JALILY, MAHMUD AQA
(1882-1969)
Bản tin đài BBC ngày 21-2-1995, loan báo có một thiếu niên Công giáo tên là Salamad, 14 tuổi đã bị tòa án tối cao ở Pakistan lên án tử hình vì “tội” báng bổ đạo Hồi, mặc dầu bà thủ tướng Benarzir Bhutto can thiệp cũng không cải thiện được bản án này. Một ngày đẹp trời vào khoảng năm 1930, có một Cựu viên chức chính phủ Iran đã cùng với vài người bạn đi đến tham quan đền thờ Hồi giáo ở thủ đô Teheran, viên chức lão thành đã đứng giữa vòm rộng của đền thờ đó mà hô vang rằng: “Lớn thay là Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Vĩ đại thay là Cứu Chúa Giê-xu, Đấng Cứu chuộc duy nhất!” Người này là ai mà to gan thế? Đó là ông Mahmud Aqa Jalily. Thân thế sự nghiệp ông Thánh này được ghi chép lại như sau:
Ông Mahmud Aqa Jalily là người Iran. Ông Mahmud Aqa Jalily sanh năm 1882, ở thành phố Tabriz, thuộc Tây bắc Iran. Thân phụ ông là người có họ hàng với hoàng hậu xứ Iran, và rất thân cận với các giới chức hoàng gia. Năm lên sáu tuổi gia đình ông đưa Mahmud Aqa Jalily đến Teheran và ông được dưỡng dục ngay trong hoàng cung, cùng với những hoàng thân quốc thích ở đó. Tiếng mẹ đẻ của ông là tiếng Thổ nhĩ Kỳ. Vì là con trai một, nên thân sinh Mahmud Aqa Jalily hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, lúc nào ông cụ cũng giữ Mahmud Aqa Jalily ở bên cạnh, và đi đâu ông cũng đem cậu đi theo. Gia đình thuê thầy giáo vào chốn thâm cung để giáo huấn cậu. Mahmud Aqa Jalily học được tiếng Iran, Arabia và tiếng Pháp. Nền văn hóa cậu hấp thụ được có đặc tính tự do, phóng khoáng của Tây phương, trong đó có cả âm nhạc nữa.
Khi đã nên một thanh niên tuấn tú, Mahmud Aqa Jalily bắt đầu phục vụ trong triều đình Iran. Ông được giao thiệp với các nhân vật đầy thế lực trong chính phủ. Sau khi thân phụ ông qua đời, dưới triều vua Mazaffared-Din, Mahmud Aqa Jalily được trao cho trách vụ trong bộ tài chánh. Một cuộc nổi dậy của dân chúng Iran đòi hỏi phải có bầu cử tự do và hiến pháp, Mahmud Aqa Jalily đã nhiệt thành ủng hộ phe này, và phe bảo hoàng phải nhượng bộ để cho Iran có hiến pháp và tuyển cử quốc hội. Mahmud Aqa Jalily lập gia đình và sống hạnh phúc bên vợ con. Đời sống ông như thế kể như khá lý tưởng, đạt đến điều mà mọi người hằng mong ước. Ông cũng thường đi đến thành địa đạo Hồi ở Qumran để ăn chay cầu nguyện với Đấng Allad theo lời dạy của giáo lý này.
Nhưng trong sâu thẳm lòng ông vẫn khắc khoải, bồn chồn, lo lắng, chưa cảm thấy hài lòng, và dường như ông đang tìm kiếm một điều gì cao xa, kỳ bí hơn nữa mới mong thỏa mãn chăng? Ông quay sang học Anh ngữ, đọc thêm các sách mới, tiếp giao rộng rãi với giới trí thức. Ông mời một giáo sư tiếng Anh về nhà. Anh ta là một sinh viên ở trường Giáo hội Trưởng lão ở Teheran, tên là Ahmad. Ahmad có tính tốt, lễ độ, nhã nhặn, trung tín, và là một giáo viên giỏi. Chẳng bao lâu Mahmud Aqa Jalily đã nói và viết được ít tiếng Anh. Đồng thời con trai Mahmud Aqa Jalily là Jahangir cũng được ông cho theo học với Ahmad. Vì ảnh hưởng tốt của con người Cơ Đốc này mà cậu Jahangir cũng làm quen với Danh Chúa Giê-xu Christ.
