Phi-líp, Thơ The Epistle of Paul the Apostle to the Philippians. Épitre aux philippiens.
I. Phao-lô với Hội Thánh Phi-líp.– Phi-líp là Hội Thánh rất yêu quí của Phao-lô. Trong cuộc lưu hành lần thứ hai, 52 S.C., Phao-lô bị ngăn trở một cách lạ lùng#: đau ốm, Đức Thánh Linh cấm truyền đạo trong cõi A-si, và ngăn trở vào xứ Bi-thi-ni. Không biết làm gì Phao-lô với Si-la và Ti-mô-thê xuống Trô-ách trên bờ biển. Lu-ca đến cùng anh em tại đó (so Công 16:10, “chúng ta”). Trong sự hiện thấy, Phao-lô thấy một người Ma-xê-đoan nài xin hãy qua xứ mình cứu giúp. Bởi đó, Phao-lô biết ý muốn Chúa. Tức thì, Chúa mở đường đi, Phao-lô và anh em xuống tàu, có gió thuận, qua hai ngày họ tới Nê-a-bô-li, và đi đường đèo độ 15 cây số mà tới Phi-líp. Vì tại đó không có nhà hội, nên ngày sa bát, Phao-lô và anh em đến nơi nhóm họp cầu nguyện của người Do-thái trên bờ sông Gangites. Phao-lô giảng đạo và kết quả là Ly-đi tin Chúa. Rồi sau, gặp sự bắt bớ, Phao-lô và Si-la bị bỏ tù; song Chúa làm phép lạ mở các cửa ngục. Kết quả là người đề lao và cả gia đình tin Chúa. Vậy, Phao-lô trong công cuộc truyền giáo ở châu Âu đã được linh hồn tin Chúa thứ nhứt, lập Hội Thánh đầu tiên, bị đánh đòn, cầm tù, tra chơn vào cùm lần đầu, tất cả đều xảy ra tại thành Phi-líp. Các tín đồ Phi-líp cứ giữ lòng ngay thẳng và yêu mến đối với Phao-lô và Chúa mình. Ấy là kết quả rất quí báu của sự bắt bớ. Vậy, ta cũng không lạ gì, thấy Phao-lô khi có dịp tiện đều đến thăm Hội Thánh Phi-líp luôn. Sáu năm sau, lúc ở Ê-phê-sô đợi chờ Tít đem thơ đến Cô-rinh-tô, thì Phao-lô hẹn với Tít sẽ gặp ông tại xứ Ma-xê-đoan để Tít cho mình biết Hội Thánh Cô-rinh-tô tiếp nhận thơ như thế nào. Có lẽ trong khoảng thời gian đó, Phao-lô ghé thăm Phi-líp lần thứ hai, và chép thơ IICôr khi Tít về (IICôr 2:13; 7:6). Phao-lô trở lại Ê-phê-sô và sau sự rối loạn, từ đó sang xứ Ma-xê-đoan mà đến thành Phi-líp lần thứ ba. Có lẽ lúc đó Sứ đồ hứa tới Lễ Vượt Qua sẽ trở lại lần nữa. Phao-lô đến nước Hy-lạp, song ba tháng sau thì về Phi-líp giữ ngày lễ Vượt qua, năm 58 S.C. (Công 20:2, 6). ITi 1:3 chép Phao-lô đến xứ Ma-xê-đoan sau khi bị tù ở La-mã. Chắc Sứ đồ cũng có đến viếng Hội Thánh Phi-líp và các tín đồ đó hiệp với lòng mình. Phao-lô cảm tạ ơn Chúa vì có dịp giao thông với anh em đó từ ngày ban đầu đến bây giờ (Phil 1:5). Lời trong thơ, Phao-lô gọi tín đồ Hội Thánh đó “là những kẻ rất yêu dấu… vâng lời luôn luôn, chẳng những khi có mặt mà thôi, lại lúc vắng mặt” (2:12). Nên trong 4:1, Phao-lô gọi là “anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên” của mình. Suốt cả thơ, Phao-lô đều tỏ ra tình cảm như vậy.
II. Đặt sắc của Hội Thánh Phi-líp.—
1. Trong các Hội Thánh Phao-lô lập, ấy là một hội rất ít người Do-thái, chắc vì tại thành Phi-líp, có ít người Do-thái. Tên các tín đồ của Hội Thánh nầy chép trong Tân Ước, không có tên Hê-bơ-rơ nào. Các người Do-thái phản đối Phao-lô dường như chẳng hề có tại thành nầy.
2. Trong lịch sử Hội Thánh nầy, dường như các nữ tín đồ dự phần quan trọng đặc biệt. Ấy là thuận hiệp với sự biết về địa vị những người đàn bà thời bấy giờ tại xứ Ma-xê-đoan. Ly-đi đã dắt đem gia đình mình vào Hội Thánh và tiếp đãi các anh em cách rộng rãi. Hai chị em Ê-vô-đi và Sin-ty-cơ cùng Phao-lô vì đạo Tin lành mà chiến đấu, có tên biên vào sách sự sống, nhưng Phao-lô khuyên họ phải hiệp một ý trong Chúa (4:2). Có lẽ vì các chị em dự phần quan trọng như thế nên Hội Thánh Phi-líp quyên tiền giúp đỡ Phao-lô nhiều hơn các hội khác. Dường như trong hội không có ý khác nhau về lẽ đạo, ấy có lẽ cũng vì phần nhiều tín đồ là đàn bà.
