ĐẤNG CHRIST VÀ HỘI THÁNH NGÀI

MỤC LỤC

Bài 1. TIN LÀNH CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Giăng 1:1-13.

CÂU GỐC: “Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng, Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:31).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sách Tin lành Giăng được viết ra nhằm giới thiệu Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

TIN LÀNH YÊU THƯƠNG

Giăng 3:16; 13:1; 14:23; 16:27.

TH.

TIN LÀNH SỰ SỐNG

Giăng 1:1-4; 5:40; 10:10; 17:3.

TB.

TIN LÀNH SỰ SÁNG

Giăng 1:1-14; 8:12.

TT.

BA CHIẾC CHÌA KHÓA

Giăng 1:11-12; 16:28; 20:31.

TN.

CHỦ ĐÍCH CỦA GIĂNG

Giăng 20:24-31.

TS.

ĐẤNG CHRIST

Hê-bơ-rơ 1:4-13.

TB.

GIĂNG BÁP TÍT

Ma-thi-ơ 3:1-12.

Tin lành Giăng là một sách rất quí báu trong Kinh thánh. Dầu có ba sách Tin lành Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, song không thể thiếu sách Tin lành Giăng. Vì sách này trình bày rất rõ về Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Biết Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình là điều rất quan trọng, vì chỉ trong Ngài mới có sự cứu rỗi mà mỗi người đều cần có.

I. TRƯỚC GIẢ CỦA SÁCH TIN LÀNH GIĂNG.

Giăng đã biên soạn sách của ông tại Ê-phê-sô vào khoảng năm 95-100 S.C. Ông là một trong mười hai sứ đồ (Công 12-13), là một trong ba sứ đồ thân tín (Ma-thi-ơ 17:1,26-37), là môn đồ được Chúa yêu và ông thường nghiêng mình trên ngực Ngài (Giăng 13:23,19:26). Vì vậy, Giăng biết Chúa Jêsus rõ hơn ai hết, nên những điều ông ghi chép về Ngài vừa chính xác, vừa sâu nhiệm (Giăng 21:24 ).

II. CHỦ ĐÍCH CỦA SÁCH TIN LÀNH GIĂNG.

Giăng biên soạn sách của ông với một lý do đặc biệt không giống như Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca đã biên soạn sách của họ.

Ma-thi-ơ giới thiệu Chúa Jêsus là Vua của dân Do thái, thuộc dòng dõi Đa-vít, Ngài là Đấng Cứu thế thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, như Cựu ước đã dự ngôn.

Mác giới thiệu Chúa Jêsus là Con Người Kỳ diệu, làm rất nhiều phép lạ để giúp đỡ mọi người như một đầy tớ, đúng như Cựu ước đã dự ngôn.

Lu-ca giới thiệu Chúa Jêsus là Con người Hoàn hảo, có gia phổ của một người truy nguyên đến đời A-đam. Đó là con người lý tưởng mà nhân lọai ao ước.

Ba sách rất đúng với nhu cầu của người Do thái chứ không đúng với người ngoại bang, nhất là với người Hy Lạp. Khi Giăng biên soạn sách của ông thì Tin Lành không còn ở trong phạm vi nước Do thái mà truyền bá đến các nước khác. Phần nhiều tín hữu không phải là người Do thái mà là người Hy Lạp hoặc đã hấp thụ văn minh Hy Lạp. Để cho những người sau nầy biết Chúa rõ hơn và nhằm dùng họ chinh phục người khác, Giăng đã biên soạn sách của ông. Chân lý không bao giờ thay đổi, song cách trình bày chân lý phải được thay đổi để hợp với mọi người. Vì vậy, Giăng được Thánh Linh cảm động chọn tài liệu đặc biệt để trình bày cho giới trí thức Hy Lạp về Chúa Jêsus là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại. Vì thế, sách của ông không bắt đầu với gia phổ của Chúa Jêsus, nhưng trình bày nguồn gốc thiên thượng và đời đời của Ngài, một địa vị tối quan trọng là bình đẳng với Đức Chúa Trời và một công tác vĩ đại là dựng nên trời đất, muôn vật (Giăng 1:1). Giăng không ghi chép sự giáng sinh, Báp-têm, chịu cám dỗ, tiệc thánh, vườn Ghết-sê-ma-nê và sự thăng thiên của Chúa Jêsus. Ông cũng không ghi chép các truyện tích, các thí dụ như ba tác giả kia, nhưng chép nhiều về sự dạy dỗ trực tiếp của Ngài. Chỉ một mình Giăng ghi lại đám cưới Cana, Ni-cô-đem, người đàn bà Sa-ma-ri, sự sống lại của La-xa-rơ, sự rửa chân cho môn đồ, sự dạy dỗ về Đức Thánh Linh và nhiều chi tiết khác. Cuối cùng, ông chép: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa mà không được chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:30-31).

