Áp-ra-ham

Áp-ra-ham Abraham. Abraham (Người cha của nhiều dân tộc).

Ông cũng được gọi là cha của “những kẻ có đức tin” (Ga 3:7, 9), và là “bạn Đức Chúa Trời” (Gia 2:23). Tên của ông trước khi chịu phép cắt bì là Áp-ram, nghĩa là “cha được nổi danh”. Phép cắt bì là dấu chỉ về giao ước của Chúa lập với Áp-ram (Sáng 17:4, 5).

Áp-ram là con của Tha-rê, Tha-rê là cha của Áp-ram, Na-cô và Ha-ran, là tổ phụ của dân Hê-bơ-rơ, A-rạp, Ê-đôm và nhiều chi tộc khác; ông là cháu chín đời của Sem, và dòng Hê-be. Ha-ran chết trước Tha-rê, bỏ lại Lót và hai con gái, là Minh-ca và Dích-ca. Na-cô cưới cháu, là Minh-ca, làm vợ; còn Áp-ram cưới Sa-rai, và nhận là “em cùng cha khác mẹ với mình” (Sáng 20:12). Theo lời truyền khẩu của dân Do-thái, thì Sa-rai chính là Dích-ca, con của Ha-ran, cháu gọi Áp-ram bằng chú ruột.

Quê hương.– Quê hương của Áp-ram là U-rơ, kinh đô thứ nhứt của nước Canh-đê thời cổ… Lúc đó U-rơ đổi tên là Mugheir; các bia đá tìm được ở thành nầy chắc ở vào khoảng thế kỷ thứ 22 T.C. Nhờ vào các bia đá này, người ta biết vần chữ Hê-bơ-rơ là dựa tiếng Phê-ni-xi; có lẽ Áp-ram đã đem chữ Hê-bơ-rơ vào đất Ca-na-an, tại đó chữ ấy bị thay đổi.

Nghe tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi (Công 7:2, 3), Áp-ram bèn từ giã thành U-rơ, thuộc nước Canh-đê. Tha-rê qua đời tại Cha-ran. Sáng 11:26 chép rằng Tha-rê được 70 tuổi thì sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; có lẽ điều này nói về thời điểm khi Tha-rê sanh con trưởng nam là Ha-ran. Ta biết rằng Ha-ran là con đầu lòng vì thấy Áp-ram và Na-cô cưới con gái của Ha-ran, vả lại, Sa-rai kém Áp-ram có mười tuổi thôi (Sáng 17:17); Áp-ram là em út và sanh ra khi Tha-rê được 130 tuổi.

Áp-ram được kêu gọi.– Đức Chúa Trời hai lần kêu gọi Áp-ram lìa bỏ quê hương và đồng bào (so sánh Sáng 11:31 với Sáng 12:4 và Công 7:3, 4). Khi ông chưa đến ở tại Cha-ran mà đang ở Mê-sô-bô-ta-mi, Đức-Chúa-Trời vinh hiển đã hiện ra cùng tổ phụ chúng ta mà phán rằng: “Hãy ra khỏi quê hương và bà con ngươi, mà đi đến (một) xứ Ta sẽ chỉ cho” (Công 7:3, 4). Lúc đó Áp-ram 60 tuổi. Đọc câu ấy, ta thấy Chúa chưa cho ông biết là xứ nào. Đó là lần thứ nhứt Chúa kêu gọi Áp-ram. Trong xứ Cha-ran, lúc Áp-ram 75 tuổi, Chúa lại kêu gọi ông: “Ngươi hãy ra khỏi… nhà cha ngươi, mà đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho” (Sáng 12:1). Ấy là lần thứ hai. Chúa vẫn chưa cho biết là xứ nào. Lần thứ hai nầy Chúa cũng phán hứa về phần vật chất. “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi” — và về phần thuộc linh. “Ngươi sẽ thành một nguồn phước…, và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”.

Dù có nạn lụt, có sự khải thị cho Nô-ê và có sự tản lạc vì tháp Ba-bên, nhưng vẫn không thể ngăn cản loài người khuynh hướng về sự bội đạo và thờ hình tượng, xóa bỏ hết dấu tích của lòng tin kính ban đầu. Vì thế nên Đức Chúa Trời “chế một vị thuốc giải độc” bằng cách biệt riêng một nhà, một nước làm nơi chứa Chơn lý của Ngài, chờ khi đến kỳ hạn, sẽ đem bày tỏ cho cả thế giới biết. Theo Giô 24:2, 14, 15 thì Tha-rê và gia quyến ông đã thờ lạy những thần khác ở bên kia sông Ơ-phơ-rát. Có truyện truyền khẩu hoang đường rằng Tha-rê chuyên nghề nặn hình tượng và Áp-ram bị Nim-rốt quăng vào lò lửa hực vì không tin hình tượng; nhưng vì do người ta dựa vào khúc Kinh thánh này và do dựa vào tên thành U-rơ, có nghĩa là “lửa”. Ở Cha-ran 15 năm rồi, bấy giờ cha đã qua đời, đạo làm con đã giữ vẹn, Áp-ram bèn nghe tiếng Chúa kêu gọi phải lìa nhà cha, tức là nhà của Na-cô, anh mình, tại Cha-ran.

