Money. Monnaie.
- Tiền chưa đúc.– 1. Xét chung tiền chưa đúc.– Ai nấy đều biết rằng các dân tộc xưa không có thứ tiền đúc, theo cách tả vẽ trên các bia kỷ niệm ở xứ Ai-cập, tại đó thấy vàng và bạc được giữ bằng hình các chiếc nhẫn. Song trong xứ Ba-by-lôn thì dường như tiền được dùng bằng thoi hoặc nén, như A-can đã lấy trong của cướp tại Giê-ri-cô (Giô 7:21). Có lẽ các miếng bạc lớn quá không tiện sử dụng, nên đã làm ra những nén bạc (IICác 12:9; Gióp 42:11). Ta không có lời thuật lại chắc chắn về cách dùng bạc làm tiền, hoặc thứ tiền chưa đúc khác được sử dụng vào đời thái cổ, ngoài người Ai-cập thì người A-sy-ri và Ba-by-lôn cũng dùng cách đó, có lẽ cũng do nơi người Ai-cập mà có.
- Tiền đúc trong đời thái cổ.– Tùy theo căn nguyên của sự đúc tiền, có hai lời thuật lại dường như khác nhau. Theo Ephorus ở Aegina thì cho rằng: Phidon, vua của Argos, đúc tiền trước nhứt, nhưng sử gia Hérodote nói rằng: sự sáng kiến là bởi người Ly-đi. Lời thứ nhứt có lẽ chỉ về căn nguyên của sự đúc tiền tại Châu Âu dưới đế quốc Hy-lạp; và lời thứ nhì có lẽ về sự đúc tiền tại Á Châu dưới đế quốc Hy-lạp. Tóm lại, có lý mà cho rằng sự đúc tiền của người Hy-lạp trở ngược lại đến thế kỷ thứ VIII T.C. Thật ra sự đúc tiền tại Á châu không có sớm như vậy. Các đồng tiền cổ nhứt của người Ba-tư có lẽ vào thời Đa-ri-út Hystaspis (521-486 T.C.) hoặc có lẽ vào thời Si-ru, và chắc không lâu hơn; không có tiền ở Á châu thuộc các thành Hy-lạp, cổ hơn thời đó.
- Những điều đáng chú ý về tiền chưa đúc trong Cựu Ước.– Ta không thấy chứng cớ về sự dùng tiền đúc trước khi người Do-thái từ phu tù tại Ba-by-lôn trở về. Bạc được dùng làm tiền, bằng những phân lượng nhứt định bởi cân, ít nhứt là vào thời Áp-ra-ham; và lần chép đầu tiên là về giá một tôi tớ (Sáng 17:13). Ngàn miếng bạc mà A-bi-mê-léc trả cho Áp-ra-ham (Sáng 20:16), và hai mươi miếng bạc mà người Ích-ma-ên trả giá Giô-sép (Sáng 37:28), có lẽ là như những nhẫn trên các bia kỷ niệm tại Ai-cập. Cuộc giao dịch thương mại lần thứ nhứt chép đến là Áp-ra-ham mua hang đá Mặc-bê-la với 400 siếc lơ bạc, ấy là đúng với lượng được công nhận là “bạc thông dụng nơi các tay buôn bán” (nguyên văn Sáng 23:15, 16, không có “bạc”). Lượng một siếc lơ bạc làm bản vị mẫu mực suốt cả Sử-ký Hê-bơ-rơ cho đến bị bắt sang Ba-by-lôn làm phu tù. Chỉ một chỗ chép đến nhiều siếc lơ vàng như thế thành một món tiền (ISử 21:25), và trong chỗ khác cũng chép chuyện đó, chỉ nói là bạc (IISa 24:24). Trong sự giao dịch giữa Na-a-man và Ghê-ha-xi về “sáu ngàn đồng vàng” (IICác 5:5, nguyên văn không có “đồng, “) có lẽ chỉ về siếc lơ, giống như “sáu trăm siếc lơ vàng” trong ICác 10:16.