3. Trong số tín đồ của Hội Thánh Phi-líp cũng có các anh em rất đứng đắn, vừa là người Ma-xê-đoan, vừa là người La-mã. Hausrath viết rằng: “Người Ma-xê-đoan là người rất cao thượng và đứng đắn trong các hạng người bấy giờ; ấy vì họ không có tánh lưỡng lự và thay đổi như người phương Đông, và cũng không có tánh hay vô ý của người Hy-lạp… thật là người được nắn nên trong khuôn vững vàng hơn khuôn của người Tiểu A-si và xứ Sy-ri.” Dầu hầu việc Ngài trong vòng những người như thế thật khó khăn hơn, song kết quả lại vững bền. Vậy, tại Phi-líp, Chúa dùng Phao-lô lập một đội binh có khiên đức tin Ngài móc vào nhau, họ là những tín đồ có lòng ngay thẳng và vững vàng, bao giờ cũng sẵn lòng vâng phục và hầu việc Ngài. Phao-lô vui mừng vì các tín đồ có đồng một tâm tình như mình. Phần nhiều tín đồ đó có quyền công dân La-mã, nên Phao-lô khuyên họ “phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin lành của Đấng Christ” (1:27), và nhắc lại cho họ biết mình cũng là “công dân trên trời, ” còn quí hơn. Trong 3:20, Phao-lô cứ nhắc lại Vua mình là Đức Chúa Jêsus sẽ từ trời xuống để lập đế quốc vinh hiển Ngài, vì Ngài có quyền bắt phục muôn vật. Phao-lô viết cho những tín đồ cựu chiến binh và lực sĩ thuộc linh nầy bằng các danh từ thuộc về quân đội và thể thao. Phao-lô cho biết trong 1:13 cả đội lính cận vệ đã nghe đạo vì mình bị tù tại La-mã, và trong 4:22, các thánh đồ người nhà Sê-sa gởi lời chào thăm. Phao-lô khuyên anh em phải một lòng đứng vững giống như một đội binh; “đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin lành” (1:27) giống như người lực sĩ; phải can đảm không sợ “kẻ thù nghịch ngăm dọa mình” (1:28); và nói về sự từng trải mình như là người vật lộn nơi diễn trường (1:30). Phao-lô lấy sự từ bỏ mình và sự hầu việc bằng đức tin của tín đồ Phi-líp làm sự vui mừng (2:17); chẳng những Phao-lô gọi Ép-ba-phô-đích là bạn cùng làm việc, song cũng là lính cùng chiến trận với mình nữa (2:25). Phao-lô ví sánh đời sống tín đồ như một cuộc chạy đua, mà mỗi người đều cố gắng bươn theo sự ở đằng trước, nhắm mục đích để giựt giải (3:14). Phao-lô xin những tín đồ thành Phi-líp phải bước đều với mình như bước đi của lính (3:16). Những lời nói bóng nầy có ảnh hưởng lớn đối với những người Phi-líp có tánh như cựu chiến binh và lực sĩ, và cũng tỏ ra Phao-lô tôn trọng các tín đồ đó là dường nào. Về tên các nam tín đồ Phi-líp , trừ ra Cơ-lê-măn và Ép-ba-phô-đích, ở đây không chép, song chỉ biết “tên những người đó biên vào sách sự sống rồi” (4:3).
4. Nếu tín đồ Hội Thánh Phi-líp đại biểu cho dân sự thành phố, thì chắc có tín đồ người Hy-lạp và La-mã. Ấy vì thành là xứ Ma-xê-đoan, nhưng là thuộc địa La-mã. Vả lại, cả hai người đem đạo Tin lành đến là người Do-thái, công dân La-mã, mẹ là người Do-thái và cha là người ngoại. Trong Công 16:1- chép về sự lập Hội Thánh nầy, thì nói đến ba người tin Chúa: một là người vào đạo Do-thái từ A-si, một là người bản thổ Hy-lạp, và một là quan La-mã. Các người tin Chúa sau chắc cũng thuộc các dân khác nhau và giai cấp khác nhau như thế. Dầu vậy, trừ ra hai chị em là Ê-vô-đi và Sin-ti-cơ, thảy đều hiệp một ý trong Chúa. Điều nầy làm chứng rất rõ, trong Đấng Christ, bất cứ tín đồ thuộc dòng giống hoặc hạng nào trong xã hội, thảy đều có thể hòa hiệp và sống chung với nhau cách bình an.
5. Tín đồ Hội Thánh Phi-líp có lòng rộng rãi. Ấy vì trước hết đã dâng mình cho Chúa và sau cho Phao-lô (IICôr 8:5), và khi gặp dịp tiện họ đã giúp đỡ Phao-lô trong việc giảng đạo, tình nguyện, vui lòng quyên tiền theo sức mình và cũng làm quá sức nữa (IICôr 8:3). Chính Phao-lô lấy làm lạ vì tín đồ Phi-líp đã dâng như thế, và làm chứng rằng “đang khi họ chịu nhiều hoạn nạn, thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình” (IICôr 8:2).