Đức Chúa Trời kêu gọi riêng Áp-ram. Ông chẳng những phải phân rẽ với nước mình, nhưng cũng với gia quyến mình nữa. Lót, là cháu, theo ông, chắc là được coi như kẻ kế tự, vì Chúa chỉ lần lần phán hứa ban dòng dõi cho ông và nhứt định số phận rõ rệt của ông (Hêb 11:8).

Đến Ca-na-an.– Nicolaus, người thành Đa-mách, cho rằng Áp-ram đã chiếm thành Đa-mách đương khi đi đường đến xứ Ca-na-an. Kinh Thánh chỉ chép rằng kẻ quản gia của Áp-ram là “Ê-li-ê-se, người Đa-mách” (Sáng 15:2). Về sau Áp-ram có đánh đuổi Kết-rô-lao-me đến tận Hô-ba, ở phía bên trái thành Đa-mách (Sáng 14:15).

Áp-ram vào đất Ca-na-an, dọc theo trũng của rạch Gia-bốc, và trước tiên đóng trại tại Si-chem trong trũng Mô-rê phì nhiêu, giữa núi Ê-banh và núi Ga-ri-xim. Tại đó ông được Đức Chúa Trời phán hứa chắc chắn và chỉ đích danh “đất nầy” là “xứ” gồm trong lời hứa đầu tiên (Sáng 12:7). Ở đây Áp-ram lập một bàn thờ thứ nhứt để thờ lạy Đức Chúa Trời (Sáng 12:7).

Về sau, vì dân Ca-na-an hiềm khích, Áp-ram phải dời qua miền núi ở giữa Bê-tên và A-hi; tại đó ông cũng lập một bàn thờ để thờ lạy Đức Giê-hô-va, — sự thờ lạy ấy thế gian mau quên quá.

Xuống Ai-cập.– Nạn đói kém kéo Áp-ram xuống xứ Ai-cập, bấy giờ là kho thóc của thế giới. Câu chuyện chép ông hèn nhát vì không tin và nói dối úp mở về Sa-rai (cũng xem mục: A-BI-MÊ-LÉC) là một bằng cớ rõ rệt tỏ ra Kinh Thánh là chân thật; không che đậy lầm lỗi củacác nhân vật, và chép rõ ràng về sự sa ngã của mỗi thánh đồ, để thấy họ thiếu cái ân tứ chính lúc đó cần hơn hết (ví dụ như Áp-ram thiếu sự thật thà, Môi-se thiếu sự nhu mì, Ê-li thiếu sự bền đỗ, v.v.). Và Áp-ra-ham được phép vào Ai-cập dễ dàng hơn, có lẽ vì lúc bấy giờ triều đại Hykses (chung huyết thống với dân Hê-bơ-rơ) hoặc gọi là “dòng vua chăn chiên”, đương trị vì tại Memphis mà Kinh Thánh gọi là Nốp (Êxê 30:13, 16; Giê 2:16; 46:14, 19).

Về Ca-na-an.– Từ xứ Ai-cập trở về Bê-tên, Áp-ram trước hết đến thăm bàn thờ ông đã lập để thờ lạy Đức Giê-hô-va trước khi sa ngã (xem Sáng 13:4; Ôs 2:7 và Khải 2:5). Áp-ram và Lót có rất nhiều chiên, không ở chung được nữa mà phải ở riêng. Đức Chúa Trời hứa ban cho Áp-ram một con kế tự thế chân Lót, khiến cho Lót phải tìm chỗ định cư trong miền Sô-đôm, khỏi phải “vừa đi vừa đóng trại” với Áp-ram nữa. Còn “Áp-ram dời trại mình đến lùm cây dẻ bộp tại Mam-rê, thuộc về Hếp-rôn, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va” (Sáng 13:18). Đó là điểm khác nhau giữa tín đồ yêu thế gian con cái thật của Đức Chúa Trời (Hêb 11:9, 10, 13-16; 13:13, 14).

