Buôn bán

Buôn bán Merchants and traders.

Từ đời nọ qua đời kia, người Y-sơ-ra-ên làm nghề cày cấy và chăn chiên, chớ không quen việc buôn bán; vì thế Cựu Ước ít nói đến việc giao thông cửa biển, đổi chác và nộp thuế. Sau khi đã lập nước, dẫu đặt các chức thư ký trông coi về việc thuế để đánh thuế nặng thương gia các nước ICác 10:15; IISử 9:14), nhưng chỉ một mình nhà vua giữ quyền thông thương đi lại với các nước. Những hàng nhập cảng đều thuộc về một mình ông vua (ICác 10:28; 22:49; IISử 1:16), chớ ít nghe có việc buôn bán của cá nhơn với người ngoài. Sau khi từ Ba-by-lôn trở về nước cũ cho đến đời Tân Ước, người Y-sơ-ra-ên đều coi việc buôn bán là một nghề nghiệp ngang với canh nông.

I. Hàng hóa xuất cảng của Y-sơ-ra-ên.

Cựu Ước ít nói đến hàng hóa xuất cảng của dân nầy. Quá nửa sản vật là ra từ chăn nuôi và vườn tược, chỉ đem dầu vô Ai-cập (Ôs 12:2), đem cho ty-rơ rượu, cả dầu, lúa mì, bột mì, bánh ngọt, mật ong, nhũ hương và cây dẽ của Ba-san (Êxê 27:6, 17; IISử 2:10). Y-sơ-ra-ên có cát để chế thủy tinh; còn tùng hương, một dược, cừu, da, lông, trái cây và hương hoa, v.v. (Sáng 43:11), đều là những thổ sản đem chở ra ngoài. Còn hàng chế tạo thì có áo lót bán cho con buôn (Châm 31:24). Kinh Thánh từng nói dân Do-thái chuyên về nghề dệt vải gai mịn (ISử 4:21), làm đồ gốm và chế những đồ vật bằng đồng đỏ, vàng ròng, gỗ hoặc đá. Vì tiêu thụ rất mạnh, nên nghề nghiệp họ được phát đạt. Còn có xuất cảng hay không thì chưa có chứng cớ chắc chắn.

II. Hàng nhập cảng của Y-sơ-ra-ên.

Cựu Ước nói rất nhiều đến hàng ngoại quốc nhập cảng vào Y-sơ-ra-ên, quá nửa là xa xỉ phẩm. Thứ cần nhất là áo xống và đồ dệt. Châm 7:6 nói về cái mền thêu chỉ đủ sắc, tức là thứ hàng từ Ai-cập đem vào. Khi nước Y-sơ-ra-ên còn có vua, thường nhập ngà voi và bửu thạch từ Ê-thi-ô-bi qua Ai-cập và A-rạp. Trong đời Sa-lô-môn có các hàng hóa ban đầu từ ngoại quốc đem vào Y-sơ-ra-ên; người ta tính được con số hàng nhập của Y-sơ-ra-ên là một trăm mười tám thứ, nếu viết ra giấy thì trong đó phần nhiều là đồ ăn thức mặc và đồ dùng trong nhà. Nhưng người Y-sơ-ra-ên, trước khi đi đến Ba-by-lôn thì ngày thường không cần nhập đồ ăn, trừ khi đói kém. Nếu họ xây dựng thành, hoặc chế tạo những hàng bình thường, phải nhập nguyên liệu nhiều như sắt và gỗ, v.v.., vì trong nước không có sắt, mà gỗ lại càng hiếm. Những đồ quí trong nhà có khi cũng nhập ở nước ngoài cả. Họ còn nhập từ Ai-cập giống ngựa tốt (ICác 10:28; IISử 1:16).

III. Người Y-sơ-ra-ên làm nghề buôn bán.

Các danh từ mà Cựu Ước dùng để nói về người buôn bán, chính là chỉ về những người buôn bán rong trong chợ (ICác 10:15). Còn việc mở những tiệm để bán hàng thì trước khi người Y-sơ-ra-ên đi đến Ba-by-lôn, Cựu Ước ít nói đến. Trong đời Nê-hê-mi, có vài hạng người buôn bán ở tại thành Giê-ru-sa-lem, tức là thợ vàng và lái buôn cá (Nê 3:32; 13:16). Những đồ ăn và hàng hóa thường dùng hằng ngày phần lớn là đồ người ngoài đem vào bán ở chợ (Nê 10:31; 13:20). Kinh thánh ghi lại lời các tiên tri quở trách nhân dân ưa chuộng xa xỉ, nhưng chưa thấy nói đến việc mở tiệm, chứng tỏ hồi đó dân Y-sơ-ra-ên còn chưa có tiệm buôn (Ês 3:18-24). Điều này cho ta thấy rằng, trước khi đến Ba-by-lôn, có lẽ quá nửa việc buôn bán của người Y-sơ-ra-ên là của lái buôn ngoại quốc. Từ sau khi từ Ba-by-lôn về, hoặc giả có người thông thương đổi chác hàng hóa với người ngoài, thì theo ICác 20:34 chép, vua nước Y-sơ-ra-ên có quyền lập chợ phố ở các đô thành nước khác. Các thể lệ để lập giao ước thông thương ở đời Cựu Ước rất giống với cách lập giao ước thương mại ngày nay.

IV. Trong văn Kinh Thánh Cựu Ước, chỗ quan trọng để bàn về việc buôn bán là bài ca thương mà Ê-xê-chi-ên làm về Ty-rơ (Êxê 27:1-), trong đó liệt kê những hàng hóa cần thiết của thành Ty-rơ và nguồn gốc nhập từ nước nào. Dường như bài này trích từ trong cuốn “Ty-rơ thành chí”. Ở Ês 23:1- nói Ty-rơ là một thương phụ rất lớn ở đời đó, nó đứng đầu về việc trao đổi và vận tải hàng hóa.

V. Việc lưu thông tiền bạc của Y-sơ-ra-ên.

Trong đời Sa-lô-môn, dầu có nhiều vàng đem vào nước, song chưa thấy nói đến việc lấy vàng đúc thành tiền. Nếu nói đến tiền thì đều gọi là bạc. Buôn bán đổi chác đều tính theo siếc-lơ (Sáng 23:16; ICác 10:29). Song những bạc dùng đó phần nhiều cũng từ nước khác đem đến (ICác 10:22). Bấy giờ dùng bạc để mua bán nên không biết số bạc sử dụng là bao nhiêu. Song có thể đoán rằng quá nửa số bạc lưu thông trong nước là do nước ngoài đem vào, nhưng cũng chưa có bằng chứng về điều này. Ở Mat 25:27 là chỉ về công việc của ngân hàng: giữ bạc của người ta, rồi đến hạn thì trả lại. Mat 21:12 nói “Người đổi bạc”, tức là nhà buôn nhỏ ngày nay làm nghề đổi bạc.

VI. Người Y-sơ-ra-ên lần lần quay qua nghề buôn.

Trong khi thành Giê-ru-sa-lem bị mất, có lẽ đa số người Y-sơ-ra-ên vẫn làm nghề canh nông. Về sau, vì liên tục phải làm phu tù cho nước địch, họ không được ở luôn một chỗ, phần nhiều xoay qua nghề buôn, kiếm mối lợi từ các xứ. Hồi vua A-léc-xan-đơ đang cường thịnh, trong các thành lớn ở Hy-lạp có đặt riêng khu vực cho người Do-thái tụ họp làm ăn. Đến sau, khi La-mã hưng thịnh, người Do-thái được di dân ở xứ rất xa về phương tây.

Lên đầu trang