Hê-bơ-rơ, Thơ

The Epistle to the Hebrews. Épitre aux Hébreux.
I. Chứng cớ tỏ ra thơ là thật.–Clément ở La-mã (thế kỷ I S.C) vẫn dùng thơ nầy nhiều và coi như có chép bằng các sách Tân Ước khác. Justin Martyz (mất 165 S.C) nhờ thơ Hê-bơ-rơ để xưng Con Đức Chúa Trời là “Sứ đồ” và Thiên sứ”. Clément ở Alexandrie (220 S.C.), nhờ Pantaenus, (chừng giữa thế kỷ II) làm chứng là thật. Origène, Tertullien, Irénée, Caius Cyprien, Ambroise, (397 S.C.) v.v…, dầu không cùng một ý về trước giả, song đều làm chứng thơ thật thuộc về Kinh Thánh.
Chính trong thơ cũng có chứng cớ quan trọng nên được kể là thuộc về Kinh Thánh, rõ ràng nhất là lời giải nghĩa của Đức Thánh Linh về Ngũ kinh, nhứt là sách Lê-vi, và về những lễ nghi của người Do-thái. Thơ nầy tỏ ra cả lễ nghi đều theo luật pháp của Cựu Ước, những của lễ, và chức việc của các thầy tế lễ đều là những hình bóng chỉ về Đấng Christ là Của lễ lớn chuộc tội, là Thầy tế lễ thật, là Đấng trung bảo duy nhứt giữa Đức Chúa Trời và loài người. Ngoài thơ nầy, không có sách nào trong Kinh Thánh giúp đỡ độc giả biết rõ hơn việc hiện tại của Đấng Christ ở trên trời. Trong thơ mô tả việc ngày xưa Chúa dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, qua đồng vắng, Ngài che chở, cung cấp mọi sự cần dùng, sửa dạy, và mang họ vào xứ Ca-na-an, thì cũng vậy Đấng Christ hiện nay đang nhóm dân Ngài lại, biệt họ ra khỏi thế gian, Ngài cũng che chở, cung cấp, sửa dạy để sửa soạn cho họ vào nơi đời đời. Vậy Kinh Thánh rất cần thơ nầy để dạy Hội Thánh cách đầy đủ.
II. Lối viết.– Mới xem thơ nầy, thì dường như là sách luận về thần đạo chớ không phải là thơ tín. Nhưng xem đến Hêb 13:22 có chép xin nhận lấy những lời khuyên bảo, và Hêb 13:24 chép chào thăm mọi người, thì thể lệ giống như các thơ tín khác trong Tân Ước. Trong thơ, trước giả nói đến mình, và coi những người nhận thơ đều bình đẳng hết, dù ở tầng lớp nào. Nguyên văn thơ nầy bằng tiếng Hy-lạp, lời văn trôi chảy và văn chương trội hẳn các sách bằng tiếng Hy-lạp trong Tân Ước. Cách lập luận giống như cách của Philon, le Juif, triết học ở Alexandrie (độ 25 T.C.-65 S.C.). Philon có ý dung hòa triết lý Hy-lạp với đạo Do-thái Cựu Ước, vì thế khi dạy những điều chép trong Cựu Ước là có hai ý: một là hình, một là bóng, hoặc có lúc ý tỏ tường, khi thì ý dấu kín, chỉ người trí thức mới hiểu được. Đây cũng là cách viết thơ nầy: cho biết rằng những lễ nghi và những sự xảy ra cho dân Chúa được chép trong Cựu Ước chẳng những là sự vật thật mà cũng có những ý bóng chỉ về chức vụ và vị cách của Đấng Christ nữa.
III. Trước giả.–a) Chứng cớ bên ngoài: Clément ở Alexandrie làm chứng rằng trước giả là Phao-lô, ông nói rằng: vì trong thơ, Chúa Jêsus được gọi là “Sứ đồ” đối với người Hê-bơ-rơ, nên Phao-lô là Sứ đồ cho dân ngoại bang thì không xưng mình như thế; vì người Hê-bơ-rơ có ý nghịch với mình, nên Phao-lô cẩn thận không chép tên mình (Công 21:28; 23:14); và vì thơ nầy vốn chép bằng tiếng Hê-bơ-rơ cho người Hê-bơ-rơ, và Lu-ca dịch ra tiếng Hy-lạp cho người Hy-lạp, bởi thế lối viết giống sách Công vụ các sứ đồ. Song Clément ở Alexandrie vẫn chứng minh rằng Hê-bơ-rơ bằng tiếng Hy-lạp là của Phao-lô, dầu thể văn Hy-lạp đó văn chương cao hơn các thơ tín khác của Phao-lô, nhưng nó đều thể hiện tư tưởng của Phao-lô. Origène quả quyết rằng: “Các tổ phụ Hội Thánh truyền lại Phao-lô là trước giả, chắc ông có chứng cớ đáng tin, song chỉ Đức Chúa Trời biết đúng là của ai”.