Giải cứu Lót.– Mười bốn năm trước, Kết-rô-lao-me, hoàng đế thống trị ở Ê-lam (miền đất ở phía nam xứ A-sy-ri, phía đông nước Ba-tư) cùng với Am-ram vua Si-nê-a (Ba-by-lôn), A-ri-óc, vua Ê-la-sa (miền Larissa của nước Canh-đê, ở giữa U-rơ và E-rech, thuộc về hạ du nước Ba-by-lôn) và Ti-đanh, vua Gô-im (nghĩa là “các dân tộc”), tranh chiến cùng Bê-ra, vua Sô-đôm, Bi-rê-sa, vua Gô-mô-rơ, Si-nê-áp, vua Át-ma, Sê-mê-bê, vua Xê-bô-im, và vua Bê-la, tức là Xoa. Nguyên nhân vì sau mười hai năm phục tùng, các vua kia chống lại Kết-rô-lao-me (Sáng 14:4). Ba-by-lôn là một nước hùng cường, các nhà khảo cổ mới tìm và đọc được mấy bia đá khắc bằng chữ A-sy-ri rằng một vua nước Ê-lam, tên là Kudur Nakhunta, đã chiếm Ba-by-lôn vào năm 2296 T.C.. Những bia đá ấy cũng ghi tên Kudar là “kẻ phá hại” xứ Sy-ri. Như vậy, truyện trong Kinh Thánh chép về Kết-rô-lao-me (do chữ Lagamar, tên một nữ thần trong tiếng Sémitique, là một với danh hiệu Mabuk trong tiếng Hamitique) đúng với các bia đá gọi vua ấy là “kẻ phá hại Tây phương”, chớ không gọi là “kẻ chiến thắng”.

Khi Áp-ram nghe tin cháu, là Lót, ở Sô-đôm bị bắt đi (Sáng 14:13), ông cùng với 318 gia nhân, thêm ba viên tướng A-mô-rít giúp sức, tên là Mam-rê, Ếch-côn và A-se, đuổi theo toán quân đắc thắng đến tận đất Đan, gần nguồn sông Giô-đanh. Ông từ bốn phía, đang đêm xông đánh quân địch, thắng họ, giải cứu Lót cùng mọi người và lấy lại được của cải đã bị cướp mất. Áp-ram đã tỏ lòng thanh liêm và độ lượng vì không theo thói thường mà thâu nhận hết của cải, để Vua Sô-đôm không có cớ mà nói rằng: “Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có” (Sáng 14:23; cũng tham khảo Exơ 9:15, 16; IICác 5:16; so sánh Lót với Áp-ram Sáng 13:10, 11).

Mên-chi-xê-đéc, vừa là một ông vua nhỏ thờ lạy Đức Chúa Trời chân thật, vừa làm thầy tế lễ, đã “nguyện Đức Chúa Trời chí cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram” (Sáng 14:19).Vì thế, Áp-ram lấy một phần mười về của giặc mà dâng cho Mên-chi-xê-đéc (Sáng 14:20).

Sau khi Áp-ram không chịu nhận phần thưởng của đời nầy, Đức Chúa Trời liền phán cùng ông trong sự hiện thấy rằng: “Ta đây… phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn (Sáng 15:1). Bấy giờ lời hứa lại rõ rệt hơn: Ê-li-ê-se “chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là người kế nghiệp ngươi… Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy” (Sáng 15:4, 5). Đức tin của ông phải lập trên lời phán của Đức Chúa Trời mà thôi, vì đó là một điều quá lẽ tự nhiên. Vậy “Ngài kể sự đó là công bình cho người” (Sáng 15:6; Rô 4:3; Ga 3:6; Gia 2:23).

Lập giao ước.– Từ ngày ấy, Áp-ram nhờ giao ước mà giao thông trực tiếp với Đức Chúa Trời; dấu chắc chắn của giao ước ấy là một ngọn lửa cháy rực (Ês 62:1), — “một ngọn lửa lòe ngang qua các xác thịt đã mổ” — của một con bò cái, một con dê cái, một con chiên đực, một con cu rừng, một con bồ câu con (Sáng 15:17, 19). Chúa cũng tỏ ra rằng dòng dõi của Áp-ram sẽ bị cực khổ ở đất ngoại bang trong 400 năm, rồi sẽ ra khỏi và chiếm xứ Ca-na-an khi tội ác của dân A-mô-rít đã đầy. Cơ nghiệp ông trên thế gian nầy sẽ gồm cả miền đất “từ sông Ai-cập (Nil) cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát” (Sáng 15:18). Lời hứa nầy chỉ được ứng nghiệm một phần dưới đời trị vì của vua Đa-vít và Sa-lô-môn (IISa-mu-ên 8:3; IICác 4:21; IISử 9:26). Si-đôn và Ty-rơ chưa hề bị chinh phục; vậy, đến thời kỳ ngàn năm bình an, lời hứa nầy mới hoàn toàn ứng nghiệm; bây giờ những kẻ nhu mì sẽ hưởng được đất (Mat 5:5), và những lời trong Thi 72:1- sẽ thực hiện (Thi 72:8-10; cũng xem Lu 20:37).