III. NỘI DUNG CỦA SÁCH TIN LÀNH GIĂNG.

Nội dung của sách Tin lành Giăng rất cao sâu vì sách chứa đựng những bằng cớ chứng minh tình yêu của Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời.

Chúa Jêsus là Đấng Hằng Hữu. Ngài vốn có từ ban đầu, từ trước vô cùng (Giăng 1:1). Ngài có trước Áp-ra-ham (Giăng 8:58). Ngài có trước vũ trụ (Giăng 17:5). Ngài ở trên trời và từ trời mà xuống (Giăng 3:13, 6:38).

Chúa Jêsus là Đấng Toàn Tri. Ngài biết Na-tha-na-ên trước khi ông gặp Ngài (Giăng 1:47-49), Ngài biết rõ đời tư của người đàn bà Sa-ma-ri (Giăng 4:16-18), Ngài biết Giu-đa sẽ phản Ngài (Giăng 6:64), Ngài biết La-xa-rơ đã chết (Giăng 11:14), Ngài thấu triệt mọi điều trong lòng người ta (Giăng 2:25).

1. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG TOÀN NĂNG.

Các dấu lạ mà Chúa Jêsus đã làm nhằm mục đích bày tỏ sự vinh hiển của Ngài là Đức Chúa Trời: Hóa nước thành rượu (Giăng 2:11), mở mắt người mù từ thuở sinh ra (Giăng 9:3), kêu La-xa-rơ sống lại (Giăng 11:4). Trong Chúa Jêsus có đủ mọi nhu cầu cho loài người. Ngài là Nước và Bánh của sự sống (Giăng 4:10; 6:35), là Sự sáng của thế gian, Ngài là Đường đi, Lẽ thật và Sự sống (Giăng 14:6), Ngài là Sự sống lại và Sự sống đời đời (Giăng 11:25).

2. CHÚA JÊSUS LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI KHÁC HƠN CHÚNG TA LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI.

Dân Y-sơ-ra-ên được gọi là con trai, con gái Đức Chúa Trời. Bởi đức tin đến Chúa Jêsus, chúng ta cũng đã trở nên con trai con gái Đức Chúa Trời như vậy. Còn Chúa Jêsus là Con Độc sanh đời đời của Đức Chúa Trời, có nghĩa là Ngài bình đẳng với Đức Chúa Trời, Ngài là Đức Chúa Trời (Giăng 5:18; 10:30,33).

a. Ai tôn vinh Chúa Jêsus là tôn vinh Đức Chúa Trời (Giăng 5:23).

b. Ai tin Chúa Jêsus là tin Đức Chúa Trời (Giăng 12:44-45).

c. Ai biết Chúa Jêsus là biết Đức Chúa Trời (Giăng 14:7).

d. Ai thấy Chúa Jêsus là thấy Đức Chúa Trời (Giăng 15:23).

e. Ai ghét Chúa Jêsus là ghét Đức Chúa Trời (Giăng 15:23).

3. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA CỦA CHÚNG TA KHÁC HƠN ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA CỦA CHÚA JÊSUS.

Đức Chúa Trời là Cha chúng ta theo tư cách bao hàm, còn Đức Chúa Trời là Cha của Chúa Jêsus theo tư cách đặc biệt. Chúa Jêsus đã dạy các môn đồ cầu nguyện: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 6:9). Song chính mình Chúa Jêsus không bao giờ nói “Cha chúng tôi”, nghĩa là Ngài không đứng vào hàng của chúng ta, mà chỉ nói “Cha” hay là “Cha ta” (Giăng 5:17-43). Sau khi sống lại, Chúa phân định với Ma-ri Ma-đơ-len một cách rõ ràng: “Chớ rờ đến ta, vì ta chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời ta và Đức Chúa Trời các ngươi” (Giăng 20:17).

Tóm lại, sách Tin Lành Giăng dạy chúng ta biết Chúa Jêsus là Con Độc sanh đời đời của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của nhân loại, để chúng ta tin nhận Ngài mà được cứu rỗi.

Bạn đã biết Chúa như vậy chưa? Đã tin Ngài chưa? Đã kinh nghiệm sự cứu rỗi chưa?

CÂU HỎI

1. Ai viết sách Tin Lành Giăng? Tại đâu? Lúc nào?

2. Thánh Giăng là người thế nào?

3. Sách Tin Lành Giăng khác hơn 3 sách Tin lành kia như thế nào?

4. Mục đích của Giăng chép sách Tin lành là gì?

5. Nội dung của sách Tin lành Giăng trình bày Chúa Jêsus là ai?

6. Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời khác hơn chúng ta là con Đức Chúa Trời như thế nào?

7. Đức Chúa Trời là Cha của Chúa Jêsus khác hơn Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta như thế nào?

8. Chữ quan trọng hơn hết được gọi là chìa khóa của sách Tin lành Giăng là chữ gì? Tại sao?

Bài 2. CHÚA JÊSUS LÀ NGÔI LỜI

KINH THÁNH: Giăng 1:1-18.

CÂU GỐC: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha (Giăng 1:14).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, đã làm người để bày tỏ Đức Chúa Trời và tái lập sự thông công giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

NGÔI LỜI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI

Giăng 1:1-9.

TH.

NGÔI LỜI TRỞ NÊN XÁC THỊT

Giăng 1:10-18.

TB.

CÔNG CUỘC SÁNG TẠO THẾ GIỚI

Sáng thế ký 1:1-27.

TT.

TÍNH CÁCH VĨ ĐẠI & CAO CẢ CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI

Hê-bơ-rơ 1:1-14.

TN.

CÔNG TÁC CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI

Cô-lô-se 1:9-29.

TS.

SỰ HẠ MÌNH VÀ ĐƯỢC TÔN CAO CỦA NGÀI

Phi-líp 2:5-11.

TB.

HÃY CA TỤNG CHÚA

Thi thiên 95:1-11.

Bài học hôm nay dạy chúng ta về chính mình Chúa Jêsus. Chúng ta đọc kỹ (Giăng 1:1-18) để biết Ngài là ai? Ngài đã làm gì? Chúng ta phải đối với Ngài thế nào và để được gì?

I. NGÔI LỜI ĐƯỢC BÀY TỎ.

Để giới thiệu Chúa Jêsus, Kinh Thánh phải dùng nhiều từ ngữ, nhiều danh hiệu.Trong bài học này, Chúa Jêsus được bày tỏ qua 7 danh hiệu: (1) Ngôi lời, (2) Đức Chúa Trời, (3) Đấng đời đời, (4) Đấng Tạo Hóa, (5) Sự Sống, (6) Sự Sáng, (7) Con Người.

1. CHÚA JÊSUS LÀ NGÔI LỜI.

Chúng ta không thể biết tư tưởng của một người nào cho đến khi người đó nói lên, vì lời nói diễn tả tư tưởng. Chúng ta không thể biết Đức Chúa Trời và tư tưởng của Ngài cho đến khi Đức Chúa Jêsus giáng sinh làm người ở giữa chúng ta. Vì “chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha là Đấng giãi bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:18).

