Công nghệ

Craftsmen and artisans.
Người Hê-bơ-rơ coi trọng công nghệ, chứ không như người Hy-lạp cho là việc của tôi tớ. Theo nguyên văn tiếng Hê-bơ-rơ, thì hai chữ “công nghệ” nghĩa là “cắt”, có nghiêng qua ý thuộc về vật liệu: người nào cắt vật gì tức là thợ làm vật ấy (IICác 24:14; Giê 10:3, 9; ISử 29:5). Kinh thánh đã đề cập đến những công nghệ sau:
I. Thợ mộc. (ISử 22:15; Mat 13:55; Mác 6:3) — Công nghệ Hê-bơ-rơ có nhiều đồ do thợ mộc chế ra. Đồ dùng của người Hê-bơ-rơ đại khái giống của người Ai-cập. Họ có hai thứ rìu: lớn và nhỏ. Lớn thì cán dài (Phục 19:5); nhỏ thì giống với rìu của Tàu. Búa phần nhiều làm bằng gỗ (Giê 10:4; Quan 4:21). Cưa trước làm bằng đồng, sau làm bằng sắt (Ês 10:15). Dùi thì dùng cái giây cong như hình cung, kéo cho xoay chuyển.
Cũng có thước để đo dài ngắn, có bút để kẻ, có chàng, đục để chạm trổ hoa văn, có khuôn mẫu để làm hình vuông, hình tròn (Ês 44:13).
II. Thợ vàng.–Những thứ quan trọng là vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì (Dân 31:22). Người Do-thái hay lấy đồng làm đồ dùng. Đến khoảng hơn 1000 năm T.C., họ mới biết chế đồ sắt, nhưng vẫn còn dùng cả sắt lẫn đồng; nên thợ đồng rất được coi trọng ở đời bấy giờ (Sáng 4:22; ICác 7:14; IITi 4:14). Các kỹ thuật của họ đều học theo người Phê-ni-xi (ICác 7:13, 14). Đến khi thợ sắt phát triển thì nghề làm đồng suy đồi (ISa 13:19; IISử 24:12). Đồ họ dùng là: búa, đe (Ês 41:7; 44:12), đót (Ês 6:6; ISa 13:21) và ống bễ (Giê 6:29). Những người thợ bị vua Ba-by-lôn bắt đi chắc là những người chuyên làm đồ binh khí (IICác 24:14; Giê 24:1). Các thợ vàng, bạc (Nê 3:32; Ês 40:19; 41:7; 46:6; Giê 10:9, 14; 51:17) có chế những đồ như sợi dây chuyền, tượng Chê-ru-bin, cái khoen, chơn đèn, cái khiên (Xuất 25:18; 28:14; 37:7, 14, 22; ICác 10:16, 17; IISử 9:15, 16), và những đồ bọc vàng (Xuất 25:11, 24; 26:29, 32; 30:3) cùng là những sợi vàng để xen trên áo thêu chỉ nhiều màu (Xuất 39:3).
III. Thợ đá.–Thợ đá ở Cựu Ước phần nhiều chỉ về những người đẽo đá trong núi rồi chở đến chỗ xây dựng (IISa 5:11; ICác 5:17; 6:7; IICác 12:12; ISử 22:15; 14:1). Di tích của thợ đá có chỗ đến ngày nay hãy còn. Ghi-bê-lít mà ICác 5:18 đã nói đến là một thành của Phê-ni-xi. Vì người Phê-ni-xi rất giỏi về nghề chạm trổ đá. Trước khi kiến trúc, họ vẽ một bản đồ, hoặc làm một kiểu mẫu (ISử 28:11). Họ lại lấy dây và cân để đo dài, ngắn (Êxê 40:3), dây chuẩn mực để định phương hướng (IICác 21:13; Am 7:7; Xa 4:10). Để đập đá thì dùng búa lớn (Giê 23:29), chạm trổ thì có dùi nhỏ. Rìu, búa là đồ dùng thường xuyên của thợ đá Do-thái (Lê 26:1; ICác 6:7).
