Ê-xê-chi-ên

Ezekiel. Ézéchiel (Sức lực của Chúa).
Là thầy tế lễ, con của Bu-xi. Lúc thanh niên, Ê-xê-chi-ên cùng vua Giê-hô-gia-kim bị bắt làm phu tù về Ba-by-lôn (Êxê 1:2, 3), lúc đó vào khoảng tám năm sau khi Đa-ni-ên bị bắt và mười một năm trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy (IICác 24:15; 25:2). Ông Ê-xê-chi-ên ở trên bờ sông Kê-ba đến hai chục năm (Êxê 1:1, 3; 3:15; 8:1; 24:1, 18). Khi ở trong nhà mình (Êxê 3:24), ông được Chúa soi sáng, sai đi cảnh cáo người Y-sơ-ra-ên qua sự hiện thấy của mình (Êxê 1:1; 8:1. Chừng năm 595 T.C.). Lòng người bấy giờ dầu cứng cỏi, ít ai chịu nghe, song cũng có nhiều kẻ vui lòng tin theo (Êxê 3; 7; 33:30-33). Ông có kiến thức, có lòng độ lượng hơn mọi người. Dầu mạng lịnh Chúa rất nghiêm, trách nhiệm ông rất nặng, nhưng ông vẫn không có thái độ giựt lùi, nao núng (Êxê 3:8, 9, 17-19; 21:6, 7). Ngay như khi người rất thân yêu của ông qua đời, vậy mà ông vẫn truyền giảng như thường (Êxê 24:15-18). Những lời ông giảng có khi nói miệng, có khi viết ra (Êxê 11:25; 24:2). Ông chẳng những dạy dỗ riêng cho những kẻ bị bắt làm phu tù, song lại khuyên bảo cả những người ở tại Giê-ru-sa-lem nữa (Êxê 3:11; 2:3; 3:4; 16:1, 2, 3). Trong sách Ê-xê-chi-ên có vài câu vừa xem qua thấy không đúng và trái ngược nhau, song khi xét kỹ mới thấy thật đúng: Trong Êxê 12:13 dường như mâu thuẫn khi tiên tri chép về vua Xê-đê-kia rằng: “Nhưng ngươi sẽ không thấy đất ấy, dầu chết tại đó”. Song ta phải nhớ rằng trước khi chưa đến nơi ấy, vua Ba-by-lôn đã “sai móc mắt Sê-đê-kia” (Giê 52:11). Còn trong Êxê 18:17 viết “Con không chết vì sự gian ác cha” dường như trái với Xuất 20:5, song ở câu 5 nầy có chép rằng: “Hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời”, ấy nghĩa là con ghét Chúa cũng như cha. Có câu khác hiện nay khó giải nghĩa, nhưng ta phải nhớ: Đức tin phải đợi chờ Chúa cắt nghĩa theo chính lời của Ngài.
Sách Ê-xê-chi-ên có chia làm hai phần:
Phần thứ nhứt: (Êxê 1-24).–Những lời nói trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá đều là ý quở trách tội lỗi, bảo trước việc phán xét.
1. Lời tự thuật (Êxê 1:1-3:21).
2. Lấy việc làm thí dụ, lấy lời nói để răn dạy (Êxê 3:22-7:27).
3. Nói về sự đáng ghét của Giê-ru-sa-lem (Êxê 8:1-11:25).
4. Nói về tội lỗi, sự khuyên răn và sự sửa phạt (Êxê 12:1-19:4).
5. Nói về tội lỗi càng nhiều, sự sửa phạt càng đến mau (Êxê 20:1-24:27).
Phần thứ hai: (Êxê 25-48).–Những lời nói ở sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá vỡ đều gieo hy vọng về tương lai.
1. Nói dân ngoại chịu hình phạt (Êxê 25:1-32:32).
2. Nói dầu thành bị bắt làm phu tù, nhưng nước sẽ được phục hưng (Êxê 33:1-39:29).
3. Nói về chinh trị sau khi phục hưng (Ê-xê-chiên 40:1-48:35); coi đại ý sách Ê-xê-chi-ên, thì thấy người Y-sơ-ra-ên từ khi dựng nước đến giờ, làm nhiều điều ác lắm (Êxê 20:5, 13, coi thêm Giê 2:2-13): Đó là thờ lạy hình tượng, bắt chước thói tục dân ngoại. Vua, dân và thầy tế lễ đều quen làm ác. Đối với các tiên tri, hết thảy việc đó đều là tội lỗi. Ê-xê-chi-ên cho rằng thế là phạm tội cùng Chúa, không còn gì nặng hơn đó nữa. Vì lòng ông rất kính sợ Chúa, dựa vào sự hiện thấy chép ở trong sách và việc tự xưng là “con người” đến một trăm mười sáu lần thì đủ biết. Ê-xê-chi-ên nói người ta đều vì tội mình mà phải chết mất; con không gánh tội thay cha (Êxê 18). Thế là giống Giê-rê-mi ở chỗ đó (Giê 31:29, 30). Ông cũng nói: nếu người ta sửa đổi được việc làm thì cảnh ngộ cũng theo đó mà thay đổi (Êxê 33:13-16). Vì thế nên ông rát cổ, mỏi miệng khuyên dân chúng ăn năn đổi lỗi và dùng lời êm ái khuyên họ đổi mới (Êxê 18:23-31; 33:11). Ông lại thuật rõ việc người Y-sơ-ra-ên trở về nước cũ, khuyến khích dân chúng không nên làm điều tà, mà phải kính giữ lễ thánh, thì Chúa sẽ ở đời đời giữa họ (Êxê 43:7). Những lời ông thuật về sự hiện thấy cũng có sức mạnh cảm hóa ngấm ngầm.