2. CHÚA JÊSUS LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.

Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời.Trước khi giáng thế, Ngài là Đức Chúa Trời, sau khi giáng thế Ngài vẫn là Đức Chúa Trời song giấu sự vinh hiển mà mặc lấy hình thể của một người. Vì vậy, Ngài luôn luôn chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời qua các công tác như chữa lành mọi thứ bịnh tật, kêu kẻ chết sống lại, truyền bão tố phải im lặng, đi bộ trên mặt biển, hóa bánh ra nhiều v.v… Đó là công tác chỉ có Đức Chúa Trời mới làm được.

3. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG ĐỜI ĐỜI.

Suốt mọi thời đại, không lúc nào Ngài không hiện hữu, Ngài vốn có từ trước vô cùng, và còn cho đến sau vô tận. Đối với Ngài không có quá khứ, cũng chẳng có tương lai mà chỉ có hiện tại. Vì thế, không có sự gì là đột xuất, là ngẫu nhiên cho Ngài cả. Ngài cũng là Đấng Toàn tri.

4. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG TẠO HÓA.

Một thợ mộc muốn đóng một chiếc ghế phải có gỗ. Các kỹ sư muốn thực hiện một chiếc phi cơ phải có đủ nguyên liệu. Song Chúa Jêsus đã dựng nên vũ trụ từ cõi hư vô bởi Lời của Ngài. Vũ trụ lớn lao gần như vô tận, sức người không thể nào dò thấu được, song trong đó có những nguyên tử rất nhỏ mà mắt trần không sao thấy nỗi. Công việc của Ngài thật là lạ lùng!

5. CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SỐNG.

Ngài ban cho con người sự sống thuộc thể và sự sống thuộc linh. Con người không thể nào làm ra sự sống. Sự sống rất là quí báu, nhất là sự sống thuộc linh, sự sống phong phú, sự sống đời đời. Trong sách Tin Lành Giăng có đề cập nhiều về sự sống và lời hứa ban sự sống. Sống là hiện hữu trong Đức Chúa Trời, chết là hiện hữu ngoài Đức Chúa Trời. Ai có Chúa Jêsus thì có sự sống, ai không có Chúa Jêsus, không có sự sống (IGiăng 5:12).

6. CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SÁNG.

Nếu không có sự sáng, viên kim cương cũng như hòn sỏi ngoài đường! Nếu không có sự sáng, không ai phân biệt được giá trị của sự vật. Sự sáng trong cõi vật chất đã là quý, sự sáng trong cõi tâm linh còn quý hơn. Chính Chúa Jêsus là sự sáng đó, Ngài mở tâm linh của chúng ta, để đưa ai nấy từ thế giới tối tăm qua thế giới sáng láng (Giăng1:9).

7. CHÚA JÊSUS LÀ CON NGƯỜI.

Cám ơn Chúa, Ngài bằng lòng làm người ở giữa chúng ta. Ngài cảm thông với chúng ta trong mọi sự nên rất thương yêu chúng ta. Chúng ta rất sung sướng có một Cứu Chúa, một Thiết Hữu luôn ở bên cạnh và trong lòng, thấu triệt mọi nhu cầu của chúng ta. Ngài là Đức Chúa Trời, mà cũng là người. Ngài là Đấng Trung Bảo duy nhất đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời và đem Đức Chúa Trời đến với chúng ta.

II. NGÔI LỜI BỊ CHỐI BỎ (Giăng 1:10-11).

Chúa Jêsus dựng nên trời đất, muôn vật và loài người. Vì thế, khi Ngài đến thế gian, như đến trong xứ mình; đến với dân Do thái như đến trong nhà mình, ở giữa loài người như ở giữa bà con mình. Song từ dân Do thái chí loài người nói chung, đều không nhìn biết Ngài, không tiếp nhận Ngài, chỉ chối bỏ Ngài, rồi cuối cùng đóng đinh Ngài.

