Ga-la-át

Tên đất có nhiều núi ở phía Đông sông Giô-đanh, giữa khoảng biển Ga-li-lê và Biển Chết. Phía Đông là bãi Sa mạc, phía Nam là bờ cõi của dân Mô-áp và liền với xứ Ba-san. Đất chia làm hai cho đến khe Gia-bốc (Giô-suê 12:2), nửa phần phía Nam thuộc chi phái Gát và nửa phần phía Bắc thuộc chi phái Ma-na-se (Phục 3:12,13; Giô-suê 13:24-31). Vậy nên Kinh Thánh thường nói đến Ga-la-át (Giô-suê 12:5; 13:11; 17:1,5; IICác-vua 10:33). Đất xứ nầy cao, rộng, màu mỡ, có nhiều sản vật: Gỗ cây và thuốc thơm đều tốt lắm (Sáng 37:25; Dân 32:1). Xưa La-ban đuổi theo Gia-cốp đến Ga-la-át và tại đó hai người gặp nhau lần cuối cùng, lập giao ước với nhau (Sáng 31) Môi-se lên núi Nê-bô, Chúa cho ông xem toàn xứ, từ Ga-la-át cho đến Đan (Phục 34:1. Cũng xem Dân 32:26,29; Phục 3:12). Xứ Ga-la-át chăn nuôi súc vật rất tiện nên thấy trong Giô-suê 13:8-11 và Dân 32:1-42 người Ru-bên và người Gát xin ông Môi-se cho mình để làm sản nghiệp. Sa-lô-môn ví: “Tóc mình khác nào bầy dê nằm trên triền núi Ga-la-át” (Nhã Ca 4:1; 6:5).

Ở đây con của Sau-lơ thử nối ngôi cha (IISa-mu-ên 2:8,9); Đa-vít ẩn mình khỏi Áp-sa-lôm (IISa-mu-ên 17:22; 27:29) tiên tri Ê-li là người Ga-la-át, cách ăn mặc của ông tỏ ra đặc sắc của quê hương mình. Vì Ga-la-át là một yếu điểm về phía Đông xứ Thánh (ICác-vua 22:3-6) nên thường bị những bộ lạc nơi Sa mạc xông vào cướp bóc (Giô-suê 17:1). Hai lần Chúa Jêsus lui tới miền núi phía Đông sông Giô-đanh nầy:

Sau khi chịu Báp-têm;

Trước khi đến Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng (Giăng 10:39-40).

Về sau khi Ma-thi-ơ 24:15,16 được ứng nghiệm và Giê-ru-sa-lem bị vây, các môn đồ đã trốn trên các núi đó.

Một núi gần trũng Gít-rê-ên (Quan 7:1-3; 6:33). Ở đó có mé nước mà Chúa dùng để giảm bớt quân của Ghê-đê-ôn, khi quân nầy đi đánh Ma-đi-an.

Một thành trong miền Ga-la-át (Ô-sê 6:8; so sánh 12:12).

Lên đầu trang