Sự sống lại của Đấng Christ

Resurrection of Jesus Christ. Résurrection du Christ.
Sự sống lại Đấng Christ giống như hòn đá chót của một nhịp cầu, vì đạo Tin lành đứng vững hay sụp đổ là nhờ sự việc đó có thật hay không. Hết thảy người phản đối đạo Tin Lành hầu như bao giờ cũng tập trung những sự công kích vào đó, và các tín đồ cũng lấy đó làm trung tâm điểm để binh vực. Đáp lại vấn đề Đấng Christ có thật sống lại không, liên quan mật thiết về số phận đời đời của con người, nên xin kể mấy chứng cớ trong nhiều chứng cớ để tỏ ra đó là sự thật.
I. Đời Chúa Jesus là chứng cớ thứ nhứt. — Khi một đời sống đã khởi sự tốt đẹp mà kết liễu một cách thảm hại, bao giờ cũng là một sự thất vọng, đến nỗi dầu chỉ trong sự giả định, lương tâm con người cũng đòi hỏi một sự tích nên có kết cuộc tốt đẹp. Một đời sống hoàn toàn đặc biệt vì sự tự xưng là từ Đức Chúa Trời, chấm dứt giữa thời trai trẻ, mà lại chết một cách ác nghiệt và xấu hổ, — đời sống Chúa có nên kết liễu như vậy không? Cảm ơn Chúa, cả bốn sách Tin lành đều làm chứng không, vì đã chép sự sống lại như làm đầy trọn bức tranh Đấng Christ. Chính Đấng Christ trông đợi trước sự sống lại của Ngài. Trước hết, Ngài chỉ dùng những danh từ không rõ như: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại” (Giăng 2:19). Sau, Ngài phán rõ hơn: “Con người… đến ngày thứ ba phải sống lại: (Mat 12:38-40; 16:21; 17:9, 23; 20:19; 27:63; Mác 8:31; 9:9, 31; 10:34; 14:58; Lu 9:22; 18:33; Giăng 2:19-21). Vậy, nếu Chúa không phục sinh thì lời Ngài không thật. Cả đời Ngài vẫn hoàn toàn chân thật từ lời nói đến việc làm, thì chắc chắn chối lời Ngài phán mình sẽ sống lại là vô lý. Nếu sự chết trên thập tự là cuối cùng một cuộc đời tốt đẹp, lạ lùng, trọn lành, giống Đức Chúa Trời như thế, thì ta phải đương đầu với một lẽ bí mật không thể giải nghĩa được: điều sai thường luôn thắng hơn điều phải, và không thể tin có lẽ thật và công lý trong thế gian. Vả lại, sự sống lại không phải là một biến động riêng, nhưng có liên quan với những điều xảy ra trước và sau. Vậy, những thực sự ta biết trong đời Đấng Christ đều đáp lại Đấng Christ thật đã phục sinh.
II. Ngôi mộ trống, là chứng cớ thứ nhì. Ngôi mộ có chôn Chúa Jesus trống không, và người ta không thấy thân thể Ngài. Thực sự Chúa Jesus đã chết, bị đem chôn, và ngày thứ ba mồ mả trống không. Ngày nay không ai lấy lý cớ gì để chống đối nữa. Thuyết lý cho rằng Ngài bất tỉnh nhân sự trên cây thập tự và sau hồi lại trong mồ mả không ai tin nữa. Khi đem chôn Ngài thì người ta lăn một hòn đá lớn chặn trước cửa mộ, mồ mả được niêm phong và có lính canh gác. Nhưng, đến buổi sáng thứ ba, xác đã biến mất, hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mộ và mồ mả trống không. Chỉ có một trong hai cớ xác Ngài bởi tay người đem ra khỏi mộ, hoặc bởi quyền phép siêu phàm. Nếu bởi tay người thì hoặc là bạn, hoặc là kẻ thù. Nếu là bạn thì làm thế nào họ có thể đem ra được, vì có hòn đá, dấu niêm phong, và quân lính canh ở đó? Nếu bởi kẻ thù thì thật vô lý: vì ấy là phương cách để lan tràn tin đồn về sự sống lại của Ngài. Ngoài ra, các vải liệm còn để lại trong mộ tỏ ra chắc không kẻ nào đến ăn trộm xác Ngài (xem nguyên văn Giăng 20:6-7; so 11:44). Lại nữa, vì cớ nào mà người Do-thái không thể tìm chứng cớ để tỏ ra không có sự sống lại của Ngài? Gần bảy tuần lễ sau, Phi-e-rơ giảng trong thành đó về Đấng Christ thực sự đã sống lại thì rất dễ cho người Do-thái đem xác Chúa ra là làm cho Phi-e-rơ ngậm miệng. “Sự làm thinh của người Do-thái có ý nghĩa quan trọng như lời làm chứng của các tín đồ.”