Phải chăng Chúa Jêsus không nêu đủ bằng cớ để chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời? Chúa Jêsus có đầy đủ uỷ nhiệm thư. Ngài vừa làm những phép lạ và dấu lạ, vừa giải thích: “Nhưng Ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng, vì các việc Cha đã giao cho Ta làm trọn, tức là các việc Ta làm đó, chứng cho Ta rằng Cha đã sai Ta” (Giăng 5:36).

Sau một thời gian, Ngài lại phán: “Ta đã bảo các ngươi, mà các ngươi không tin; những việc Ta nhân danh Cha Ta mà làm đều làm chứng cho Ta… Ví bằng Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi chớ tin Ta. Còn nếu Ta làm, thì, dầu các ngươi chẳng tin Ta, hãy tin những việc Ta, để các ngươi hiểu và biết rằng Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha” (Giăng 10:25,37,38).

Sau đó, Ngài còn tái xác nhận: “Khi Ta nói rằng, Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta, thì hãy tin Ta; bằng chẳng hãy tin bởi công việc Ta” (Giăng 14:11).

Cuối cùng Ngài phán với các môn đồ: “Ví thử Ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người khác làm, thì họ vô tội, nhưng bây giờ họ đã thấy các việc ấy và lại ghét Ta cùng Cha Ta nữa” (Giăng 15:24).

Dân Do thái ngày xưa cũng như nhân loại ngày nay không thể chữa mình được (Rô ma 1:20). Họ không nhìn biết Chúa, không tiếp nhận Ngài là vì sự kiêu căng, ngoan cố, bướng bỉnh, vô tín làm cho họ nặng tai, tối mắt, cứng lòng. “Vì không có ai điếc bằng kẻ chẳng chịu nghe, không có ai đui bằng kẻ chẳng chịu thấy, và không có ai dốt bằng kẻ không chịu hiểu”.

III. NGÔI LỜI ĐƯỢC TIN NHẬN (Giăng 1.12-13).

Cám ơn Chúa vì bất luận thời đại nào, phương trời nào cũng đều có những người tin nhận Ngài; vì họ thấy có đầy đủ lý do, chứng cớ. Có lời hứa rất quý báu của Chúa cho bất luận ai tin nhận Ngài.

Tin Ngài là Đức Chúa Trời hằng hữu, Đấng đã dựng nên trời đất muôn vật và loài người, song vì yêu chúng ta, Ngài đã giáng sinh làm người, chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng ta khỏi tội. Nhận Ngài làm Cứu Chúa độc nhất của mình, mà nếu không nhận Ngài chúng ta hoàn toàn tuyệt vọng, vì sẽ bị quăng vào hỏa ngục đời đời. Nhận Ngài, chúng ta được tha tội, được tái tạo, trở nên con trai con gái của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus ngự trị lòng chúng ta, thi hành quyền năng và ân sủng của Ngài, khiến cho chúng ta càng thân mật với Ngài để kính yêu Ngài, tin cậy Ngài, phục tùng Ngài và hầu việc Ngài, để rồi sẽ ở đời đời với Ngài trong nước vinh quang của Ngài. Phước thay cho ai đã tin nhận Ngài!

Các bạn đã tin nhận Chúa Jêsus như vậy hay chưa? Đã kinh nghiệm quyền năng tái tạo để trở nên con trai, con gái của Đức Chúa Trời hay chưa?

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus có 7 danh hiệu nào?

2. Xin giải thích một trong các danh hiệu đó.

3. Chúa Jêsus đã chứng minh thế nào về Ngài?

4. Tại sao dân Do thái xưa cũng như nhân loại ngày nay chối bỏ Chúa Jêsus?

5. Vì sao có những người không chối bỏ Chúa?

6. Tin Ngài là tin như thế nào?

7. Nhận Ngài có nghĩa là gì?

8. Người tin nhận Ngài sẽ được gì?

BÀI 3. CHỨNG NHÂN CỦA CHÚA JÊSUS

KINH THÁNH: Giăng 1:19-51.

