Hội Thánh

Church. Église.
Nguyên văn chữ “Hội Thánh” bằng tiếng Hy-lạp là Kuriakos, nghĩa là của hay thuộc về Chúa, và từ chữ đó có chữ Ekklésia dùng ở trong Tân Ước. Suốt cả thế giới Hy-lạp đến đời Tân Ước (so Công 19:32, 39), chữ Ekklésia chỉ về hội đồng công dân trong thành tự do thường nhóm nhau lại, khi có sứ giả “kêu gọi ra” để bàn định công việc chung của Hy-lạp. Chữ Ek có nghĩa là ra ngoài, và chữ Kaléin có nghĩa là được gọi. Vì vậy, Ekklésia đã mau chóng trở nên một tiếng của tín đồ Đấng Christ. Người dịch bản Septante đã dịch tiếng Hê-bơ-rơ Kahal trong Cựu Ước (hội chúng hay hội dân) ra tiếng Hy-lạp là Ekklésia. Theo ý đó, trong Tân Ước Ê-tiên mô tả Môi-se “là người trong dân hội (Ekklésia) tại nơi đồng vắng” (Công 7:38; cũng xem Hêb 2:12). Chữ Hội Thánh như có chép trong Mat 18:17, là chỉ về công hội người Hy-lạp, chớ không phải chỉ về Hội Thánh Đấng Christ.
Theo Mat 16:18, chính Chúa Jêsus khi chúc phước cho Phi-e-rơ tại thành Sê-sa-rê Phi-líp, Ngài đã dùng chữ Ekklésia đầu nhứt để chỉ về hội tín đồ Đấng Christ. Sau khi Chúa Jêsus lên trời, môn đồ nhóm họp ở thành Giê-ru-sa-lem, lựa chọn Sứ đồ để bổ vào chỗ khuyết của Giu-đa (Công 1:15). Ngày Lễ Ngũ Tuần, Đức Thánh Linh giáng xuống trên các môn đồ đang nhóm họp tại một nơi, ai cũng được đầy dẫy Đức Thánh Linh, và Phi-e-rơ giảng đạo, có độ 3.000 người thêm vào Hội Thánh (Công 2:1-41). Sau đó, các người tin theo nhóm lại, ngày ngày bẻ bánh cầu nguyện, thông công hiệp một với nhau, mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội Thánh (Công 2:42-47). Mãi đến sau khi vợ chồng A-na-nia qua đời môn đồ mới bắt đầu gọi là Hội Thánh (Công 5:11). Về sau, Tin lành truyền đến các nơi khác, môn đồ cũng kêu như vậy (Công 9:31;13:1; 14:23; 15:41; 16:5; 20:17).
Còn môn đồ ở thành Giê-ru-sa-lem thì xưng ngay là Hội Thánh ở thành Giê-ru-sa-lem (Công 8:1). Thế rồi môn đồ ở xứ nào cũng kêu theo tên xứ đó (ITê 1:1; Cô 4:16, v.v.). Và cũng có Hội Thánh nhóm ở nhà môn đồ nữa (Rô 16:5; ICôr 16:19). Hội Thánh Giê-ru-sa-lem thường có Sứ đồ lui tới nghỉ chân nên có thế lực hơn Hội Thánh khác. Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng được xưng là cột trụ của Hội Thánh (Ga 2:9). Hễ Hội Thánh các nơi khác có vấn đề gì khó giải quyết, thì trực tiếp gặp họ để nhờ phân xử cho (Công 15:22-29). Đến năm 71 S.C., thành Giê-ru-sa-lem bị diệt, Hội Thánh đó cũng liền tiêu tan!
Tân Ước có vài chỗ nói phân biệt Hội Thánh và nước thiên đàng. Cũng có vài chỗ nói Hội Thánh ở thế gian còn kém xa sự tốt đẹp của nước thiên đàng. Nhưng ở đây, nên chia Hội Thánh làm hai phương diện: Hội Thánh địa phương và Hội Thánh vô hình. Hội Thánh địa phương là Hội Thánh ở khắp thế gian (Cô 1:24; ITi 3:5, 15); gồm cả những giáo hữu không sống đúng mực với lời Chúa. Hội Thánh vô hình là Hội Thánh không vết, không nhăn… thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài (Êph 5:27), được chép tên vào sách Đức Chúa Trời (Hêb 12:23). Hội Thánh nầy sẽ xét đoán thế gian (ICôr 6:2).