Ngày nay người ta đã công nhận có đủ chứng cớ về ngôi mộ trống, và ấy là một phần tín ngưỡng của Hội Thánh đầu tiên. Điều nầy rất quan trọng vì là lời chứng cho Phao-lô khi giảng về sự sống lại của Đấng Christ, và cho các tín đồ giữ ngày thứ nhứt trong tuần lễ để nhóm lại. Có mấy người chống đối đã giải nghĩa sự sống lại của Ngài chỉ là sự phục hưng ảnh hưởng thuộc linh Ngài trên các môn đồ, vì đã bị tiêu tan khi Chúa chết. Bởi thế, họ giữ lẽ đạo sự sống lại, còn niềm tin về thân thể Ngài sống lại khỏi mồ mả thì họ bác bỏ. Các môn đồ đã thấy mồ mả trống không, và tin rằng Ngài đã sống lại. Có lẽ nào tín ngưỡng thì chân thật mà nền tảng là giả dối được? –Một thuyết lý chống đối khác cho rằng các môn đồ của Chúa đã có được một sự hiện thấy khi họ cầu vấn. Nhưng thuyết lý nầy không giải thích được tại sao các môn đồ cần đến sự hiện thấy đó và tại sao sự hiện thấy xảy đến thình lình thôi? Các môn đồ trước đó chắc đã biết sự hiện ra của một thần trong Cựu Ước, giống như của Sa-mu-ên, và cũng biết sự sống lại của một xác chết như La-xa-rơ; song điều họ chưa tưởng tượng hoặc từng trải, đó là thực sự của một “thân thể thuộc linh” tức là sự kết hiệp thân thể và tinh thần bởi một cách hoàn toàn mới lạ trong thân thể Chúa phục sinh. Vậy, phái chỉ trích dẹp bỏ thuyết lý về sự hiện thấy, và thay vào đó là thuyết lý về sự tỏ ra thuộc linh của Đấng Christ phục sinh, vì họ cố tìm cách bác bỏ điều gì minh chứng chính thân thể Ngài đã sống lại. Song đối với người tin Đấng Christ hằng sống, thuyết đó cũng không được chấp nhận; vì như Orr nói: “Sự linh hồn còn sống không phải là sự sống lại. Ai đã từng nghe về việc thần linh bị đem chôn?” Theo lời chép trong bốn sách Tin lành và lời chứng của Tân Ước thì không thể nào nghi ngờ về phép lạ sự sống lại của thân thể Đấng Christ. Đấng đã chết nay lại sống và cai trị!
Có người nói đức tin ngày hôm nay chỉ nên hành động trong Chúa đã được tôn cao và vinh hiển, — song thật ra, cuối cùng đức tin phải căn cứ vào thực sự. Thật khó hiểu thế nào đức tin tín đồ Đấng Christ có thể “bất khả tri” (agnostique, tức không tin sự siêu nhiên) đối với điều chép rất rõ trong Tân Ước và là một phần cốt yếu của lời chứng các Sứ đồ. Vậy, những lần thử làm cho đức tin và chứng cớ lịch sử phản đối nhau, thì phải thất bại luôn trước bức tường ngăn cách của ngôi mộ trống không và thân thể sống lại Đấng Christ, cùng với lời chứng của các Sứ đồ đều đứng vững không hề dời đổi mà chống với mọi thuyết lý.
