The First Epistle of John. Première Épitre de Saint Jean. I. Chứng cớ tỏ ra thơ là thật.–Polycarpe là môn đồ của Giăng, trích 4:3 của thơ, và Eusebius nói về Papias, thính giả của Giăng rằng: “Ông hay rút từ thơ Giăng I để làm chứng”. Irénée trích dẫn nhiều, mà rõ ràng nhất là ở Giăng I. Cả Clément ở Alexandrie, Tertulien, và Cyprien cũng vậy. Bản liệt kê của Muratori chép rằng: “Có hai sách (Tin lành và Thơ) của Giăng được gọi là chung”. Origène chứng minh rằng Giăng I là thật và trích 1:5; Dionysius ở Alexandrie, học trò của Origène cũng làm chứng như thế. Eusebius chép rằng: “Những tín đồ ngày nay cũng như xưa đều công nhận Giăng I và Tin lành Giăng là thật, không hồ nghi gì. Jérôme cũng quyết định như thế.
Lối chép Tin lành Giăng và Giăng I giống nhau, nhưng không phải là lấy ở sách nọ chép thành sách kia. Vì là một thơ tín chung, nên Giăng chép về cá nhân ít hơn Phao-lô chép trong thơ mình. Giăng dường như ám chỉ chức Sứ đồ mình (2:7, 8, 26, 27), nói đến sách Tin lành mình (1:1 so Tin lành 1:14; 20:27), và tình yêu thương thắt chặt mình là Mục sư cao tuổi với “các con cái” thuộc linh (2:18-19). Trong 4:1-3; Giăng nói đến các giáo sư giả mà độc giả thời bấy giờ quen biết; và trong 5:21, ông răn: “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!” Mà khi đó chỉ có mầm mống của một phái có hòa hiệp tà giáo Trí huệ (Gnosticisme) với Tin lành, dầu mãi đến đầu thế kỷ thứ II mới gọi là phái Docétisme (Cô 1:15-19; ITi 3:16; Hêb 1:1-3). Nên Giăng 4:1-3 tố cáo “Thần nào không xưng Chúa Jêsus lấy xác thịt mà ra đời, chẳng phải là bởi Đức Chúa Trời” (so IGiăng 2:22, 23). Đức Thánh Linh đã cho Giăng biết trước và phòng bị cho Hội Thánh chống với tà giáo sắp tới đó.
2. Đối tượng của thơ: — Augustin (345-430 S.C.) viết thơ nầy trước tiên là gởi cho những anh em trong Hội Thánh dưới quyền Giăng tại địa hạt Ê-phê-sô, là những Hội Thánh mà Phi-e-rơ nói đến trong IIPhi 1:1 là Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, v.v…; và cho những tín đồ ở xứ Parthie (Bạt-thê, Công 2:9), bên kia sông Ơ-phơ-rát, ngoài đế quốc La-mã, là “Hội Thánh được chọn tại Ba-by-lôn” (Phil 5:13). Như Phi-e-rơ gởi bức thơ đầu tiên của mình cho bầy chiên ở xứ A-si mà trước đó chịu sự chăn dắt của Phao-lô và Giăng, thì cũng vậy, Giăng là bạn thân của Phi-e-rơ, gởi thơ mình cho bầy chiên mà Phi-e-rơ đã lo giúp ông trước kia. Như vậy, “bà được chọn” (II Giăng 1) cũng đồng nghĩa với “Hội Thánh được chọn”.
3. Nơi và niên hiệu chép thơ.–Có lẽ Giăng chép thơ nầy sau sách Tin lành của mình, vì trong thơ dường như tác giả vô cùng gần gũi với sự thật về Ngôi Lời trở nên xác thịt, là Đức Chúa Trời tỏ ra trong xác thịt, với những bài giảng của Đấng Christ trong sách Tin lành thứ tư. Giăng viết rằng “hỡi các con cái bé mọn” chứng tỏ rằng Giăng chép lúc cao tuổi, có lẽ độ 90 S.C.. Giăng nói những giáo sư giả nghịch đạo Đấng Christ nổi lên là dấu hiệu chỉ về “giờ cuối cùng”, có nghĩa là không có thời đại khác trước khi Đấng Christ tái lâm là cảnh tượng Hội Thánh đương chờ đợi. Địa hạt Ê-phê-sô là nơi có tà giáo Trí huệ, nên đây là nơi Giăng chép thơ vào phần cuối trong thời kỳ các Sứ đồ.