Phép cắt bì.– Sự việc Áp-ra-ham – theo lời khuyên của Sa-rai – lấy A-ga, người Ai-cập, là con đòi của Sa-rai, khi đã 75 tuổi, là một phương sách theo xác thịt để làm cho lời hứa Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham được ứng nghiệm trong Ích-ma-ên. Kết quả không tránh được sự cãi lộn trong gia đình, và A-ga phải trốn khỏi Sa-rai khi bị chủ xử cay nghiệt vì đã khinh thường chủ. Khi Áp-ram 99 tuổi, Đức Chúa Trời phán một mạng lịnh để nhắc cho ông nhớ phải đứng vững trong đức tin: “Ngươi hãy đi ở trước mặt Ta làm một người trọn vẹn” (Sáng 17:1). Bấy giờ Đức Chúa Trời ban phép cắt bì làm ấn chứng cho giao ước về sự công bình bởi đức tin mà Áp-ram đã nhận được khi chưa chịu phép cắt bì (Rô 4:11). Khi chịu phép cắt bì, ông được đổi tên là Áp-ra-ham, nghĩa là “tổ phụ của nhiều dân tộc”, để tỏ ra rằng giao ước chẳng phải chỉ bao gồm dòng dõi ông theo xác thịt, tức là dân Y-sơ-ra-ên, nhưng cũng bao gồm vô số dân ngoại nhờ dòng dõi ông, là Đấng Christ, mà được làm con cái ông trong đức tin (Ga 3:1-). Sa-rai nghĩa là “công chúa của tôi” hoặc “cao thượng”, cũng đổi ra Sa-ra, nghĩa là “công chúa”. Bà không làm nữ hoàng của một gia đình nữa, nhưng làm nữ hoàng của một nước theo ý nghĩa thuộc linh (Sáng 17:16).

Bấy giờ lời hứa lại rõ ràng thêm một bậc nữa, vì Chúa phán đích xác rằng chính Sa-ra sẽ sanh một con trai. Ích-ma-ên được chung hưởng một phần phước thuộc thể, nhưng hết cả phước thuộc linh còn lại đời đời và phước thuộc thể đều do một mình con trai của Sa-ra mà thôi. Sa-ra cười, trước nhất là vì vui mừng, nhưng cũng không khỏi vì thiếu đức tin, nên bị Đức Chúa Trời quở trách (Sáng 18:12-15).

Rồi Đức Giê-hô-va có hai thiên sứ theo hầu, bày tỏ chính mình Ngài và ý quyết đoán phạt của Ngài (Sáng 18:1-) trong khi chuyện trò thân mật với Áp-ra-ham, là “bạn của Đức Chúa Trời” (Giăng 15:15; Thi 25:14; IISử 20:7; Gia 2:23; Am 3:7). Ngài sẵn lòng nhậm lời Áp-ra-ham cầu thay cho các thành ở đồng bằng đã bị lên án. Ông tha thiết cầu thay chắc do lòng thương cháu là Lót, đương ở Sô-đôm, vì ông chỉ cầu thay cho Sô-đôm chớ không cầu thay cho Gô-mô-rơ; đó là bằng cớ tình cờ làm chứng rằng truyện tích Kinh Thánh là thật. Đức Chúa Trời hiện ra như vậy thật thân mật khác hẳn những sự hiện ra oai nghiêm, đường bệ về trước và về sau. Lòng thương yêu thân mật thế cho sự kính sợ tự nhiên, như khi loài người hầu chuyện Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen; Môi-se cũng được từng trải như thế (Xuất 33:11; Dân 12:8). Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng ở trên núi Hóa Hình cũng vậy (Mat 17:1-). “Ngày nay, cách Hếp-rôn chừng hai cây số còn có một cây dẻ bộp của Áp-ra-ham”. Nơi ở của Áp-ra-ham là “nơi lùm cây dẻ bộp của Mam-rê” (Sáng 18:1).

