Y-sơ-ra-ên

Y-sơ-ra-ên nghĩa là: Vật lộn với Đức Chúa Trời.

Ấy là tên thiên sứ đặt cho Gia-cốp khi người từ xứ Mê-sô-bô-ta-mi trở về nhằm lúc qua rạch Gia-bốc, và sau khi người đã vật lộn với thiên sứ Chúa và được phước (Sáng 32:26-28), “vì ngươi đã vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta, ngươi đều được thắng” (so 12:4,5). Sarah và Sur cũng có nghĩa là một quan trưởng. Bản Anh cũ gồm lại cả hai ý nghĩa “người có quyền như quan trưởng với Đức Chúa Trời và với người ta,” v.v..

Ấy trở nên quốc hiệu chung cho cả mười hai chi phái. Sự dùng tên đó khởi đầu từ thuở sanh thời Gia-cốp (Sáng 34:7). Cũng gọi như vậy trong Xuất 3:16, và trọn lúc lưu lạc trong đồng vắng (Xuất 32:4; Phục 4:1; 27:9). Cho đến lúc Sau-lơ qua đời, Y-sơ-ra-ên và con cái Y-sơ-ra-ên, khi dùng chỉ về quốc dân thì gồm lại chung cả người Hê-bơ-rơ, không phân biệt chi phái nào cả.

Tên nầy cũng dùng một nghĩa đẹp hơn, chỉ về nước phía Bắc là nước Y-sơ-ra-ên, gồm lại phần lớn của cả dân tộc, tức là mười chi phái; hoặc nói cách khác là hết cả trừ Giu-đa, Bên-gia-min, Lê-vi, Đan và Si-mê-ôn (ISa-mu-ên 11:8; IISa-mu-ên 20:1; trong ICác-vua 12:16). Trong ICác-vua 11:13,31,32 Đức Chúa Trời chỉ định cho Giê-rô-bô-am có mười chi phái, một là dòng dõi Đa-vít khi tiên tri A-bi-gia cho Giê-rô-bô-am mười trong số mười hai mảnh áo mình. Bởi đó, số phải được hiểu bằng nghĩa hình bóng hơn là đúng nghĩa về số mục. Mười tỏ ra sự trọn vẹn và hoàn toàn trái với một “chỉ có chi phái Giu-đa” (12:10), song Bên-gia-min cũng được gồm lại nữa (câu 21; IISử-ký 11:3,23). Lê-vi không được kể vào số thuộc chính trị, phần nhiều hiệp với Giu-đa; Ép-ra-im và Ma-na-se được tính là hai. Giu-đa gồm lại cả Si-mê-ôn lan rộng đến phía Nam và bao phủ bởi phần đất Giu-đa (Giô-suê 19:1-9), đến nỗi không thể là một phần nước phía Bắc được. Vả lại, mấy thành của Đan gồm lại trong “Giu-đa,” tức Xiếc-lạc mà A-kích cho Đa-vít, Xô-rê-a và A-gia-lôn (IISử-ký 11:10; 28:18). Những thành nầy bù lại với sự mất của Giu-đa ở phần đất phía Bắc Bên-gia-min, gồm lại Bê-tên, Ra-ma, và Giê-ri-cô, thuộc “Y-sơ-ra-ên” (ICác-vua 12:29; 15:17,21; 16:34). Như vậy, chỉ có chín chi phái và không phải hết cả, hoàn toàn còn lại là nước ở phía Bắc. Bờ biển ở trong tay của Y-sơ-ra-ên từ Accho đến Japho. Ở phía Nam thì Phi-li-tin giữ bờ biển. Dân cư Y-sơ-ra-ên, năm 957 T.C., là 3.500.000 (IISử-ký 13:3).