Năm 1930, Giáo hội Trưởng lão ở Teheran đã tổ chức những buổi giảng Tin lành mỗi đêm để giới thiệu Chúa Giê-xu cho nhân dân Hồi giáo. Có đông chật người tới dự nghe. Một hôm Jahangir đi học về, cậu có mang theo một tấm thiếp của Tiến sĩ Samuel Jordan, Hiệu trưởng Đại học Alborz gởi mời thân phụ cậu (ông Mahmud Aqa Jalily) đến nghe diễn thuyết. Nhà giảng nằm ở đại lộ Ghavam-us-Saltaneh. Tại đây lần đầu tiên Mahmud Aqa Jalily được nghe các bản thánh nhạc du dương, và nhất là bài giảng về chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, về Đấng Cứu Thế do Trinh nữ sanh ra. Mahmud Aqa Jalily hết sức xúc động khi nghe được sứ điệp tuyệt vời này lần thứ nhất trong đời mình. Sau buổi họp lịch sử ấy, Mahmud Aqa Jalily và con trai mình đã ở lại tìm hiểu thêm về Đấng Cơ Đốc . Ngay trong đêm đó, ông Mahmud Aqa Jalily đã hiến dâng lòng mình cho Chúa Giê-xu, nhưng con trai ông thì chưa. Sống giữa khung cảnh kỳ thị của các xứ theo quỹ đạo Hồi giáo, các Cơ Đốc nhân đa số không dám nói lên niềm tin của mình, chứ đừng nói làm chứng hay giảng Đạo Chúa cho người khác. Nhiều nam nữ tín nhân Cơ Đốc đã phải “thắp đèn để dưới cái thùng” vì họ sợ gây họa cho bản thân và liên lụy đến gia đình mình. Nhưng Mahmud Aqa Jalily không thể im hơi lặng tiếng mãi được. Vì niềm vui cứu chuộc như cơn sóng đã đầy ứ trong tâm hồn ông rồi. Ngay sau hôm trở lại với Chúa, ông tới sở làm và loan báo ngay cho bạn bè biết sự “đổi đời” của mình. Ông chẳng e ngại gì mà không dám mời các đồng nghiệp về nhà để “ăn bánh và uống nước trà” nghe ông làm chứng về ơn cứu rỗi của Chúa Giê-xu Christ. Có một số người chịu nghe, song đa số chống đối. Ông tập tánh tốt thiêng liêng: Buổi sáng tới văn phòng trước khi làm việc, là ông cúi đầu cầu nguyện một vài phút trước mặt mọi người. Dầu lúc bạn bè chọc phá, song đức tin ông chẳng chuyển lay. Vì ông là một viên chức gương mẫu, nên cấp trên rất tin cậy.
Ông dành thì giờ gia công tìm tòi, khảo học Thánh Kinh Tân Ước. Ông chịu Báp-têm cùng với hai người bạn của mình vào năm 1931 tại Teheran. Ba giáo hữu tân tòng này đã lập một tổ chức để củng cố niềm tin mình và đồng thời quảng bá tình yêu của Chúa cho mọi người. Hàng tuần, họ thường mời bạn bè đến ở nhà Mahmud Aqa Jalily để ăn bánh ngọt, uống nước trà và nghe đọc Thánh Kinh, cũng như nghe ông chủ nhà Mahmud Aqa Jalily kể lại những ân lành mà Đấng Christ đã đối với ông, và Ngài cũng sẽ làm cho mọi người có lòng tin như ông vậy. Những buổi “trà đàm truyền giảng” đó cứ được tiếp tục suốt 35 năm và nhờ đó có nhiều người đã trực diện với Chúa qua những buổi họp thân mật ấy.
Tuy nhiên không phải lúc nào các buổi giảng Đạo “bỏ túi” này cũng luôn được tiến hành trong không khí thuận hòa ấm cúng đâu. Có nhiều lần bọn Hồi giáo thô bạo cuồng tín thình lình xâm nhập vào nhà Mahmud Aqa Jalily phá phách, làm ồn ào và bắt bớ gia chủ lẫn người nghe ra mặt. Văn hào Iran là Lotfi Levonian một hôm từ Beyruth đến tham dự buổi họp đó cũng đã gặp rắc rối đến nỗi một quân nhân tín hữu đã dùng võ nghệ quyền thuật của mình mà thân hành đưa giáo sư Lotfi Levonian kia thoát hiểm về nhà! Phòng họp của Mahmud Aqa Jalily ngày càng quá tải với số khách nghe giảng, ông đã bỏ tiền xây cất một phòng rộng hơn để đủ chỗ cho mọi người muốn vào nghe. Ông còn “bạo gan” hơn nữa là đi ra các đường phố phân phát sách nhỏ, Phúc Âm và truyền đạo đơn, văn phẩm Cơ Đốc ân cần mời mọi người đến tư gia ông hoặc Nhà thờ để tìm hiểu giáo lý cứu rỗi. Dầu làm việc đó đối với người Hồi cấm kỵ đã đành, mà họ còn cho là hèn hạ nữa, song Thánh đồ Mahmud Aqa Jalily cảm thấy rất vinh dự, hãnh diện được làm công bộc cho Chúa Giê-xu. Có một nhà truyền giáo tại Iran nói về Mahmud Aqa Jalily như sau: “Nếu có một người Hồi giáo nào thực sự được cải hóa và tái sanh, thì người đó chính là Mahmud Aqa Jalily”. Do đức tin bền trụ, kiên cường của mình nơi Chúa, được minh xác qua đời sống chịu khổ để làm chứng nhân cho Chúa Giê-xu, Mahmud Aqa Jalily đã dẫn dắt hai con mình trở lại quy thuận Chúa, là cậu Mahmud Jahangir và con gái đầu của ông là bà Mehri Khanum.