4. Tài liệu.– Tín đồ giao thông với Đức Cha và Đức Con là chủ đề và mục đích của thơ nầy (1:3). Ngoài lời chứng của Giăng, trong thơ có ba phần lớn:
(1). Từ đoạn 1:5 đến đoạn 2:28:1- “Đức Chúa Trời là Sự Sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu”, cho nên muốn được giao thông với Ngài, tín đồ buộc phải bước đi trong sự sáng. Nhưng trước hết tín đồ phải xưng tội và được tha tội bởi Đấng Christ, là Đấng làm lễ chuộc tội và cầu thay cho. Còn một bước nữa, đó là tín đồ phải giữ điều răn Chúa tóm tắt lại tức là sự yêu thương, so sánh với sự ghen ghét là kết quả của sự không vâng lời. Giăng khuyên những người thuộc linh, dù là con, cha, kẻ trẻ tuổi, đều là những tín đồ được tha tội, từng biết Đức Cha, và thắng hơn ma quỉ, đừng yêu thế gian vì không hiệp với sự yêu thương của Đức Chúa Trời ngự trong lòng mỗi tín đồ. Sự yêu thương ngự trong tín đồ được xức dầu bởi Chúa, và tín đồ cứ ở trong Đức Cha và Đức Con, ấy là hai cách để thắng hơn những giáo sư giả, nghịch cùng đạo Đấng Christ trong thế gian, họ là những giáo sư thật thuộc thế gian, nhưng không phải thuộc Hội Thánh, nên đã lui đi khỏi Hội Thánh.
(2) Từ đoạn 2:29 đến đoạn 5:5: Phần nầy luận về vấn đề: “Chúa là công bình” cho nên “người nào đã làm theo sự công bình, ấy là kẻ bởi Ngài sanh ra”. Phận làm con hiện giờ phải “tự mình làm nên thanh sạch” bởi 2 lý do: thứ nhứt, vì muốn giống Ngài ngay bây giờ, “cũng như Ngài là thanh sạch”; thứ nhì, vì mong rằng về sau sẽ hoàn toàn giống như Ngài. Hiện nay “các con Ngài sẽ ra thể nào, điều đó chưa được bày tỏ”, song khi Ngài hiện đến, vì sẽ “thấy Ngài như vốn có thật vậy”, các con sẽ hóa ra giống như Ngài (hiệp với Cô 3:1-) so với IICôr 3:18; Phil 3:21. Các con cái ma quỉ thì ghen ghét, trái lại các con cái Chúa thì yêu thương. Tình yêu thương đó đủ bảo đảm Chúa sẽ nhận chúng ta và nghe lời cầu nguyện của ta, vì cũng sẽ có sự vâng điều răn Ngài: “Phải tin đến danh Con Ngài tức là Chúa Jêsus Christ, và phải yêu mến lẫn nhau”. Ấn chứng việc đó là “Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta” (IGiăng 3:24). Trái lại, giống như phần trên, sự chối bỏ Đấng Christ và hiệp theo thế gian là hai điều tỏ ra thuộc về các thần giả (4:1-6). Điều cốt yếu của người trở nên con cái sanh bởi Đức Chúa Trời và yêu mến Chúa vô hạn, ấy là “vì Chúa đã yêu chúng ta trước” và “sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta” (4:10). Bởi đó, kết quả là chúng ta sẽ yêu anh em vì là con cái Chúa như mình, vậy “sẽ thắng hơn thế gian…vì tin Jêsus là Con Đức Chúa Trời” (5:4, 5).