Sanh Y-sác.– Sự sanh đẻ Y-sác vượt quá công lệ tự nhiên làm hình bóng về Đấng có danh hiệu Lạ Lùng (hãy so sánh sự vui mừng của Ma-ri với tiếng cười nửa tin nửa ngờ của Sa-ra và với sự không tin của Xa-cha-ri, Lu 1:38, 45-47, 20). Sự sanh đẻ Y-sác là của cầm quí báu thứ nhứt về lời hứa. Ích-ma-ên bị trục xuất, mặc dầu cha cậu buồn rầu vì rất thương mến cậu (Sáng 17:18). Sự trục xuất ấy là cần thiết để dạy dỗ Áp-ra-ham rằng tất cả tình máu mủ phải nhường chỗ cho mục đích tối cao độc nhứt. Ý nghĩa thuộc linh của sự trục xuất ấy được bày tỏ hết trong thơ Ga 4:22-31, nhưng lúc đó Áp-ra-ham chỉ hiểu mập mờ thôi.

Dâng Y-sác.– Khi Y-sác 25 tuổi, có sự thử thách lớn nhất để làm cho đức tin của Áp-ra-ham được trọn vẹn (Gia 2:21-23). Lần nầy Áp-ra-ham lại được xưng công bình bởi đức tin chớ không bởi việc làm : “Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người” (Gia 2:23). Nhưng đức tin kể là công bình ở chỗ ông đã nhờ sự ông dâng con mình là Y-sác theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời mà được tỏ ra là “đức tin sống hành động theo lòng yêu thương”, chớ không phải đức tin chết. Giáo lý của Phao-lô cũng giống như giáo lý của Gia-cơ (ICôr 13:2; Ga 5:6). Áp-ra-ham có lẽ đã bối rối khi nghĩ đến tình cảm tự nhiên của người cha, khi nghĩ về lời hứa của Đức-Chúa-Trời đã cho Y-sác ra đời đúng kỳ hạn và vượt quá công lệ tự nhiên-và lời hứa ấy không thể ứng nghiệm nếu Y-sác bị giết chết, và khi ông nhớ đến lệnh lịnh Đức Chúa Trời cấm làm đổ huyết người (Sáng 9:5-6). Nhưng Đức Chúa Trời truyền lịnh thì Áp-ra-ham lấy làm đủ rồi; đức tin ông vâng phục, hết lòng giao cho Đức Chúa Trời giải quyết những việc bối rối, “nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại” (Hêb 11:19), và “cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình” (Hêb 11:19). Hai chữ “giống như” chỉ về sự chết của Y-sác (vì ý tưởng của Áp-ra-ham là như vậy), còn mấy chữ “lại được con mình” chỉ về sự được cứu khỏi chết (IICôr 1:9, 10). Điều này bày tỏ rằng Đấng Christ chịu chết và đến ngày thứ ba thì sống lại (Sáng 22:4). Con chiên đực chết thay Y-sác đó làm hình bóng về Đấng Christ chết thay loài người. Chính lúc ấy “Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của Ta; người đã thấy rồi và mừng rỡ” (Giăng 8:56).

“Sân khấu” là núi Mô-ri-a; Mô-ri-a nghĩa là “được Đức Giê-hô-va lựa chọn”; có người giả định là núi Mô-rếp, cách Bê-e-sê-ba ba ngày đường. Đức tin của Áp-ra-ham đã được thưởng, vì bấy giờ Đức Chúa Trời chỉ chính mình Ngài mà thề để làm cho chắc chắn những lời hứa của Ngài từ trước (Hêb 6:13-17). Bởi đức tin, Áp-ra-ham đã đáp lời con rằng: “Con ơi, chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu” (Sáng 22:8); câu đáp ấy đã được kỷ niệm lâu dài bằng tên đặt cho nơi đó là “Giê-hô-va Di-rê”, nghĩa là: “Đức Giê-hô-va sẽ sắm sẵn tại đó”. Áp-ra-ham dâng con một rất yêu quí do Sa-ra sanh ra, làm hình bóng về Đức Chúa Cha không tiếc “Con một ở trong lòng Cha” để Ngài có thể cứu vớt chúng ta.

Cuối đời Áp-ra-ham.– Khi Sa-ra 127 tuổi thì qua đời tại Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, thuộc về xứ Ca-na-an, là nơi Áp-ra-ham từ Bê-e-sê-ba dời đến (Sáng 23:2). Cả tài sản Áp-ra-ham đã mua được của người Hê-tít giờ chỉ vỏn vẹn có nơi chôn Sa-ra, tức là “hang đá trong ruộng Mặc-bê-la”. Có người nói rằng hiện nay phần mộ ấy ở dưới đền thờ Hồi giáo tại Hếp-rôn.