Trái lại, đầu thế kỷ thứ III, trong Hội Thánh Phi-châu, Tertullien lại cho trước giả sách Hê-bơ-rơ là Ba-na-ba: vì trong sách Công vụ các sứ đồ Ba-na-ba làm trung bảo giữa những tín đồ Do-thái và Phao-lô (Công 11:25-26), giống như thơ nầy có ý dạy lẽ đạo của Phao-lô cho người tín đồ Do-thái; và vì Ba-na-ba đã hầu việc Chúa tại La-mã (Hêb 13:24). Trưởng lão Caius, đồng thời với Tertullien, chỉ nói về 13 thơ tín của Phao-lô, nếu cộng cả thơ nầy thì là 14. Luther, Calvin và Bèze không công nhận Phao-lô là trước giả. Riêng Luther cho là thơ của A-bô-lô, một tín đồ thành Alexandrie chắc biết rõ luận lý của Philon (Công 18:24), song trong Hội Thánh đầu tiên không có chứng cớ gì như thế.
Các Hội Thánh đầu tiên ở Đông-phương có Giê-ru-sa-lem làm trung tâm, là nơi đầu tiên tiếp nhận thơ nầy, đều công nhận là thơ của Phao-lô, đó là theo Cyril, giám mục Hội Thánh Giê-ru-sa-lem (349 S.C). Nên chú ý Hội Thánh Alexandrie do Mác sáng lập, và Mác có ở với Phao-lô lần đầu khi bị tù tại La-mã (Cô 4:10), có lẽ là lúc thơ nầy được chép. Có lẽ chính Mác đem thơ nầy đến Giê-ru-sa-lem, là nơi thân mẫu ở, và ghé thăm hội Cô-lô-se và từ Giê-ru-sa-lem đi đến Alexandrie. Dầu Hội Thánh La-tinh trong mấy thế kỷ đầu tiên không công nhận trước giả là Phao-lô, song trong thế kỷ thứ IV, các giáo phụ mới bị thuyết phục, và đến năm 419 S.C.. Công giáo nghị hội thứ V tại thành Carthage công nhận cách trọng thể thơ Hê-bơ-rơ là một trong 14 thơ của Phao-lô.
Phi-e-rơ (IIPhi 3:15-16), là Sứ đồ cho những kẻ chịu phép cắt bì, khi viết cho tín đồ người Hê-bơ-rơ tan lạc ở phương Đông, nói “cũng như Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã…viết thơ cho anh em vậy” (tức tín đồ Hê-bơ-rơ). Vì có thêm “ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ” vào, nên Phi-e-rơ phân biệt thơ Hê-bơ-rơ với các thơ khác, và vì được đặt vào hàng các sách khác trong Kinh Thánh nên chứng tỏ trước giả là Phao-lô được Đức Chúa Trời hà hơi vào. Ấy là một lời chứng từ lòng yêu thương rộng rãi cho kẻ trước đã quở trách mình (Ga 2:7-14)! Phi-e-rơ là sứ đồ cho kẻ chịu phép cắt bì làm chứng cho Tin lành của Sứ đồ cho kẻ không chịu phép cắt bì là Phao-lô, vả lại Chúa dùng người thứ nhứt làm chứng cho thơ Hê-bơ-rơ như thế, tỏ ra có sự hiệp một hoàn toàn bởi Đức Thánh Linh giữa những sự rất khác nhau.
b) Chứng cớ bên trong.– Trong thơ có chứng cớ chứng minh Phao-lô là trước giả: Đạo Đấng Christ trổi hơn đạo Do-thái như hình rõ hơn bóng, ấy là cách Phao-lô ưa dùng để bàn luận. Nên so sánh thơ Hê-bơ-rơ với IICôr 3:6-18; Ga 3:23-25; 4:1-9; 21-31, ta thấy trong những khúc đó, trước giả lấy nghĩa bóng giảng luận, dầu lúc đó nhà triết học Philon ở Alexadrie hay lạm dụng, nhưng bởi Chúa dắt dẫn, thì được dùng cách chính đáng.
