Phi-líp, Thành

Phi-líp, Thành Philippi. Philippes.

I. Địa dư.– Một thành ở phía Đông xứ Ma-xê-đoan, cách biển độ 16 cây số, phía Tây bắc cách đảo Thasos từ cửa biển Nê-a-bô-ni nay gọi là Kavalla chừng 18 cây số. Thành ở trên đường cái thông suốt từ La-mã đến A-si, gọi là Via Egnatia và trên bờ sông Gangites, nay gọi là Angista. Phi-líp là một trong các thành đứng đầu xứ Ma-xê-đoan xưa.

II. Lịch sử.– Thành Phi-líp nguyên gọi là Krenides, tức nơi có nhiều suối nhỏ, và nằm trong địa phận Thrace xưa. Song năm 356 T.C. vua Phi-líp II của Ma-xê-đoan mở rộng bờ cõi mình đến tận sông Nestus và sát nhập vào thành làm cho rộng và mạnh thêm, đồng thời đặt cho thành chính tên mình. Miền xung quanh thành nầy có nhiều mỏ vàng và bạc, sản vật đó giúp đỡ Phi-líp đạt đến những tham vọng của mình. Phi-líp không những dùng vàng đó để tăng cường binh bị, song cũng dùng để hối lộ như vua đã nói rằng: “không có đồn lũy mạnh nào không chiếm được miễn là con lừa chở vàng có thể vào phía trong tường”. Năm 168 T.C. chấp chính quan La-mã Paulus Emilius đánh bại Perseus, vua cuối cùng của Ma-xê-đoan, và Phi-líp cùng cả xứ sa vào tay người La-mã. Năm 42 T.C. hai trận chiến quyết liệt xảy ra vùng lân cận thành, giữa Brutus và Cassius, hai người đứng đầu vụ ám sát Sê-sa, Octave và Antoine, hai người báo thù chính. Rồi sau, Octave đã trở nên Augustus Sê-sa, thì chú trọng đến nơi mình đã chiến thắng nên gởi một số thực dân tới Phi-líp. Không những Lu-ca chép thành Phi-líp là một thuộc địa của La-mã (Công 16:12), song còn những đồng tiền có đề chữ Colonia Augusta, Jul. Philippensis. Lúc đó Phi-líp là thành đứng đầu miền đó, song kinh đô là Amphipolis. Nê-a-bô-li, cửa biển Phi-líp, mới nhập vào tỉnh Ma-xê-đoan đế quốc La-mã trong đời vua Vespasien .–III. Lần đầu Phao-lô đến Phi-líp.– Trong cuộc lưu hành truyền giáo lần thứ hai Phao-lô đi thuyền với Si-la (tức Sin-vanh, IICôr 1:19; ITê 1:1; IITê 1:1), Ti-mô-thê và Lu-ca và hôm sau tới cửa biển Nê-a-bô-li (Công 16:11). Ấy là lần đầu Phao-lô đặt chân lên châu Âu. Từ đó đoàn truyền giáo đi đường tới Phi-líp, trước hết họ phải qua một đèo cao độ 500 thước, qua dốc núi Symbolum và sau tới đồng bằng có thành Phi-líp. Công 16:12-40 chép những sự từng trải của Phao-lô ở đó: tức ngày sa bát sau tới, Sứ đồ và các đồng bạn ra ngoài cửa thành đến bờ sông Angites, vì là nơi nhóm họp cầu nguyện, và giảng đạo cho những phụ nữ nhóm lại. Trong số đó có người Do-thái và Hy-lạp gia nhập vào đạo. Ly-đi, một phụ nữ Hy-lạp nhập Do-thái-giáo, quê ở thành Thi-a-ti-rơ (so Khải 2:18-29) làm nghề buôn hàng sắc tía, bà là người kính sợ Đức Chúa Trời, nghe Sứ đồ giảng thì tin Chúa Jêsus và chịu lễ báp-têm với người nhà mình. Vì không nói đến chồng của bà, và bà Ly-đi có gia đình thì dường như là một đàn bà góa. Bà Ly-đi đã ép mời Phao-lô và các đồng bạn hãy ở nhà mình trong khi còn ở tại thành Phi-líp.

