Hình tượng, Sự thờ

Idolatry. Idolâtrie.
Sự thờ hình tượng nếu hiểu theo một cách đúng đắn, là sự thờ lạy một thần qua một hình ảnh thấy được, bất cứ là hình để chỉ bóng Đức Chúa Trời chân thật, hay là hình ảnh các tà thần được đặt ra để thờ lạy thay cho Ngài.
I. Lịch sử thờ hình tượng giữa dân Do-thái.–Lần đầu tiên Kinh Thánh chép về sự thờ hình tượng hay tục lệ đó là khi Ra-chên ăn cắp tượng Thê-ra-phim của cha (Sáng 31:19), có một chứng cớ về các tổ phụ Y-sơ-ra-ên “thuở xưa ở phía bên sông hầu việc các thần khác” được chép ở Giô 24:2. La-ban nhờ các thần đó để đoán ý của “Đức Giê-hô-va” trên cháu mình là Gia-cốp (Sáng 30:27), và Gia-cốp dầu không bỏ hẳn Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Na-cô, nhưng cũng kêu cầu thần khác khi có cần (Sáng 31:53). Đó là một đặc điểm về sự thờ hình tượng của Y-sơ-ra-ên, như dân Cút, ở Sa-ma-ri, vừa “kính sợ Đức Giê-hô-va”, vừa “dâng của lễ tại trong chùa miếu” (IICác 17:33). Họ lẫn lộn giũa lòng tin ở Đức Chúa Trời với sự tôn kính bề ngoài đối với các thần của các dân xung quanh.
Thời gian lâu kiều ngụ tại xứ Ai-cập, Y-sơ-ra-ên tự làm ô uế mình bởi các thần tượng trong xứ đó, một thời gian dài mới tẩy được vết dơ đó (Giô 24:14; Êxê 20:7). Đối với các thần tượng đó, Môi-se, sứ giả của Đức Giê-hô-va, đến cấm thờ lạy, và có tai vạ giáng xuống trên xứ Ai-cập (Dân 33:4). Thế mà, dân sự cứ nhớ những sự thờ lạy đó, nên khi Môi-se vắng mặt trên núi Si-na-i, họ cứ ước ao có một hình thấy được để thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng đã dắt đem họ ra khỏi xứ Ai-cập (Xuất 32:1-). Và nghe theo lời Y-sơ-ra-ên kêu xin, A-rôn chọn hình bò con là một thần họ đã quen biết lâu để họ thờ lạy thế cho Đức Giê-hô-va. Vì người Ai-cập tin có thần Apis, chỉ về quyền sanh ra của cõi thiên nhiên, đã nhập vào hình bò con của mình.
Khi dựng Đền tạm với những lễ nghi theo sau, thì Y-sơ-ra-ên được thỏa lòng vì sự thờ phượng của mình đã được tỏ ra qua bề ngoài. Cho nên trong khi lưu lạc nơi đồng vắng, vì có nơi ngự của Đức Giê-hô-va giữa mình, Y-sơ-ra-ên không dám bội đạo một cách tỏ tường nữa. Và họ cứ giữ được đạo chánh khi có sự bội đạo giữa các dân tộc. Vậy, trọn đời của Giô-suê và các trưởng lão kế tiếp, Y-sơ-ra-ên cứ trung tín với Chúa.
Nhưng đến đời sau, là đời không biết Chúa và công việc Ngài, Y-sơ-ra-ên xa cách đường các tổ phụ và sa vào bẫy của các dân ngoại bang (Quan 2:1-). Từ đó trở đi, lịch sử Y-sơ-ra-ên chỉ là một chuỗi của những tội ác và hình phạt (Quan 2:12, 14). Mỗi khi dân nào thắng Y-sơ-ra-ên, thì lập sự thờ thần tượng riêng mình trong xứ. Cho đến nay, sự thờ hình tượng là tội chung của dân sự.