Người khác gợi ý sự sống lại của Ngài chỉ có nghĩa là Đấng Christ phục sinh đã hiện ra cho môn đồ thấy, song thật ra thân thể Ngài không được sống lại. Song điều khó hiểu ở đây là ý nghĩa thật của danh từ “sự sống lại”. Nếu có nghĩa là sự trở lại từ kẻ chết, sống lại lần nữa, chắc phải có sự đồng nhất giữa thân thể chôn trong mồ mả với thân thể hiện ra cho các môn đồ xem. Nếu ta tin lời chứng của các Sứ đồ về ngôi mộ trống không, thì sao không thể nhận chứng cớ về sự sống lại thật trong thân thể của Ngài. Các môn đồ nhận biết Chúa mình, cả đến Thô-ma cũng vậy, và sự công nhận đó chắc là nhờ quen biết hình dạng của Ngài. Lẽ tự nhiên rất rõ là thân thể phục sinh của Chúa Jesus không đúng hoàn toàn với thân thể chôn trong mồ mả; song chắc chắn có sự đồng nhứt cũng như có sự khác biệt nữa, và cả hai điều nầy đáng được chú ý. Nếu ta tin sự sống lại của Đấng Christ là một sự duy nhứt, thì không có sự gì khó đến nỗi không thể tin được, vì cả đời sống và công việc Ngài đã vượt quá sự từng trải và sự hiểu biết của chúng ta, nên không thể hạn chế quyền Đức Chúa Trời khiến Ngài sống lại trong giới hạn luật thiên nhiên và lịch sử loài người. Vậy, vấn đề thân thể sống lại của Ngài được nuôi dưỡng thể nào là ngoài sự hiểu biết của con người, dầu trưng dẫn đến “thịt và xương”, so với lời Phao-lô về “thịt và huyết” không thể vào được nước Đức Chúa Trời, thì gợi ý rằng thân thể phục sinh đó không nhờ huyết nữa, nhưng “có mọi điều thuộc về bản tánh trọn lành của Ngài.” –Có lẽ không thể giải quyết vấn đề nầy, nhưng chúng ta phải cứ nắm giữ các thực sự tóm tắt được: “Thân thể vẫn chỉ là một mặc dầu có khác, dầu có khác nhưng vẫn chỉ là một”. Đấng Christ đã thực sự hiện ra trong một thân thể phục sinh mới với môn đồ.
III. Các môn đồ được đổi mới là chứng cớ thứ ba.– Các môn đồ đã thấy Chúa chết, và bởi đó mất hết hy vọng; dầu vậy, hy vọng đã trở lại ba ngày sau. Ngày Chúa chịu đóng đinh, lòng họ đầy sự phiền não; đến “ngày thứ nhứt trong tuần lễ” sau đó thì lại đầy dẫy sự vui mừng. Khi mới nghe tin Ngài sống lại, họ không tin, thật khó để tin là sự thật; song một khi họ đã chắc chắc là thật, thì chẳng bao giờ còn nghi ngờ nữa. Làm thế nào giải thích được sự thay đổi đó trong một thời gian ngắn ngủi như thế. Nếu chỉ là sự dời xác Ngài khỏi mồ mả, điều đó không thể đổi mới đời sống và tánh nết các môn đồ đó được. Cũng nên nhớ, ba ngày không đủ cho một chuyện hoang đường xuất hiện để đổi mới con người như vậy. Hội Thánh đầu tiên đã ngạc nhiên về một sự mới lạ đang hành động trong các môn đồ, vì tin Chúa mình đã sống lại. Ấy là một thực sự về tâm lý học đòi phải giải nghĩa. Các môn đồ sẵn lòng tin sự hiện ra của một thần, song chẳng hề nghĩ đến sự sống lại có thể xảy ra (Mác 16:11, 13). Những người đàn ông không quen tưởng tượng điều mình không tin, và những người đàn bà có ý đến xông thuốc thơm cho xác Chúa tỏ ra cũng không ngờ Ngài sống lại. Vả lại, 500 người đồng một lúc có ảo tưởng, và lập lại mấy lần trong bốn mươi ngày, là điều không suy nghĩ được.