Vậy, có thể tóm lại rằng: Hội Thánh là một đoàn thể tín đồ hiệp một bởi Đức Thánh Linh, có đức tin chung, sự yêu thương chung và hy vọng chung, mà Đấng Christ làm đầu (ICôr 12:1-). Về Hội Thánh vô hình, Tân Ước chép: là “nhà của Đức Chúa Trời” (Mat 16:18; ICôr 3:10-15; Êph 2:19-22); là thân thể của Đấng Christ mà chính Chúa làm đầu (Rô 12:5; ICôr 6:15; 12:12; Êph 1:23, v.v.); là vợ mới (Êph 5:25, 32; Khải 19:7); là nhà thuộc linh được xây bằng những đá sống (Êph 2:22; ICôr 3:16; IIPhi 2:5).
I. Chế độ Hội Thánh.–Đời các Sứ đồ, không định rõ chế độ Hội Thánh; chỉ biết quyền của Sứ đồ là lớn hơn hết, vì ngoài việc họ có chức phận ra, họ còn có các thứ ơn của Đức Thánh Linh ban cho (ICôr 12:4-11). Về sau, Hội Thánh phát triển và mở rộng, các nơi có nhà hội, phải lựa chọn cắt đặt người có chức phận, bấy giờ mới đặt ra chấp sự, trưởng lão và Giám mục, v.v.. Song trong Tân Ước không đặt rõ một cách chi tiết điều lệ về việc cai trị Hội Thánh thế nào. Duy chỉ có hai lần Phao-lô nói đến những người quan trọng đứng đầu Hội Thánh, ông cho đó là một trật tự tất nhiên cần có: một lần ở ICôr 12:28; một lần ở Êph 4:11.
Khi xem xét và so sánh hai thứ tự đó, thì biết người có quyền thứ nhứt phải là Sứ đồ. Nên chú ý, số Sứ đồ Đấng Christ vẫn là 12, vì chức phận Sứ đồ đó không phải do con người phong cho, song phải do Chúa kêu gọi cách đặc biệt (Ga 1:1; Êph 4:11; ICôr 12:28) và phải là người chính mắt thấy Chúa sống lại (Công 1:22). Tuy nhiên, chữ Sứ đồ cũng có một ý rộng hơn chỉ về những người Hội Thánh cử đi, như nói về Phao-lô và Ba-na-ba (Công 14:14), Gia-cơ, anh em Chúa (Ga 1:19), An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a (Rô 16:7), cũng xem IICôr 8:23 và Phil 2:25. Vậy, Sứ đồ thường không nhóm lại một chỗ, song đi lưu hành các nước, chia đường giảng đạo, như Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ thì đi Giu-đa truyền đạo; Phao-lô, Ba-na-ba thì đến cùng dân ngoại bang, và cũng trông coi Hội Thánh các nơi nữa.
Sau chức Sứ đồ là đến chức tiên tri. Nhờ Đức Thánh Linh soi sáng, tiên tri khuyên răn người, yên ủi tín đồ, làm nền tảng của Hội Thánh (Êph 2:20; 3:5), song không có quyền cai quản Hội Thánh. Chức phận tiên tri nầy, đàn bà cũng có thể làm được (ICôr 11:5; Công 21:9).
Trong hai trật tự kể trên, Phao-lô không hề nói đến những chức Giám mục, trưởng lão và chấp sự. Nhưng Tân Ước có vài chỗ nói đến (Công 6:3-6; 11:30; 14:23; 15:6, 22; 20:17; 21:19; Gia 5:14; IIPhi 5:1; Rô 16:1; Phil 1:1). Phao-lô luận về tư cách người làm giám mục, chấp sự và trưởng lão phải nên thế nào (ITi 3:4, 6; 5:17; Tít 1:5, 7).
Chế độ Hội Thánh gồm có 3 thành phần cai quản chính:
1. Chấp sự.– Bảy người mà các Sứ đồ lựa chọn và cử ra (Công 6:1-) thì ngày nay gọi là chấp sự. Bảy người đó chuyên giữ việc chu cấp cho những người nghèo nàn, góa bụa. Năm 63 S.C. Hội Thánh Phi-líp đã có hai chức giám mục và chấp sự rồi.
2. Trưởng lão.– Thành Giê-ru-sa-lem vốn có trưởng lão. Năm 44 S.C., các trưởng lão đã thâu nhận số tiền do Phao-lô và Ba-na-ba quyên được. Về sau, đại hội nhóm lại, cũng có trưởng lão đến dự (Công 11:30; 15:6). Phao-lô lập trưởng lão trong các Hội Thánh (Tít 1:5).