Vì Áp-ra-ham muốn ông và dòng dõi mình phân rẽ khỏi kẻ thờ lạy hình tượng nên đã nghiêm nhặt bắt Ê-li-ê-se kén vợ cho Y-sác; ông cấm Ê-li-ê-se cưới cho Y-sác một người Ca-na-an, hoặc dẫn chàng về quê hương ông ở Canh-đê (Sáng 24:1-). Sau khi Y-sác cưới vợ, Áp-ra-ham ở một mình, và cũng thấy có lại sức trai trẻ vì đã sanh ra Y-sác, nên cưới nàng Kê-tu-ra. Ông cho các con nàng Kê-tu-ra, tức Ma-đi-an và anh em người, đi ở xa, kẻo khi ông qua đời, họ sẽ tranh giành gia tài với Y-sác.

Rồi Áp-ra-ham qua đời, hưởng thọ 175 tuổi; Y-sác và Ích-ma-ên cùng lo an táng cha bên cạnh phần mộ Sa-ra (Sáng 25:7-10).

Ngày nay, ở Á châu tên tuổi Áp-ra-ham còn lừng lẫy vì dòng dõi của ông là người A-rạp, người Y-sơ-ra-ên và con cháu của Ma-đi-an.

Là cha của mọi kẻ có đức tin đã bỏ cửa nhà và mọi sự vì nghe tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi, đã ở trong trại nay đây mai đó, Áp-ra-ham làm hình bóng về Đấng nghe tiếng Cha kêu gọi, bèn bỏ cả thiên đàng làm một Khách Lạ trên đất, không nhà không cửa, và đã hi sinh tấm thân làm Chiên Con quí báu vô cùng vì cớ chúng ta — “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta” (Giăng 1:14).

Tiến sĩ Scofield có chú thích Sáng 23:4, chỗ chép về khu đất an táng Sa-ra. Tham khảo Sáng 33:19; 50:13; Giô 24:32; Công 7:15, 16, có người tưởng rằng các đoạn ấy có ý khác nhau. Nhưng sự khác biệt đó tiêu tán hết khi ta giả định một cách hữu lý rằng trong khoảng độ 80 năm giữa khi Áp-ra-ham mua phần mộ cho gia đình mình (Sáng 23:4-20) với khi Gia-cốp mua (Sáng 33:19), chắc con cháu của Hê-mô (Công 7:15, 16) đã lấy lại quyền sở hữu khu ruộng trong đó có phần mộ của Sa-ra. Gia-cốp lại mua khu ruộng ấy, chớ không viện quyền kế tự mà trình tờ văn khế cũ. “Người Hê-tít” ở Sáng 50:13 là tổ tiên của người lại bán ruộng cho Gia-cốp.

Tiến sĩ Scofield cũng giải luận Sáng 24:1- — Cả đoạn ấy có ý nghĩa hình bóng rất cao: (1) Áp-ra-ham làm hình bóng về một vua muốn cưới vợ cho con (Mat 22:2; Giăng 6:44); (2) Đầy tớ vô danh làm hình bóng về Đức Thánh Linh, là Đấng không nói về mình, nhưng phô trương Tân Lang để làm cho Tân Phụ ưng thuận (Giăng 16:13, 14); (3) đầy tớ cũng làm hình bóng về Đức Thánh Linh đem cho Tân Phụ những ân huệ của Tân Lang (Sáng 24:22; ICôr 12:7-11); (4) Đầy tớ cũng làm hình bóng về Đức Thánh Linh dẫn Tân Phụ đến giới thiệu với Tân Lang (Công 13:4; 16:6, 7; Rô 8:11; ITê 4:14-16); (5) Rê-be-ca là hình bóng về Hội Thánh, là Ecclésia, là Tân Phụ của Đấng Christ đã được “kêu gọi ra ngoài” (Sáng 24:16; IICôr 11:2; Êph 5:25-32); (6) Y-sác làm hình bóng về Tân Lang, là Đấng Tân Phụ “không thấy mà yêu mến” vì cớ làm chứng của Đầy tớ vô danh (IIPhi 1:8); Y-sác làm hình bóng về Tân Lang đã đi ra để hoan nghinh Tân Phụ (Sáng 24:63; ITê 4:14-16).