Lời Phao-lô khen như thế tỏ ra tín đồ Phi-líp yêu mến Chúa khác thường; Phao-lô từ chối không nhận sự giúp đỡ của các hội khác về phần tài chánh vì tự nuôi mình bằng nghề may trại, song vì yêu tín đồ Hội Thánh Phi-líp cách đặc biệt nên Sứ đồ đã chịu để họ giúp. Hai lần Hội Thánh Phi-líp giúp Phao-lô sau khi lìa đó qua thành Tê-sa-lô-ni-ca (4:15, 16), một lần khi Phao-lô ở Cô-rinh-tô (IICôr 11:8, 9), và mười một năm sau Ép-ba-phô-đích đem quà họ gởi đến cho Phao-lô trong ngục La-mã (Phil 4:18). Nên chú ý, lời hứa Chúa “sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em” (4:19) là trực tiếp cho tín đồ nào dâng “một của lễ Đức Chúa Trời đáng nhận, và đẹp lòng Ngài.” Bởi vậy, Phao-lô yêu và khoe về các tín đồ đó, và lấy sự sốt sắng, thật thà, và yêu thương của họ làm gương để so sánh với sự yêu thương các tín đồ khác (IICôr 8:8).
III. Đặc sắc của thơ.—
1. Là thơ riêng.– Thơ tín nầy là một bức thơ riêng, không phải là một bài luận thuyết như thơ La-mã, Hê-bơ-rơ và IGiăng; thơ nầy cũng không phải là một thơ ứng dụng cho bất cứ thời nào và nơi nào như thơ Ê-phê-sô, Gia-cơ, và Phi-e-rơ. Chỉ là một bức thơ đơn sơ gởi cho bạn hữu riêng. Trong thơ không có luận đến thần đạo, không có đại cương nghiêm nhặt và không mở mang theo trật tự. Lời thơ viết cách tự nhiên như có những tin tức và tình cảm riêng, tỏ ra sự yêu thương giữa những người bạn thân thiết.
2. Là thơ yêu thương.– Các thơ tín khác tỏ tình cảm khác nhau, như IICôr tỏ sự buồn rầu và tức giận, như Ga-la-ti và La-mã tỏ sự ước ao của Phao-lô thiết lập lẽ thật để chống trả với kẻ thù nghịch. Trong các thơ tín khác có lời răn dạy và quở trách, song thơ Phi-líp không có như thế, ngoài truyện hai chi em kia không hiệp nhau. Thơ Phi-líp đầy dẫy lời khen ngợi các anh em, và Phao-lô cầu xin lòng yêu thương anh em càng ngày càng chan chứa hơn (1:9) mỗi khi nhớ đến anh em thì cảm tạ Chúa (1:3) và lấy làm vui vì có ơn riêng dự phần về tế lễ và của dâng đức tin anh em (2:17). Hội Thánh Phi-líp có lẽ tỏ rõ các ân tứ thuộc linh như Hội Thánh Cô-rinh-tô, song có bông trái của Đức Thánh Linh dư dật. Vậy, dường như Phao-lô cho rằng Hội Thánh Phi-líp chỉ cần hưởng các ơn thuộc linh nhiều hơn, và tấn tới về ân điển và tâm thần của Đấng Christ. Sự bình an và trông cậy của Phao-lô thắng hơn sự đau khổ hiện tại, sự bắt bớ và sự chết tương lai. Nếu thơ Phi-líp là chúc thơ cuối cùng, thì Phao-lô đã truyền lại lời chúc phước không chừng mực cho anh em mà mình yêu từ đầu chí cuối.
3. Là thơ vui mừng.– Bengel tóm tắt đại ý cả thơ: tôi vui, anh em hãy vui. Phao-lô chịu mọi sự cách vui mừng luôn. Có lẽ trong thành nầy Sứ đồ bị đánh đòn, thành khác bị ném đá, thành thứ ba bị tù, và thành thứ tư bị để cho chết nhưng trong khi Phao-lô còn ý thức, hoặc vừa khi có được lại ý thức, thì vẫn vui mừng. Như tại Phi-líp bị đánh đòn, bỏ ngục tối, tra chơn vào cùm, nhưng đến buổi khuya, Phao-lô và Si-la vẫn hát ngợi khen Đức Chúa Trời. Lúc viết thơ nầy thì Phao-lô đang bị tù tại La-mã, song vẫn vui. Bất cứ Phao-lô giảng ở đâu, đều bị khinh dễ và bắt bớ. Người Do-thái nói vu và làm hại, có tín đồ Phao-lô dẫn đến cùng Chúa cũng không vững vàng và giả dối. Cuối cùng, các kẻ thù nghịch đã bắt Phao-lô và bỏ tù; Ấy cũng như ngày nay người đời tự nhiên không thể vui; thứ nhứt đối với một người có tánh sốt sắng như Phao-lô. Phao-lô bị bỏ tù là như nhốt một chim phụng hoàng vào lồng. Nhiều chim phụng hoàng trong lồng buồn rầu và chết. Phao-lô thật khác, vì trong Phil 1:12, 18 chép: “Tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin lành… vì đó tôi đương mừng rỡ, và sẽ còn mừng rỡ nữa.” Đức tin của Giăng Báp Tít kém thiếu trong tù, song đức tin Phao-lô không lưỡng lự gì, Phao-lô chẳng lo lắng. Khi có người lính cùng xích với mình, điều đó chỉ nhắc lại cho Phao-lô khuyên anh em “hãy cầu nguyện… “để” sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ” (4:7). Sự bình an Ngài giống người lính đứng giữ gìn. Vậy, câu 4:4 là chìa khóa của thơ: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn, tôi lại còn nói nữa, hãy vui mừng đi.” Phao-lô đã già yếu và bị bỏ tù nhưng hơn hai mươi lần trong bức thơ ngắn nầy Phao-lô dùng các danh từ: vui mừng, bình an, thỏa lòng, và cảm tạ. Thật là một bức thơ đầy dẫy sự yêu thương và vui mừng.