IV. Sự thực hữu của Hội Thánh đầu tiên là chứng cớ thứ tư.–“Chắc chắn Hội Thánh đầu tiên tin có sự phục sinh của Chúa”. Hội Thánh được thành lập là kết quả của đức tin về sự Chúa sống lại. Trong sách Công vụ các sứ đồ có hai sự thực không thể chối cãi được:
(a) Hội Thánh được mở mang, phát triển là bởi sự truyền đạo.
(b) Điều cốt yếu của việc truyền đạo là rao truyền sự sống lại của Chúa Jesus Christ. Vì Chúa Jesus chịu chết trên cây thập tự, nên có lẽ người Do-thái chối bỏ Ngài, coi như Ngài bị Đức Chúa Trời rủa sả (Phục 21:23). Dầu vậy nhiều người Do-thái vẫn tin và thờ phượng Ngài (Công 2:41), và “có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa” (Công 6:7). Chỉ có một điều có thể cắt nghĩa được, ấy là Đức Chúa Trời đã khiến Đấng Christ sống lại (Công 2:36), chỉ có điều đó mới có thể dẫn người Do-thái tin rằng Chúa Jesus là Đấng Mê-si của mình. Hội Thánh thời các Sứ đồ là kết quả của sự tin Chúa Jesus đã sống lại. Việc Chúa sống lại có phải là truyện thần tiên, hoang đường không? Những sự thực tỏ ra chẳng hề như vậy, vì không có sự gì viễn vông hoặc không hiểu được về chứng cớ của các Sứ đồ và các tín đồ Hội Thánh đầu tiên, như Tổng giám mục Alexander đã viết: “Hội Thánh là thánh khiết quá đỗi thì không thể đã được lập trên nền tảng của sự hư xấu, cũng như những sự thật hiển nhiên quá đỗi thì không thể lập trên nền tảng của sự huyền ảo.”
V. Lời làm chứng của Phao-lô là chứng cớ thứ năm. Sự tin đạo và chức vụ của Phao-lô, người Tạt-sơ, là một chứng cớ rõ ràng. Xin chú ý về chứng cớ đời sống và lời xác quyết của Phao-lô về sự Chúa sống lại. Trước hết, hãy xem một người ngoại có ý kiến gì khi đọc các bản viết sớm nhứt còn lưu lại của Phao-lô, tức I Tê-sa-lô-ni-ca. Có một quan điểm rõ ràng: Chúa Jesus bị giết (2:15; 4:14), và được sống lại từ kẻ chết (4:14). Vì thơ nầy viết vào khoảng thời gian 51 S.C., tức độ 22 năm sau khi Ngài sống lại, và vì thơ nầy hoàn toàn xác nhận rằng Chúa Jesus Christ thi hành chức vụ của Đức Chúa Trời đối với loài người (1:1, 6; 2:14; 3:11), nên ta có thể thấy sức mạnh của lời chứng nầy về sự sống lại. Kế đó, chỉ vài năm sau (trong ICôr 15:1-), Phao-lô nói càng đầy đủ hơn về Đấng Christ sống lại, và ông nhấn mạnh rằng bởi sự sống lại đó các tín đồ cũng sẽ sống lại. Phao-lô bày tỏ bằng cớ sự sống lại là thật bởi những lần Đấng Christ hiện ra, và lần cuối cùng cho chính mình: “Rốt lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem” (15:8). Nên cẩn thận nghiên cứu lời chứng của Phao-lô. “Trước hết tôi đã dạy dỗ anh em đều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại theo lời Kinh Thánh” (15:3). Ấy là lời chép trong vòng 30 năm sau khi Chúa sống lại. Theo nghĩa câu đó, Phao-lô độ 5 năm sau khi Chúa bị đóng đinh đã xác quyết: Đấng Christ đến “ngày thứ ba” (sau khi chết) đã sống lại. Ấy là chứng cớ của Phao-lô, một học giả. Phao-lô tin sự sống lại của Chúa vào ngày thứ nhứt trong tuần lễ, và chắc chắn Sứ đồ này đã hỏi những người khác và tra xét cho mình trong lúc những kẻ phản đối đạo Tin lành có thể ngăn trở và nói những lời không đúng sự thật. Vậy, vì lời chứng cá nhân của Phao-lô về việc mình tin đạo, về những cuộc hội kiến với những người đã thấy Đấng Christ trước và sau sự phục sinh, và nhất là qua đời sống cũng như những việc làm của Phao-lô vì đã thấy Đấng Christ phục sinh, nên ta có thể chắc chắn rằng: “Ngày thứ ba, Ngài sống lại theo lời Kinh Thánh.”