Sự phân chia được chỉ định bởi Đức Chúa Trời như là một sự hình phạt nhà Đa-vít vì cớ những tội thờ hình tượng đem vào bởi các vợ Sa-lô-môn. Sự lan tràn và lây đến quần chúng bị ngăn giữ bởi sự thương xót Ngài. Giê-rô-bô-am cứ tiếp nối ngồi trên ngôi là nhờ sự trung thành người với Đức Chúa Trời. Còn Rô-bô-am thử diệt các chi phái loạn nghịch, song bị Đức Chúa Trời cấm. Giê-rô-bô-am công nhận sự phải vâng giữ chung của luật pháp, song chính mình phạm đến tiểu tiết của luật đó. Sự cải cách là ở nơi thờ phượng (Bê-tên và Đan thế cho Giê-ru-sa-lem) và những người làm lễ (tức các thầy tế lễ lấy từ trong dân thay vì từ người Lê-vi) cũng ở thời gian làm lễ Lều tạm (tháng 8 thế cho tháng 11). Trong các hình bóng, các bò con, thì người theo kiểu mẫu của A-rôn tại núi Si-na-i mà chính người đã quen trong xứ Ai-cập, mà nói như A-rôn rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là thần đã dẫn ngươi lên khỏi Ai-cập” (ICác-vua 12:28; Xuất 32:4,8). Sự hình phạt lạ lùng cho chính người (ICác-vua 13:), sự chết của con người, và sự lật đổ ba dòng vua, Giê-rô-bô-am, Ba-ê-sa, và A-háp như các tiên tri đã dự ngôn (Ê-sai 8:; 9:; 28:; Ô-sê, và A-mốt), sự người A-sy-ri dời Y-sơ-ra-ên đi mãi mãi, hết thảy làm chứng rằng Đức Chúa Trời gớm ghiếc sự thờ hình tượng. Ý định khôn ngoan của Đức Chúa Trời chỉ định phân rẽ Y-sơ-ra-ên với Giu-đa dường tỏ ra trong kết quả trên Giu-đa. Ấy theo lợi riêng về chính trị thì hiệp với luật Môi-se. Ấy là cớ cho A-bi-gia tin sẽ thắng Giê-rô-bô-am (IISử-ký 13:9-11). Những người Lê-vi bị Giê-rô-bô-am đuổi không cho hành chức, thì bỏ chỗ mình đến nước Giu-đa. Tội Rô-bô-am bị sửa phạt vì đã bỏ luật pháp Đức Chúa Trời, Giu-đa cũng làm những nơi cao, hình tượng và cây me (IICác-vua 14:22,23; IISử-ký 12:1, v.v.) đều có một hiệu quả tốt lành trên A-sa và Giô-sa-phát lần lượt. Trừ thời kỳ bội đạ lần thứ nhứt là vì cớ Giô-sa-phát giao kết với A-háp, một phần lớn các vua Giu-đa vâng giữ luật pháp, so sánh với các vua Y-sơ-ra-ên thì không một vua nào trung tín với Đức Chúa Trời cả.

Si-chem, vốn là nơi hội họp của dân sự dưới Giô-suê (24:1) là kinh đô thứ nhứt (ICác-vua 12:25); kế đến Tiệt-sa, danh tiếng về sự tốt đẹp (Nhã Ca 6:4; ICác-vua 14:17; 15:33; 16:8,17,23). Ôm-ri chọn Sa-ma-ri vì cớ phong cảnh đẹp đẽ, phì nhiêu, và ở trên đồi (câu 24), sau khi bị vây ba năm thành bị các vua A-sy-ri chiếm lấy. Gít-rê-ên là chỗ vài vua ở. Si-lô ở Ép-ra-im vốn là nơi làm nơi thánh (Quan 21:19; Giô-suê 18:1) trước khi dời đến Giê-ru-sa-lem. Sự dời đi là một nguồn ghen tương cho Ép-ra-im, để khỏi sự ghen tương đó thì A-sáp viết Maschill, tức thơ dạy dỗ (Thi 78:; xem câu 60,67-69).