Truyện về Mi-ca chép trong Quan 17:1-; 18:1- rọi một tia sáng để bày ra việc giấu kín gớm ghiếc mà cá nhân thường hay phạm, là người bề ngoài dầu không bỏ hẳn Chúa, nhưng bề trong không nhận biết Đức Chúa Trời là Vua độc nhất (Quan 17:6), nên đưa đến việc lẫn lộn sự thờ phượng Ngài với sự thờ hình tượng. Đời sau, người ta thờ hình tượng cách giấu kín càng nhiều hơn. Người ta đặt hình tượng trong các sân đạp lúa, hầm ép rượu, đàng sau cửa và trụ cửa (Ês 57:8; Ôs 9:1-2). Khi trước đã có lập luật trong Phục 27:15 để ngăn ngừa sự khuynh hướng nầy. Dưới đờISa làm quan xét, có tổ chức một cuộc kiêng ăn và làm lễ tẩy uế, ấy để tỏ ra trước hội chúng dân sự bỏ hẳn sự thờ hình tượng (ISa 7:3-6).
Nhưng trong đời vua Sa-lô-môn, dân sự lại quên hết. Mỗi cung phi ngoại bang mà Sa-lô-môn cưới về cũng mang thần tượng của xứ mình theo để thờ lạy. Các thần của Am-môn, Mô-áp và Si-đôn được thờ phượng cách tỏ tường. Rô-bô-am, con một đàn bà Am-môn, cứ phạm tội rất nặng về sự thờ hình tượng của Sa-lô-môn (ICác 14:22-24). Trong đời Rô-bô-am, có sự chia rẽ trong quốc giáo, vì Giê-rô-bô-am còn nhớ sự thờ thần tượng Apis tại xứ Ai-cập, nên đã lập những tượng bò con tại Bê-tên và Đan; bởi sự tính toán đó đã chia rẽ hai xứ Giu-đa và Y-sơ-ra-ên mãi (ICác 12:26-33). Những người kế tiếp đều theo dấu chân của Giê-rô-bô-am cho đến khi A-háp cưới một công chúa Si-đôn, và bị hoàng hậu Giê-sa-bên xui giục (ICác 21:25), xây cất một đền và bàn thờ cho thần Ba-anh, và lập lại sự gớm ghiếc của dân A-mô-rít (ICác 21:26). Trong thời đó, sự thờ hình bò con là tội nhẹ so với sự thờ hình Ba-anh (ICác 12:28; IICác 10:28-31). Từ đời A-háp trở đi sự thờ Ba-anh lan tràn khắp nước phía Bắc đến nỗi được kể như là đường lối và luật lệ của các vua Y-sơ-ra-ên (IICác 16:3; 17:8) để phân biệt với đường lối của Giê-rô-bô-am. Sự chinh phục mười chi phái bởi vua Sanh-ma-na-sa là cảnh tượng cuối cùng của tấn bi kịch về sự thờ hình tượng gớm ghiếc đã có trong Y-sơ-ra-ên trải qua 250 năm.
Công việc đầu tiên của Ê-xê-chia khi lên ngôi là tu bổ và dẹp sạch đền thờ đã bị bỏ qua trong phần chót của đời cha mình (IISử 28:24; 29:3). Sự bài trừ hình tượng cũng lan tràn cả xứ Ép-ra-im và Ma-na-se (IISử 31:1), và dường như bề ngoài sự thờ hình tượng đã bị triệt hết rồi. Nhưng sự cải cách đó chỉ là giả mạo (Ês 29:13). Khi vua Giô-si-a băng, thì sự cải cách để cho dân sự thờ phượng Chúa một cách tinh sạch đó cũng chấm hết. Vậy, ngọn đèn của Đa-vít, trải qua một thời gian chỉ chiếu sáng rất ít và đã bị tắt đi trong bóng tối của sự làm phu tù tại Ba-by-lôn.