4. Là thơ quan trọng về thần đạo.– Trái với lẽ thường, lời trong thơ rất đơn sơ, suốt cả thơ có tính cách một bức thơ riêng, Phao-lô chép một lẽ đạo rất đầy đủ và quan trọng về sự Đấng Christ thành nhục thể và được tôn lên cao. Phao-lô đang khuyên tín đồ Phi-líp phải khiêm nhường thì chép: “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, … Ngài đã từ bỏ mình đi, … nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao” (2:5-11). Ấy là khúc về thần đạo rất quan trọng trong cả Tân Ước. Ấy cũng là phần bổ trợ cuối cùng của Phao-lô để giải nghĩa sự mầu nhiệm lớn về sự giáng sanh của Cứu Chúa và phương pháp cứu rỗi. Ấy là lời chót của Phao-lô nói về vấn đề nầy. Phao-lô nói rõ về Đấng Christ đã từ bỏ mình đi (kenosis), phương pháp được cứu chuộc, sự chắc chắn được tôn lên cao, và sự trông cậy ngày kia sẽ có sự thờ phượng phổ thông khắp cả. Những lẽ thật thiết yếu về Đấng Christ được bày tỏ rõ ràng. Chúa Jêsus là một người, không nắm giữ thuộc tánh nào của Đức Chúa Trời trái với nhân tánh thật, song hết lòng từ bỏ mình làm của lễ mà chịu những sự hèn yếu và hạn chế cần cho sự thành nhục thể. Chúa Jêsus ngang hàng với Đức Chúa Trời, song đã trút bỏ hết tánh vô sở bất năng, vô sở bất tri, và vô sở bất tại của Ngài trước khi thành nhục thể, lấy hình một người, là người chơn thật và trọn đời vâng lời Đức Chúa Trời. Ngài vẫn giữ thái độ đó với Đức Chúa Trời là thái độ tín đồ nên giữ và có thể giữ, vì chính Ngài cũng ngang hàng với loài người. Tín đồ nên có tâm tình của Đấng Christ. Ngài hạ mình xuống và vâng phục trọn đời cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Khúc nầy bày tỏ những lẽ thật rất sâu nhiệm một cách vắn tắt nhưng rất rõ ràng. Ấy là sự khải thị bao trùm hết về Chúa Jêsus trong các thơ tín Phao-lô.
IV. Chứng cớ thơ là thật.– Ngày nay ai nấy đều công nhận thơ là thật. Marcion đầu thế kỷ thứ II S.C. công nhận trong bộ Tân Ước riêng mình. Có tên thơ nầy trong danh sách bản liệt kê Muratori làm vào cuối thế kỷ thứ II S.C., và cũng có trong bản Peshito và các bản La-tinh cũ. Giáo phụ Polycarpe nói đến và trích lược, Irénée và Clément ở Alexandrie nói đến. Vì không luận đến lẽ đạo như các thơ khác của Phao-lô, thì trước đây có người nghi ngờ, song những cớ tỏ ra thơ thật đã được viết bởi Phao-lô rất nhiều không thể phản đối được. Như McGiffert viết: Khó tin rằng một người mạo danh Phao-lô đã viết thơ nầy mà trong đó không thể tìm cớ nào hoặc về lẽ đạo, hoặc về Hội Thánh. Trong thơ nầy, phần lớn tỏ tâm sự riêng, và tánh nết của Phao-lô cách rõ ràng và thành tín, đến nỗi phải tin là thật. Vậy, thơ nầy đáng đặt ngang hàng với Ga-la-ti, Cô-rinh-tô, và La-mã vì thật bởi Phao-lô chép. Ấy cũng là kết luận của các nhà học giả ngày nay.
V. Nơi và niên hiệu chép thơ.– Thơ nầy với ba thơ Ê-phê-sô, Cô-rinh-tô, và Phi-lê-môn, đều cùng viết ở trong ngục La-mã. Làm sao biết được như thế? Vì trong thơ chép: “Chốn công đường, ” đó chỉ về đội cận vệ của hoàng đế La-mã (Phil 1:13), và “người nhà Sê-sa, ” đó chỉ về vài hạng người trong cung đình (Phil 4:22). Bởi vậy, biết vòng xiềng xích Phao-lô mắc đó tức là ngục La-mã. Nhưng thử hỏi: thơ Phi-líp được viết trước hay sau ba thơ kia? Có người nói thơ nầy được viết trước, vì lối văn và đại ý thơ phần nhiều giống thơ La-mã. Trái lại có người nói lời thơ nầy không giống với lời thơ viết cho một Hội Thánh mới lập, song đã lập từ lâu năm. Khi viết thơ chính nhằm lúc phái tín đồ đảng Do-thái đương khuấy rối (3:2, 3). So sánh với ba thơ kia thì lúc chép thơ nầy Phao-lô gần ra khỏi ngục hơn (2:23, 24), nên là thơ chót gởi cho các Hội Thánh viết trong ngục. Xét ra, hồi Phao-lô đến La-mã, chừng nhằm năm 61 S.C.. Cứ theo đó mà tính thì thơ Phi-líp viết chừng vào khoảng 63-64 S.C..
