Hebrew. Langage Hébraique.
Ấy là tiếng mà người Hê-bơ-rơ nói (IICác 18:26, 28; Ês 36:11, 13) và gọi theo lối văn thơ là “tiếng Ca-na-an” (Ês 19:18). Có cớ đáng tin cậy rằng Áp-ra-ham không mang tiếng đó từ xứ Ca-na-an về, song lại thấy dùng trong xứ Ca-na-an. Những bia đá cổ từ Tell el-Amezna và bia đá Mô-áp chứng tỏ rằng thổ dân Ca-na-an, dân Mô-áp và có lẽ cả những bộ lạc lân cận nữa, họ đều nói một thứ tiếng không khác với tiếng Hê-bơ-rơ mấy. Tiếng Hê-bơ-rơ do một số tiếng gọi là Sémitique vì người ta tin các dòng dõi của Sem nói những tiếng đó. Như phần nhiều tiếng Sémitique đó, tiếng Hê-bơ-rơ đọc từ phải sang trái, chớ không phải như tiếng ta từ trái sang phải. Bộ chữ cái Hê-bơ-rơ gồm 22 phụ âm. Các phụ âm đó có trên đầu 22 khúc, mỗi khúc 8 câu, Thi 119:1- viết bằng nguyên văn Hê-bơ-rơ. Tiếng nầy vốn viết không có điểm nguyên âm. Đến thế kỷ thứ VI các nhà thông thái Giu-đa, gọi là Masorites, mới thêm điểm nguyên âm vào các bản viết. Công sở của họ đặt tại thành Ti-bê-ri-át. Trừ ra Đa-ni-ên 2:4-7; Exơ 4:8-6:18 và 7:12-26; Giê 10:11 viết bằng tiếng Canh-đê, thì cả bộ Cựu Ước vốn chép bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Mỗi một tiếng đều có thời kỳ được mở mang, thời kỳ khá trọn vẹn, và thời kỳ suy đồi. Về tiếng Hê-bơ-rơ chỉ có thể thấy hai thời: thời vàng và thời bạc. Thời vàng bắt đầu từ khi dân Hê-bơ-rơ thành lập cho đến lúc làm phu tù tại Ba-by-lôn, và thời bạc từ khi làm phu tù cho đến khi không nói nữa. Trong thời vàng, tiếng Hê-bơ-rơ vẫn giữ được thuần túy; song trong thời bạc, tiếng Hê-bơ-rơ không còn nguyên gốc vì dần dần thêm nhiều tiếng Aramaic vào, đến nỗi được gọi là tiếng Aramaic. Trong thời kỳ Chúa, tiếng Aramaic thế cho tiếng Hê-bơ-rơ (Mác 5:41), và có khi thay thế cả tên nữa. Vậy khi nói tiếng Hê-bơ-rơ như trong Giăng 5:2; 19:13, 17, 20; Công 21:40; 22:2; 26:14; Khải 9:11 thì là tiếng chỉ riêng về tiếng Aramaic đó.