Trong thơ Hê-bơ-rơ, Con Đức Chúa Trời được mô tả là “hình bóng về bổn thể Ngài”, so Hêb 1:3 với các thơ của Phao-lô như Phil 2:6; Cô 1:15-20 ý nói vì cớ nhân loại nên Chúa hạ mình xuống, Hêb 2:9 so với IICôr 8:9; Phil 2:7, 8 nói cuối cùng Chúa được tôn cao, Hêb 2:8; 10:13; 12:2 so với ICôr 15:25-27 nói Ngài là Đấng trung bảo, Hêb 8:6 so với Ga 3:19-20; ITi 2:5 nói Chúa làm của lễ chuộc tội được tỏ trước bởi những lễ nghi của đạo Do-thái, Hêb 7:10; so với Rô 13:22-26; ICôr 5:7. Hêb 13:20 chép “Đức Chúa Trời bình an”, ấy là một danh từ Phao-lô ưa dùng, xem Rô 15:33; 16:20; ITê 5:23. “Dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài… phát ra”, Hêb 13:20, hơi giống ICôr 12:4. “Người công bình… cậy đức tin…”, Hêb 10:38; 11:7 so với Rô 1:17; 4:22; 5:1; Ga 3:11; Phil 3:9. “Lời của Đức Chúa Trời là… sắc hơn gươm…” Hêb 4:12 so với Êph 6:17. Tín đồ chưa từng trải giống “anh em cần ăn sữa”, tức là chỉ biết những điều sơ học, tín đồ sâu nhiệm giống kẻ thành nhơn cần đồ ăn đặc Hêb 5:12, 13; 6:1 so với ICôr 3:1-2; 14:20; Ga 4:9; Êph 4:13. Tín đồ “nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh”, (Hêb 10:19 so với Rô 5:2; Êph 2:18; 3:12). Những sự đau đớn của tín đồ như “cơn chiến trận”, Hêb 10:32 so với Phil 1:30; Cô 2:1. Đời sống tín đồ giống một “cuộc chạy đua”, Hêb 12:1 so với ICôr 9:24; Phil 3:12, 14. Lễ nghi đạo Do-thái là “sự thờ phượng”, Hêb 9:1-6 so với Rô 9:4. Tình trạng “tôi mọi” là lúc chưa được thoát khỏi vòng tội lỗi và sự sợ chết, Hêb 2:15 so với Ga 5:1. Một đặc sắc của Phao-lô là ưa dùng chữ “vả” và chữ “lại” mà chú thích từ Cựu Ước như Hêb 1:5; 2:12-13 so với Rô 15:9-12; Hêb 2:8 so với ICôr 15:27; Hêb 10:30 so với Rô 12:19.
IV. Nơi chép thơ.– Lúc chép thơ trước giả ở trong tù (13:3, 19), và trong thơ có chép “vì anh em đã thương xót kẻ bị tù” (10:34), chứng tỏ rằng trước đó ông đã bị tù ở xứ Pha-lê-tin. Lời chào thăm, thay mặt “các Thánh đồ ở xứ Ý-đại-lợi” để biết bức thơ được chép tại thành La-mã (13:24). Dầu đầu thơ không có lời tự giới thiệu như bao bức thơ thông thường, nhưng vì có chép: “Anh em chúng ta là Ti-mô-thê đã được thả ra, nếu người sớm đến”, trước giả “sẽ cùng người đi thăm anh em”, thì thật đúng Phao-lô là tác giả (13:23).
V. Gởi cho ai và niên hiệu.– Vì không có một Hội Thánh toàn là tín đồ Do-thái, nên tác giả không gởi thư cho các bậc cầm quyền, song cho những tín đồ Do-thái thuộc về các Hội Thánh xứ Pha-lê-tin và xứ lân cận, là các hội tại thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, và thành A-léc-xan-tri phần nhiều là tín đồ Do-thái. Nhờ A-léc-xan-tri mà các Hội Thánh khác được biết thơ nầy. Theo chứng cớ trong thơ, thơ nầy trước hết gởi cho hội thánh Giê-ru-sa-lem. Tác giả gọi người Hê-bơ-rơ là “dân Đức Chúa Trời” (4:9; 11:25), là “dòng dõi của Áp-ra-ham” (2:16), là cây ô-li-ve nguyên gốc mà tín đồ ngoại bang được tháp vào (Rô 11:16-24). Song những người Hê-bơ-rơ đó có cần từ Giê-ru-sa-lem dưới đất mà ra, và phải hiểu đã tới “thành Giê-ru-sa-lem trên trời” (12:18-23; 13:13).