Sự ghen tương và kiêu ngạo đều là những khuyết điểm từ xưa của Ép-ra-im, chi phái cầm đầu phía Bắc (Quan 8:1; 12:), thật là duyên cớ vận động sự loạn nghịch với Giu-đa, dầu sự đánh thuế nặng dường như là cớ tỏ tường. Giô-suê và Ca-lép là người đại diện cho Ép-ra-im và Giu-đa trong đồng vắng, và Giô-suê đứng đầu trong Ca-na-an. Điều đó là khó cho Ép-ra-im nay phải chịu suy phục. Từ đó, họ sẵn sàng nghe Áp-sa-lôm và ghen ghét Giu-đa khi Đa-vít được lập lại (IISa-mu-ên 19:41-43), và họ phản loạn theo tiếng gọi của Sê-ba (20:1). Sự thờ hình tượng của Sa-lô-môn làm mất lòng người tin kính; sự vĩ đại độc đoán nhờ tiền dân sự làm mất lòng ái mộ chung của dân (ICác-vua 11:14-40). Lúc Đức Chúa Trời rút lại ảnh hưởng ngăn trở tinh thần chia rẽ, thì lập tức có sự tan rã. Giê-rô-bô-am lấy sự thờ bò làm chính trị nước mình, song dẫn đến sự hư hại. Chúa lấy tội lỗi của Y-sơ-ra-ên mà hình phạt. Sự bại hoại về đạo đức tiếp theo sự bội đạo trong tôn giáo và sự suy đồi của chức tế lễ. Bộ luật pháp quốc gia của Đức Chúa Trời còn có quyền và tranh đua mãi mãi với sự thờ hình tượng đã lập. Cũng vì thế mà các nguồn sự sống quốc gia bị đầu độc. Tám nhà giữ ngôi vua mỗi nhà kế tiếp nhau nổi loạn cướp quyền. Theo Ussher, nước Y-sơ-ra-ên lâu được 254 năm (từ 975 đến 721 T.C.). Án phạt của Y-sơ-ra-ên cũng cảnh cáo Giu-đa vào một bậc khá đến nỗi Giu-đa còn sống sót thêm hơn một thế kỷ (tức 133 năm rưỡi). Chỉ có các tiên tri, dấy lên cách lạ lùng, làm muối trong Y-sơ-ra-ên để ngăm cấm sự bại hoại vô cùng vậy: A-hi-gia, Ê-li, Mi-chê, Ê-li-sê, và Giô-na, là các tiên tri sớm nhứt chép sách thánh. Trong thời tiên tri Giô-na, Đức Chúa Trời ban cho một hồi thạnh vượng cuối cùng là đời trị vì lâu dài của Giê-rô-bô-am II; may ra nhờ sự tốt lành của Ngài sẽ dẫn dân tộc đến sự ăn năn. Vì ngày ơn điển nầy bị bỏ qua nên chỉ còn lại sự phán xét. Những sự nổi loạn của Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, sự hãm đánh của Sy-ri dưới Bên-Ha-đát và Ha-xa-ên, và cuối cùng A-sy-ri, với Phun, Tiếc-la Phi-lê-se, Sanh-ma-na-se, Sa-gôn, và Ê-sạt-ha-đôn, đều là đồ dùng của Ngài để thi hành cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời chống với dân bội nghịch (IICác-vua 15:; 16:; 17:; E-xơ-ra 4:2,10; Ê-sai 20:1). A-hi-gia nói trước cho Giê-rô-bô-am lúc ban đầu của nước, “Đức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên như một cây sậy bị nước đưa đi; và làm tan lạc họ phía bên sông cái” (ICác-vua 14:15; A-mốt 5:27).

Nước Giu-đa nay cũng có khi gọi bằng tên Ép-ra-im bởi chi phái cầm đầu (Ê-sai 17:3; Ô-sê 4:17) như là nước phía Nam “Giu-đa” được gọi như vậy vì là chi phái đứng đầu. Dưới Đấng Mê-si trong những ngày sau rốt, Ép-ra-im sẽ hiệp với Giu-đa; “Bấy giờ sự ghen tương của Ép-ra-im sẽ mất, và Giu-đa không khuấy rối Ép-ra-im nữa” (Ê-sai 11:13; Ê-xê-chi-ên 37:16-22).