3. Giám mục.– Theo nguyên văn, giám mục (Épiskopos) và trưởng lão (Presbuteros) vốn là hai chữ khác nhau. Nhưng trong Tân Ước, hai chữ lại đồng nghĩa với nhau, như trưởng lão Ê-phê-sô cũng được kêu là “kẻ coi sóc” (Công 20:28) tức là giám mục vậy. Ti-mô-thê lập giám mục cùng chấp sự; Tít đặt trưởng lão và chấp sự Phao-lô hướng dẫn cho Tít về tư cách trưởng lão; ông cũng chỉ bảo cho Ti-mô-thê về tư cách giám mục nữa. Đối với hai chức đó, Phao-lô không phân biệt chi.
II. Hội Thánh hiệp một.–Tân Ước có hai chỗ nói đến danh từ “hiệp một”: một ở Êph 4:3 –“gìn giữ sự hiệp một của Đức Thánh Linh”; và một ở Êph 4:13 –“chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin”. Còn nói về sự hiệp một của Hội Thánh thì có nhiều chỗ. Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, vì vậy nên hiệp một mà không nên chia rẽ. Ngày xưa, Hội Thánh Cô-rinh-tô có sự tranh giành, Phao-lô gởi thơ quở trách họ (ICôr 1:10; 11:18; 12:25). Song chỉ thấy nói Hội Thánh có sự tranh giành, chớ chưa thấy nói chia ra làm nhiều Hội Thánh như hội Trưởng lão, hội Báp-têm, hội Giám lý ngày nay đâu.
1. Sự dạy dỗ của Đấng Christ.–a) Luận về gương sáng của Đấng Christ.– Ngài thường quở trách sự hủ bại của giáo hội Giu-đa. Nhưng Ngài vẫn dặn môn đồ phải cứ ở với Hội Thánh, và dặn họ cẩn thận giữ theo đạo Ngài (Mat 23:3): hễ gặp ngày Sa bát thì đến nhà hội thờ phượng Chúa, gặp ngày lễ trọng thể thì hãy giữ với mọi người.
b) Luận về sự dạy dỗ của Đấng Christ.– Ngài dựng Hội Thánh Ngài ở trên thế gian để làm hình ảnh cho nước thiên đàng (Mat 16:18, 19). Nước Đức Chúa Trời là một, nên Hội Thánh cũng phải là một. Người Hội Thánh đã hiệp một với Đấng Christ, thì cũng phải hiệp một với nhau. Vì có chung một người chăn, thì tất nhiên phải thành một bầy và thuộc về một chuồng (Giăng 10:16). Còn có nhiều thí dụ để bày tỏ ý hiệp một, ví dụ như Hội Thánh phải xây nền trên một hòn đá (Mat 16:18), hay như một vườn nho (Mat 20:1-16), hoặc là cái lưới (Mat 13:47, 48), hay cùng chờ đợi để đón chàng rể (Mat 25:1-13), hoặc như những vị khách được mời đến dự tiệc (Lu 14:15-24), hay câu chuyện mất một trong một trăm con chiên hay mất một trong mười đồng bạc thì cũng cố tìm (Lu 15:4-8). Những thí dụ như vậy đều có ý khuyên mọi người trong Hội Thánh nên hiệp một. Vả lại, vì Hội Thánh đã ở giữa Chúa Cha và Chúa Con, thì cố nhiên nên hiệp một. Đấng Christ đã cầu xin một điều đặc biệt: đó là xin Cha khiến Hội Thánh hiệp một. Khi người ta thấy sự hiệp một của môn đồ thì ắt sanh lòng tin mà trở lại cùng Chúa (Giăng 17:11, 21-23). Tuy nhiên, nếu chỉ chuộng sự hiệp một về hình thức, thì cũng không đúng hoàn toàn với sự dạy dỗ của Kinh Thánh.