Thơ nầy gởi cho cả đoàn thể, chớ không phải cho cá nhân. Những người nhận thơ nầy đều quen biết những sự thờ phượng tại đền thờ, quen những sự biện luận về Cựu Ước (có 32 lần trích Cựu Ước, gồm lại 16 chỗ trích Thi-thiên), và quen triết lý Philon tại Alexandrie. Trong số đó có người đã lấy của cải mình cung cấp cho những kẻ khốn cùng (6:10; 10:34; so Rô 15:26; Công 2:45; 4:34; 11:29). Có phải 13:7 chỉ về Giám mục hội Giê-ru-sa-lem là Gia-cơ đã tuận đạo không (62 S.C.)? Vì Phao-lô bị tù lần thứ nhứt tại La-mã cho đến 63 S.C., nên có lẽ là ông chép thơ nầy ít lâu trước khi được thả ra. Chắc là chép trước khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy (70 S.C.), vì trong thơ vẫn nói rõ đến sự thờ phượng tại đền thờ (13:10; 8:4; 9:6-7). Tác giả khuyên họ phải học tập, nhớ, và vâng lời “những người dắt dẫn mình” (13:7, 17, 24), như vậy không có gì trái nghịch vớIPhi-e-rơ là Sứ đồ cho những kẻ chịu phép cắt bì, và với giám mục Giê-ru-sa-lem – là người kế tiếp Gia-cơ, nếu lúc đó Gia-cơ thật đã về với Chúa.
VI. Mục đích chép thơ.– Vì lúc đó bị bắt bớ, những tín đồ Do-thái tưởng rằng vì theo đạo Đấng Christ thì mất hết phước từ đạo Do-thái. Họ xem các lễ nghi của đạo Do-thái về bàn thờ, thầy tế lễ, v.v…, là những việc làm hiển nhiên cần phải giữ, chứ không hiểu điều cần giữ là sự cứu chuộc của Đấng Christ chứ không phải những lễ nghi bề ngoài đó. Trong chỗ nguy hiểm đó, những tín đồ Do-thái bị cám dỗ coi thường những ơn của đạo Đấng Christ, và trở lại theo đạo Do-thái. Vậy mục đích thơ nầy là cho những người Do-thái biết đạo Đấng Christ trổi hơn đạo Do-thái là thể nào, ấy vì trong Đấng Christ, ý bóng của những lễ nghi bề ngoài và tạm thời của đạo Do-thái đã được ứng nghiệm rồi. Bởi thế, không cần giữ những lễ nghi đó nữa.
Nên chú ý xét thái độ trước giả đối với những tín đồ Do-thái:
1. Trước hết cho họ biết sự vinh hiển và chức vụ cao trọng của Chúa Jêsus;
2. Tỏ ra rằng họ không mất hết song đã được lại hết (xem “chúng ta có” trong 4:14; 6:19 (giữ); 8:1; 10:34; 13:10, 14 (tìm); và đạo Đấng Christ trổi hơn đạo Do-thái);
3. Tỏ ra cho họ biết rằng sự bắt bớ mà họ chịu không nặng bằng những người khác. Coleridge nói: thơ La-mã minh chứng sự cần thiết của đạo Đấng Christ, còn thơ Hê-bơ-rơ chứng minh sự trổi hơn của đạo Đấng Christ, ấy vì không phải khinh dễ đạo cũ, song vì đạo mới làm trọn đạo cũ. Đạo cũ có sự tốt, nhưng đạo mới có sự “tốt hơn”. Thơ nầy được gọi là “sách Tin lành thứ năm” vì bốn sách Tin lành trước chép về việc Chúa dưới đất và thơ nầy chép về việc Chúa trên trời.
VII. Tài liệu của thơ.– Thơ có thể chia làm hai phần lớn:
I. Phần luận lý.– 1:1- đến 10:18. Nói về sự vinh hiển của Ngôi vị và Công việc của Đấng Christ.
Phần lớn nầy lại chia làm năm phần:
1. Chúa Jêsus cao trọng hơn các tiên tri, 1:1-3.
a) Dầu các tiên tri cao trọng, song Con Đức Chúa Trời cao trọng hơn: vì Đức Chúa Trời “dùng” các tiên tri phán dạy, song “đến ngày sau rốt” Ngài phán “bởi” Con Ngài là Chúa Jêsus.
b) Xin chú ý chữ “ngồi” trong câu 3. Ấy là một đặc sắc của tiếng Hê-bơ-rơ chỉ về công việc đã hoàn toàn xong rồi.