Sau sự trở về từ Ba-by-lôn, nước được gọi là “Y-sơ-ra-ên,” dân sự là “người Do-thái,” như trong sách E-xơ-ra; cũng là tên chính thức của mười hai chi phái được coi là một đoàn thể sau sự chia rẽ (ICác-vua 18:30,31). Y-sơ-ra-ên thuộc linh, là Hội Thánh của người được chuộc (Rô-ma 9:6; Ga-la-ti 6:16). Dân tan lạc ra sao thì khó mà biết. Nhiều người nhập vào nước Giu-đa, như An-ne về chi phái A-se chép trong Lu-ca 2:36. Phần lớn bị “tản lạc xa” với những người Do-thái như Gia-cơ viết cho “mười hai chi phái.” Những người Giu-đa ở Bokhara nói với Josèphe Wolff: “Khi Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên thúc giục tâm thần của Phun vua A-sy-ri và Tiếc-la-Phi-lê-se thì họ đem đi… cả người Ru-bên, người Gát, nửa chi phái Ma-na-se, đến Cha-la (nay Balkh) và Ha-la (nay Bokhara), và đến sông Gô-xan (nay Ammos, Jehron, hoặc Oxus). Họ bị trục xuất khỏi Tahagatay, dân sự của Gengis-Khan, và họ ngụ tại Sabr-Awar và Nishapoor, (trừ vài người sang nước Tàu), tại Khorassa. Mấy thế kỷ sau phần nhiều trở lại Bokhara, Samarca, và Balkh, ở đó được nhiều ơn riêng bởi Timoor Koorekan. (Tamerlane) cho họ. Những người Do-thái ở Bokhara nói rằng nhiều người Nép-ta-li lưu lạc trên các núi Aral, và người Caucase là anh em của họ.”

Người A-phú-hãn (Afghanistan) cũng xưng mình là “con cái Y-sơ-ra-ên” bị đày đi và theo lời truyền khẩu phổ thông giữa họ, xưng mình là dòng dõi của Sau-lơ, hoặc Malik Twalut; bởi Afghana con của Giê-rê-mi, con thứ Sau-lơ. Khi Bakh-u-nasr (Nê-bu-cát-nết-sa) bắt Y-sơ-ra-ên làm phu tù, chi phái Afghana tùy theo tôn giáo Y-sơ-ra-ên, bị đuổi đến các núi quanh tỉnh Herât, tại đó họ tan lạc vào trũng Cabool dọc theo bờ bên hữu sông Indus đến bờ sông Sainde và Bélouchistan. Về sau họ sa vào tội thờ hình tượng, và tin đạo Ma-hô-mết. Song họ có lời truyền khẩu rằng các núi Kyber trước đã có người Do-thái ở. Cũng vậy người Santhals ở biên giới phía Tây miền hạ lưu xứ Bengale nói mình là người từ Hô-rít xưa bị người Ê-đôm đuổi đến núi Sê-i-rơ. Lời truyền khẩu họ chỉ đến Punjaub, xứ của năm con sông, như là quê hương của dòng giống họ. Họ nói tổ phụ họ thờ một mình Đức Chúa Trời trước khi vào Hi-mã-lạp-sơn; và trước sự nguy hiểm bị tuyệt diệt trên những chót núi cao nầy họ theo hướng mặt trời mọc mỗi ngày và được dẫn đi cách bình an; và họ cứ năm năm giữ lễ cho thần mặt trời, cũng thờ ma quỉ nữa. Vậy chỉ có họ trong các giống người Hidou có hình dáng người mọi đen, và giống người vô tư lự và vô ý như dòng giống Cham.

Dầu vậy, Đức Chúa Trời sẽ lập lại Y-sơ-ra-ên; chỉ Ngài có thể phân biệt họ với dân ngoại. “Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, các ngươi đều sẽ bị lượm từng người một… Trong ngày đó, kèn lớn sẽ thổi lên, bấy giờ những kẻ bị thất lạc… và những kẻ bị đày… sẽ đến thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va trên hòn núi thánh tại Giê-ru-sa-lem” (Ê-sai 27:13). Giê-rê-mi 3:14-18: “Ta sẽ lựa mỗi thành một người, mỗi họ hai người; mà đem đến Si-ôn.” Các thầy Rabbins ra lệnh rằng khi người nào xây nhà mới thì nên để lại một phần không làm trọn” để kỷ niệm sự hoang vu” và khi cưới gả chàng rể tận cùng lễ nghi bằng cách giày đạp ly mình vừa uống vỡ tan từng mảnh. Dầu vậy, họ hẳn còn trông đợi sự lập lại hứa cho trong Phục 30:1-6; Ê-sai 11:10-16. Thầy Rabbin David Levi lấy sách Ê-sai mà luận:

Sự báo thù của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên kẻ thù nghịch Y-sơ-ra-ên;

nhứt là trên Ê-đôm, tức La-mã;

