung chính Ma-thi-ơ nghe biết. Mat 3:1- và 4:1- chép những việc Giăng Báp-tít giảng đạo, Chúa Jêsus chịu báp-têm và chịu thử thách luôn với việc kêu gọi bốn Sứ đồ. Những câu chuyện này dường như Ma-thi-ơ tiếp nhận ý do Phi-e-rơ bảo cho Mác chép. Mat 4:12-16:20 chép việc Chúa Jêsus giảng đạo ở Ga-li-lê cũng dựa vào ý của Mác. Duy Mat 5:1–7:1- chép lời dạy dỗ quí báu ở trên núi thì sách Mác không có. Từ Mat 16:21 đến cuối sách đều chép việc Chúa Jêsus chịu khổ, chịu chết. Trong đó cũng chép việc Chúa hóa hình (Mat 17:1-8) giảng luận các dấu hiệu về ngày Chúa tái lâm như tận thế (Mat 24:1-), đặt các thí dụ (Mat 20:1; 21:33; 22:1; 25:1, 14) và có lời quở trách người Pha-ri-si (Mat 23:1-).
Ma-thi-ơ chép sách không theo thứ tự từng câu chuyện, cũng không theo thứ tự thời gian, như lời dạy dỗ trên núi, nếu xét theo Lu-ca đã chép (Lu 6:20-49; 11:2-4; 12:22-34), thì biết không phải lời Chúa phán trong một lúc; thế mà Ma-thi-ơ chép gồm vào một chỗ. Có nhiều thí dụ chắc cũng không phải Chúa phán trong một lúc; thế mà Ma-thi-ơ chép gồm cả vào trong đoạn 13. Những lời Chúa sai phái 12 Sứ đồ (Mat 10:1-), phần nhiều giống với Lu 9:1-6; 10:1-12; 12:1-12, 51-53; 14:25-27. Những chỗ đó chừng không nói cả một lúc. Vả, trong sách Ma-thi-ơ quen trích dẫn lời của Cựu Ước, chứng tỏ rằng Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm rồi: Mat 2:17, 23; 4:14; 8:17; 12:17; 13:35 đều đúng như Mat 5:17 chép Chúa Jêsus phán: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay lời tiên tri; ta đến không phải để phá, song để làm cho trọn”. Đó chỉ là một cách nói thông thường để suy ra một việc khác. Lại có vài việc chỉ riêng sách Ma-thi-ơ chép thôi, như Mat 2:1- và Mat 9:27-33; 12:22; 14:28-31; 17:24-27; 27:19, 24 đều là những việc mà sách Tin lành khác không có.
VI. Mục đích chép sách.– Sách Tin lành nầy có đủ chứng cớ tỏ ra tác giả, là môn đồ Chúa và người Do-thái, chép để cho người tín đồ Do-thái khắp thế gian biết “Jêsus ở Na-xa-rét” thật là Đấng Mê-si của Cựu Ước, là Vua mình.
1. Trong sách trích dẫn độ 70 lần tiên tri Cựu Ước.
2. Thường lấy phương pháp quen dùng của người Do-thái mà cắt nghĩa lời tiên tri.
3. Nói luật lệ người Do-thái đã được trọn trong Đức Chúa Jêsus; nhưng không cắt nghĩa luật lệ đó. Tác giả dầu là môn đồ người Do-thái song không theo phái Giu-đa nào. Như chép việc bác sĩ đến thờ lạy “Vua dân Do-thái” tức Chúa Jêsus (Mat 2:1-2); việc chữa đầy tớ quản cơ (Mat 8:5), cũng nói sẽ có nhiều người từ muôn dân làm môn đồ được vào nước thiên đàng (Mat 8:11; 21:43; 28:19).
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn sách Ma-thi-ơ như sau:
Tác giả.– Người chép sách Tin lành thứ nhứt, như hết thảy đồng ý, là Ma-thi-ơ cũng gọi là Lê-vi, một người Do-thái ở xứ Ga-li-lê làm người thâu thuế dưới quyền đế quốc La-mã áp chế. Bởi đó, Ma-thi-ơ là người bị ghen ghét và mang tiếng xấu.
Niên hiệu. Dù có nhiều giả thuyết, song không có lý do nào chắc chắn mà bác bỏ được niên hiệu theo lời truyền khẩu là 37 S.C..
Đại đề.– Đại cương và mục đích của sách tỏ ra ở câu đầu sách. Ma-thi-ơ là sách “gia phổ” Đức Chúa Jêsus; con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham” (1:1). Điều này đã tạo sự liên lạc ngay giữa Chúa với hai giao ước rất quan trọng trong Cựu Ước: Giao ước với Đa-vít về chức Vua, và với Áp-ra-ham về lời hứa (IISa 7:8-16; Sáng 15:18).
Vậy Ma-thi-ơ chép về hai đặc điểm lớn đó của Chúa Jêsus. Theo thứ tự chỉ trong câu thứ nhứt, Ma-thi-ơ viết trước nhứt về Vua, Con của Đa-vít; kế đến, Con của Áp-ra-ham, vâng phục cho đến chết, theo hình bóng về Y-sác (Sáng 22:1-18; Hêb 11:17-19).
Song le, điều mấu chốt nhứt trong Ma-thi-ơ về Đấng Christ là Vua lập bởi giao ước “Nhánh công bình” (Giê 23:5; 33:15). Ma-thi-ơ chép gia phổ Ngài; sự giáng sanh tại làng Bết-lê-hem, thành Đa-vít, đúng với lời Mi-chê (5:2); chức vụ của người dẫn đường cho Chúa đúng với Ma-la-chi (3:1); chức vụ của chính Vua; Ngài bị Y-sơ-ra-ên chối bỏ; và những lời dự ngôn về sự tái lâm Chúa bằng quyền phép và vinh hiển lớn.
Chỉ bây giờ (26:1–28:1-) Ma-thi-ơ mới trở lại giao ước trước, và chép sự chết hy sinh của Con Áp-ra-ham.
Điều này khoanh rõ mục đích và giúp cho sự phân tích sách Ma-thi-ơ. Sách Ma-thi-ơ là Tin lành riêng cho dân Y-sơ-ra-ên; và bởi được lưu truyền ra từ sự chết của Đấng Christ, thì là Tin lành cho cả thế gian.
Sách Ma-thi-ơ chia làm ba phần lớn:
I. Chúa Jêsus Christ là Con của Đa-vít, sanh ra là Vua dân Do-thái được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên và bị chối bỏ, 1:1 — 25:46. Phần nầy chia ra mấy phần nhỏ:
1. Gia phổ theo hoàng tộc và sự sanh của Vua, 1:1-25.
2. Kỳ thơ ấu của Chúa và công việc mờ ám của Hê-rốt, 2:1-23.
3. Nước “đến gần”, Mat 3:1 — 12:50.
4. Những sự mầu nhiệm về nước Trời, 13:1-52.
5. Chức vụ của Vua bị chối bỏ, Mat 13:53 — Mat 23:39.
6. Lời hứa của Vua sẽ trở lại bằng đại quyền, đại vinh, Mat 24:1 — Mat 25:46.
II. Sự hy sinh và sự phục sanh của Chúa Jêsus Christ, Con Áp-ra-ham, Mat 26:1 — Mat 28:8.
III. Chúa phục sanh làm chức vụ cho các người thuộc Ngài, Mat 28:9-20.