2. Chúa Jêsus cao trọng hơn các thiên sứ, 1:4-2:18.
a) Thiên sứ là các vị cao trọng, song Chúa Jêsus cao trọng hơn, vì Ngài là Con Đức Chúa Trời; sanh bởi Đức Chúa Trời; và Đức Chúa Trời chưa hề phán cùng thiên sứ như phán cùng Chúa Jêsus rằng: “Hỡi Đức Chúa Trời, Ngôi Chúa còn mãi”.
b) “Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình” câu 9, chứng tỏ rằng Chúa chẳng những là “Người từng trải sự buồn bực” (Ês 53:3), nhưng cũng là “Người từng trải sự vui mừng” (Thi 45:7).
3. Chúa Jêsus cao trọng hơn Môi-se, 3:1-19.
a) Môi-se cao trọng biết bao! Song Chúa Jêsus cao trọng hơn. Môi-se là “kẻ tôi tớ” trung tín, song Chúa Jêsus là Con trung tín quản trị nhà Chúa.
b) Ấy là một thực sự khiến người Do-thái thời bấy giờ rất cảm động, và thời nầy cũng vậy.
4. Chúa Jêsus cao trọng hơn Giô-suê, 4:1-13.
a) Giô-suê là lãnh đạo lớn song vẫn còn có khuyết điểm. Chúa Jêsus lớn hơn, vì chỉ có một mình Ngài có thể ban cho và dẫn đến sự yên nghỉ thật.
b) Có phải “Lời của Đức Chúa Trời” trong câu 12 là Chúa Jêsus không? Chắc chắn Chúa là “Ngôi Lời” của Đức Chúa Trời, và là Đấng hằng sống, toàn năng, khôn ngoan, thông sáng, biết rõ hết mọi sự.
5. Chúa Jêsus cao trọng hơn A-rôn, 4:14-10:18. A-rôn và những thầy tế lễ kế tiếp đều cao trọng, song Chúa Jêsus cao trọng hơn vì:
a) Ngài vô tội, song các thầy tế lễ đó mắc tội, 4:15.
b) Ngài là thầy tế lễ theo ban cao hơn A-rôn, 5:6.
c) Ngài là “Đấng đi trước chúng ta”, song A-rôn chẳng hề như vậy, 6:20.
d) Áp-ra-ham đã công nhận Mên-chi-xê-đéc “tôn trọng là dường nào”, 7:4.
đ) Ban Mên-chi-xê-đéc là đời đời, 7:16-17.
e) A-rôn làm những lễ chỉ bóng, Chúa Jêsus làm hình, 8:1-5.
g) Chúa Jêsus “là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn”, 8:6-13.
h) Chúa Jêsus hành chức trong nơi thánh tốt hơn, 9:1-25.
i) Chúa Jêsus hành chức và dâng một của lễ tốt hơn, 9:25-28,
II. Phần khuyên bảo, 10:19-13:25.– Vì cớ đời sống và công việc Chúa, chúng ta nên cư xử thế nào?
Như người Truyền đạo khôn ngoan, trước giả không đợi cuối thơ mới khuyên bảo, nhưng thường xen kẽ sự dạy dỗ vào, như trong 2:1-4; 3:7-19; 6:1-12. Nhưng sự khuyên bảo chính thức bắt đầu từ 10:19, và thấy có nhắc lại chữ “chúng ta hãy” nhiều lần.
Chúng ta:
1. Hãy tấn tới (nguyên văn: như nhờ dòng nước dâng lên mà đem đi), 6:1;
2. Hãy đến gần, 10:19-22;
3. Hãy cầm giữ, 10:23;
4. Hãy coi sóc nhau, 10:24-25;
5. Hãy vững vàng, 10:26-11:1-;
6. Hãy quăng hết gánh nặng, 12:1;
7. Hãy nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua, 12:1-2;
8. Hãy chịu sự đối nghịch, 12:3-29;
9. Hãy hằng yêu thương anh em, 13:1-4;
10. Hãy lấy điều mình có làm đủ, 13:5;
11. Hãy ra ngoài trại quân, 13:12-13;
12. Hãy dâng tế lễ bằng lời ngợi khen, 13:15.
Khi đọc thơ nầy, nên suy xét những chữ lập lại nhiều lần như sau:
a) “trọn” (2:10; 5:9, 14; 7:11, 19, 28; 9:9, 11; 10:14; 11:40; 12:2 “cuối cùng” nguyên văn là Đấng làm trọn).