Giáo hội Tin lành lúc đó lập một ủy ban huấn luyện các nhà truyền giáo bản xứ để cộng tác với họ vào năm 1948, lớp học được đặt dưới chân rặng núi Alborz, cách Teheran 10 dặm. Đến năm 1950 có 7 học viên được nhận chứng chỉ tốt nghiệp, mà một trong 7 nhân sự đó Mahmud Aqa Jalily. Dầu là người cao tuổi nhất, song ông học tập rất cần mẫn, thuộc lòng nhiều câu Thánh Kinh, và các bài thi đạt số điểm chẳng kém gì các học viên trẻ tuổi. Vì thấy ông tuổi tác nên mọi người miễn giảm cho ông các công việc nặng nhọc phụ giúp lớp học sau giờ học, nhưng họ đã cũng khó khăn lắm mới ngăn giữ chẳng để cho ông quét dọn phòng ăn, hoặc bửa củi, xách nước. Vì ông rất sung sướng, tự hào khi được tham gia lao động như những học viên khác.
Tốt nghiệp xong ông Mahmud Aqa Jalily bôn ba trở về thành phố Tabriz để làm chứng về đức tin và những gì ông mới học được. Ông cũng xuất bản một cuốn sách làm chứng về tình yêu của Cứu Chúa, nhan đề “Tin lành cứu rỗi” trong đó thuật lại từng trãi gặp Chúa của ông cho mọi người biết. Ông cũng thân hành đi đến tỉnh Mazanderan nằm phía nam biển Caspien. Ông đi đến đâu cũng thu hút được nhiều người nghe ông thuyết giảng, đặc biệt các học sinh trung học rất thích nghe ông tuyên rao sứ điệp của Chúa Christ cho họ. Chẳng bao lâu, nhờ công lao khó nhọc, gây dựng làm chứng trung thành của Mahmud Aqa Jalily mà vùng Mazanderan đã có một cơ sở truyền giáo. Năm 1949, mặc dầu gần 70 tuổi, song vợ chồng ông bà Mahmud Aqa Jalily cũng vui vẻ tạm biệt ngôi nhà ấm cúng của mình ở Teheran để đến hiệp tác với ông bà giáo sĩ C. H. Allens, trông coi Hội Thánh tại Mazanderan ở Babul này.
Những năm về sau, khi Mahmud Aqa Jalily bắt đầu thấy triệu chứng già nua kéo đến, thì ông tìm nguồn vui và an ủi trong những giờ miệt mài cầu nguyện cho công việc Nhà Chúa và các bạn bè tín nhân Cơ Đốc mà ông biết họ đang đánh trận thuộc linh trên khắp các chiến trường. Ông đọc được tin tức về việc Đức Chúa Trời đang đặc biệt dùng Mục sư trẻ tuổi Billy Graham truyền giảng những chiến dịch vĩ đại trên thế giới, và hằng ngày ông đã để nhiều thì giờ cầu nguyện cho nhà truyền giáo tiếng tăm này. Khi Mục sư Billy Graham hay được tin này, ông rất cảm kích và viết thư cảm ơn, khiến cho Mahmud Aqa Jalily rất xúc động, Mahmud Aqa Jalily cũng thích viết thư hỏi thăm và làm chứng cho bạn bè ở xa, mặc dầu về Anh ngữ ông không thành thạo cho lắm.
Mahmud Aqa Jalily đã ra đi để nhận lãnh kim miện quang vinh của vua Thiên đàng vào năm 1969. Nếu có ai nghi ngờ về sự cải đạo của người Hồi giáo, thì họ hãy nhìn tấm gương sáng ngời của Mahmud Aqa Jalily. Nét mặt của Thánh đồ này lúc nào cũng phản chiếu vinh hiển khi nói về Danh Giê-xu, và đời sống ông thật đã là tấm gương tỏa sáng vinh quang thiên thượng. Ông thật sự đã hòa nhập vào “Đoàn người không ai đếm được, tay cầm đàn thụ cầm và nhành chà là ca tụng Chiên Con cách đắc thắng, khải hoàn trong đền Ngài”
Mahmud Aqa Jalily thật xứng đáng với biệt hiệu người ta tặng cho ông “Jalily – Người của Thượng Đế”.