Xem văn trong sách Ê-xê-chi-ên, ta thấy chỗ nào cũng có nhiều lời nói lắp, trùng chữ, trùng câu, có lẽ vì tác giả viết vào khi cao tuổi. Còn tội lỗi như có nói ở Êxê 16 và 23 là phong tục phương tây, chớ không phải phong tục phương đông. Trong sách dùng nhiều thí dụ lắm: Êxê 11:3; 15:1-5; 31:17, 18; 29:3-7; 34:1-19; 37:1-14 rất là đích đáng. Êxê 27:26-32; 32:17-32 là thơ ca rất hay. Còn có vài đoạn giống lời ca thương. Êxê 34:25-31 thì như là tiếng hát của kẻ chăn. Dầu Tân Ước không trích câu nào trong sách Ê-xê-chi-ên, song trong sách Khải Huyền có nhiều ý giống nhau và chắc cũng có ý chỉ về mấy đoạn cuối cùng (40-48) của sách Ê-xê-chi-ên.
Tiến sĩ Scofield chú thích sách tiên tri Ê-xê-chi-ên như sau nầy: Lần thứ nhứt dân Giu-đa bị đày, thì Ê-xê-chi-ên giống Đa-ni-ên, cũng bị đày tại Ba-by-lôn (IICác 24:14-16). Như Đa-ni-ên và Sứ đồ Giăng, Ê-xê-chi-ên hành chức tiên tri ở ngoài xứ mình, cạnh đó Ê-xê-chi-ên cũng giống hai ông trên ở chỗ hay dùng hình bóng và dị tượng. Trước thời gian dân Chúa bị đày, những tiên tri thi hành chức vụ trước nhất cho dân Giu-đa hoặc cho nước của mười chi phái, còn Ê-xê-chi-ên là tiếng của Đức Giê-hô-va cho “cả nhà Y-sơ-ra-ên, hết cả mọi người” (Êxê 11:15).
Nói chung, mục đích của Ê-xê-chi-ên là:
1. Nhắc cho dân sanh trong xứ bị đày vẫn nhớ tội lỗi của dân mình, là tội lỗi đã khiến dân Y-sơ-ra-ên suy đồi như thế (Êxê 14:23).
2. Nói tiên tri về nước được lập lại, về dân hà hiếp sẽ bị đoán phạt, và về vinh quang của dân mình trong đời trị vì của con cháu Đa-vít, để dân bị đày giữ vững đức tin.
Sách Ê-xê-chi-ên có bảy bài tiên tri lớn được chỉ tỏ bởi câu “tay Đức Giê-hô-va đặt trên ta” (Êxê 1:3; 3:14, 22; 8:1; 33:22; 37:1; 40:1). Đầu đề bảy bài đó là:
1. Sự dự bị và lời Chúa sai Ê-xê-chi-ên (1:3) đoạn 1; 3:9.
2. Lời Chúa sai Ê-xê-chi-ên đi canh giữ (3:14) đoạn 3:10-21.
3. Sự hiện thấy thứ nhì của Ê-xê-chi-ên về vinh hiển và kết quả của chức vụ (đoạn 3:22; 7:27).
4. Đại ý: Vì để cho dân Ngài bị đày làm phu tù, Đức Giê-hô-va sẽ xét xử công bằng (đoạn 8; 33; 21; câu chìa khóa là 33:20).
5. Đại ý: Nước tương lai của Con cháu Đa-vít (đoạn 33:21; 36:38).
6. Đại ý: Dân Y-sơ-ra-ên được lập lại; nước của con cháu Đa-vít; sự phán xét các dân tộc (đoạn 37:1; 39:29).
7. Đại ý: Dân Y-sơ-ra-ên ở tại xứ trong thời đại của nước Đức Chúa Trời (đoạn 40:1; 48:35).
Bảy bài đó cũng được chia làm từng bài nhỏ tùy theo câu “có lời Đức Giê-hô-va phán cho ta”.
Theo Giám mục Ussher, những sự chép trong sách Ê-xê-chi-ên xảy ra trong vòng 21 năm.
Tiến sĩ Scofield có viết về Êxê 4:1 như sau:
Các việc chỉ bóng mà Ê-xê-chi-ên làm trong khi bị câm là chứng cớ về những sự gian ác và sự sửa phạt khi trước của nhà Y-sơ-ra-ên (tức cả dân); và cũng là tiên tri về thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị vây. Vậy, các việc chỉ bóng đó là ở trong khoảng giữa thời Giê-ru-sa-lem bị vây và Ê-xê-chi-ên bị đày (IICác 24:10-16), và thời Giê-ru-sa-lem lại bị vây mười một năm sau.
Về Êxê 9:3, Tiến sĩ Scofield viết: Nên chú ý rằng Chúa cho Y-sơ-ra-ên, thầy tế lễ, xem sự hiện thấy của vinh quang Đức Giê-hô-va:
1. “Lên khỏi Chê-ru-bin mà đến ngạch cửa đền thờ” (Êxê 9:3; 10:4);
2. “Khỏi ngạch cửa đền thờ” (Êxê 10:18);
3. “Dấy lên từ giữa thành, và đứng trên núi ở phía đông thành” núi Ô-li-ve (Êxê 11:23), và
4. Trở về đền thờ của một ngàn năm bình an để ở lại đó (Êxê 43:2-5).
Cần nhớ Êxê 12:25, dầu Ê-xê-chi-ên vẫn bị đày ở Ba-by-lôn, song ông viết tiên tri cho xứ mình, và dường như trong khoảng mười một năm, giữa lần thứ nhứt và lần thứ nhì mà dân Ngài bị đày.

Lên đầu trang