Dầu Y-sơ-ra-ên gặp sự khó khăn, nhưng không đủ sức để bỏ khuynh hướng thờ hình tượng khỏi lòng, nên khi từ Ba-by-lôn về, sự khó khăn đầu tiên mà E-xơ-ra phải chiến đấu là có nhiều người Giu-đa đã cưới vợ ngoại bang, và làm theo tội lỗi gớm ghiếc của họ (Exơ 9:1-). Khi Alexandre chinh phục tại A-si, thì Hy-lạp có ảnh hưởng rất lớn, trước hết sự thờ hình tượng của người Hy-lạp được chấp nhận trong xứ Giu-đa, về sau cả dân sự cũng thờ lạy nữa. Song khi Antiochus Épiphane (174-164 T.C.) thử lập sự thờ hình tượng Hy-lạp tại đó thì bị Mattathias hết sức chống trả. Về sau các nhà hội được thành lập (synagogues) nên phần nào đẵ giữ cho sự thờ phượng Chúa của người Giu-đa được tinh sạch sau khi bị phu tù trở về, và còn cớ khác là vì người Giu-đa khi ở xứ Ba-tư rất ghét những hình tượng trong xứ đó.
II. Các vật dụng của sự thờ hình tượng.– Tương tự với loài người, trong tôn giáo cổ của dòng giống Sem (Sémitique), thần cũng có giống đực và cái: một làm đại biểu cho cõi thiên nhiên chủ động, một làm đại biểu cho cõi thiên nhiên thụ động; trước là nguồn của sự sống thuộc linh, sau là nguồn của sự sống thuộc thể. Thời cổ, mặt trời và mặt trăng được chọn làm hình bóng của quyền ấy, sự thờ các tinh tú có tính cổ xưa nhất và phổ thông nhất. Sự thờ lạy đó bắt đầu từ đồng bằng xứ Canh-đê, truyền qua xứ Ai-cập, Hy-lạp, Sy-the và cũng qua Mễ-tây-cơ và Tích-lan nữa (so Phục 4:19; 17:13; Gióp 31:26-28). Có lẽ những người Y-sơ-ra-ên học bài đầu tiên về sự thờ mặt trời từ người Ai-cập, vì theo tôn giáo xứ đó, Osiris, là mặt trời, chiếm một địa vị quan trọng. Những người Phê-ni-xi cũng thờ mặt trời nhưng gọi là “Chúa của Trời”. Người Am-môn lấy danh Mô-lóc và Minh-côm đặt cho mặt trời mà thờ, và người Mô-áp thì lấy danh là Chemosh. Người Sy-ri cũng lấy danh Ha-đát mà thờ. Người Si-ri còn gọi thần Ba-anh là Thần Bel hay là Belus. Các vua sau cùng của dân Giu-đa giống như người Ba-tư, cũng dâng những ngựa và xe cộ cho thần mặt trời (IICác 23:11). Người Phê-ni-xi thờ lạy mặt trăng và gọi là thần Át-tạt-tê hay Baaltis, đại biểu của quyền cõi thiên nhiên thụ động, như Ba-anh là đại biểu của quyền cõi thiên nhiên chủ động thì người Hê-bơ-rơ gọi là Ách-ta-rốt cũng là nữ thần của người Si-đôn. Sự thờ hình tượng này xuất hiện sớm trong số các hình tượng của dân Y-sơ-ra-ên.