Phao-lô cứ ở thành Phi-líp giảng đạo Chúa, song một ngày kia có sự phản đối nổi lên. Có một đứa đầy tớ gái bị quỉ bói khoa ám cứ đi theo Phao-lô nhiều ngày và kêu lên: “Những người đó là đầy tớ của Đức Chúa Trời rất cao rao truyền cho anh em sự cứu rỗi.” Cuối cùng Phao-lô lấy làm phiền, thì nhơn danh Chúa Jêsus bảo quỉ ra khỏi đứa tớ gái nầy. Các chủ của nàng thấy mất lợi, bèn bắt Phao-lô và Si-la, đem kiện trước các thượng quan rằng những người nầy làm rối loạn và dạy trái với thói tục người La-mã. Đoàn dân cũng nổi lên nghịch cùng hai người nữa, nên thượng quan bảo phải đánh đòn nhiều và bỏ Phao-lô và Si-la vào ngục tối, tra chân vào cùm. Khoảng nửa đêm, trong lúc Phao-lô và Si-la hát ngợi khen và cầu nguyện, bỗng có cơn động đất rất lớn, nền ngục rúng động, các cửa ngục mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả. Người đề lao thấy vậy, tưởng tù đã trốn hết, thì toan tự tử, song Phao-lô khuyên đừng làm, cho biết các tù nhân vẫn còn y nguyên. Người đề lao chịu cảm động, hỏi Phao-lô và Si-la mình phải làm chi cho được cứu rỗi, và khi nghe hãy tin Đức Chúa Jêsus thì chính giờ đó người và cả nhà đều tin Chúa và chịu lễ báp-têm. Sau đó, người đề lao mời hai người lên nhà và đãi ăn.

Ngày hôm sau, thượng quan muốn thả ra, song Phao-lô không chịu như thế vì mình và Si-la là công dân La-mã, nên theo luật khi chưa định tội, họ không có phép đánh đòn hai người giữa thiên hạ, (ITê 2:2) cũng như bỏ hai người vào ngục như họ đã làm rồi. Vậy, Phao-lô nói với người đề lao rằng chính các quan phải tới thả mới phải. Nghe nói vậy, các thượng quan rất sợ hãi, họ bèn đến nói với Phao-lô và Si-la, thả đi và xin họ lìa khỏi thành. Song khi hai người đã về nhà Ly-đi, thăm và khuyên bảo anh em, rồi rời thành Phi-líp đi tới thành Tê-sa-lô-ni-ca. Không biết rõ hai người đã ở thành Phi-líp được bao lâu, song Công 16:18 chép “nhiều ngày.” Ramsay cho rằng Phao-lô trước đã rời Trô-ách trong tháng Octobre 50 S.C. và cứ ở Phi-líp cho đến gần hết năm.

Trong mấy sự việc kể trên, chúng ta nên chú ý về mấy điều. Thứ nhứt, tại Phi-líp số người theo Do-thái-giáo và tín đồ người Do-thái ít lắm. Không có một nhà hội ở đó như ở Sa-la-min, An-ti-ốt, xứ Bi-si-đi, v.v. (Công 13:5; 14:43; 14:1 v.v.) người Do-thái phải nhóm lại trên bờ sông và phần nhiều là đàn bà (16:13). Bởi đó thấy trong thơ Phi-líp dường như không có nói đến tín đồ đảng Do-thái, chỉ một lần Phao-lô tố cáo: “Hãy coi chừng phép cắt bì giả” (Phil 3:2-7). Thứ nhì, Phi-líp không phải là thành Hy-lạp hay Do-thái song là một thuộc địa của La-mã. Vì vậy, khi Phao-lô tỏ ra là công dân La-mã tức thì các quan đã sợ hãi. Thứ ba, Ramsay gợi ý rằng chính Lu-ca vốn là người Phi-líp dầu truyền khẩu nói ông là người An-ti-ốt. Trong Công 16:10 chép “chúng ta” thì tỏ ra ở đây Lu-ca có đến cùng Phao-lô, và vì đó có người cho rằng Phao-lô cứ ở Phi-líp trong khoảng giữa lần thứ nhứt và lần thứ ba mà Phao-lô viếng thành nầy.

