Cain. Cain (Đã được, hay rèn sắt).
I. Ca-in và A-bên là hai con của A-đam và của Ê-va. Coi Sáng 4:1-17 chép về Ca-in, ta biết hồi đó đã có sự phân biệt nghề nông với nghề chăn nuôi (Sáng 4:2), và có sự báo thù (Sáng 4:14). Ca-in làm nghề canh nông biết dâng bông trái của đất để làm của lễ tạ ơn về thổ sản, song lòng ông xấu xa, không nghe lời khuyên để chống nghịch cùng tội lỗi; vì ghen ghét mà giết em, nên bị Chúa quở trách và đuổi đi. Qua truyện nầy ta thấy: (1) Chúa nhìn thấy tội lỗi, dầu không ai tố cáo; (2) Chúa xem huyết vô tội là quí báu, nên không cho ai đổ huyết ấy mà không bị hình phạt; (3) chẳng những Chúa chăm lo đến người tin kính trong lúc sống mà thôi, lại “lấy sự chết của người thánh là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Thi 116:15). Khi Ca-in sợ, Ngài bèn đánh dấu trên mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết (Sáng 4:14, 15). Ca-in ăn ở cùng vợ mình và sanh được Hê-nóc; ông xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc. Ca-in là người khai sáng văn minh đầu tiên về mọi phương diện như kiến trúc, mỹ thuật, công nghệ. Nhưng sau cơn nước lụt, nền văn minh đó bị phá hết sạch (coi Sáng 4:17, 20, 21, 22)
Tiến sĩ Scofield chú thích về Ca-in (Sáng 4:1) như sau: Ca-in (“được”) là hình bóng về người thuộc về thế gian. Tôn giáo mà ông theo, không cần phải nhận biết tội lỗi hoặc có cần chuộc tội hay không. Thứ tôn giáo ấy được tả vẽ trong IIPhi 2:1-. Có chép bảy điều về Ca-in: (1) Ông ỷ lại rằng mình thờ Chúa; (2) nổi giận cùng Chúa: (3) không chịu dâng của lễ chuộc tội; (4) giết em mình; (5) nói dối với Chúa; (6) thành một người lưu lạc; (7) nhưng, Chúa vẫn nhớ đến người.
Tiến sĩ Scofield cũng thêm (Giu 11): Ca-in là hình bóng về người theo đạo vẫn còn tánh xác thịt, tin Đức Chúa Trời, tin tôn giáo, song theo ý riêng mình, và chối bỏ lẽ đạo chuộc tội bởi huyết. Khi buộc phải giải nghĩa lẽ đạo ấy, người ấy khéo giải nghĩa, nhưng không đúng với lẽ đạo phải đổ huyết để chuộc tội (Hêb 9:22).
II. Ông tổ của chi phái Kê-nít (Dân 24:22; Quan 4:11).
III. Một làng trong miền núi xứ Do-thái (Giô 15:57).