2. Sự dạy dỗ của Sứ đồ.–Ngày xưa, khi Đức Thánh Linh giáng xuống các môn đồ đồng lòng hiệp lại một nơi, nên mọi người tin Chúa đều hội hiệp lại, một lòng, một chí góp của và đồ vật để dùng chung (Công 2:1, 44; 4:32). Ý lớn nhất chứa trong các thơ tín là thánh đồ vì Đức Chúa Trời mà gây dựng một Hội Thánh (Rô 1:7; IIPhi 1:1). Trong một tỉnh dầu có nhiều Hội Thánh, nhưng vẫn thuộc về một Hội Thánh chính, như xứ Ga-la-ti có nhiều Hội Thánh (Ga 1:2), xứ A-si có bảy Hội Thánh (Khải 1:4), nhưng đều hiệp một cả. Phao-lô nói: “Vì chỉ có một cái bánh, chúng ta dầu nhiều, cũng chỉ một thân thể; bởi chưng chúng ta đều có phần chung trong một cái bánh” (ICôr 10:17). Cạnh đó, vì tín đồ đã chịu lễ báp-têm cùng một Thánh Linh, thì thảy đều phải là một Hội Thánh (ICôr 12:4-27). Môn đồ nên ràng buộc nhau bằng dây hòa bình, chăm giữ sự hiệp một của Đức Thánh Linh (Êph 4:3-6). Chúng ta cùng một đức tin đó, nhận biết Con Đức Chúa Trời, được trở nên con Ngài phần lớn là nhờ sự liên lạc của Đấng Christ, lần lần lớn lên và gây dựng trong sự yêu thương (Êph 4:13-16). Đầu của thân thể đó là Đấng Christ (Cô 1:18, 24; 2:19). Dân ngoại bang nhờ Tin lành được cùng làm một thể với người Giu-đa (Êph 3:6). Phàm người chịu lễ báp-têm đều mặc lấy Đấng Christ. Không cứ hạng người nào, nếu ở trong Đấng Christ, thì đều là một cả (Ga 3:27, 28). Chúa ban cho mọi người được đồng lòng ở với nhau theo Chúa Jêsus Christ để anh em lấy một lòng, một miệng mà ngợi khen Đức Chúa Trời (Rô 15:5, 6). Hội Thánh quyết không nên mượn danh người ta mà chia phe đảng. Nếu như vậy là bắt chước lối làm của thế gian (ICôr 1:13; 3:3, 4). Phải nên tránh xa kẻ gây hiềm khích (Rô 16:17). Sau khi đã khuyên bảo kẻ gây bè đảng một hai lần rồi, thì nên lánh họ đi (Tít 3:10). Tin lành Đấng Christ là khiến môn đồ nên đồng một lòng đứng vững đồng tâm chiến đấu vì đạo Ngài (Phil 1:27). Các môn đồ nên đồng một lòng yêu thương, đồng một ý nghĩ, chớ gây phe đảng, chớ tìm sự vinh quang hư ảo, phải có một tâm tình như Đấng Christ (Phil 2:2-5). Tất cả những câu Kinh Thánh trích dẫn ở trên đều là lời dạy dỗ của Phao-lô. Còn Phi-e-rơ thì nói Hội Thánh cũng như một nhà, Hội Thánh là một thầy tế lễ thánh, là nước nên thánh, là dân được chọn lựa đặc biệt (IIPhi 2:5, 9). Phần Giăng, ông cũng nói: “Chúng tôi lấy điều đã thấy, đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Chúa Cha, và với Con Ngài là Chúa Jêsus Christ” (IGiăng 1:3). Ông cũng nói về sự môn đồ hiệp một: “Chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật” (IGiăng 3:18). Tuy là sách Khải Huyền có nói về khuyết điểm của bảy Hội Thánh xứ A-si, nhưng chỉ khuyên các giáo hữu nên giữ lấy đạo thật, chớ không khuyên nên lập một Hội Thánh khác (Khải 2:24, 25).
Nói về sự hiệp một trong suốt sách Tân ước, có thể chia làm ba ý:
a) Sự hiệp một về phần cội gốc: Nghĩa là Hội Thánh gồm toàn thể người được sanh lại, được lập nên bởi ý chỉ Chúa, nếu chia rẽ nhau thì không phải là ý Ngài.
b) Sự hiệp một thể hiện bên ngoài: Vì Hội Thánh đã có sự sống của Chúa ở bên trong, thì được xem như là một thân thể, một linh hồn, nên cũng hiệp làm một. c) Sự hiệp một bằng cách đồng lòng và đồng một đức tin: Đối với những việc nhỏ nhặt, cách xử lý khác nhau và không ảnh hưởng tới đức tin, thì không quan hệ gì, nhưng đối với việc trọng yếu thì ai nấy đều phải đồng một lòng tin. Trong Hội Thánh ngày nay nếu có sự rối loạn thì cũng không nên đổ lỗi cho Hội Thánh đó, rồi lại lập Hội Thánh khác để gây thêm mối tranh luận. Cả Hội Thánh cũ và Hội Thánh mới lập sau đều phải chịu trách nhiệm về nguyên nhân của sự rối loạn đó trước mặt Chúa. Đối với những người đã lập Hội Thánh mới đó nay đã qua đời rồi, ta không cần nói đến nữa, song chỉ hết lòng mong cho mọi Hội Thánh hiện tại thực hành được sự hiệp một để khôi phục vẻ đẹp và ý nghĩa của Hội Thánh ban đầu.