IV. Thợ đất.– Để xây dựng nhà cửa người Do-thái hay dùng bùn, đất, gạch, ngói. Các vật liệu này do người ta tự làm lấy, chứ không phải do thợ chuyên môn làm ra (Xuất 1:14; Na 3:14; Sáng 26:15-22). Công việc xây tường, trét vách cũng vậy (Lê 14:42. Coi thêm Mat 23:27; Công 23:3). Coi thêm bài THỢ GỐM.
V. Thợ da.– (Công 9:43). Để thuộc da, người ta hay lấy da các súc vật ngâm nước cho tróc lông đã, rồi để vào trong nước vôi có pha các chất lấy ở cỏ đắng, v.v…. Người làm nghề nầy thường dính bẩn, nên bị người trong nước coi khinh. Theo luật Do-thái, thì những người làm nghề nhuộm và nghề thuộc da đều không được ở tại trong thành. Bằng chứng là người thợ thuộc da tên là Si-môn phải làm nhà ở tận ngoài bãi biển (Công 10:32). Thợ da Do-thái chẳng những thuộc da, lại còn dùng da chế cái khiên và cái áo giáp, v.v…. Còn như giày, dép, dây lưng và những đồ lặt vặt thì nhiều nhà tự làm lấy được.
VI. Thợ may, thợ dệt và thợ nhuộm.– Áo của người Do-thái phần nhiều là may ở nhà (ISa 2:19). Về sau mới có thợ chuyên môn may áo. Ngoài ra còn có thợ dệt, thợ thêu (Xuất 35:35; ISa 17:7; Châm 31:24). Coi thêm bài thợ dệt. Cũng có thợ nhuộm (Xuất 35:25 lấy chất hoa, cỏ và loài có mai, có vỏ như sò, trai, v.v…, làm thuốc nhuộm. Coi thêm bài thuốc nhuộm. Nghề phiếu vải của họ rất là khéo (Ês 7:3; Mal 3:2; Mác 9:3). Cách làm như vầy: đem vải ngâm trong nước có muối và bột phiếu, lấy chân đạp lên cho kỹ, rồi vớt ra, căng vải ra cho thẳng, rồi lấy các thuốc như lưu hoàng đem hun cho trắng, sau cùng lấy bàn ép nén lại. Bãi phiếu vải thường ở ngoài thành. IISa 17:17 có nói đến Ên-rô-ghên tức là cái suối phiếu vải. Coi thêm (Ês 7:3).
VII. Người bếp.– Chỉ những nhà giàu sang mới có người bếp. Theo nghĩa chữ Hê-bơ-rơ, thì người bếp chẳng những nấu nướng, lại còn kiêm cả việc làm thịt. Phần nhiều thịt mua ở chợ về (ICôr 10:25). Các loại bánh cũng vậy, đều mua ở chợOnspan>. Thành Giê-ru-sa-lem có một phố tên gọi phố Hàng Bánh (Giê 37:21). Trong thành cũng có người làm nghề bánh sữa.
VIII. Dân cày.– Nghĩa nầy bao gồm rất rộng: chẳng những cày ruộng, lại còn làm cả những việc chăn nuôi, trồng trọt nữa (Am 7:14).
IX. Thợ làm nghề vặt.– Những nghề như đánh cá (Giê 16:16; Êxê 47:10; Mat 4:18), may trại (Công 18:3), buôn bán (ICác 10:28; Mat 21:12), làm thuốc (IISử 16:12; Mác 5:26; Cô 4:14) và các nghề khác đều có nói đến ở sách nầy, tùy theo vần chữ của từng nghề.
X. Mối quan hệ trong các công nghệ của người Do-thái.– (1) Những người đồng nghiệp phải cùng ở một khu, vì thế người ta thường thường gọi tên phố theo nghề nghiệp của khu đó (Nê 11:35). Như trong xứ của một tác giả có nói phố thợ mộc, phố lông chiên, phố hàng áo, v.v…. (2) Các ngành công nghệ đều có hội (Nê 3:8). Người Do-thái nói con nhà nghề nào tức là chỉ về bạn trong hội nghề ấy (Coi thêm Nê 3:3; ISử 4:21-23). Sở dĩ gọi là con là vì mọi nghề thường thường là cha truyền con nối. Người thợ bạc làm khám nữ thần ở Ê-phê-sô cũng là ý đó (Công 19:25).

Lên đầu trang