Bố thí

Bố thí Alms, charity. Aumône.

Có ba chỗ Cứu Chúa nói về sự bố thí: Mat 6:1-4; Lu 11:41; 12:33. Chúa cũng khen Xa-chê khi ông cứu giúp kẻ nghèo (Lu 19:9), khen người đàn bà góa nghèo bỏ tiền vào rương (Mác 12:43), khen Ma-ri khi bà lấy dầu thơm xức chân Ngài (Giăng 12:3, 7, 8; Mác 14:7, 8). Vả, chính Đấng Christ và các Sứ đồ cũng bố thí (Giăng 12:6; 13:29): các phép lạ Ngài làm cũng thuộc về việc bố thí (Giăng 2:1-11; 10:32; Mat 14:16; 15:32; Mác 6:37; 8:3; Lu 9:13). Ngài thường dạy rằng:”Các ngươi đã được lãnh không, thì hãy cho không” (Mat 10:8). Ngài phán cùng người trẻ tuổi giàu có: “Hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn” (Mat 19:21; Mác 10:21; Lu 18:22). Đối với kẻ thù nghịch cũng nên cứu giúp (Mat 5:42-45; Lu 6:33-36; 10:37). Chúa nói: “Hãy dùng của bất nghĩa mà kết bạn” (Lu 16:9). Và: “Khi ngươi đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó…” (Lu 14:13). Sự ích lợi của việc bố thí là: Ai đem một chén nước lạnh cho một người trong bọn nhỏ nầy, chắc cũng được thưởng (Mat 10:42). Vì ai bố thí cho một người rất nhỏ mọn trong anh em của Chúa tức là đã làm cho Chúa (Mat 25:40). Chúa phán: “Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh” (Công 20:35; Lu 14:12). Nhưng theo thí dụ về người làm công trong vườn nho (Mat 20:1-16), thì người ta nên có tinh thần chịu khó làm việc, chớ đừng chực của bố thí của kẻ khác, Phao-lô cũng nói giống ý đó trong IITê 3:10. Tóm lại, hết thảy sự bố thí của chúng ta nên căn cứ trong Mat 22:37-40, tức là yêu Đức Chúa Trời, rồi đến yêu người như mình. Đó là hai điều quan trọng hơn hết.

Tiến sĩ Fausset viết về sự bố thí rằng: Trong Cựu Ước người nghèo có quyền thâu những mùa màng còn sót lúc gặt mùa hái nho và ô-li-ve (Lê 19:9, 10; 23:22; Phục 15:11; 24:19; 26:2-13), và cách mỗi ba năm, thì một phần mười hoa lợi phải thuộc về người Lê-vi, kẻ khách lạ, con mồ côi, và bà góa (Gióp 31:17; 29:16; Nê 8:10; Châm 10:2; 11:4; Êxơ 9:22; Thi 41:1; 112:9). Sự ăn xin giữa dân Y-sơ-ra-ên chỉ thành ra một thói quen sau khi họ bị đày về. Trong sân giành riêng cho người nữ tại đền thờ Giê-ru-sa-lem có 13 cái rương đựng tiền dâng, và trong mỗi thành cử ra ba người đi thâu tiền để dùng cho hai mục đích: (1) Tiền quỹ trong rương mỗi ngày Sa-bát tại nhà hội là để bố thí cho dân nghèo trong thành, gọi là “Bố thí của rương”. (2) Tiền quỹ trong một cái chậu để mua lương thực, gọi là “bố thí của chậu”.

Người Pha-ri-si hay bố thí nhiều, song làm một cách tỏ tường để người ta tôn kính mình (Mat 6:1-3). Bố thí là bổn phận rất lớn (Lu 14:13; Rô 15:25-27; Ga 2:10), nên làm mỗi ngày Chúa nhựt tùy sức mình (ICôr 16:1-4; Công 11:29, 30; 20:35). Giá cao quí của việc bố thí trước mặt Chúa không phải ở chỗ nhiều hay ít, nhưng ở nơi lòng yêu thương, sự hy sinh và sức mình (Mác 12:42-44). Sự bố thí như vậy “lên thấu Đức Chúa Trời và Ngài ghi nhớ lấy” (Công 9:36; 10:2, 4). Bố thí là việc tình nguyện, chứ không phải vì ép buộc (Công 5:4). Không nên bố thí cho người biếng nhác không chịu làm việc, song bố thí cho người có cần đến (Công 2:45; IITê 3:10). Dường như Hội Thánh đầu tiên có lập hội đàn bà góa để làm phước (ITi 5:9, 10). Lý do thứ nhứt phong chức chấp sự là để lo việc bố thí (Công 6:1-6). Đô-ca và Cọt-nây hay bố thí (Công 9:36; 10:2). Chúa cho sự bố thí như vậy còn quí hơn sự kiêng ăn (Ês 58:6, 7). Chúa bảo tín đồ phải chịu khó để có thể cứu giúp người thiếu thốn (Êph 4:28). Dầu bố thí là việc nghĩa (xem Đa-ni-ên 4:27 — “Hãy lấy sự công bình — nguyên văn là bố thí — mà chuộc tội lỗi”), nhưng không thể khiến người ta được xưng công bình (Rô 3:1-; 4:1-; 5:1-).

Lên đầu trang