Ăn uống
Trừ những nhà hào phú ra, phần nhiều người Hê-bơ-rơ ăn chay, chứ không ăn thịt. Họ chỉ hay ăn thịt trong những dịp đặc biệt, như nhóm họp gia đình, hoặc bày tiệc tiếp khách, hoặc dâng của lễ, v.v… Trước khi nước lụt, người và cầm thú đều có đủ những thứ rau trái ngon để ăn, chớ không ăn thịt (Sáng 1:29, 30). Đến sau khi nước lụt, Chúa mới cho phép Nô-ê ăn thịt, nhưng cấm ăn huyết (Sáng 9:3). Ê-sai được Chúa soi sáng: “Sư tử ăn cỏ khô như bò” (Ês 11:7), ý nói về sau, thế giới sẽ trở lại tình trạng thời sơ cổ. Kể từ khi người Y-sơ-ra-ên lập vua trở đi, đồ ăn uống trở nên phong phú lạ thường (IISa 17:28; ICác 4:22).
1. Loài thực vật.– Có những thứ rất quan trọng dùng làm đồ ăn như: Lúa mạch, lúa mì, đậu, đậu biển. Còn ngô (bắp) thì ít thấy nói đến trong Kinh Thánh (Êxê 4:9). Thường thường người ta xay lúa mì thành bột để làm bánh ăn. Dân nghèo phần nhiều dùng thứ lúa đại mạch (coi Quan 7:13; Giăng 6:13). Có khi người ta rang hột mạch mà ăn (Ru 2:14). Khi ở đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên thèm nhớ những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi v.v… (Dân 11:5). Về sau, khi ở Ca-na-an, chính họ tự gieo trồng những loại đó. Họ cũng trồng những cây trái mà họ đem hột đến, như Ô-li-ve, để ăn quả và ép dầu (Quan 9:9), trái vả ăn được cả tươi lẫn khô hoặc làm bánh để dành (Ês 28:4; ISa 25:18; 30:12). Trái nho tươi hay khô đều ăn được và dùng cất rượu để uống. Ngoài ra, còn có các quả bình bát, lựu, đào, hạnh, táo v, v… Người ta dùng muối để làm gia vị, còn có các thứ nữa để làm gia vị như bạc hà, hồi hương và rau cần, v, v… (Mat 23:23).
2. Loài động vật.– Theo luật pháp, thì chia ra loài sạch và loài không sạch (Lê 11; Phục 14:4-20).
(a) Loài thú: gồm có giống nhà nuôi và giống săn được. Giống nhà nuôi như dê, chiên, trâu, bò v.v… Nhưng chỉ có thứ bò non là tốt hơn hết (Sáng 18:7; Lu 15:23). Sữa bò, sữa dê và sữa lạc đà đều uống được. Bánh sữa bò ăn cũng ngon. Thịt rừng săn được như nai, hươu, hoàng dương, dê rừng, bò rừng và linh dương v, v, … đều ăn được hết (Phục 14:5; ICác 4:23). Chỉ có loài heo, thỏ, chuột đồng và lạc đà đều kể là không sạch, thì không nên ăn (Lê 11:2-8).
(b) Về loài chim bay cấm ăn những giống chim ưng, diều, ó v.v… (Lê 11:13-19; Phục 14:11-18). Còn gà rừng, chim cút và trứng, mọi con chim sạch thì ăn được (Dân 11:32, 33; Phục 22:6; Lu 11:12). Chim bồ câu dùng dâng của lễ. Gà nuôi là chở từ nước Ba-tư đến (Mat 23:37; Mác 13:35).
(c) Về loài ở sống dưới nước, hễ giống nào có vây, có vảy đều ăn được hết; nếu không vây, không vảy, thì không được ăn (Lê 11:9, 10; Phục 14:9, 10).
(d) Loài côn trùng như châu chấu thì ăn được (Lê 11:22; Mác 1:6). Và mật ong cũng ăn được.
3. Trong những món ăn bị cấm, trừ những vật không sạch ra, cũng cấm ăn huyết nữa, vì trong huyết còn hồn sống và huyết dùng làm của lễ (Sáng 9:4; Phục 12:16, 23-25; 15:23; Lê 17:10-14; ISa 14:32). Cấm ăn mỡ chài và mỡ bộ lòng bò, chiên, dê (Lê 3:3, 17; 7:23, 24). Những súc vật chết hay bị giống khác cắn chết đều không được ăn (Phục 14:21; Xuất 22:31). Cũng không ăn gân bắp vế bên xương hông loài vật (Sáng 32:32).
Nói tóm lại, người Do-thái xưa thường ăn những súc vật họ nuôi và các thổ sản họ trồng. Về sau, họ ở thành phố, bắt chước theo lối ăn uống của thị thành; nhưng vẫn không ưa thích món ăn của dân ngoại cung cấp cho (coi Đa 1:8).
Trong Tân Ước có dạy tín đồ không nên ăn thịt đã cúng cho thần tượng (Công 15:29; ICôr 8:10).