Đa-ni-ên, Sách

The book of Daniel.
Phần lớn sách Đa-ni-ên viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ; nó nói về những điều liên quan đến cuộc đời của dân Do-thái trên đất ngoại bang, đến công việc của vua ngoại bang, đến các lời tiên tri về những đế quốc ngoại bang bắt đầu từ đoạn 2, câu 4, phần B. Cho đến đoạn 7, câu 28 thì viết bằng tiếng A-ram, là tiếng dùng trong thương mại và ngoại giao thời đó (tham khảo cùng một đặc điểm đó trong sách E-xơ-ra).
Các-vua có nói đến trong sách là: Nê-bu-cát-nết-sa (1:1; 2:1; 3:1), Bên-xát-sa, con trai của Nê-bu-cát-nết-sa (5:1, 2, 18, 22), Đa-ri-út người Mê-đi (5:31; 6:1; 9:1), và Si-ru, người Ba-tư (6:28).
Có thể chia sách Đa-ni-ên làm ba phần:
1. Tiểu dẫn.–Đa-ni-ên và ba đồng bạn được dự bị làm chức vụ (đoạn 1).
2. Tại triều ngoại bang.–Tại triều ngoại bang và trước mặt phần đông người ngoại bang, Đức Chúa Trời dùng bốn bạn thanh niên đó để làm chứng về Ngài là Đấng Toàn Năng, Toàn Tri, kiểm soát các thế lực trên thế giới trong sự phát triển của các thế lực ấy và sự tương quan của các thế lực ấy với nước của Chúa (đoạn 2 đến đoạn 7). Phần nầy viết bằng tiếng A-ram. Nó bao gồm giấc chiêm bao của Nê-bu-cát-nết-sa về pho tượng bằng bốn thứ kim khí bị phá tan (đoạn 2); ba người bạn của Đa-ni-ên bị mưu hại và được cứu khỏi lò lửa (đoạn 3); Nê-bu-cát-nết-sa chiêm bao thấy cây bị đốn (đoạn 4); chữ viết trên tường đương khi Bên-xát-sa dự tiệc (đoạn 5); Đa-ni-ên bị mưu hại và được cứu khỏi hang sư tử (đoạn 6); Đa-ni-ên được sự hiện thấy về bốn con thú (đoạn 7).
3. Các sự hiện thấy khác.–Các sự hiện thấy khác của Đa-ni-ên, mục đích là bày tỏ số phận của dân Đức Chúa Trời (đoạn 8 đến đoạn 12). Phần nầy có ba sự hiện thấy:
– Sự thôi dâng tế lễ, sự hủy diệt đền thánh, và sự chống nghịch Vua trên các vua (đoạn 8).
– Vì có gần 70 năm lưu đày nên Đa-ni-ên cầu nguyện, xưng tội của toàn quốc và xin Đức Chúa Trời tha thứ. Ông được thiên sứ Gáp-ri-ên mách bảo về 70 tuần lễ tiên tri (đoạn 9).
– Năm thứ ba đời trị vì của Si-ru – người sáng lập đế quốc Ba-tư, Đa-ni-ên được sự hiện thấy về sự suy sụp của đế quốc ấy, theo sau sẽ là sự bắt bớ dân Đức Chúa Trời, về sự giải cứu các thánh đồ trong ngày sau rốt và sự sống lại hưởng sự vinh hiển (đoạn 10 đến 12).
Nhiều nhà phê bình phủ nhận rằng không phải ông Đa-ni-ên đã chép sách nầy; họ quả quyết rằng sách được chép vào những năm 168 hoặc 167 T.C. cốt để nâng đỡ đức tin của dân Do-thái đương khi bị Antiochus Epiphane bắt bớ dữ tợn. Họ dựa vào bốn nguyên nhân sau đây:
– Khoảng 200 năm T.C., con trai của Sirach có kê khai các bậc vĩ nhân của dân Do-thái, nhưng không liệt tên Đa-ni-ên, mặc dầu đã liệt tên Ê-xê-chi-ên, Nê-hê-mi và các tiên tri nhỏ.