(3) Từ đoạn 5:6 đến đoạn 21:1— Cuối cùng, lẽ thật mà chúng ta nhờ để giao thông với Chúa, đó là Đấng Christ đã lấy nước trong lễ báp-têm Ngài và lấy huyết của sự chuộc tội mà đến, và lời chứng Đức Thánh Linh là lẽ thật, điều này hiệp với lễ báp-têm của chúng ta bằng nước và Thánh Linh và nhận sự chuộc tội bởi huyết Ngài và lời chứng của Thánh Linh Ngài. Trong lời mở đầu, tác giả nhận lẽ thật nầy là nhờ chứng cớ của những điều mình là Sứ đồ, “đã nghe, đã thấy, đã ngắm, đã rờ”; nay đến cuối thơ, tín đồ nhờ lời chứng của Chúa mà tin, và nếu không tin “thì cho Ngài là nói dối”. Trong 5:13, tác giả cho biết vì cớ nào chép thơ, câu trả lời ở 1:4 trong lời mở đầu, tức là hầu cho tín đồ “biết mình có sự sống đời đời”, là nguồn của sự vui mừng (so Giăng 20:31). Vậy có thể biết mình “cầu xin việc gì, thì Ngài nghe (IGiăng 5:14, 15 so 3:22), cũng như “khi cầu thay cho một anh em phạm tội”. Miễn là tội anh em đó “chưa đến nỗi chết” (5:16).
— Kết luận: 5:18-21, Giăng kết luận rằng: vì sự hiểu biết Đức Chúa Trời là Đấng Chơn Thật, bởi sự ban cho của Ngài; và vì chúng ta ở trong Đấng Chơn thật đó, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; vì sanh bởi Đức Chúa Trời, nên chúng ta tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại được. Trái với thế gian đều chịu phục dưới quyền ma quỉ. Bởi cớ đó, “hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!”. Ta có thể hiểu theo nghĩa đen và cả nghĩa bóng.
5. Lối viết.– Trong thơ Giăng thường dùng những luận ngữ ngắn, và nhiều câu lập lại. Những lời khuyên với giọng yêu thương, những câu theo lối văn Hê-bơ-rơ trùng nhau khiến cảm động lòng người hơn (trái với lối văn lý luận Hy-lạp của Phao-lô), và tinh thần đơn sơ tập trung ở một đại ý, những lẽ thật cốt yếu được lập đi lập lại để cho ý dàn trải hơn, hay hơn và sự dạy dỗ rõ hơn. Giăng hay suy gẫm hơn là biện luận, và dạy về đời sống bên trong hơn là bề ngoài của tín đồ Đấng Christ. Những tư tưởng không mở mang từng bực như trong thơ Phao-lô, song đi vòng quanh để dẫn đến một trung tâm điểm, có khi thấy mặt phải hay mặt trái. Những câu so sánh mà Chúa thường dùng trong sách Tin lành, Giăng cũng có chép trong thơ mình: “xác thịt” và “Thánh Linh”, “sự sáng” và “tối tăm”, “sự sống” và “sự chết”, cùng là “ở trong Ngài”. “chúng tôi… giao thông với Đức Cha và với Con Ngài” và “giao thông cùng nhau” đều không có trong sách Tin lành nhưng lại có trong Công vụ các sứ đồ và thơ Phao-lô. Ấy tỏ ra tín đồ có thể sống và từng trải những lẽ đạo Đấng Christ, vì những lẽ đạo đó thật có sự sống, chớ không phải là lý thuyết suông. Đọc thơ Giăng, ta như bị thiêu đốt bởi sự sốt sắng, được chìm ngập trong sựyêu thương đầy dẫy, và được suy gẫm một cách sâu nhiệm. Lối viết đơn sơ song sâu sắc, mềm mại, an ủi, yêu thương, như thế phản chiếu hình ảnh Chúa mình. Éwald nói: “Giọng văn của Giăng có sự an nghỉ như ở trời.., như cha nói với con, như một thánh đồ đã được hóa vinh hiển từ trên cao nói”.