IV. Mấy lần sau Phao-lô đến Phi-líp.– Phao-lô và Si-la, có lẽ có Ti-mô-thê cùng đi (dầu không nói đến trong Công 16:1-17:14), lìa thành Phi-líp mà qua thành Tê-sa-lô-ni-ca. Song dường như Lu-ca ở lại, vì “chúng ta” trong Công 16:10-17 không có nữa cho đến 20:5, lúc Phao-lô rời thành Phi-líp lần nữa để sang Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng. Vì Lu-ca ở tại đó trong khoảng 5 năm, chắc để giúp đỡ lập Hội Thánh Phi-líp và làm vững vàng các tín đồ trong cơn bắt bớ (IICôr 8:2; Phil 1:29, 30). Phao-lô không đến thăm thành Phi-líp cho đến cuộc lưu hành thứ ba thì trở về xứ Ma-xê-đoan, có Ti-mô-thê và Ê-rát đi trước hai năm, sau khi Sứ đồ ở Ê-phê-sô hai năm (Công 19:22; 20:1). Không chép chắc chắn Phao-lô có đến Phi-líp lần nầy không, nhưng có lẽ ông đợi chờ Tít tại đó (IICôr 2:13; 7:5, 6), và chép thơ Cô-rinh-tô thứ hai nữa (IICôr 8:1 tt; 9:2-4). Sau ba tháng tại nước Hy-lạp, vì cớ có sự người Giu-đa lập mưu hại mình thì Phao-lô không đi đường thủy mà đi đường bộ qua xứ Ma-xê-đoan và sang xứ Sy-ri (Công 20:3). Nơi cuối cùng Phao-lô ở lại trước khi sang A-si là Phi-líp, và ở đó qua những ngày ăn bánh không men, sau cùng với Lu-ca tới Trô-ách mà gặp bảy đồng bạn đang đợi mình tại đó (20:4-6). Dường như Phao-lô đến viếng Phi-líp lần nữa giữa lần thứ nhứt và thứ nhì bị tù tại La-mã. Trong Phil 2:24 Phao-lô nói muốn làm như thế, và ITi 1:3 nói đến Phao-lô qua Ma-xê-đoan, chắc là một cơ hội cho Phao-lô viếng Phi-líp lần nữa.

Lúc Phao-lô lần thứ nhứt ở Tê-sa-lô-ni-ca, thì đã nhận lãnh hai lần tiền quyên giúp của tín đồ thành Phi-líp (Phil 4:16), và khi Sứ đồ rời Ma-xê-đoan sang nước Hy-lạp cũng nhận lần nữa (IICôr 11:9; Phil 4:15). Khi Phao-lô bị bỏ tù lần thứ nhứt tại La-mã, thì Hội Thánh Phi-líp nhờ Ép-ba-phô-đích gởi một lần nữa (Phil 2:25; 4:10, 14-19). Ép-ba-phô-đích đã ở lại với Phao-lô và sau khi đau ốm nặng (2:27), thì mang thơ của Phao-lô viết về để cảm ơn Hội Thánh Phi-líp (Phil 1:1). Dường như có thơ khác giữa Phao-lô và Hội Thánh Phi-líp, song chỉ có thơ tín Phi-líp còn lại. Polycarpe nói đến những thơ đó.

V. Lịch sử sau của Hội Thánh Phi-líp.—Sau khi Phao-lô chết, ta ít nghe nói về Hội Thánh và thành Phi-líp. Trước năm 117 S.C.. Giám mục An-ti-ốt là Ignace, vì là tín đồ Đấng Christ nên bị kết án, giải đến La-mã và bị quăng cho thú dữ, khi qua thành Phi-líp thì Hội Thánh ở đây đã tỏ lòng hoan nghênh và kính trọng người. Khi giám mục đi rồi, Hội Thánh Phi-líp đã gởi thơ cho Hội Thánh An-ti-ốt để chia buồn, và gởi một thơ khác cho Polycarpe, giám mục tại Si-miệc-nơ, xin ông gởi những bản sao của các thơ giám mục đã nhận từ Ignace. Polycarpe làm y như lời họ yêu cầu và ông cũng gởi một bức thơ đầy sự yêu thương, giục lòng, khuyên và răn dạy cho Hội Thánh Phi-líp. Theo thơ đó, Hội Thánh Phi-líp vẫn đáng khen, dầu có một trưởng lão tên là Valens với vợ bị quở trách vì cớ tội tham lam. Trong các biên bản giáo hội nghị tại Sardica (344 S.C.), Ê-phê-sô (431 S.C.), và Chalcedon (451 S.C.), có tên các giám mục ở Phi-líp và Hội Thánh đó vẫn còn tồn tại cho đến đời cận kim, mặc dầu thành Phi-líp không còn gì ngoài những di tích như là một cổng lớn mà trước đó Sứ đồ có lẽ đã qua đây để đi ra ngoài bờ sông mà giảng đạo.

Lên đầu trang