Về Sáng 19:36, Tiến sĩ Scofield luận rằng: Áp-ra-ham và Lót là hai nhân vật khác hẳn nhau. Cùng một nguồn gốc (Sáng 11:31), cùng chịu chung một hoàn cảnh và cùng được xưng là người công bình (Sáng 15:6; IIPhi 2:7, 8). Nhưng tánh tình và sự nghiệp khác nhau chính là kết quả do sự lựa chọn khi đứng trên “chỗ rẽ” của đời mình. Ham lợi trước mắt, Lót “bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh” (Sáng 13:11); Áp-ra-ham “chờ đợi một thành có nền vững chắc” (Hêb 11:10), và (Sáng 13:18) “Áp-ra-ham dời trại mình đến ở nơi lùm cây dẻ-bộp tại Mam-rê, (nghĩa là “mập-béo, phì-nhiêu”), thuộc Hếp-rôn (nghĩa là “giao thông”), và “lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va”. Áp-ra-ham và Lót vẫn làm hình bóng về tín đồ thuộc linh và tín đồ theo thế gian.

Về thời đại thứ tư, tức là thời đại ứng hứa (Sáng 12:1), Tiến sĩ Scofield luận rằng: Giao ước của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham (Sáng 15:18) đã đem một sự biến cải lớn cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông thật rõ ràng. Dòng dõi ông đã trở nên những kẻ kế tự lời hứa. Giao ước ấy hoàn toàn bởi ân điển, không một điều kiện bắt buộc nào. Dòng dõi của Áp-ra-ham chỉ cần ở trong xứ mình mà an hưởng mọi ơn phước. Trong xứ Ai-cập, họ mất ơn phước chớ không mất giao ước. Thời đại ứng hứa đã hết vào lúc dân Y-sơ-ra-ên táo tợn thừa nhận luật pháp (Xuất 19:8). Ân điển đã dự bị một Đấng giải cứu, là Môi-se, sắm sẵn của lễ cho kẻ phạm tội, và, bởi quyền phép thiên thượng, đã đem họ ra khỏi vòng nô lệ (Xuất 19:4); Nhưng tại Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên đã đổi ân điển lấy luật pháp. Thời đại ứng hứa kể từ Sáng 12:1 đến Xuất 19:8, và chỉ quan hệ đến dân Y-sơ-ra-ên. Phải phân biệt thời đại với giao ước. Thời đại là một cách thử nghiệm, nhưng giao ước còn lại đời đời vì không có điều kiện nào cả. Luật pháp không bãi bỏ giao ước Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham (Ga 3:15-18, nhưng chỉ là một cách sửa trị xen vào giữa “cho tới chừng nào người dòng dõi đến, là Người mà lời hứa đã hứa cho (Ga 3:19-29; 4:1-7). Nhưng thời đại ứng hứa đã kết liễu khi ban bố luật pháp, cốt để thử nghiệm dân Y-sơ-ra-ên. Hãy xem bốn thời đại kia: Vô-tội (Sáng 1:28), Loài người quản trị (Sáng 8:20). Luật pháp (Xuất 19:8); Ân điển (Giăng 1:17); Quốc độ (Êph 1:10).

Tiến sĩ Scofield viết về giao ước Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham (Sáng 15:18) rằng: Đã lập (Sáng 12:1-4) và đã làm cho vững vàng (Sáng 13:14-17;15:1-7; 17:1-8), giao ước Áp-ra-ham có bảy phần đặc biệt:

1. “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn”. Lời nầy đã được ứng nghiệm theo ba phương diện (a) Trong dòng dõi theo xác thịt “Như bụi trên đất” (Sáng 13:16; Giăng 8:37), tức là dân Hê-bơ-rơ. (b) Trong dòng dõi thuộc linh — “hãy nhướng mắt lên…, dòng dõi ngươi như thế” (Giăng 8:39; Rô 4:16, 17; 9:7, 8; Ga 3:6, 7, 29), tức là mọi người có đức tin, vô luận dân Do-thái hay dân ngoại. (c) Cũng được ứng nghiệm bởi Ích-ma-ên (Sáng 17:18-20).

2. “Ta sẽ ban phước cho ngươi” (Sáng 12:2). Được ứng nghiệm theo hai cách: (a) Về phần thuộc thể (Sáng 13:14, 15, 17; 15:18; 24:34, 35); (b)_Về phần thuộc linh (Sáng 15:6; Giăng 8:56).

3. Làm nổi danh ngươi (Sáng 12:2). Áp-ra-ham là một người được cả thế giới biết tên tuổi.

4. “Ngươi sẽ thành một nguồn phước” (Sáng 12:2; Ga 3:13, 14.)

5. “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi”. Sự ứng nghiệm của lời nầy quan hệ mật thiết với phần sau.