6. Cách gây dựng Hội Thánh.–Đức Thánh Linh dùng Phi-e-rơ khởi lập, Phao-lô cổ động và Giăng làm trọn Hội Thánh của đời các Sứ đồ. Cựu Ước chú trọng về sự kính sợ Chúa; song Giăng, người chép cuối cùng Tân Ước, chú trọng về sự kính mến Đức Chúa Trời. Nhưng như Cựu Ước cũng tỏ ra sự yêu thương, vậy Giăng con của sấm sét, trong Tân Ước cũng tỏ ra sự kinh khiếp Chúa giáng trên những kẻ chẳng tin. Lẽ đạo Đấng Christ được mở mang theo ba cách: theo sự dạy dỗ của Phao-lô, của Gia-cơ (có sự dạy dỗ Phi-e-rơ liên lạc hai cách đó), và của Giăng. Sự dạy dỗ của Phao-lô là cho những tín đồ ngoại bang trực tiếp theo đạo Đấng Christ, chớ không nhờ đạo Giu-đa, Gia-cơ vốn đúc trong khuôn khổ của đạo Giu-đa, lấy luật pháp làm phương châm cho các tín đồ, song theo bằng tinh thần chớ không phải bằng chữ. Sự dạy dỗ của Gia-cơ và Phi-e-rơ là cho tín đồ thuộc linh từ đạo Giu-đa dẫn đến đạo Đấng Christ. Sự dạy dỗ Giăng khác với Phao-lô, ấy vì về phần thuộc linh, Giăng được mở mang bởi nhìn xem Đấng Christ và sự giao thông với Ngài, chẳng cần phải gắng sức gì. Giăng cũng nhờ những sự trái nhau để dạy dỗ: sống tức là giao thông với Đấng Christ, chết tức là xa cách Ngài; sự sống, sự sáng, lẽ thật trái với sự chết, sự tối tăm, sự nói dối. Vậy cách của Giăng làm cho cách dạy của hai Sứ đồ kia hòa hiệp với nhau, và là sự dạy dỗ cuối cùng của Hội Thánh trong đời các Sứ đồ.
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn Giăng I như sau nầy:
Tác giả.Những lời truyền khẩu, những lẽ trong thơ, và sự so sánh thơ nầy với sách Tin lành Giăng đều chứng minh rằng Sứ đồ Giăng là tác giả.
Niên hiệu.– Có lẽ 90 S.C..
Chủ đề.– Thơ Giăng I là một bức thơ gia đình từ cha gởi cho “các con cái bé mọn” ở trong thế gian. Có lẽ chỉ trừ sách Nhã Ca của Sa-lô-môn, thơ nầy là thơ thân mật nhứt trong các sách được Chúa hà hơi. Thế gian xem như là ở ngoài gia đình. Tội lỗi tín đồ kể như là một sự lỗi đạo của con đối với Cha, và được xét xử như một vấn đề trong gia đình vậy (1:9; 2:1). Không có nói đến vấn đề cai trị vũ trụ theo luân lý. Thập tự giá đã trả đủ cho tội lỗi con cái phạm luật pháp đó, và Jêsus Christ “Đấng công bình” hiện nay là “Đấng cầu thay” với Đức Cha. Nếu sách Tin lành Giăng dẫn tín đồ bước qua ngạch cửa nhà Cha; thì thơ Giăng I giúp tín đồ cách cư xử khi ở tại nhà đó. Nguyên văn Hy-lạp trong thơ dùng lời êm dịu “các con cái” tức là teknia, nghĩa là “các con đẻ” hay là “các con yêu dấu”. Phao-lô nói tín đồ làm con chung; Giăng cho tín đồ gần gũi Cha như con đẻ.
Thơ Giăng I chia làm hai phần chính:
I. Gia đình với Cha, 1:1-3:24;
II. Gia đình và thế gian, 4:1-5:21.
Còn có một bố cục thứ hai trong mỗi phần có câu “Hỡi các con cái bé mọn ta” chia ra như sau nầy:
1. Lời dẫn.– Sự thành nhục thể 1:1, 2;
2. Các con cái bé mọn và sự giao thông, 1:3-2:14;
3. Các con cái bé mọn đối với những sự ngoại đạo và tôn giáo trong thế gian, 2:15-28;
4. Làm cách nào để các con cái bé mọn có thể nhận biết nhau, 2:29-3:10;
5. Làm cách nào để cho các con cái bé mọn có thể ở chung với nhau, 3:11-24;
6. Ý thêm vào: Làm cách nào các con cái bé mọn có thể nhận biết là giáo sư giả, 4:1-6;
7. Lời cảnh báo để các con cái bé mọn được vững lòng, 4:7-5:21.