– Tác giả dùng tiếng Hy-lạp, đủ tỏ ra ông sống trong thời kỳ đế quốc Hy-lạp.
– Các biến động trong sách Đa-ni-ên không đúng với lịch sử, đủ tỏ ra rằng tác giả đã có mặt ở đời sau nên không mắt thấy tai nghe các biến động ấy.
– Các lời tiên tri chỉ nói tỉ mỉ cho tới sự chết của Antiochus Epiphane.
Tuy nhiên, những nguyên nhân ấy không được chấp nhận vì bốn lý do sau:
1. Đúng là con trai của Sirach đã quên viết tên Đa-ni-ên; nhưng ông cũng đã quên ghi tên nhiều bậc vĩ nhân khác, như E-xơ-ra, Ghê-đê-ôn, Sam-sôn, và Giô-sa-phát.
2. Tác giả chỉ dùng tiếng Hy-lạp ở 3:5 để chỉ tên các nhạc khí. Nhưng không thể dựa vào đó để quả quyết rằng sách Đa-ni-ên chẳng được chép tại Ba-by-lôn vào 530 năm T.C. Vì trong đời Đa-ni-ên, các nhạc khí ấy đã có dùng trong thung lũng các sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát rồi. Ai cũng biết rằng bấy giờ người ta dùng nhạc khí trong những cuộc khải hoàn và trong triều vua. Họ bắt bốn phu tù đánh nhạc khí riêng của nước mình (xem Thi 137:1-3).Trong thời kỳ ấy Các-vua ở dọc theo sông Ti-gơ-rơ và sông Ơ-phơ-rát thường giao chiến với các nước phương tây, cả đến Nê-bu-cát-nết-sa cũng giao chiến với các thành ở bờ Địa-trung-hải. Do đó, khi chiến thắng, Các-vua ấy chắc đem nhạc khí và nhạc công của nước Hy-lạp về nước mình. Điều đáng nói sau cùng là khúc sách có xen chữ Hy-lạp đó lại chép bằng tiếng A-ram, vì người A-ram khi ấy đã giao thiệp với phương tây từ lâu đời, và tiếng A-ram là tiếng ngoại giao quốc tế trong thời kỳ ấy (xem IICác 18:26), vì thế không tránh khỏi việc tiếng A-ram lẫn với nhiều tiếng ngoại quốc. Vậy, trong khi chép bằng tiếng A-ram mà tác giả sách Đa-ni-ên lấy tiếng Hy-lạp để chỉ tên các nhạc khí là điều dễ hiểu. 3. Các biến động trong sách Đa-ni-ên chỉ không đúng thời điểm với các bộ sử ký chép từ đời xưa. Nhưng từ khi nhà khảo cổ học cung cấp tài liệu cho nhà chép sử, thì không có gì là mâu thuẫn cả. Các bia ghi chữ cổ mà nhà khảo cổ học đào bới được là bằng chứng rõ ràng các biến động trong sách Đa-ni-ên thật khớp với lịch sử, và tác giả thật sống đồng thời với các biến động ấy.
4. Quả thật, các lời tiên tri chỉ nói tỉ mỉ cho tới sự chết của Antiochus Epiphane (đoạn 8). Nhưng các lời tiên tri ấy cũng bao trùm các thời kỳ sau Antiochus Epiphane. Nước thứ tư mô tả trong đoạn 2 và đoạn 7 chính là nước La-mã sáng lập sau đời Antiochus Epiphane.
Đấng Christ nhận rằng sách Đa-ni-ên là tác phẩm của ông tiên tri Đa-ni-ên (Mat 24:15). Sử gia Josèphe tin rằng các lời tiên tri trong sách Đa-ni-ên đã chép trước đời Alexandre đại đế (năm 330 T.C.).

Lên đầu trang