Sự sống lại

Resurrection. Résurrection.
I. Định nghĩa.– Nguyên văn Hy-lạp trong Tân Ước là anástasis với hai động từ anistemi, nghĩa là “đứng dậy” và égéírô, “nâng lên”. Không có danh từ đặc biệt trong Cựu Ước, chỉ trong Ês 26:19 thấy chép mấy động từ hayah, (trên hai chữ a có dấu -) có nghĩa là “sống”, C#m “trổi dậy”, và k#c, “thức giấc.”
II. Thái độ của Y-sơ-ra-ên với sự sống lại.– Trong đời Cựu Ước, dầu lẽ đạo về sự sống sau khi chết đã được bàn luận đến nhiều trong các dân tộc xung quanh, như Ai-cập và Ba-tư, nhưng giữa dân Y-sơ-ra-ên, lẽ đạo đó lại được phát triển muộn hơn. Ấy vì tôn giáo Y-sơ-ra-ên tập trung lại trong tôn chỉ của một dân tộc thánh. Bởi vậy, vấn đề tương lai cá nhân được coi là điều quan trọng thứ hai. Cho nên trong Cựu Ước chỉ chép ít về lẽ đạo nầy, tuy nhiên có một vài ý cũng bày tỏ về lẽ đạo nầy. Sanh mạng cá nhân gồm có “xác thịt” và nephesh hay ruah, nghĩa thứ nhứt là “hơi thở” như là nguyên lý cử động của xác thịt (các loài kém người cũng có, Thi 104:29-30). Song về sau nephesh cũng dùng chỉ về “người bề trong” hoặc “bản ngã” (Phục 12:20 v.v…), nên thường dịch là “linh hồn”. Chỉ có mấy chỗ nephesh được dùng là nơi có tên sau khi chết (Thi 30:3 so 16:10; Ês 38:17; Gióp 33:18 v.v…). Vấn đề có sự gì sau khi chết dường như không luận đến mấy, nhưng kẻ chết được coi như là rephâ’im, “âm hồn”, trong bản Pháp dịch là ombres (Gióp 26:5), là những mẫu rập theo con người như vốn có (Êxê 32:25). Các âm hồn đó bất cứ là thế nào, cũng ở ngoài sự giao thông với Đức Giê-hô-va, là Đấng mà “kẻ chết… chẳng ngợi khen” (Thi 115:17-18; Ês 38:18-19), nên không có lợi ích gì cho tôn giáo. Nếu có, thì có lẽ chống trả với tôn giáo vì dường như các âm hồn đó liên quan với thuật phù phép, gọi hồn (Phục 14:1; 26:14; Ês 8:19; Thi 106:28; v.v…), hoặc về các tôn giáo ngoại bang. Dầu vậy, khi Y-sơ-ra-ên được nhận biết Đức Chúa Trời một cách đầy đủ hơn, có từng trải rộng hơn và suy nghĩ sâu nhiệm hơn, thì luận đến lẽ đạo về sự sống lại khi chết. Chủ nghĩa cá nhân được tỏ ra rất rõ ràng trong Êxê 14:1-; 18:1-; 33:1- so Phục 24:16; Giê 31:29-30, song phương diện quốc dân còn cho rằng sự thưởng phạt cá nhân chỉ là vấn đề trong đời nầy (Êxê 14:14; Thi 37:1-; v.v…). Có lẽ vì lẽ đạo ấy không phù hợp với những thực sự của sự sống (xem Gióp), nên lẽ đạo về sự không hề chết đã được gợi ý và sau được bày tỏ rõ ràng hơn trong các sách Apocryphe (Ngụy kinh), có lẽ vì lúc đó có nhiều người tử vì đạo.
Đối với vấn đề sự chết có gì, dân Y-sơ-ra-ên theo sự gợi ý lờ mờ trong Cựu Ước, thì họ tin rằng có sự sống lại. Sách Talmud của Do-thái giáo có thuyết lý thông thường: thân thể cũ sẽ nhận lấy linh hồn mới. Sử gia Josèphe (37-95 S.C.) nói phái Essenes giữa dân Do-thái, tin lẽ đạo linh hồn chẳng hề chết, song cũng lấy tín ngưỡng phái Pha-ri-si về lẽ đạo sự sống lại theo Cựu Ước mà biến đổi thành thuyết tin linh hồn di cư, dường như theo sự dạy dỗ của nhà triết học Hy-lạp Pythagore (thế kỷ VI T.C.).
