Bị bỏ

Bị bỏ Rejected. Réprouvé.

Trong Cựu Ước có chỗ chép về bị bỏ, như Giê 6:30 chép là:”bạc bỏ”; tiên tri đem thứ bạc vô dụng ví với kẻ cứng cỏi không tin theo, cuối cùng tất bị bỏ. Trong Ôs 4:6, Chúa bỏ vì không vâng lời; trong Giê 7:29; 14:19 thì Chúa bỏ vì làm điều ác; trong Hêb 6:8 Chúa bỏ vì kết quả xấu. Trong IICôr 13:5, 6, 7, Phao-lô chép ba lần chữ “bị bỏ”. Đó là so sánh người được cứu trái với người bị bỏ (coi thêm IITi 3:8; Tít 1:16). Những người đã được nhuần thấm ơn Chúa mà lại bội đạo, thì giống như đất bùn dầu được hưởng mưa móc, cũng chỉ mọc gai gốc, chẳng hóa ra một vật đáng bỏ sao?

Tiến sĩ Scofield viết về ICôr 9:27 rằng: Nguyên văn hai chữ “bị bỏ” ấy là adokimos, tiếng Hy-lạp, nghĩa là “không được ưng chịu”. “Dokimos” bỏ “a” (nghĩa là không), trong Rô 14:18, dịch là “được khen”; 16:10 dịch là: “được tiếp nạp”; IICôr 11:19 dịch là: “được nhận biết”; IICôr 10:18 dịch là: “được ưng chịu”; và IITi 2:15 dịch là:”được đẹp lòng”; và trong Gia 1:12 dịch là: “Sự thử thách”. Vậy, khi thêm “a” thì tiếng Hy-lạp adokimos ấy trở thành nghĩa là “không được ưng chịu”. Hãy nhớ ở đây Phao-lô chép về sự hầu việc, chớ không phải về sự cứu rỗi. Phao-lô không có ý nói mình sợ mất sự cứu rỗi, song sợ không được ưng chịu mà mất mão triều thiên. Hãy xem bài PHẦN THƯỞNG (Đa-ni-ên 12:3; ICôr 3:14).

Lên đầu trang