VI. Các sách Tin lành là chứng cớ thứ sáu.– Hội Thánh đã tin sự sống lại của Đấng Christ một thời gian trước khi các sách Tin lành được chép ra. Bởi vậy, theo trật tự hợp lý, ta dành phần cuối để xem xét những lần Đấng Christ phục sinh hiện ra, theo lời chép trong bốn sách Tin lành. Ngày nay có nhà học giả Kinh Thánh tin rằng Mác là sách Tin lành đầu, và Ma-thi-ơ cũng như Lu-ca có nhờ sách đó mà chép. Cũng có học giả cho rằng: Mác 16:8, là câu cuối cùng của sách Mác.Vì những câu 9-20 thiếu trong hai bản cổ nhứt. Dầu vậy, ta có thể xem xét những lần Chúa phục sinh hiện ra, vì những thuyết lý về nguồn gốc và những sự tương quan của các sách Tin lành không quan hệ mấy. Trong các sách Tin lành, có nói đến hai phạm vi trong sự hiện ra của Chúa phục sinh: một ở thành Giê-ru-sa-lem, và một ở Ga-li-lê. Đây là tài liệu cho người tin, vì nếu sự hiện ra chỉ xảy ra ở một nơi, thì có lẽ lời chứng đó chưa được chắc chắn lắm và có thể bị chối bỏ. Trong bài nầy không thể tra xét từng nơi trong sự hiện ra, chỉ có thể chú ý đến hai lần trong toàn bộ các lần hiện ra. Không ai đọc truyện hai môn đồ trên đường về làng Em-ma-út (Lu 24:1-), và truyện Phi-e-rơ và Giăng đến thăm mộ (Giăng 20:1-) mà không nhận thấy những sự thực được bày tỏ rõ ràng, và lời chứng riêng trong mỗi truyện là chân thật. Truyện thứ nhứt có các chứng cớ bề trong rất sâu nhiệm đáng tin theo văn tự, vì thuật lại sự giao thông của “Chúa phục sinh” với hai người tầm thường, đến nỗi như đặt sự tự nhiên và sự siêu nhiên bên cạnh nhau một cách hòa hợp hoàn toàn. “Đấng Christ phục sinh có hiện ra trên đường Em-ma-út là một sự thực, và thầy truyền đạo Lu-ca chỉ chép đúng như đã xảy ra” (Moule).
Chính những sự khó giải thích trong bốn sách Tin lành trải qua gần mười chín thế kỷ về Đấng Christ phục sinh, lại là một chứng cớ cho Hội Thánh Đấng Christ trải qua các đời tin quyết sự việc Chúa sống lại đúng như lời Kinh Thánh đã thuật lại. Bởi thế, Hội Thánh đã lưu lại những truyện tích y nguyên, vì nếu không có những sự khó đó, chắc những người chỉ trích có thể nói sự việc đã bị sửa đổi lại bởi con người. Vả lại, ai cũng biết lời tường thuật của các người chứng kiến thường khác nhau về tiểu tiết, nhưng không ai có sự hồ nghi gì về chính biến động đó. Cho nên, ta tin, vì sự nghiên cứu kỹ càng những lần Chúa hiện ra, sẽ tỏ cho chúng ta thấy bằng chứng của những sự việc xảy ra liên tiếp từ khi Chúa phục sinh cho đến ngày Chúa thăng thiên.