VI. Tài liệu của thơ.– Không thể phân tích thơ cách hợp lý. Song có thể theo trật tự các tư tưởng như sau đây:
1. Lời đạt (1:1, 2).
2. Tạ ơn và cầu nguyện (1:1-11): Phao-lô cảm tạ vì được thông công với anh em ở Phi-líp, và biết chắc anh em sẽ được trọn lành, Phao-lô nghĩ đến và cầu nguyện cho anh em hầu cho sự yêu thương anh em trong sự khôn ngoan có thể thử nghiệm những sự tốt lành mà chọn lấy sự tốt nhứt, đến nỗi được đầy dẫy bông trái sự công bình đến bởi Chúa Jêsus Christ, làm cho sáng danh và khen ngợi Đức Chúa Trời.
3. Phao-lô chép về những sự từng trải của mình (1:12-30): a) Việc truyền đạo (12-14): mọi sự xảy ra đều tốt cả. Phao-lô ở trong tù song cứ siêng năng truyền đạo. Phao-lô bị xiềng chung với người lính, song ấy cũng cho mình nhân dịp tiện nói chuyện riêng. Khi người ta nhóm để nghe, thì bất đắc dĩ người lính đó phải nghe; và khi người ta giải tán thì nhiều lần lính đó tỏ lòng tò mò thì cứ nói chuyện với nhau về Đấng Christ. Vậy, Phao-lô đã có nhiều dịp tiện để thuật về sự từng trải mình với những người lính đó, và sự tích đó được đồn ra “chốn công đường và các nơi khác.” b) Tánh khoan dung (15-18): chẳng những Tin lành được tấn tới cách bất ngờ trong tù, song suốt cả thành, các anh em thảy đều chịu cảm động bởi kết quả việc truyền đạo của Phao-lô mà dạn dĩ rao truyền Đấng Christ, người thì bởi lòng ghen tị và cãi lẫy, người thì bởi lòng yêu thương. Phao-lô vui vì đạo Đấng Christ được rao truyền hoặc bởi kẻ thù, hoặc bởi anh em. Phao-lô muốn Tin lành được bày tỏ như mình đã giảng, song cũng có tinh thần rộng lượng đủ để dung chịu mọi ý và phương pháp khác nhau giữa vòng anh em. “Dầu thế nào đi nữa, hoặc làm bộ, hoặc thật thà, Đấng Christ cũng được rao truyền; ấy vì đó tôi đương mừng rỡ và sẽ còn mừng rỡ nữa (1:18). Ấy là một trong những lời rất cao thượng của những vĩ nhân. Phao-lô tiếc cho người nào không thấy mọi sự đúng như mình, song cũng vui mừng miễn là họ tôn vinh Đấng Christ. c) Phao-lô sẵn sàng sống hoặc chết (19-26). Phao-lô nói: “Dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi. Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy.” Ấy là lời độc ngữ của Phao-lô đối diện với sự tử vì đạo hoặc cứ truyền đạo. Làm chúng ta nhớ lại lời độc ngữ của Hamlet trong văn thơ Shakespeare: “Một là sống, hai là chết; chỉ có một bề.” Đó là câu hỏi chung cho cả Hamlet và Phao-lô. Hamlet cân nhắc giữa sự dữ với sự dữ, và sau hết chọn sự dữ kém hơn chỉ bởi hèn nhát. Còn Phao-lô cân nhắc phước với phước, phước sống với Đấng Christ và phước chết với Đấng Christ, và sau hết chọn phước kém hơn chỉ bởi không vị kỷ. Cả hai đều chọn sự sống, song những cớ tích dẫn cả hai chọn thì khác hẳn: Phao-lô sống đầy lòng vui mừng, còn Hamlet sống trong sự thất vọng và sỉ nhục. Sứ đồ cao tuổi thà chết còn hơn sống, song thà sống còn hơn chết trước khi việc mình chưa xong. d) Gương sáng (27-30): Phao-lô cũng như anh em ở Phi-líp đều là công dân La-mã. Phao-lô thử ăn ở cách xứng đáng với quyền công dân mình và các anh em cũng nên như vậy. Song Phao-lô có sự ham muốn cao hơn tức chính mình cùng anh em phải ăn ở như công dân xứng đáng với đạo Tin lành Đấng Christ. Phao-lô đánh trận như người lính giỏi; đứng vững trong đức tin; chẳng sợ kẻ thù nghịch ngăm dọa mình. Vậy, anh em phải theo gương mình, vì cũng dự phần trong sự đánh trận đó, và tin Đấng Christ, cùng chịu đau đớn vì Ngài. Đức tin anh em có không phải tự anh em, song là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Sự đau đớn của anh em, không phải tự anh em chọn lựa, song cũng là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
4. Lời khuyên nên theo gương Đấng Christ (2:1-18): các tín đồ ở Phi-líp phải có đồng trí khôn và tinh thần như Đấng Christ, thì Phao-lô sẽ vui lòng đổ mạng sống mình làm lễ quán trên sự hy sinh và hầu việc của đức tin anh em. Cũng xem phần III, 4.