III. Hội Thánh tự lập, tự trị–1. Sự tự lập, tự trị của Giáo hội đời Cựu Ước: Từ khi Giáo hội Giu-đa được tổ chức và lập lên, hễ ai là người Giu-đa đều là giáo hữu cả. Các khoản chi dùng trong Hội đó, như cung cấp cho các thầy tế lễ và người Lê-vi, ngày ngày dâng chiên bò làm của lễ trong Đền thờ, và phí tổn về việc dựng hội mạc ở đồng vắng cũng nhiều (Xuất 35:1-; 36:1-), tất cả đều quyên góp từ nhân dân. Ngoài ra, Hội Thánh còn phải cung cấp cho các tiên tri, cứu giúp mọi người nghèo khó, dâng trái đầu mùa và nộp một phần mười nữa (Lê 27:30-33; Dân 18:21-24; Phục 14:22-29). Để tự trị, tự lập được như vậy, mối quan hệ giữa các giáo hữu và Hội Thánh phải thật mật thiết.
2. Sự tự trị, tự lập của Hội Thánh đời Tân Ước: Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh còn chưa tổ chức, của cải, đồ vật đều dùng chung cả, chớ không phân biệt của ai (Công 4:32). Nhưng không thể duy trì mãi cách đó được, vì Chúa Jêsus có phán: “Người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu 10:7). Có nghĩa là Hội Thánh đời sau tự mình nên cung cấp sự tiêu dùng cho người truyền đạo. Phao-lô đi giảng đạo, dầu vẫn may trại để nuôi mình, song có nói: “Ai rao giảng Tin lành thì được nuôi mình bởi Tin lành” (ICôr 9:14). Lại nói: “Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó” (Ga 6:6).
Vậy, người làm giáo hữu phải nhớ đến bổn phận của mình mà giúp cho mục sư có đủ mọi sự cần dùng. Phao-lô khuyên giáo hữu thành Cô-rinh-tô như sau: “Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi một người trong anh em khá tùy sức mình chắc lót được bao nhiêu thì để dành tại nhà mình, hầu cho khỏi đợi khi tôi đến rồi mới góp” (ICôr 16:2). Vả, ngoài sự cung cấp cho mục sư tiêu dùng ra, người tín đồ Đấng Christ cũng nên cứu giúp kẻ nghèo khó (Rô 15:26; Ga 2:10), thương xót người côi cút, góa bụa (Công 6:1; ITi 5:16). Cứ xét Tân Ước thì biết Hội Thánh bấy giờ dầu không được đông giáo hữu và còn nghèo về tài chánh, song cũng tự lập được cả, chớ không cần nhờ hội khác giúp đỡ.
III. Đuổi khỏi Hội Thánh.–Trong Cựu Ước, việc nầy được thực hiện trước nhất là ở vào đời E-xơ-ra (Exơ 10:8). Vì phần nhiều người Do-thái trở về nước cũ đều cưới con gái ngoại bang làm vợ. E-xơ-ra buộc phải ra lịnh bắt họ ly dị, hễ ai không tuân theo thì liền truất ra khỏi hội chúng. Trong đời Chúa Jêsus, người Do-thái đã có sự đuổi khỏi nhà hội rồi.
Trong sách Tin lành, có vài chỗ chép đến việc đó, như Giăng 9:22; 12:42; 16:2; Lu 6:22. Chúa cũng thường luận về việc ấy (Mat 18:15-17). Phao-lô nói anh em nào phạm tội thì nên phó cho quỉ Sa-tan. Điều đó không có nghĩa là muốn cho họ phải tuyệt diệt, nhưng ông thực lòng muốn họ hối cải để linh hồn được cứu (ICôr 5:5). Chính ông đã giao hai người thất tín cho quỉ Sa-tan (ITi 1:20). Ông lại nói ở IITê 3:14, 15 rằng: “Ví bằng có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thơ nầy, thì hãy ghi lấy, chớ giao thông với họ, hầu cho họ nhơn đó biết xấu hổ”. IIGiăng 1:10 cũng giống ý đó. Giăng có quở trách một người tên Đi-ô-trép, người này không công nhận thẩm quyền của các sứ đồ, và đuổi ra khỏi Hội Thánh người nào muốn tiếp rước các sứ đồ (III Giăng 9, 10).

Lên đầu trang