b) “trời” (1:10; 3:1; 4:14; 6:4; 7:26; 8:1, 5; 9:23-24; 10:34 “vì biết mình có của cải” có bản thêm “trên trời”, 11:16; 12:22, 23, 25, 26).
c) “đời đời” (1:8; 5:6, 9; 6:20; 7:17, 21, 24, 28; 9:12, 14, 15; 13:8, 20, 21).
d) “ngồi” (1:3; 8:1; 10:11-12; 12:2).
đ) “một lần” (7:27; 9:12, 26, 27, 28; 10:2, 10).
e) Ý “tốt hơn” (1:4; 6:9; 7:7, 19, 22; 8:6; 9:23; 10:34; 11:35, 40; 12:24).
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn thơ Hê-bơ-rơ như sau:
Trước giả.– Từ thời Hội Thánh đầu tiên, vẫn có sự bàn luận về ai là trước giả thơ nầy. Trong thơ không nói ai chép, song theo IIPhi 3:15, dường như Phao-lô là trước giả. Cũng xem Hêb 13:23. Hết thảy đều đồng ý rằng, dù Phao-lô hay người khác chép, tư tưởng vẫn thuộc Phao-lô. Cách sắp đặt bố cục thơ giống bố cục các bài giảng của Phao-lô trong nhà hội. Trong Kinh Thánh, không có sách nào tự chứng minh được Chúa soi dẫn rõ như thơ nầy.
Niên hiệu.– Theo chứng cớ trong thơ, thì rõ ràng sách Hê-bơ-rơ được chép trước khi đền thờ bị phá (70 S.C), xem 10:11.
Đại ý.– Phần lẽ đạo bày tỏ mục đích của thơ, thơ có hai ý:
1. Làm cho tín đồ Do-thái được biết vì Đấng Christ đã đến làm trọn cả mục đích của luật pháp, nên đạo Do-thái kể như không cần nữa
2. Phần khuyên bảo tỏ ra trước giả có thấy sự nguy hiểm của những tín đồ Do-thái, ấy là hoặc họ trở lại đạo Do-thái, hoặc coi đạo Đấng Christ dường như chỉ là một phần của đạo Do-thái. Theo sách Công vụ các sứ đồ thì thấy rõ những tín đồ mạnh mẽ tại xứ Pha-lê-tin hay lẫn lộn đạo Do-thái với đạo Đấng Christ (xem Công 21:18-24), và bẫy đó cám dỗ đặc biệt những người xưng mình là tín đồ giữa người Do-thái bị tan lạc.
Lời chìa khóa là “tốt hơn”. Thơ Hê-bơ-rơ so sánh những sự tốt của đạo Do-thái với sự tốt hơn của đạo Đấng Christ. Đấng Christ là “tốt hơn” các thiên sứ Môi-se, Giô-suê, A-rôn; và Giao ước mới tốt hơn giao ước Môi-se. Trong thơ, nói về Hội Thánh thì chỉ chép về sự biệt mình theo Chúa ở 13:13. Vì lo về những lẽ đạo tín đồ Đấng Christ bị hiểu sai, nên trước giả thấy cần răn bảo những người tự xưng mình là tín đồ hãy tỉnh thức.
Thơ Hê-bơ-rơ chia làm sáu phần lớn, song có năm phần dạy dỗ riêng:
I. Sự cứu rỗi lớn, 1:1-2:18 (2:1-4 lời răn riêng).
II. Sự yên nghỉ của Chúa, 3:1-4:16 (hết cả là lời răn riêng).
III. Thầy Tế lễ thượng phẩm lớn của ta, 5:1-8:6 (5:11-6:12 lời răn riêng).
IV. Giao ước mới và nơi thánh trên trời, 8:7-10:39 (10:26-39 lời răn riêng).
V. Sự trổi hơn của đường đức tin, 11:1-40.
VI. Sự thờ phượng là lối bước đi của người tín đồ kiêm chức tế lễ, 12:1-13:25 (12:3-17 lời răn riêng).

Lên đầu trang