Giăng II, III, Thơ

The Second and Third Epistle of John. Seconde et troisième Épitres de Saint Jean.
Chứng cớ thơ và tác giả là thật.– Irénée chú thích Giăng là tác giả của IIGiăng 1:10. Clément ở Alexandrie (192 S.C.) khẳng định bức thơ dài của Giăng và IIGiăng là thơ gởi cho người Parthie (Bạt-thê Công 2:9), và “bà được chọn” là một bà ở tại Ba-by-lôn. Còn Dionysius ở Alexandrie thì viết: “Giăng chẳng hề xưng tên mình trong các thơ, dầu thơ thứ II và thứ III rất ngắn nhưng ông chỉ xưng mình là “trưởng lão”. Papias, (đầu thế kỷ thứ II) làm chứng rằng có một trưởng lão kia tại Ê-phê-sô đồng thời với mình, cũng tên là Giăng. Song người ta không dám chắc là Papias có ý phân biệt Sứ đồ Giăng với trưởng lão đó. Eusebius làm chứng rằng: “Giăng hoặc không nói về mình hay là gọi mình là trưởng lão, chẳng hề đặt mình là Sứ đồ hay là truyền đạo”. Trong bài Papias nói trên, các Sứ đồ cũng được gọi là trưởng lão, Phi-e-rơ gọi mình là như thế (IIPhi 5:1). Jérôme cũng nói thơ nầy thuộc về Giăng, và trong đời mình có mộ của Giăng tại Ê-phê-sô. Giáo hội nghị tại Nicée 325 S.C., tại Hippo 393 S.C., và tại Carthage, 397 S.C. đều công nhận hai thơ ngắn nầy là của Giăng. IIGiăng có tám câu trong mười ba cũng tìm thấy ở IGiăng.
Niên hiệu và nơi chép.– Eusebius nói rằng sau khi hoàng đế Domitien băng, Giăng từ Bát-mô trở về Ê-phê-sô, đi giảng đạo cho người ngoại, và thăm viếng các Hội Thánh trong miền đó (so IIGiăng 1:12; IIIGiăng 1:9, 10, 14). Trong một cuộc lưu hành, Giăng quở trách Đi-ô-trép. Nếu thật như vậy, dường như IIGiăng và IIIGiăng được chép lúc Giăng cao tuổi và sau sách Khải Huyền.
Thơ gởi cho ai.– IIGiăng gởi cho “bà được chọn”, và trong câu cuối chép: “con cái của chị em bà, là bà được chọn kia, chào thăm bà”. IIPhi 1:1, 2 gởi cho những người được chọn tại Tiểu A-si, và cuối thơ có lời chào thăm của “các người được chọn tại thành Ba-by-lôn”. Còn có một thuyết nói “bà” ( tiếng Hy-lạp là Kuria) là gốc chữ Hội Thánh (Kuriake tức thuộc về Chúa). Vậy bà được chọn đó là chỉ về Hội Thánh; còn con cái chỉ về giáo hữu, nhưng cũng khó lý giải đàng nào là phải, bởi ngày xưa có Hội Thánh gia đình.
Người xưa ít bàn về thơ thứ ba, cũng không dẫn dùng nó mấy. Thơ viết rất ngắn, giống thơ của Phao-lô gởi cho Phi-lê-môn. Những lời răn dạy trong thơ là những lời uốn nắn các giáo hữu. Tuy IIIGiăng nói là gởi cho Gai-út, song lúc ấy lại có nhiều người tên là Gai-út:
1. Gai-út ở Cô-rinh-tô (ICôr 1:14; Rô 16:23).
2. Gai-út ở Ma-xê-đoan (Công 19:29).
3. Gai-út ở Đẹt-bơ (Công 20:4).
4. Lại có một người giám đốc mà Sứ đồ Giăng sai đi Bẹt-găm, cũng tên là Gai-út. Có một bác sĩ nói rằng người nhận thơ nầy có lẽ là Gai-út đó. Nhưng diều này không có gì làm bằng chứng. Thơ nầy không phải gởi cho người có chức trong Hội Thánh, nhưng là gởi cho một giáo hữu có tài sản, có danh dự. IIIGiăng rõ ràng có quan hệ với IIGiăng. Hai thơ bổ nghĩa lẫn nhau khiến chúng ta được rõ lịch sử của Hội Thánh xưa.
