Biển Sea. Mer.
I. Theo Kinh-thánh biển là chỗ nước đổ vào và đọng lại (Sáng 1:10; Thi 8:8; Khải 7:1-3; 21:1). Chữ Hán dịch biển lớn là dương (Océan), ví dụ như Thái bình dương (Océan Pacifique), v.v.. Biển nhỏ chữ Hán dịch là Hải (Mer), ví dụ như biển Chết, v.v., ở đây nước tụ lại trong phạm vi nhỏ hẹp, xung quanh có bờ đất, bờ đất này có những chỗ đứt quãng từng khúc, là nơi nước thông ra biển lớn. Những hồ lớn hay ngã ba sông to cũng gọi là biển II. Biển trong Kinh Thánh phần nhiều nói về Địa-trung-hải (như Dân 33:8). Có người cho rằng biển Tây tức là Địa trung hải (Phục 34:2). Cũng có chỗ kêu là biển lớn (Dân 34:6, 11, 12). Ngoài ra, còn có biển Đỏ (Giô 24:6), biển Ga-li-lê (Giăng 6:1), biển đồng bằng tức là biển Chết (IICác 14:25), biển Phi-li-tin (Xuất 23:31). Dân Do-thái không có nhiều theo nghề hàng hải. Họ cho biển là hiểm trở; cho nên Đa-ni-ên trong sự hiện thấy, nói có con thú ra từ biển (Đa-ni-ên 7:3). Giăng được soi sáng nơi có con thú từ biển lên (Khải 13:1), và nói khi trời đất đổi mới thì không có biển nữa. Coi thêm (Sáng 49:13; Công 10:6; Mat 4:18; Giê 51:36, 42).
III. Trong thơ văn, đôi lúc người ta dùng danh từ “biển” để chỉ các dòng sông: Sông Ni-lơ (Ês 18:2; 19:5) và sông Ơ-phơ-rát (Ês 21:1). IV. Một thứ chậu lớn trong đền thờ Sa-lô-môn. Biển nầy để thầy tế lễ rửa chơn tay trước khi làm chức vụ ở trong nơi thánh hoặc ở trước bàn thờ (ICác 7:39; ISử 18:8).
Chúng ta biết ngày nay có chỗ biển sâu tới hơn mười cây số, như Thái bình dương. Chúa phán bởi tiên tri Mi 7:19 — “Ngài ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển”. Tín đồ nên cảm tạ ơn Chúa vì lòng thương xót của Ngài vô hạn, lời hứa của Ngài chắc chắn, nên tội lỗi của tín đồ được tha hết, không còn một mảy nào, miễn là nhờ huyết báu Chúa rửa sạch cho.
Tiến sĩ Scofield chú thích về biển trong Đa-ni-ên 7:2 rằng: Theo những hình bóng Kinh Thánh, “biển” hay chỉ về các dân thế gian, tức mọi sự hỗn loạn của loài người (Thi 46:1, 2; Mat 13:47; Khải 13:1).