Quản gia Steward of the house, manager. Intendant de la maison.
I. Cựu Ước.– Dầu có khi không dịch là quản gia, nhưng Kinh Thánh nhiều lần chỉ về chức việc đó, như Ê-li Ê-se, người Đa-mách, làm quản gia của Áp-ra-ham (Sáng 15:2). Người coi quản hết thảy việc nhà Áp-ra-ham (Sáng 24:2). Giô-sép là quản gia cho Phô-ti-pha, quan thị vệ của Pha-ra-ôn (Sáng 39:1-4), và về sau, khi làm tể tướng, Giô-sép cũng có người Quản gia cai quản hết cả cơ nghiệp mình (Sáng 43:16). Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên, có Ạt-sa coi việc nhà (ICác 16:9), và ta có thể tin rằng các vua khác cũng có người quản gia như vậy. Chức việc của người quản gia chẳng những lo về của cải trong nhà, song cũng lo về con cái của chủ nữa. Có khi quản gia là người tôi mọi, có khi là người đã được giải phóng.
II. Tân Ước.– Nguyên văn Hy-lạp có hai từ đồng nghĩa với quản gia, là Epitropos và oikonomos. Cả hai từ nầy tìm thấy trong Ga 4:2. Có học giả cho rằng từ thứ nhứt chỉ về người giám hộ coi sóc những người nhà của chủ, đại biểu cho con cái chủ trước luật pháp, còn từ thứ nhì chỉ về người tôi tớ đứng đầu để thu xếp mọi việc trong gia đình hoặc sản nghiệp của chủ. Song có khi người quản gia làm cả hai việc đó, không phân biệt.
1. Trong các sách Tin lành.– Trong đời Đấng Christ, dường như mỗi gia đình sang trọng đều có người quản gia, như quan nội vụ của Hê-rốt là Chu-xa, có vợ là Gian-nơ đi theo và hầu việc Chúa (Lu 8:3). Vì ở đây dùng epitropos (người giám hộ) nên có người cho rằng quản gia nầy cũng lo về việc giáo dục các con cái Hê-rốt nữa. Trong thí dụ về người làm công trong vườn nho, thì người quản gia cũng giữ việc trả tiền cho người làm công (Mat 20:8). Trong thí dụ về người quản gia bất trung, ta thấy quản gia nầy là người được giải phóng, có quyền cai quản gia tài của chủ, có thể lợi dụng quyền hành mà thâm lạm tiền bạc của chủ, song phải trình lại công việc cho chủ, nếu không trung tín thì bị đuổi ngay (Lu 16:1-13). Trong thí dụ về nén bạc (Lu 19:12-27), về các ta lâng (Mat 25:14-30), và về bọn trồng nho gian ác (Mat 21:33-46) cũng dạy như thế. Khi khuyên môn đồ về sự tỉnh thức, Chúa Jêsus dường như tỏ ra trong lúc Ngài đi vắng, các môn đồ cũng phải làm quản gia (Lu 12:42). Theo khúc nầy, phận sự của quản gia phải lo quản trị mọi việc của chủ mình, lo về sổ chi thu, và trả công cho mỗi người. Vậy, các môn đồ làm quản gia của Tin lành Ngài, thì phải hết sức lợi dụng thì giờ để giúp đỡ người khác cho đến Ngài tái lâm. Trong Giăng 2:8 chép là “kẻ coi tiệc.” Trong Mat 24:45, dường như quản gia là tôi mọi, còn Lu 16:1-24, là người được giải phóng.
2. Trong các thơ tín.– Nhiều lần dùng danh từ nầy là về chức vụ truyền đạo. Phao-lô và các đồng bạn tự coi mình như là những người quản gia giữ “những sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời” (ICôr 4:1, 2). Ở đây Sứ đồ có ý cẩn thận lo về điều Chúa đã giao phó cho mình, và truyền cho người khác cách trung tín như Chúa Jêsus là Chủ mình đã chỉ dẫn. Một giám mục hoặc người tiên kiến được coi là “kẻ quản lý nhà Đức Chúa Trời” (Tít 1:7). Phi-e-rơ tự coi mình và các tín đồ khác như “người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời” (IIPhi 4:10). Xem ở trên nói thế nào về hai chức việc quản gia trong Ga 4:2. Trong Rô 16:24, có nói Ê-rát làm quan kho bạc thành phố, bởi thế tỏ ra là người có giá trị tạICôr và dường như là một tín đồ trung tín.