FRANCIS OF ASSISI
(1182-1226)
Renan con người nhiệt thành, một tu sĩ ngoại hạng xuất thân từ xứ Italia, được mang một mỹ danh là “Thánh Francis ở Assisi” Ông được các người đời sau xưng tụng là “Một Cơ Đốc nhân trọn vẹn”. Dầu cuộc đời ông khá ngắn ngủi, nhưng vị Thánh Francis này đã lưu dấu ở trong mọi giới Cơ Đốc như là: “Một trong những hình ảnh giống gương của Chúa Giê-xu nhất, người đã từng sống trên trần thế này” Thánh Francis d’Assisi sanh năm 1182 trong một gia đình thương mãi giàu có. Ông đã từng sống qua tuổi thiếu thời trong sự truy hoan và buông thả. Nhưng bản chất của ông sanh ra để làm người lãnh đạo, và ông không bao giờ làm bất cứ việc gì nửa vời cả.
Francis đã được đánh thức để nhận thấy nhu cầu thuộc linh cách sâu xa bức xúc tâm hồn mình, hướng về Đấng toàn khiết, và đau đớn biết rằng Ngài rất phiền hà về nếp sống phóng túng của ông là thế nào, và Thiên Chúa đã thực sự thăm viếng ông qua một cuộc mặc khải thần tượng. Khi bị bạn bè chế riễu về sự quy Đạo và hoán cải có vẻ “khác người” của mình, ông đã công bố: “Tôi tương tự một Cô Dâu quý phái, giàu sang và xinh đẹp hơn bất cứ người nào các bạn từng thấy; Cô Dâu ấy là Khó Nghèo Phu Nhân, và chỉ có người đó mới thể hiện trung thực về Đấng Christ chịu treo trên Thập tự mà thôi!”
Từ biến cố đáng nhớ đó, ông đã hiến trọn mình cho Chúa để cùng chịu khổ và chia sẻ nổi đau đớn với Cứu Chúa và những kẻ nghèo hèn. Ông làm người thợ hồ lang thang đây đó để trùng tu, sửa chữa các Nhà thờ do vật liệu và thức ăn mà tín giáo khắp nơi đã dâng tặng. Ông trải qua nhiều đêm van xin khóc lóc dưới chân Chúa để cầu được niềm vui và sự bình an. Ông bị gia đình và bạn bè khước từ, xua đuổi. Thời gian này ông đã nghe lời của Chúa Giê-xu phán ở Ma-thi-ơ 10:7-10, những lời đó như những mũi tên đâm thấu trái tim tối tăm và rất nhạy cảm của ông, ông đã biết được sứ mạng của đời sống mình: “Bắt chước Đấng Christ” là tất cả khát vọng mà ông quyết tâm theo đuổi. Con người lý tưởng của ông lúc đó là một hiệp sĩ, cho đến khi ông hồi tỉnh sau một trận đau thập tử nhất sinh, qua cuộc hành hương đi đến La mã, ông nhận được sự khải tượng và Lời phán của Chúa. Thân sinh ông rất tức giận, vì ông đã giải nghĩa rằng làm theo Thánh Kinh có nghĩa là phải đem chia sớt của cải mình cho những kẻ nghèo khó. Vì sự bất đồng ấy mà ông lìa khỏi gia đình trong tấm áo của kẻ cùng khốn bên ngoài các hè phố. Ông cùng các đệ tử đi đến khắp các miền quê, xin thức ăn, quần áo của những nhà giàu có, thừa thải đem phân phát cho những kẻ cùng đinh, đồng thời rao giảng Phúc Âm để cứu vớt tâm linh họ. Những khuôn thước sống của ông luôn gây thiện cảm, nhân ái, từ thiện.
Năm 1210 Francis dành được cảm tình và sự ủng hộ của Giáo hoàng đương thời là Innocent II phê chuẩn cho điều luật giản đơn: Đặc cách ông chuyên biệt làm “Sứ đồ cho kẻ nghèo” và tổ chức của ông bắt đầu được gọi là “Nhóm Tiểu đệ” (the Friars Minor hoặc Lesser Brothers). Cộng đồng mới này đã noi gương sáng của người lập ra nó: Có nhiệm vụ tuyên rao Phúc Âm lo cho phần hồn và chăm sóc phần xác của những kẻ bị bỏ quên trong xã hội đang thiếu ăn, rách mặc, bệnh tật. Tu viện của những người này ở Portiuncula gần Assisi. Một hội đoàn khác dành cho phụ nữ, nhóm người nghèo Clara, khởi đầu năm 1212 khi Clara, người kế vị của Francis đã được hoán cải và nhận lãnh sứ mạng.