CÂU GỐC: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng các chứng nhân đều xác quyết, Chúa Jêsus đến để làm Chúa Cứu thế và chỉ cho chúng ta biết phải làm sao để có thể đến với Ngài và làm chứng về Ngài cho người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

PHẦN VÀO ĐỀ SÁCH GIĂNG

Giăng 1:1-18.

TH.

LỜI LÀM CHỨNG CỦA GIĂNG BÁP-TÍT

Giăng 1:19-23.

TB.

GIĂNG BÁP-TÍT GIỚI THIỆU CHÚA JÊSUS

Giăng1:24-34.

TT.

NHỮNG NGƯỜI THEO CHÚA TRƯỚC NHẤT

Giăng1:35-39.

TN.

ANH-RÊ ĐƯA ANH ĐẾN VỚI CHÚA

Giăng 1:40-44.

TS.

THÁNH PHI-E-RƠ ĐƯỢC CHÚA DÙNG

Công 3:1-11.

TB.

NỖI NGẠC NHIÊN CỦA NA-THA-NA-ÊN

Giăng 1:45-51.

Chứng nhân là người kể lại những điều mình nghe, thấy và biết, chứ không phải những điều mình nghĩ hoặc tưởng tượng.

I. GIĂNG BÁP-TÍT (Giăng 1:19-28).

1. CON NGƯỜI CỦA GIĂNG BÁP-TÍT.

Đây là một ông Giăng khác chứ không phải sứ đồ Giăng là người chép sách Tin Lành thứ tư. Ông này có tên là Giăng Báp-tít, vì ông đã làm lễ báp-têm bằng nước cho dân Giu-đa ăn năn để chuẩn bị đón tiếp Chúa Jêsus.

Giăng Báp-tít là một nhân vật quan trọng thời bấy giờ. Ông đã giảng dạy một cách mạnh mẽ, kêu gọi mọi người ăn năn. Nhiều người từ thành thị đến thôn quê, kể cả người Pha-ri-si và Sađusê đều đến cùng Giăng, xưng tội và chịu ông làm báp-têm dưới sông Giô-đanh. Ông cảnh cáo họ phải kết quả xứng đáng với sự ăn năn, chứ đừng tự khoe là con cháu Áp-ra-ham. Vì vậy, hàng giáo phẩm Do thái đã cử một phái đoàn đến hỏi Giăng: Ông có phải là Đấng Christ không? Hoặc ông là Ê-li, hay là tiên tri? Ông từ chối tất cả mà chỉ nhận mình là “tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng” như tiên tri Ê-sai đã dự ngôn. Họ lại hỏi: Thế thì tại sao ông lại làm phép báp-têm? Ông đáp: “Ta làm báp-têm bằng nước, song có một Đấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không nhận biết. Ấy là Đấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài” (Giăng 1:27).

Đại ý Giăng giới thiệu Chúa Jêsus sẽ đến sau ông, Ngài là Đấng Christ.(Christ là tiếng Hilạp, Mê-si là tiếng Do thái), tức là Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu mà dân Do thái vẫn ngày đêm trông đợi, còn ông chỉ là kẻ đi trước dọn đường cho Ngài. So sánh với Ngài, ông không đáng mở dây giày của Ngài.

Đang khi được mọi người hoan nghinh, xem ông như Đấng Christ hoặc Ê-li, hay ít nữa là tiên tri vĩ đại (Phục 8:15), Giăng không mạo nhận, song thành thật hạ mình để tôn cao Chúa Jêsus, hầu cho ai nấy hướng về một mình Ngài mà thôi. Đó là tâm tình và thái độ xứng đáng của một chứng nhân. Lời làm chứng của một người như vậy rất đáng tin.