III. Sự dạy dỗ của Cựu Ước.– Xem nhận định về “cây sự sống” trong bài Sự Sống, ở trên, có nói về sự sống không hề chết. Chính Đấng Christ nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để tỏ ra sự sống lại (Xuất 3:6, 16). Ngài đã phán với người Sa-đu-sê: “các ngươi lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời” (Mác 12:24). Rabbin Simai luận đến Xuất 6:3, 4:1- “Tại đó không chép ban xứ Ca-na-an cho ngươi (Môi-se), song cho họ (Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp), bởi đó sự sống lại từ kẻ chết được tỏ ra từ Luật pháp.” Vậy, người Pha-ri-si tin sự sống lại thì gìn giữ tín ngưỡng các tổ phụ tin kính trong dân Y-sơ-ra-ên. Đó cũng chính là tín ngưỡng của Ma-thê và Phao-lô (Giăng 11:25; Công 26:6-8). Lời Gia-cốp khẩn nguyện khi hấp hối: “Tôi trông ơn chửng cứu của Ngài” (Sáng 49:18), và lời cầu xin của Ba-la-am: “Người công chính thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy”, v.v.. (Dân 23:10), đã quả quyết rằng có một đời tương lai. Gióp cũng tỏ rõ sự trông đợi được sống lại bởi Đấng Cứu Chuộc (14:13-15; 19:23-27). Đa-vít cũng vậy (Thi 16:9-11; 17:14, 15; 49:15; 73:24), trông đợi rằng “Chúa sẽ chẳng bỏ linh hồn tôi trong Âm phủ”, đến nỗi “linh hồn tôi nức mừng rỡ” và “sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Đức Giê-hô-va”. Điều đó đã được ứng nghiệm trong Đấng Christ là Trái đầu mùa của sự sống lại (Công 2:25-31), và sau các chi thể Ngài (tín đồ) cũng vậy. Ês 26:19 chép về những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết đều trổi dậy; thân thể đã chết của Đấng Christ được sống lại là của cầm về sự sống lại của toàn thể dân Đức Giê-hô-va. Đa 12:2 theo Hê-bơ-rơ : Từ giữa những kẻ ngủ trong bụi đất, kẻ thì thức dậy để được sự sống đời đời (dự phần sự sống lại thứ nhứt, so Khải 20:1-) nhưng có kẻ thì sống lại để chịu xấu hổ nhơ nhuốc đời đời (sau ngàn năm bình an). Có thể nói cách chung, chính thân thể đời nay, dầu chắc thay đổi nhiều, sẽ bị phạt hoặc được thưởng ở đời sau (Giê 2:19; Ês 3:9-11; Khải 22:11, 12; IICôr 5:10).
IV. Sự dạy dỗ của Đấng Christ. — Vấn đề nầy được bàn cách tỏ tường bởi Ngài trong Mác 12:18-27; Mat 22:23-33; Lu 20:27-38, khi trả lời phái Sa-đu-sê về câu hỏi luật hôn nhân đời sau. Trong sự bàn luận đó, dường như chỉ nói đến sự sống lại của kẻ công bình cũng như ở Lu 14:14; song thấy Mat 8:11, 12; Lu 13:28; cũng nói đến người không công bình sẽ sống lại để bị đoán phạt. Khi ấy người Sô-đôm, Ty-rơ, Ni-ni-ve sẽ có mặt (Mat 11:22-24; 12:41, 42; Lu 10:14; 11:32) và những người bị liệng vào địa ngục có thân thể (Mác 9:43-47; Mat 5:29, 30; 10:28; 18:8, 9). Về vấn đề hai sự sống lại v.v.. xem bài Tiến sĩ Scofield ở dưới.