Tiến sĩ Scofield có lời tựa cho IIGiăng như vầy:
Tác giả.– Sứ đồ Giăng.
Niên hiệu.– Có lẽ 90 S.C..
Chủ đề.– Giăng II chép những điều cốt yếu về các bước đi của tín đồ trong ngày “thế gian đã rải nhiều kẻ dỗ dành” (câu 7). Chữ chìa khóa là “lẽ thật”. Bởi đó Giăng có ý chỉ về mọi lẽ thật đều được tỏ ra trong Kinh Thánh. Vì chỉ Kinh Thánh có quyền duy nhứt bày tỏ về lẽ đạo và đời sống, đó là nguồn trông cậy của tín đồ trong thời kỳ bội đạo.
Có thể chia thơ IIGiăng ra làm ba phần:
1. Đường của lẽ thật và yêu thương, 1-6;
2. Sự nguy hiểm nếu không vâng theo Kinh Thánh, 7-11;
3. Lời phụ thêm, 12, 13.
Câu 5 chép “Chúng ta phải yêu thương nhau”, điều răn mới của Đấng Christ tức là sự yêu thương được Chúa hành động trong lòng và được đổi mới bởi Đức Thánh Linh (Rô 5:5; Hêb 10:6), và từ lòng tràn ra cách tự do bởi Đức Thánh Linh chứ không phải ép buộc, nó hướng đến những mục đích của sự yêu thương Chúa (IICôr 5:14-20; ITê 2:7, 8). Đó chính là “luật pháp tự do” (Gia 1:25; 2:12), trái với luật pháp bề ngoài của Môi-se. Nó khác nhau ở chỗ luật pháp của Môi-se bảo phải yêu thương (Lê 19:18; Phục 6:5; Lu 10:27); còn luật pháp Đấng Christ tạo nên sự yêu thương (Rô 5:5; IGiăng 4:7, 19, 20), như thế vì làm trọn thì thay thế luật pháp Môi-se (Rô 13:10; Gia 5:14). Ấy là luật pháp “ghi tạc vào lòng” anh em (Hêb 8:10; so IICôr 3:1-3).
Tiến sĩ Scofield viết lời tựa nầy cho IIIGiăng:
Tác giả.– Sứ đồ Giăng.
Niên hiệu.– Có lẽ độ 90 S.C..
Chủ đề.– Sứ đồ già yếu này trước đó đã gởi thơ cho Hội Thánh vì đã đồng ý cho Đi-ô-trép có quyền lãnh đạo. Nhưng Đi-ô-trép đã từ chối những bức thơ và cả quyền Sứ đồ, cũng không tiếp rước những người đến thăm viếng (câu 10) và đuổi ra khỏi Hội Thánh những ai muốn tiếp rước họ. Thơ nầy dạy tín hữu cách phải đối xử cách khi gặp cảnh ngộ nầy (câu 11). Hiện nay Giăng không dựa vào chức Sứ đồ, nhưng dựa vào chức Trưởng lão mà gởi thơ nầy cho một tín đồ trung tín chớ không cho Hội Thánh, để yên ủi và giục lòng những tín đồ đã đứng vững trong đức tin đơn sơ ban đầu. Nếu IIGiăng hướng dẫn cách bước đi của tín đồ trong ngày bội đạo; thì IIIGiăng bày tỏ trách nhiệm riêng của tín đồ trong chi hội mình khi gặp ngày như thế. Chữ chìa khóa là “lẽ thật”.
Có thể chia IIIGiăng làm ba phần:
1. Lời chào thăm riêng, 1-4;
2. Những sự dạy dỗ về anh em thăm viếng mà hầu việc Chúa, 5-8.
3. Người đứng đầu bội đạo, và Đê-mê-triu được lời chứng tốt, 9-14.

Lên đầu trang