Bonhoeffer, Dietrich

BONHOEFFER, DIETRICH

(1906-1945)

Do tích cực hoạt động trong phong trào chống đối sự thù địch của chế độ Hitler, một phẩm chức của Giáo hội Luther ở Đức là ông Dietrich Bonhoeffer đã bị bắt năm 1945 và bị bọn đồ tể Nazis treo cổ ở Flossenburg trong tháng 9 năm 1945. Bonhoeffer xuất thân là con trai của một giáo sư tâm bệnh học. Ông Bonhoeffer khởi đầu học Thần học tại Tubingen, thành phố Berlin, và rồi sang học ở Chủng viện Thần học Union ở thành phố NewYork, Hoa Kỳ. Khi Hitler lên cầm quyền năm 1933 thì Bonhoeffer với tư cách làm tuyên úy của sinh viên và giáo sư văn chương tại đại học Berlin. Ông cũng tham gia trong tổ chức các Mục sư chống lại chế độ Đức Quốc xã Đức nằm trong “Giáo hội tranh đấu ở Đức. Năm 1835 ông được giao phó cho nhiệm vụ lãnh đạo Chủng viện Finkenwalde Confessing Church mà chủng viện này đã bị nhà nước đóng cửa năm 1937.

Năm 1939, Bonhoeffer đã rút lui về chức vụ rất hợp khả năng mình tại Hoa Kỳ, để tránh khỏi sự rắc rối của cuộc chiến tranh ở Châu Âu. Ông đã chịu thuyết phục rằng mình có thể đối phó với những khó khăn trước mắt cùng với các cộng đồng Cơ Đốc ở nước Đức. Trong thế chiến thứ II Bonhoeffer bị buộc cấm giảng dạy và xuất bản sách. Ông đã phục vụ đại diện cho hai chức vụ trong giới học thức và quân đội ông thường có những cuộc tiếp xúc với toàn thể các cộng đồng giáo dân cách rộng rãi, đặc biệt là tình thân hữu giữa ông với Giám mục George Bell ở Chichester, nước Anh. Bonhoeffer thật ra đã chẳng tìm được sự trợ lực nào của chính phủ Anh cho những ai âm mưu chống lại Hitler. Ông bị bắt năm 1943 vì tội có liên quan đến việc mang lén 14 người Y-sơ-ra-ên trốn sang Thụy sĩ.

Dầu cuộc đời ông khá ngắn ngủi cho đến khi ông bị ám hại chỉ mới 39 tuổi, song Bonhoeffer đã để lại những di cảo khá phong phú, như “Sanctorum Communio, “Act and being”, “the Cost of Disciplesship and life together” cùng những bức thư, những trang thảo và những ký chú đã được một bạn thân và người viết tiểu sử ông là Ebehard Bethge xuất bản sau khi ông qua đời. Những tác phẩm đó bao gồm những bức thư và những trang viết từ lao tù, hoặc là những tác phẩm luân lý được kết hợp thành một bộ 6 quyển.

Là một tư tưởng gia tiềm tàng sức sáng tạo, người đã từ khước không chịu thối lui khỏi những thực tại phũ phàng ngay trong thời đại của ông. Bonhoeffer đã thách thức mỗi Cơ Đốc nhân đừng bao giờ chấp nhận một đời sống và đức tin vô kỷ luật. Những sách vở của ông viết hầu hết đều tập chú vào Giê-xu Christ “Người đã sống vì những người khác” và trên bản chất tốt đẹp của cộng đồng Cơ Đốc. Trong các thư viết ở nhà tù chiếm đa số sự nghiệp biên chép của ông. Bonhoeffer đã khám phá ra những đường hướng của sự phục hưng Hội Thánh trong tương lai. Qua việc phơi bày mặt tiêu cực của tôn giáo có tính cách học viện. Bonhoeffer đã hô hào, cổ vũ cho một loại đức tin chín mùi trong Chúa, vì sự yếu đuối của Cơ Đốc nhân và sự chịu khổ của Hội Thánh Chúa trong một thời kỳ đen tối sắp đến của thế giới.

Điều mà Bonhoeffer đã suy nghĩ, ưu tư, chẳng hạn đã nêu lên đến tuyệt điểm bởi việc ông chấp nhận những lỗi lầm và những trách vụ của sự tham gia việc lật đổ chế độ chính trị tàn ác độc tài, ông tiếp tục tạo ảnh hưởng cả trên chủ trương bảo thủ lẫn những người theo giáo phái Cải chánh tự do, Công giáo La mã, cho đến lâu dài về sau. Đặc biệt là trong thế giới nói tiếng Anh và hơn nữa gần đây trong thế giới thứ ba. Những tư tưởng của ông đã làm phát sinh những làn sóng được soi sáng và khá hiệu quả, kể cả chế độ cộng đồng về nền “Thần học Thiên Chúa chết cứng” hay “Thần học giải phóng” những giải minh theo chủ thuyết cực đoan độc tài, và một Hội Thánh phải chối từ đặc quyền có tính cách toàn cầu. Việc Cơ Đốc giáo chống chiến tranh và phản kháng những chế độ hà khắc, áp bức cũng như những cống hiến mang tính truyền thống đối với việc “Môn đệ hóa” chủ nghĩa anh hùng và tinh thần tuẩn đạo kiên cường của Cơ Đốc nhân.

Lên đầu trang