V. Sự dạy dỗ của các Sứ đồ. — Đối với các Sứ đồ, sự việc Đấng Christ đắc thắng sự chết, thì cất lấy lẽ đạo sự sống lại khỏi cõi thuyết lý về tương lai. Từ đó trở đi, sự sống lại của Chúa là một thực sự của sự từng trải, là nền tảng của Đạo Tin Lành Đấng Christ mà họ rao giảng. Vậy, trong Tân Ước ta thấy các Sứ đồ làm chứng trực tiếp về sự sống lại trong Công 4:2; 17:18, 32; 23:6; 24:15, 21; Rô 4:17; 5:17; 6:5, 8; 8:11; 11:15; ICôr 6:14; 15:1-; IICôr 1:9; 4:14; 5:1-10; Phil 3:10, 11, 21; Cô 1:18; ITê 4:13-18; IITi 2:18; Hêb 6:2; 11:19, 35; Khải 20:4, 5 (chỉ người tử vì đạo); 20:12, 13. Chỉ Công 24:15 và Khải 20:12, 13 nói rõ về một sự sống lại chung của người công bình và không công bình thôi.
VI. Thần đạo Phao-lô. — Phao-lô bày tỏ đầy đủ một thần học về sự sống lại. Nền tảng của sự dạy dỗ đó, là tín đồ hiệp một với Đấng Christ, đến nỗi sự sống lại của tín đồ theo sau sự sống lại của Ngài (nhứt là Rô 6:5-11; Phil 3:10, 11). Mỗi lần tín đồ được giải cứu khỏi sự nguy hiểm thì như nếm trước sự sống lại (IICôr 4:10, 11). Thật ra, đối với Phao-lô, sự sống lại chắc chắn đến nỗi có thể nói như là xong rồi (Êph 2:6). Về mặt khác sự sống lại chỉ là một phần trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời đối với muôn vật trong ngày sau cùng (Rô 8:11, 18-25). Khi tín đồ vào sự vinh hiển đó, thì thân thể phải được biến hóa để hiệp với những điều kiện mới (ICôr 15:50; Phil 3:21). Chỉ cần xem cõi thiên nhiên để hiểu biết, như hình thể của một hột giống lúc gieo ra và sau khi mọc lên (ICôr 15:38-41). Cũng vậy, tôi được “gieo” hoặc sanh ra với một thứ thân thể, song lúc sống lại sẽ có một thân thể hiệp với sự sống tôi với Đấng Christ và Đức Chúa Trời (câu 42:44). Nếu tôi còn sống lúc Đấng Christ tái lâm (parousia), thì thân thể hiện có sẽ mặc lấy thân thể mới từ trên trời (câu 53:54; IICôr 5:2-4); và nếu tôi chết rồi, thì thân thể tôi sẽ mặc lấy thân thể không hay hư nát đó (câu 52). Khi biến hóa như thế, thì các phần tự nhiên của thân thể nầy sẽ bị hủy hoại (ICôr 6:13); Lý do không làm ô uế thân thể nầy, phải giữ tinh sạch, vì thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự và thân thể sẽ sống lại (ICôr 6:13-20). Phao-lô không hề luận đến vấn đề thân thể vật chất hiện nay liên quan với thân thể sống lại thế nào.Thân thể vật chất của con người hay thay đổi. Có lẽ có một thứ vật chất không thể hủy phá, là nền tảng của thân thể hiện nay và thân thể sống lại. Chỉ biết chắc ITê 4:16, 17; ICôr 15:52 chép rõ kẻ chết sẽ sống lại khỏi mồ mả như chính Đấng Christ (ICôr 15:4).
Tiến sĩ Scofield chú thích về sự sống lại như sau nầy:
Ês 26:19.– Câu 19-21 với đoạn 27:1- hợp lại làm lời của Đức Giê-hô-va đáp lại tiếng than vãn của dân Y-sơ-ra-ên, câu 11-18. Nên chú ý trong câu 19 là chỉ về những thân thể chết của dân Đức Giê-hô-va. Sự bổ sức và sự lập lại Y-sơ-ra-ên thành một dân tộc cũng nói đến như là một sự sống lại (Êxê 37:1-11) và nhiều người tin rằng ấy là nghĩa của Ês 26:19 nầy. Song vì sự sống lại thứ nhứt dẫn đến sự dự phần trong nước ngàn năm bình an (Khải 20:4-6), thì dường như ý tốt nhứt để chúng ta hiểu rằng ở đây có cả hai nghĩa đó.