Để khích lệ những hoạt động truyền giáo theo phương thức này, Francis đã cố gắng tới Sy-ri (1212) và tới Morocco (1213-1214), nhưng ông đã gặp một số trở ngại ở những nơi đó. Năm 1219 ông đi vi hành đến vùng Tây Á, nơi mà ông đã cố gắng thuyết phục quốc vương Sultan của Ả-rập cải giáo, nhưng không thành công.
Trong thời gian ông vắng mặt, có nhiều vụ lộn xộn nổ ra với các nhân sự trong tập đoàn ông ở Italia, cho nên khi trở về ông phải khai trừ nhiều người trong số đó. Cardinal Ugolino đã được yêu cầu làm người bảo vệ cho Hội đoàn. Năm 1223, Giáo hoàng Honorius III xác chuẩn một điều luật mới để cho tổ chức hoàn bị hơn. Song Francis vẫn giữ nguyên tắc hành động cố hữu của ông bằng cách cầm đầu các môn sinh thân thiết của mình rút lui, tìm một nơi cô tịch để ẩn dật trên núi Monte Alvernia, chỗ mà ông cho là chính ông đã nhận những dấu vết như đinh đóng ở trên tay chân biểu tượng cho sự thương khó của Chúa Giê-xu. Bất kể thân thể tiều tụy vì bệnh hoạn, đau đớn và mù lòa ông đã sáng tác các bản Thánh ca gọi là: “Bản Thánh ca hướng về Mặt Trời”.
Thánh Francis d’Assisi người tỏa rộng ảnh hưởng của mình trên chính trị, khoa học, nghệ thuật, văn học và tôn giáo ở thời đại ông. Có nhiều huyền thoại về ông, nhưng chỉ cần nghiên cứu về đời sống và sự hầu việc của ông đủ để danh ông được nhớ mãi. Ông đã phản đối lại quan niệm và hành vi thế tục của Giáo hội La mã. Ông đã có công với dòng Thánh Franxico còn tồn tại cho đến ngày nay trong sự thiết lập quy luật và tổ chức. Trong lúc ông bệnh nặng, hai mắt gần mù hẳn, ngoài bài “Thánh ca của Ánh Mặt Trời” (The Canticle of the Sun), còn có bài “Bài hát của loài thọ tạo” (Song of all Creatures). Sự kiện oai nghi đó mạc khải sự hài lòng của Thiên Chúa trên muôn loài thọ tạo. Đây là bài thơ thánh được viết ra bằng tiếng Italia thay vì tiếng La tinh (ngôn ngữ bắt buộc của Giáo hội La mã).
Chính Francis cũng đã trở nên một trong những nhà Thần bí lừng danh nhất thời kỳ này. Những người theo Thần bí để chỉ về những tín hữu nào có một ước muốn mãnh liệt noi gương thánh thiện trọn lành của Chúa Giê-xu, được ngắm dung nhan vinh quang của Thiên Chúa và kinh nghiệm siêu vời về Tâm linh được cứu chuộc. Khi chúng ta suy niệm bài cầu nguyện sau đây, chúng ta sẽ thấy được tầm vóc “Con người của Thiên thượng” này, và chiêm ngưỡng được chiều sâu về ước vọng khiêm nhường, toàn hảo của Thánh Francis d’Assisi trong tâm tình hiến dâng hầu việc đồng loại:
“Lạy Chúa từ nhân
Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục;
Để con đem tin kính vào nơi nghi nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,
Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
Đem niềm vui đến chốn ưu sầu,
Ôi! Thần linh Thánh ái, xin mở rộng lòng con,
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu;
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời…”
“Ta cho các con một điều răn mới: Các con phải yêu thương nhau như Ta đã yêu các con. Các con có yêu nhau, mọi người mới biết các con là môn đệ Ta”
(Giăng 13:34,35)