5. Lý cớ Phao-lô sai Ti-mô-thê và Ép-ba-phô-đích (2:19-30).
6. Gương của Phao-lô (3:1-21):
a) Phải lìa bỏ mọi sự cậy mình trong xác thịt (1-7). Có “loài chó” và “kẻ làm công gian ác” thuộc Do-thái-giáo tự khoe trong xác thịt. Phao-lô không như thế, chỉ khoe mình trong Đấng Christ và không cậy xác thịt. Phao-lô có nhiều cớ mà kiêu ngạo về quá khứ mình: vì theo ý họ có thể đặt vào hạng cao. Ấy vì Phao-lô thuộc dòng giống Y-sơ-ra-ên là người đã vật lộn cùng Đức Chúa Trời và được thắng. Phao-lô thuộc chi phái Bên-gia-min, tổ phụ duy nhứt được sanh trong Xứ Thánh. Vua thứ nhứt của Y-sơ-ra-ên được chọn từ chi phái nầy, và chỉ chi phái nầy trung tín với nhà Đa-vít lúc nước chia làm hai. Chi phái nầy chiếm chỗ danh dự trong cơ binh Y-sơ-ra-ên (Quan 5:14; Ôs 5:8). Vậy, thuộc về chi phái độc nhứt trung tín và được tôn trọng nầy là điều đáng khoe. Phao-lô là người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ, thuộc phe người Hê-bơ-rơ rất danh tiếng, vì giữ theo mọi lễ nghi của tôn giáo, vì lòng ái quốc và sốt sắng, và vì lòng tin kính và mộ đạo. Giữa những người Pha-ri-si, Phao-lô làm gương rõ về sự hăng hái. Bởi đó, Tòa Công luận chọn Phao-lô để bắt bớ và hủy diệt Hội Thánh Đấng Christ. Không ai có thể tìm chỗ nào đáng trách về sự công bình Phao-lô theo Luật pháp, và chính Phao-lô xưng rằng theo khuôn mẫu của họ thì không bị chê trách gì. Ấy là điều Phao-lô thuật lại về quá khứ mình. Nào có ai hơn Phao-lô về dòng giống hoặc về sự tin kính đâu? Song mọi sự đó Phao-lô kể là sự lỗ vì cớ Đấng Christ.
b) Phải nắm giữ và đuổi theo sự trọn lành thuộc linh (8-16). Trong khúc nầy dùng “trọn lành” và “trọn vẹn.” “Ấy không phải đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy” (3:12). Nhiều nhà giải nghĩa Kinh Thánh cho rằng qua câu nói nầy tỏ ra sự khiêm nhường của Phao-lô, vì nói không có trọn vẹn về tánh nết hiện nay, song Phao-lô thú thật rằng mục đích của mình là còn sống bao lâu thì còn phấn đấu để đến nơi trọn lành. Nên chú ý, ở đây Phao-lô không nói đến trọn lành về sự nhịn nhục, bình yên, mộ đạo, và tánh nết. Trong 3:15, Phao-lô chỉ về sự trọn lành đó khi chép: “Hễ những người trọn vẹn trong chúng ta, phải có ý tưởng đó.” Song sự trọn lành Phao-lô nói đến trong câu 12 chỉ có thể nhận được lúc tín đồ “được đến sự sống lại từ trong kẻ chết, ” tức là sự sống lại thứ nhứt khi Đấng Christ tái lâm. Ấy là mục đích sự cố gắng của Phao-lô, tức “nhắm mục đích mà chạy.” Trong lúc chờ đợi, Phao-lô nắm giữ sự trọn vẹn về đức tin và sự dâng mình, là hai điều sanh ra trong sự trọn lành về tánh nết tín đồ Đấng Christ hiện tại; điều ấy bảo đảm sẽ được sự trọn vẹn lúc Chúa tái lâm. Câu 14 nói “để giựt giải về sự kêu gọi trên trời, ” giải đó tức là sự thánh khiết trọn vẹn của Đấng Christ mà tín đồ sẽ mặc lấy khi Ngài đến c) Phải nhớ tín đồ là công dân trên trời (17-21): Phao-lô suy nghĩ đến những sự ở trên trời. Có nhiều tín đồ chỉ suy tưởng đến những sự ở dưới đất. Ấy là những kẻ thù nghịch với thập tự giá; song Phao-lô đã thề trung thành mãi mãi với thập tự giá. Sự cuối cùng của những kẻ đó là sự hư mất; còn sự cuối cùng của Phao-lô là sự cứu rỗi chắc chắn. Họ lấy bụng mình làm Chúa, song mục đích của Phao-lô là sự trọn vẹn về tâm thần. Sự vinh hiển của họ chỉ là xấu hổ; còn của Phao-lô là chỉ ở trong Đấng Christ. “Hỡi anh em, hãy bắt chước tôi, lại xem những kẻ ăn ở theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi.” Khi Ngài tái lâm, “Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta, ” tức là thân thể tín đồ khi còn là kẻ bộ hành trên đất, cũng là thân thể thường làm cho kẻ chạy đua thiếu sức để tới