6. “Rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi” (Sáng 12:3). Lời nầy được ứng nghiệm lạ lùng trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên bị lưu lạc. Bao giờ cũng vậy, dân nào bắt bớ người Do-thái phải chịu cực khổ, còn dân nào che chở người Do-thái thì được may mắn. Trong tương lai nguyên tắc này sẽ còn được chứng thực một cách lạ lùng hơn (Phục 30:7; Ês 14:1, 2; Giôên 3:1-8; Mi 5:7-9; Aghê 2:22; Xa 14:1-3; Mat 25:40, 45).

7. “Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng 12:3). Đó là lời hứa tối trọng, đạo Tin lành đã được ứng nghiệm bởi dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là Đấng Christ (Ga 3:16; Giăng 8 :56-58). Lời hứa nầy làm cho lời hứa liên quan đến dòng dõi người nữ trong giao ước Đức Chúa Trời lập với A-đam càng rõ rệt hơn (Sáng 3:15).

Chú ý.– Sự ban đất đã bị thay đổi ít nhiều bởi những lời tiên tri về ba lần mất và được lại (Sáng 15:13, 14, 16; Giê 25:11, 12; Phục 28:62-65; 30:1-3). Hai lần mất và được lại đã được ứng nghiệm. Y-sơ-ra-ên hiện nay bị tan lạc lần thứ ba, và sẽ được phục hưng khi Đức Chúa Jêsus trở lại làm Vua theo giao ước Đa-vít (Phục 30:3; Giê 23:5-8; Êxê 37:21-25; Lu 1:30-33; Công 15:14-17).

Về bảy giao ước khác, đó là Ê-đen (Sáng 1:28); A-đam (Sáng 3:15); Nô-ê (Sáng 9:1); Môi-se (Xuất 19:25); Pha-lê-tin (Phục 30:3); Đa-vít (IISa-mu-ên 7:16); Mới (Hêb 8:8).

Tiến sĩ Scofield so sánh câu: “Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham” với câu: “Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham” (Giăng 8:37, 39), và kết luận rằng hai câu ấy khác nhau vì phân biệt dòng dõi theo thuộc thể và dòng dõi thuộc linh. Dân Y-sơ-ra-ên và dân Ích-ma-ên là dòng dõi theo thuộc thể.

Còn hết thảy “những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham”, không những người Do thái hay người dân ngoại; đó là dòng dõi thuộc linh (Rô 9:6-8; Ga 3:6, 14). Xem bài “GIAO ƯỚC ÁP-RA-HAM”.

Bàn luận về Sáng 22:1-, Tiến sĩ Scofield phân tích sự từng trải thuộc linh của Áp-ra-ham có bốn “chỗ rẽ” quan trọng, mỗi một chỗ lại phải hy sinh một điều mà xác thịt thường hay ưa thích. Bốn “chỗ rẽ” ấy là:

(1) Lìa bỏ quê hương và bà con (Sáng 12:1; tham khảo Mat 10:34-39; IICôr 6:14-18). (2) Lìa bỏ cháu là Lót, là người Áp-ra-ham rất yêu quí theo tình máu mủ, vì có thể kế tự mình và cũng tin Chúa như mình (IIPhi 2:7, 8; Sáng 13:1-18). Sáng 15:1-3 chứng tỏ Áp-ra-ham hoàn toàn biệt mình khỏi một người dầu là tín đồ, nhưng là một bình “đựng việc hèn” (Xem IITi 2:20, 21; Công 15:36-40). (3) Lìa bỏ ý định riêng của mình đối với Ích-ma-ên (Sáng 17:17, 18; tham khảo ISử 13:1-14; 15:1, 2). (4) Lìa bỏ Y-sác, là “đứa con một ngươi yêu dấu” (Sáng 22:1-19; tham khảo Hêb 11:17, 18).

Về việc Áp-ra-ham dâng Y-sác (Sáng 22:9), Tiến sĩ Scofield đã có những điều dạy dỗ về hình bóng như sau: (1) Y-sác làm hình bóng về Đấng Christ “vâng phục cho đến chết” (Phil 2:5-8).

(2) Áp-ra-ham làm hình bóng về Đức Chúa Cha “không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho” (Rô 8:32; Giăng 3:16). (3) Con dê đực làm hình bóng về sự thay thế, Đấng Christ dâng mình làm của lễ thiêu thay cho chúng ta (Hêb 10:5-10). (4) Y-sác cũng làm hình bóng về sự sống lại (Hêb 11:17-19) cũng xem Gia 2:21, 23.

Lên đầu trang