ICôr 15:52.– Tóm tắt sự sống lại.
(1) Sự sống lại của kẻ chết được các tổ phụ tin đến (Sáng 22:5 với Hêb 11:19; Gióp 19:25-27) và được tỏ ra bởi các tiên tri (Ês 26:19; Đa 12:2, 13; Ôs 13:14), và những phép lạ người chết được sống lại có thuật trong Kinh Thánh (IICác 4:32-35; 13:21).
(2) Chúa Jesus Christ khiến kẻ chết sống lại (Mat 9:25; Lu 7:12-15; Giăng 11:43, 44), và dự ngôn về sự sống lại của chính Ngài (Giăng 10:18; Lu 24:1-8).
(3) Sự sống lại của các xác thịt theo sau sự sống lại của Đấng Christ (Mat 27:52, 53), và các sứ đồ khiến kẻ chết sống lại (Công 9:36-41; 20:9, 10).
(4) Hai sự sống lại còn ở trong tương lai, gồm có sự sống lại của “mọi người ở trong mồ mả” (Giăng 5:28). Hai sự sống lại đó được phân biệt “về sự sống” (ICôr 15:22, 23; ITê 4:14-17; Khải 20:4), và “về sự phán xét” (Giăng 5:28, 29; Khải 20:11-13). Hai sự sống lại cách quãng nhau một thời gian ngàn năm (Khải 20:5). Sự sống lại thứ nhứt, là “đến sự sống”, sẽ xảy ra khi Đấng Christ tái lâm (ICôr 15:23), các thánh đồ đời Cựu Ước và Hội Thánh trải các đời gặp Ngài nơi không trung (ITê 4:16, 17); còn các người tử vì đạo trong thời đại nạn cũng dự phần trong sự sống lại thứ nhứt (Khải 20:4) sẽ được cất lên cuối thời kỳ đại nạn.
(5) Thân thể hay chết sẽ liên lạc với thân thể sống lại như hạt giống liên quan với mùa gặt (ICôr 15:37, 38); thân thể đó sẽ không hư nát vinh hiển quyền phép, và thuộc linh (ICôr 15:42-44, 49).
(6) Những thân thể của các tín đồ còn sống lúc đó thình lình được biến hóa (ICôr 15:50-53; Phil 3:20, 21). Sự “thay đổi” đó của người còn sống, và sự sống lại của kẻ chết trong Đấng Christ, được gọi là sự “cứu chuộc thân thể” (Rô 8:23; Êph 1:13, 14).
(7) Sau ngàn năm thì có sự sống lại để chịu phán xét (Giăng 5:29). Thân thể sống lại của kẻ ác đã chết không được mô tả. Chúng bị đoán phạt tùy theo công việc, và bị ném vào hồ lửa (Khải 20:7-15).
ITê 4:17. — Không phải chỉ các thánh đồ trong Hội Thánh thôi, song hết cả các thân thể của những kẻ được cứu, bất cứ vào thời đại nào, cũng gồm lại trong sự sống lại thứ nhứt (xem ICôr 15:52) như đây mô tả, đó là “sự trông cậy phước hạnh” của Hội Thánh (so Mat 24:42; 25:13; Lu 12:36-48; Công 1:11; Phil 3:20, 21; Tít 2:11-13).
Khải 20:5. — “Sự sống lại của người công bình” được nói đến trong Lu 14:13, 14, và sự sống lại để được sống, phân biệt với sự sống lại để chịu đoán phạt trong Giăng 5:29, tại đây, có chép lần thứ nhứt về khoảng thời gian phân rẽ hai sự sống lại đó (xem ICôr 15:52).
ITi 1:20. – Câu này rất có ý nghĩa vì chép việc nghiêm trị mọi sự dạy dỗ giả dối, nhứt là về sự sống lại, đến nỗi Phao-lô đã cho sự dạy dỗ rằng “sự sống lại đã đến rồi” (IITi 2:17, 18) là một tội phạm thượng.

Lên đầu trang