đích và không thể chạy kịp với sự ao ước của tâm thần. Ngài sẽ biến hóa thân thể đó “giống như thân thể vinh hiển Ngài, ” tức là thân thể trọn vẹn của những người đã được dự phần về sự sống lại từ trong kẻ chết. Nên chú ý, ở đây ý nghĩa về thân thể không phải theo ý của tà giáo Manichée và phái Néo-Platon coi vật chất là sự dữ nên thân thể cũng vậy. Plotinus đỏ mặt vì có thân thể; Chúa Jêsus không hề như vậy. Từ khi tin Chúa, tín đồ nên tôn trọng thân thể mình dầu hèn mạt, vì là đền thờ của Đức Thánh Linh. Cũng phải tôn trọng thân thể vì cớ Chúa Jêsus đã thành nhục thể. Nhưng thân thể sửa soạn cho Chúa Jêsus là thân thể của sự tự hạ mình Ngài. Thân thể đó ràng buộc Ngài với đất, làm cho Ngài mệt mỏi lúc quá lo làm việc, và yếu đuối khi Ngài rất cần sức khỏe. Phao-lô nói thân thể tín đồ hiện nay giống như thân thể Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, và khi Chúa tái lâm thì sẽ biến hóa giống như thân thể vinh hiển của Ngài.
7. Những lời khuyên dạy ngắn (4:1-9). Lời cuối cùng khúc nầy là: “Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi, và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em.” Những sự khuyên dạy Phao-lô đều dựa vào cách cư xử, sự từng trải, và gương của chính Sứ đồ. Các anh em đã thấy những điều đó được tỏ ra bởi Phao-lô nên phải bắt chước và vâng phục. Bởi vậy, khi đọc những lời khuyên đó, thấy phản chiếu tánh nết của sứ đồ đã dạy dỗ, rao giảng, và học tập rồi. Những lời khuyên đó tỏ ra Phao-lô là người thế nào:
a) Có sự vững vàng và tình yêu thương anh em (4:1): Phao-lô có tài kết bạn, vì đã thắt chặt các bạn với mình bằng những móc sắt vững chắc, đến nỗi các bạn sẵn lòng hy sinh hết cho mình. Ấy bởi vì Phao-lô hy sinh hết cả mọi sự cho họ, và tình yêu thương Phao-lô đối với bạn chan chứa đến nỗi sanh ra sự yêu thương trong bạn. Vậy, bạn có thể nhờ cậy Phao-lô luôn. b) Lòng thiện cảm của Phao-lô đối với tất cả mọi anh em nam nữ, và Sứ đồ ước ao anh em ở với nhau cách bình yên (câu 2, 3): Kẻ đồng liêu trung tín trong câu 3 này không biết là ai. Có người cho đó là Ép-ba-phô-đích, Lu-ca, Si-la, Ba-na-ba, Ti-mô-thê, Phi-e-rơ, v.v.. c) Sự vui mừng trong Chúa luôn luôn (câu 4). d) Nết nhu mì (câu 5), có người dịch nguyên văn là điều độ, nín chịu, tự cầm giữ mình, suy luận dịu dàng, v.v.. Tindale dịch là lễ phép. Thật ra, đó là sự nín chịu, lẫn với duyên, nết na với lễ phép, kính nể với quí chuộng như Đấng Christ đã có. Phao-lô cũng có sự nhu mì đến nỗi phẩm cách của Sứ đồ cảm hóa và được lòng nhiều người. đ) Thoát sự lo lắng (câu 6, 7): Phao-lô tin cậy không sợ gì, một mặt là bởi biết chắc Chúa đang ở gần, còn một mặt có đức tin cầu nguyện. Phao-lô làm thế nào để thoát khỏi sự lo lắng thật vượt quá mọi sự hiểu biết. Ấy thật nhờ quyền phép của sự cầu nguyện, và bởi đó Phao-lô có sự bình an của “Chúa đã gần rồi” gìn giữ lòng Sứ đồ như người lính canh gác đồn lũy. e) Quen suy nghĩ cao thượng (câu 8): Đem tư tưởng Phao-lô ở đây mà so với các tôn chỉ của triết học Hy-lạp thì thấy cao thượng hơn biết bao! Phao-lô ưa thích nghĩ đến những điều chơn thật, đáng tôn, công bình, thanh sạch, đáng yêu chuộng, có tiếng tốt, và có nhơn đức đáng khen. Phao-lô biết có đức hạnh trong mọi điều đó, và đáng khen ngợi. Phao-lô đã học biết khi trí đầy dẫy những điều đó thì sống cách tinh khiết và bình an.
8. Sự cảm tạ anh em vì đồ gởi cho (4:10-20): Nên chú ý, lời hứa trong câu 19 về Chúa sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng là nói trực tiếp với anh em đã gởi đồ giúp đỡ Sứ đồ như một thứ hương có mùi thơm, tức là một của lễ Đức Chúa Trời đáng nhận và đẹp lòng Ngài.