- Tiền đúc.– 1. Chế độ tiền tệ đời thái cổ.– Những đồng tiền Hy-lạp sớm nhứt mà ta muốn luận đến ở đây, là những đồng tiền đúc hồi trước chiến tranh của Ba-tư, là ba ta lâng, hoặc kiểu mẫu: ở A-thên, ở Aegina, và ở Ma-xê-đoan hoặc Phê-ni-xi. Những đồng tiền cổ nhứt ở A-thên, Aegina. Ma-xê-đoan và Thrace, ta nên lựa làm mẫu tùy theo những kiểu nầy: mỗi drachm (dịch là đồng bạc trong Lu 15:8, 9) thuộc A-thên giá chừng 67 viên 5 (là grain theo bản vị của tiền nước Anh); mỗi drachm thuộc Aegina, độ 96 viên; một drachm của Ma-xê-đoan, độ 58 hay 116 viên nếu là thứ nầy người ta gọi là didrachm (hai drachm).
- Tiền đúc nói đến trong Kinh Thánh.– Sau kỳ Phu tù, ta thấy lần đầu nói về các tiền đúc, đồng tiền Ba-tư, đồng tiền đa-riếc bằng vàng (Exơ 2:69; 8:27; Nê 7:70-72). Người Do-thái dường như không có tiền đúc cho đến đời Antiochus VII Sidetes cho phép Simon Macchabée đúc tiền (140 T.C.), và nay đồng tiền bằng bạc cổ nhứt của người Do-thái thường được nhận là thuộc thời nầy. Ấy là những siếc lơ và nửa siếc lơ cân nặng 220 và 110 viên. Cùng với thứ bạc nầy, cũng có những tiền bằng đồng, có thứ người ta cho rằng có trong đời Judas Macchabée; song có lẽ không có đồng nào thật cổ hơn thời Jean Hyrcan (135 T.C.), từ đó cứ tiếp tục cho đến cuối dòng họ Macchabée. Phần nhiều các tiền đó chỉ là nửa hoặc một phần tư (chắc của một siếc lơ), trung bình cân nặng 235 rưỡi hoặc 132 viên; và có đồng tiền thứ ba chừng 82 viên, dường như là một phần sáu của siếc lơ. Rất nhiều tiền của Hê-rốt Lớn, cả hai mặt đều dùng tiếng Hy-lạp, và chỉ bằng đồng, dường như tiếp theo tiền bằng đồng của họ Macchbée, và hơi giống theo kiểu người La-mã.
Trong tiền tệ đời Tân Ước, thấy có tiền bản xứ bằng đồng, sử dụng chung với tiền bằng đồng, bằng bạc, hoặc bằng vàng của người Hy-lạp — La-mã. Có một chỗ minh chứng, ghi lại lúc Chúa sai các Sứ đồ đi lần đầu Ma-thi-ơ (10:9) chép: “Đừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng ngươi.” Mác (6:8) chỉ nói đến tiền bằng đồng (theo nguyên văn), là thứ tiền thông dụng trong xứ vào thời đó. Lu-ca (9:3) dùng chữ dường chỉ về tiền.– Các đồng tiền chép trong ba sách Tin lành đầu, trước hết là bằng bạc, được kể ra như sau: Đồng stater nói đến trong truyện phép lạ lấy tiền đóng thuế. Những người thâu didraachm đòi nộp thuế, song Phi-e-rơ tìm được trong con cá một Stater, đóng thuế cho Chúa và chính mình (Mat 17:24-27). Bởi vậy, Stater là bằng một tetradrachm, và đáng chú ý vào thời đó, chỉ tiền bằng bạc của đế quốc La-mã trong phương Đông là tetradrachm, didrachm bấy giờ không có hay chỉ đúc ít thôi. Didrachm được nói đến như là tiền trong khúc Kinh Thánh kể trên, và bằng một siếc lơ của người Hê-bơ-rơ. Đồng denarius, xu của người La-mã, cũng như đồng drachm Hy-lạp, bấy giờ cân nặng ngang nhau, được kể là đồng tiền thông dụng (Mat 22:15-21; Lu 20:19-25). Về tiền bằng đồng ăn một phần tư xu, hoặc đồng ăn phân nửa đồng đó, hoặc ăn phần tư đồng đó, hết thảy có lẽ đều là tiền chính thức thông dụng trong bản xứ. Những loại tiền đúc chính thức của người Do-thái có đồng tiền của danh nhân Barkobab, là người cầm đầu cuộc khởi loạn trong đời hoàng đế Hadrien. Các đồng tiền quan hệ nhứt của Barkobab là những siếc lơ.