Tiến sĩ Scofield chú thích ở phần Mat 28:1 và Mat 28:9.
VII. Tóm tắt và kết luận.–Theo những bằng chứng và sự thực kể trên, sự sống lại là một phép lạ. Các Sứ đồ tin thật có sự sống lại về thân thể, không nghi ngờ gì. Dầu vậy, nhiều nhà tư tưởng hiện thời chối bỏ những sự gì gọi là phép lạ, vì khoa học dựa trên những hiểu biết và nghiên cứu của con người về những qui luật trong cõi thiên nhiên đã không chấp nhận và ngăn trở niềm tin về sự sống lại của thân thể đến nỗi từ ban đầu đã kết luận rằng các phép lạ không thể có. Chúng ta dám thách đố ý đó, vì nếu ta không tin Đức Chúa Trời có thể can thiệp đến việc mà ta gọi là siêu nhiên, hoặc phép lạ, thì cũng không thể bàn chút gì về Ngôi vị Đấng Christ được. “Một ngôi vị vô tội là một phép lạ.” Do đó đạo Đấng Christ là duy nhứt, mở đầu một kỷ nguyên mới trong các việc loài người. Vậy nên, không có tín đồ nào có thể thấy khó nhận sự trái luật tự nhiên, sự bất thường, và phép lạ. Ta há lại không cho phép Đức Chúa Trời ít nhứt cũng có sự tự do bằng chính mình sao? Sao lại có thể tưởng rằng Đức Chúa Trời kém sự tự do hành động hơn ta chăng? Ta có thể ưa hoặc ghét, cho hoặc giữ lại, muốn hoặc không muốn, — song cuộc chuyển vần của tạo vật phải cứ liên tục không hề ngừng. Chắc chắn ta không thể nào nhận rằng Đức Chúa Trời đã lập vũ trụ để hạn chế quyền phép Ngài đến nỗi không được xen vào, dầu có cần và vì mục đích hữu ích cho công việc của chính tay Ngài. Chẳng những mọi sự là từ Ngài song mọi sự là bởi Ngài, và thuộc về Ngài. Sự sống lại là một phép lạ, và nếu ta không chịu tin thì mọi sự giải nghĩa những sự việc xảy ra trong Tân Ước chỉ là mất thì giờ. Cuối cùng, mỗi kết quả phải có nguyên nhân đầy đủ, và sự giải nghĩa chính đáng của Đấng Christ hiện nay chỉ là sự sống lại của Ngài. “Sự sống lại là như một vầng đá mà những búa của những kẻ chỉ trích chẳng hề đập vỡ được một mảy may nào.
VIII. Thần đạo về sự sống lại.– Có thể tóm tắt như sau:
(1) Bởi chứng cớ: Sự sống lại là chứng cớ của việc Đấng Christ chết để cứu chuộc, của Thần tánh, và sự tôn vinh Ngài (Rô 1:4).
(2) Bởi sự truyền đạo: Tin lành đầu tiên được rao truyền bao gồm tất cả chứng cớ của sự sống lại, bởi đó tỏ cho những người nghe được biết chắc chắn về sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời (ICôr 15:1-4; Rô 4:25).
(3) Bởi phần thuộc linh: Sự sống lại được coi là nguồn và mẫu mực về sự thánh khiết của các tín đồ. Mỗi phương diện của đời tín đồ Đấng Christ từ đầu chí cuối đều có quan hệ với sự sống lại (Rô 6:1-).
(4) Bởi tương lai: Sự sống lại của Đấng Christ là bảo đảm và mẫu mực cho sự sống lại của tín đồ (ICôr 15:1-). Như xưa, thân thể các thánh đồ sống lại (Mat 27:52), cũng vậy, thân thể tín đồ sẽ được làm cho sống (Rô 8:11), và làm nên giống như thân thể vinh hiển của Đấng Christ (Phil 3:21), bởi đó thành ra những thân thể thuộc linh, tức là thân thể được cai trị bởi thần linh mình, song vẫn là thân thể. Những quan điểm nầy chỉ gợi ý về sự dạy dỗ đầy đủ của Tân Ước về lẽ đạo Đấng Christ sống lại.