9. Lời chào thăm (4:21, 22).
10. Lời chúc phước (4:23).
Thơ nầy không chú trọng về thần học, vậy không phải luận về lẽ đạo Đấng Christ nhiều. Dầu vậy, trong thơ ngắn nầy có chép danh Đấng Christ độ 40 lần, và rất nhiều đại danh từ chỉ về Ngài nữa. Phao-lô có thể viết gì mà không nói về Đấng Christ; nên cuối cùng chép: “Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ ở trong lòng anh em.”
Trích lược D.A.HAYES.
Tiến sĩ Scofield chú thích về thơ Phi-líp:
Tác giả. Sứ đồ Phao-lô (1:1).
Niên hiệu.– Không thể nhứt định chắc chắn song đây là một trong các thơ viết trong tù. Hoặc Phao-lô bị tù hai lần tại La-mã, và nếu thật thế, thì thơ Phi-líp chép trong khi bị tù lần thứ nhứt hay lần thứ hai, điều ấy không quan hệ gì với sứ mạng của thơ tín nầy. Ai nấy đều nhận rằng thơ viết vào năm 64 S.C.. Có viết thơ tỏ rõ trong 4:10-18.
Đại ý.– Đại ý của thơ Phi-líp là sự từng trải của tín đồ Đấng Christ. Tác giả xác nhận tín đồ ở Phi-líp theo giáo lý chân thực, trong hội đó không cần sửa dạy về trật tự. Hội Thánh Phi-líp giống các hội chúng thường chép trong Tân Ước: “Các thánh đồ trong Chúa Jêsus Christ;… cùng các giám mục (trưởng lão) và các chấp sự.” Các cảnh ngộ của Sứ đồ khác hẳn với sự từng trải thuộc linh. Về cảnh ngộ, Phao-lô là người tù của Néron; về từng trải có tiếng reo đắc thắng, và tiếng ca vui. Sự từng trải thuộc linh Phao-lô dạy không phải nhờ sự bề ngoài, song nhờ sự bề trong của tín đồ Đấng Christ.
Câu chìa khóa: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (1:21). Vậy, sự từng trải thuộc linh phải lẽ là sự sống, bản tánh, và tâm tình của Đấng Christ ngự trong tín đồ, và được bày tỏ ra, bất cứ trong cảnh ngộ nào. (1:6, 11; 2:5, 13).
Bố cục của thơ.—Dựa theo số đoạn: I. Đấng Christ là sự sống tín đồ, vui vẻ trong sự đau đớn, 1:1-30. a) Lời chào thăm, 1:1-7; b) Sự vui vẻ thắng hơn sự đau khổ, 8-30. II. Đấng Christ là gương mẫu của tín đồ, lấy làm vui trong sự hầu việc hèn hạ, 2:1-30. a) Lời khuyên phải hiệp một và nhu mì, 2:1-4; b) Bảy bước về sự tự hạ mình của Đấng Christ, 5-8; c) Sự tôn Chúa Jêsus lên cao, 9-11; d) Sự cứu rỗi bề trong tỏ ra bề ngoài, 12-16; đ) Gương của Sứ đồ, 17-30. III. Đấng Christ là mục đích của tín đồ, vui mừng mặc dầu có sự bất toàn, 3:1-21. a) Lời cảnh cáo nghịch cùng tín đồ đảng Do-thái; 3:1-3; b) Lời cảnh cáo đừng nhờ sự công bình của Luật pháp, 4-6; c) Đấng Christ là mục đích của đức tin tín đồ để được sự công bình, 7-9; d) Đấng Christ là mục đích của sự ước ao tín đồ để được sự thông công trong quyền phép của sự phục sinh, 10-14; đ) Lời khuyên phải đồng bước đi theo sự dẫn dắt của Chúa, 15, 16; e) Song không nên lụy mình mà từ bỏ lẽ thật 17-19; f) Đấng Christ là mục đích của sự trông đợi tín đồ, 20, 21. IV. Đấng Christ là sức lực của tín đồ, vui vì đắc thắng sự lo lắng, 4:1-23. a) Lời khuyên phải hiệp một và vui vẻ, 4:1-4. b) Bí quyết về sự bình an trong Chúa, 5-7; c) Sự hiện diện của Đức Chúa Trời bình an, 8, 9; d) Chiến thắng sự lo lắng, 10-23. 2:6.– “Hình, ” nguyên văn Hy-lạp en morphe theo Thayer là “hình một người hoặc một vật thấy được, tức hình dáng bề ngoài.” So Giăng 17:5: “Sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian.” Không có gì trong khúc nầy dạy rằng Ngôi Lời Vĩnh viễn (Giăng 1:1) đã từ bỏ mình, hoặc bổn tánh, hoặc thuộc tánh của Đức Chúa Trời, song chỉ từ bỏ những gì tỏ ra bề ngoài thấy được của sự vinh hiển Đức Chúa Trời. Theo Lightfoot: “Ngài đổ mình ra, trút khỏi Ngài dấu tích của sự oai nghiêm.” Theo Moorehead: “Khi cần dùng đến, thì Ngài hoạt động các thuộc tánh Đức Chúa Trời của Ngài.” So Giăng 1:1; 20:28.