Locusts. Sauterelle
Từ xưa, các nước châu Á đã có cào cào. Trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ có chép đến mười tên về những con cùng loài nầy. Chúa từng giáng tai vạ cào cào để răn dạy Pha-ra-ôn (Xuất 10:4-19). Ngài lại thường dùng bầy cào cào lớn để phạt những nước có tội (Phục 28:38-42; ICác 8:37; IISử 6:28; Quan 6:5; 7:12; Gióp 39:23; Giê 46:23; Dân 13:33). Tiên tri cũng hết sức nói về tai vạ cào cào ghê gớm (Giôên 1:4; 2:1-11).
Loài cào cào có những đặc điểm sau: có khi xuất hiện rất nhiều, bay thành từng đàn, đến nỗi che phủ mặt đất và mặt trời (Xuất 10:15; Quan 6:5; Giê 46:23); nó có hình giống con ngựa (Giôên 2:4, 5; Khải 9:7, 9); không có đầu đàn (Châm 30:27); ăn sạch hết (Xuất 10:12, 15; Giôên 1:4, 7); tiếng bay rất ồn ào (Giôên 2:5; Khải 9:9); không thể ngăn cản (Giôên 2:8, 9); vào nhà ăn gỗ (Xuất 10:6; Giôên 2:9, 10); không bay ban đêm (Mat 3:17); có một thứ chim ăn nó, gió đùa xuống biển, song phần nhiều đi mất, không biết ở đâu (Na 3:17; Xuất 10:19); xác chết nó hôi thối lắm (Giôên 2:20).
Châu chấu cũng thuộc về loài nầy, từ xưa đến nay có nhiều người ăn châu chấu (Lê 11:22; Mat 3:4).