Sự lập lại Y-sơ-ra-ên;

và mười chi phái;

giống sự giải cứu từ Ai-cập (song hơn sự đó nhiều vì sự can thiệp lớn lao của Đức Chúa Trời, Giê-rê-mi 23:5-8);

tội nhơn Do-thái không thể ngăn trở vì sẽ bị diệt đi;

không bị cho đến một thời gian dài;

Vinh quang Chúa và thần trí tiên tri sẽ trở lại (Ê-xê-chi-ên 11:23; 43:2)

người bội đạo từ dân sự sẽ lập lại do sự đó;

một vua dòng và tên Đa-vít sẽ trị vì (Ê-xê-chi-ên 34:23,24);

họ sẽ chẳng bao giờ phải làm phu tù nữa (xem phước đầy đủ và vĩnh viễn của sự lập lại, Ê-sai 34:12; 54:7-11);

Các dân sẽ công nhận chung một Đức Chúa Trời và ưa biết luật pháp Ngài (Ê-sai 2:3; 60:3; 66:23; Xa-cha-ri 8:21-23; 14:16-19)

sự bình an sẽ thắng hơn (Ê-sai 2:4; Xa-cha-ri 9:10);

sự sống lại của người có lòng tin kính hoặc người gian ác (Đa-ni-ên 12:2). Xem Ê-sai 11:; 60:8-10; 42:13-16; 61:1-8, tại đó “những sự hoang vu của nhiều đời” không thể chỉ là 70 năm làm phu tù. Sau khi sống nhiều ngày không có vua, thầy tế lễ, của lễ, bàn thờ, ê-phót, và thê-ra-phim, Y-sơ-ra-ên sẽ tìm kiếm Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ và Đa-vít, vua họ (Ô-sê 3:4,5). Phước lành cho mọi dân tộc bởi Y-sơ-ra-ên sẽ làm ứng nghiệm lời hứa cho A-đam (Sáng 3:15), và Áp-ra-ham (22:18; Rô-ma 11:25,26, v.v.).

Những sự sắm sẵn lo liệu của Chúa để lập lại họ đã tỏ ra rồi: xứ thánh một phần lớn mở ra tiếp họ trở về, đức tánh mua bán của họ cho đến sự độc quyền về nông nghiệp làm cho họ không đâm rễ trong một xứ nào khác, và quan thiệp họ với dân buôn bán như Anh, Mỹ, có thể giúp đỡ trong sự lập tổ quốc (Ê-sai 60:9; 66:19,20); họ tránh sự cưới gả với các tín đồ Đấng Christ. Những người Y-sơ-ra-ên khi đã trở lại sẽ là những người giảng tin lành tốt nhứt cho thế gian (Xa-cha-ri 8:13,23; Mi-chê 5:7), vì họ bị tan lạc khắp cả, quen tiếng nói và phong tục của các xứ và luôn luôn thư từ với nhau (so hình bóng Công 2:11) và trong thời kỳ tan lạc không thể trách họ được vì dầu họ ghen ghét Đấng Christ, song là những người chứng kiến về căn nguyên của lời tiên tri về Đấng Mê-si là Đức Chúa Trời mà đạo Đấng Christ kêu gọi; vậy khi được trở lại khỏi hành vi cừu địch thì họ là những người giảng dạy không thể chống với các lẽ thật mà họ đã bỏ (Rô-ma 11:15). Thời đại chúng ta tức là thời gian 42 tháng trong lúc ngoài hành lang ngoài Đền thờ được ban cho dân ngoại, và họ giày đạp nơi thánh dưới chơn (Khải 11:2,3), và Đức Chúa Trời rải rác quyền phép của dân thánh (Đa-ni-ên 12:7; Lu-ca 21:24). Gần mãn thời đó là thời dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu. So 1260 năm, có trong một các thuyết tính từ 754 S.C. khi Pépin cho Giáo hoàng quyền thống trị tạm thời; ấy sẽ tính đến gần 2014. Song chỉ khi nào biến động đó xảy ra mọi sự mới được tỏ tường như đã dự ngôn (Đa-ni-ên 7:25; 8:14; 12:11,12; Khải 12:6,4; Lê 26:14, v.v.).

Lên đầu trang