2. LỜI CHỨNG CỦA GIĂNG BÁP-TÍT (Giăng 1.29-34).

Phần trước, Giăng Báp-tít chỉ làm chứng về Chúa Jêsus một cách gián tiếp, phần sau ông làm chứng về Ngài cách trực tiếp rõ ràng.

Hôm sau, Giăng thấy Chúa Jêsus đến cùng mình thì nói với dân chúng rằng: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi”.

Người Do thái rất quen biết với chiên con, nên rất dễ hiểu ý nghĩa của lời giới thiệu này. Cựu ước nói nhiều về chiên con như chiên con của A-đam (Sáng 3:21), chiên con của A-bên (Sáng 4:4), chiên con của Áp-ra-ham (Sáng 22:13), chiên con lễ Vượt qua (Xuất12:3), chiên con làm của lễ (Lê 3:7,8) và chiên con mà Ê-sai đã nói đến (Ê-sai 53:7). Ông còn làm chứng thêm rằng khi ông làm báp-têm cho Chúa Jêsus thì ông thấy Thánh Linh ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài. Ông liền nhớ lại Đấng đã sai ông: “Đấng mà ngươi thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên ấy là Đấng làm báp-têm bằng Đức Thánh Linh”, rồi ông quả quyết: “Ta đã thấy nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời”.

II. ANH RÊ (Giăng 1:35-42).

Hôm sau, Giăng Báp-tít lại đứng đó với hai môn đồ mình, nhìn Chúa Jêsus đi ngang qua thì nói với họ rằng: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời”. Hai môn đồ biết ngay Chúa Jêsus là ai nên vội vàng theo Ngài. Đó là Giăng và Anh-rê. Sau khi đã đến cùng Chúa, ở lại với Ngài thì hai ông rất sốt sắng tìm anh mình, Giăng tìm Gia-cơ, Anh-rê tìm Phi-e-rơ. Khi Anh-rê gặp anh mình là Si-môn Phi-e-rơ thì làm chứng rằng: “Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si”. Người bèn dẫn anh mình đến cùng Chúa Jêsus.

III. PHI-LÍP (Giăng 1:43-45).

Hôm sau nữa, Chúa Jêsus qua Ga-li-lê, Ngài gặp Phi-líp, bèn phán rằng: “Hãy theo Ta”. Vì quê của Phi-líp cũng là quê của Phi-e-rơ và Anh-rê, nên chắc Phi-líp đã được hai ông làm chứng cho. Bấy giờ nghe tiếng Chúa gọi, Phi-líp theo Ngài liền. Kế đó Phi-líp tìm bạn mình là Na-tha-na-ên, làm chứng rằng: “Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp và các tiên tri cũng có nói đến, ấy là Jêsus ở Na-xa-rét, con của Giô-sép”.

IV. NA-THA-NA-ÊN (Giăng 1:46-51).

Khi nghe làm chứng về Đấng Mê-si xuất thân từ Na-xa-rét, Na-tha-na-ên phản đối ngay: “Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Ông có thành kiến xem thường nơi thấp hèn đó. Phi-líp rất khôn khéo, không một lời tranh luận với Na-tha-na-ên, song chỉ đề nghị: “Hãy đến xem.” Rồi ông dẫn Na-tha-na-ên đến với Chúa Jêsus.

Khi thấy Na-tha-na-ên, Chúa biết ông rất rõ, như Ngài đã biết Si-môn Phi-e-rơ (Giăng 1:42). Chúa phán: “Này, một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi hết”. Ngài muốn nói Na-tha-na-ên là con cháu Áp-ra-ham. Na-tha-na-ên ngạc nhiên hỏi: “Bởi đâu Thầy biết tôi?” Chúa đáp: “Trước khi Phi-líp gọi ngươi, Ta đã thấy ngươi dưới cây vả”. Na-tha-na-ên càng ngạc nhiên hơn nữa. Ông nhận biết rằng mắt Chúa theo dõi ông từng bước đi trước khi ông gặp Ngài. Chẳng những vậy thôi, mắt Chúa cũng thấu triệt tâm linh của ông và ông đang ở dưới cặp mắt dò xét của Đấng Toàn Tri. Vì vậy, ông đã phải kêu lên: “Lạy Thầy! Thầy là Con Đức Chúa Trời, Thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên”. Để khích lệ Na-tha-na-ên, Chúa hứa: “Ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó” nghĩa là ông sẽ còn ngạc nhiên hơn nữa.