Trong đời trị vì của các vua kế tiếp, sau mặt trời và mặt trăng thì những hành tinh hay mười hai cung Hoàng đạo, cũng được dân sự thờ lạy (IICác 23:5). Ngoài ra, họ còn thờ thú vật, như Giê-rô-bô-am thờ bò con vàng, đã có nói ở trên. Hay A-cha-xia cầu thần Ba-anh-Xê-bụt, thần con ruồi của Éc-rôn (IICác 1:3), hoặc người ta cũng thờ con rắn bằng đồng (IICác 18:4), nhưng về sự thờ thần Đa-gôn, thần cá của người Phi-li-tin thì không có bằng cớ chắc chắn chứng tỏ người Y-sơ-ra-ên có dự phần trong đó. Về sự thờ những người anh hùng thì không tìm thấy bằng cớ gì giữa dòng dõi Sem. Trong vòng người Hê-bơ-rơ có thờ các cây cối. Ví dụ như dưới gốc cây thông tại Mam-rê, Áp-ra-ham lập một bàn thờ (Sáng 12:7; 13:18), hay cây me mà Áp-ra-ham trồng tại Bê-e-sê-ba (Sáng 21:33), cũng là nơi để các tổ phụ đến thờ lạyﮠNhững ngọn núi và các nơi cao cũng được chọn là nơi để dâng của lễ và xông hương cho các thần tượng (ICác 11:7; 14:23); có những khu vườn và những rừng rậm là nơi đông người đến tụ tập để thờ lạy (IICác 16:4; Ês 1:29; Ôs 4:13). Cơ binh trên trời cũng được thờ trên các nóc nhà (IICác 23:12; Giê 19:13; 32:29; Sô 1:5).
III. Hình phạt cho tội thờ hình tượng.–Nếu mục đích của thơ Hê-bơ-rơ dạy dỗ về sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời, thì cũng cần phải trừ diệt sự thờ hình tượng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Quốc trưởng, Ngài là Chúa và Vua của dân sự đó, đã giải cứu họ khỏi sự tôi mọi, nên họ đã tình nguyện thề trung tín với Ngài. Vì cớ đó, sự thờ hình tượng là một tội đối với quốc gia (ISa 15:23), là một tội ác nặng nhứt đối với chính trị và vua. Khi các dân ngoại thờ hình tượng thì chỉ kể đó là sự gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời cần phải báo trả, nhưng đối với người Y-sơ-ra-ên, tội đó được kể là càng trọng hơn và phạm tới luân lý nữa. Vì theo sự dạy dỗ của các tiên tri, sự thông công giữa Chúa và dân Ngài như một dây hôn nhân ràng buộc (Ês 54:5; Giê 3:14); vì vậy sự thờ những tà thần (Lê 20:26) trở nên tội lớn nhứt trong xã hội (Ôs 2:1-; Giê 3:1-; v.v…). Điều răn thứ nhứt và thứ hai ban ra để chống trả với sự thờ hình tượng dưới bất cứ hình thức nào. “Kẻ nào tế các thần khác hơn một mình Đức Chúa Trời sẽ bị tiêu diệt” (Xuất 22:20); người thân thiết nhứt không những có trách nhiệm phải tố cáo mà còn phải mang tội nhân đến để chịu hình phạt (Phục 13:2-10). Ít nhứt phải có hai người làm chứng, những người đó phải ném đá trước hết (Phục 17:2-5). Nếu người nào cám dỗ người khác phạm tội thờ hình tượng thì cũng chịu hình phạt như vậy (Phục 13:6-10).
IV. Sự thờ hình tượng trong đời Tân Ước.–Trong thời nầy, cần phải khuyên bảo những tín đồ của Hội Thánh ở giữa người ngoại đạo nên cẩn thận về sự thờ hình tượng. Vậy, Công giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem khuyên tín đồ không nên ăn thịt cúng thần tượng (Công 15:29). Phao-lô cũng khuyên như thế, song giải nghĩa rằng làm như vậy để khỏi gây nên sự vấp phạm cho tín đồ yếu đuối (ICôr 8:4-13). Khi tín đồ vào nhà nào, người ta dọn thịt cho ăn mà thịt đó có lẽ đã cúng thần tượng rồi, thì đừng hỏi gì vì cớ lương tâm; song nếu có ai cho biết thịt đó đã cúng thần tượng thì tốt hơn là không ăn. Thức ăn mua ở chợ đem về nhà thì cũng theo luật đó (ICôr 10:18-33).

Lên đầu trang