Phỏng theo W.H. Griffith THOMAS.
Tiến sĩ Scofield chú thích về sự sống lại của Đấng Christ.
Thi 22:22.– Đến câu 22 nầy, Thi 22:1- cách quãng từ lúc đóng đinh trên thập tự cho đến sự sống lại, được ứng nghiệm trong câu: “Hãy đi đến cùng anh em ta”, v.v.. của Giăng 20:17. Đấng Christ phục sinh phán cho các anh em Ngài biết danh “Cha.”
Thi 16:9.– Xem bài “Nước”, phần Tiến sĩ Scofield chú thích về nước thiên đàng.
Mat 28:1.– Thứ tự của các biến động, gom góp cả bốn sách Tin lành, xảy ra như sau nầy: Ba người đàn bà gồm có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ Gia-cơ, và Sa-lô-mê, đi đến phần mộ, có mấy người đàn bà khác theo sau đem thuốc thơm. Cả ba bà đến mộ thì thấy hòn đá đã lăn rồi, và Ma-ri Ma-đơ-len chạy đi đến nói với các môn đồ (Lu 23:55-24:9; Giăng 20:1-2). Ma-ri, mẹ Gia-cơ và Giô-sê, đến gần mộ hơn, và thấy thiên sứ của Chúa (Mat 28:3). Hai bà quay lại để gặp các người đàn bà đang đi sau đem theo thuốc thơm. Trong lúc đó, Phi-e-rơ và Giăng được Ma-ri Ma-đơ-len báo tin cho, liền chạy đến mộ, nhìn vào, và quay về (Giăng 20:3-10). Ma-ri Ma-đơ-len trở lại mộ khóc lóc, thấy hai thiên sứ và kế đến Chúa Jesus (Giăng 20:11-18), vâng theo lời Ngài truyền, bà đi nói với các môn đồ. Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sê, trong lúc đó đã gặp các người đàn bà khác đem thuốc thơm đến, và trở về với họ, thì họ thấy hai vị thiên sứ (Lu 24:4-5; Mác 16:5). Họ cũng nhận sứ mạng của thiên sứ mà đi tìm các môn đồ, thì Chúa Jesus gặp (Mat 28:8-10).
Mat 28:9.– Thứ tự của những lần Chúa hiện ra có lẽ xảy ra như sau: Nhằm ngày Chúa sống lại:
(1) Cho Ma-ri Ma-đơ-len (Giăng 20:14-18).
(2) Cho các người đàn bà từ mộ Chúa trở về với sứ mạng của thiên sứ (Mat 28:8-10).
(3) Cho Phi-e-rơ, có lẽ vào buổi chiều (Lu 24:34; ICôr 15:5).
(4) Cho hai môn đồ làng Em-ma-út gần buổi tối (Lu 24:13-31).
(5) Cho các Sứ đồ trừ ra Thô-ma (Lu 24:36-43; Giăng 20:19-24).
Tám ngày sau:
(1) Cho các Sứ đồ, Thô-ma có mặt (Giăng 20:24-29).
Trong xứ Ga-li-lê:
(1) Cho bảy Sứ đồ trên bờ biển Ti-bê-ri-át (Giăng 21:1-23).
(2) Trên núi cho các Sứ đồ và năm trăm anh em (ICôr 15:6).
Tại Giê-ru-sa-lem và Bê-tha-ni lần nữa:
(1) Cho Gia-cơ (ICôr 15:7).
(2) Cho mười một Sứ đồ (Lu 24:50-53; Mác 16:19-20; Công 1:9-12).
Cho Phao-lô:
(1) Gần Đa-mách (Công 9:3-6; ICôr 15:8).
(2) Trong Đền thờ (Công 22:17-19; 23:11).
Cho Ê-tiên, ngoài thành Giê-ru-sa-lem (Công 7:55).
Cho Giăng tại đảo Bát-mô (Khải 1:10-19).

Lên đầu trang