Sau khi gặp Chúa, Giăng Báp-tít đã làm chứng cho hai môn đồ mình là Giăng và Anh-rê. Sau khi gặp Chúa, Giăng chưa tìm được anh mình là Gia-cơ, song Anh-rê đã tìm được anh mình là Phi-e-rơ, nên đã làm chứng và dẫn anh đến với Chúa. Vì Phi-líp là người đồng thành với Phi-e-rơ và Anh-rê nên chắc đã được hai ông ấy làm chứng cho. Vì vậy, khi được Chúa gọi, Phi-líp theo Ngài liền. Sau khi gặp Chúa, Phi-líp lại tìm bạn mình là Na-tha-na-ên để làm chứng và dẫn Na-tha-na-ên đến cùng Chúa. Đó là Thầy làm chứng cho trò, em làm chứng cho anh, bạn bè làm chứng cho nhau. Tất cả tin Chúa và làm chứng rằng Jêsus là Đấng Mê-si (Christ), con Đức Chúa Trời, Vua Y-sơ-ra-ên, tức là Cứu Chúa của nhân loại.

Giăng Báp-tít, Anh-rê, Phi-líp, Na-tha-na-ên, mỗi người như một cây đuốc đang cháy (Giăng 5:35). Cây đuốc này cháy mồi qua cây đuốc kia cũng cháy và cứ như vậy nên tất cả đều cháy lên. Mỗi người giống như một cái khoen trong sợi dây chuyền ơn phước.

Lời chứng của họ rất có giá trị và không những họ được người khác giới thiệu Chúa Jêsus cho họ, mà chính họ cũng được gặp Ngài một cách riêng. Quí học viên có phải như cây đuốc đang cháy để làm cho kẻ khác cùng cháy lên không? Mỗi học viên có thể nói rằng: “Hôm nay không phải là có 4 người làm chứng, bèn là có 5, mà người sau cùng này là chính mình tôi vậy.”

CÂU HỎI

1. Chứng nhân là ngưới thể nào?

2. Bao nhiêu người làm chứng mới có giá trị? Vì sao?

3. Tâm tình và thái độ của Giăng Báp-tít khi làm chứng là gì?

4. Giăng Báp-tít làm chứng về Chúa cho những ai?

5. Anh-rê đã làm chứng cho ai?

6. Tại sao Phi-líp nghe Chúa gọi thì theo Ngài liền?

7. Phi-líp làm chứng cho ai?

8. Tại sao Na-tha-na-ên phải ngạc nhiên mà kêu lên rằng: “Thầy là Con Đức Chúa Trời, Thầy là Vua Y-sơ-ra-ên”?

9. Các ông ấy giống như gì?

BÀI 4. CHÚA JÊSUS THAY ĐỔI LÒNG NGƯỜI

KINH THÁNH: Giăng 2:1-25.

CÂU GỐC: “Ấy là tại Cana, trong xứ Ga-li-lê, mà Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài” (Giăng 2:11).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Chúa Jêsus có uy quyền và khả năng thay đổi lòng người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI LÀM PHÉP LẠ

Giăng 2:1-5.

TH.

VIỆC CHUẨN BỊ CHO PHÉP LẠ

Giăng 2:6-8.

TB.

KẾT QUẢ CỦA PHÉP LẠ

Giăng 2:9-11.

TT.

CHÚA JÊSUS THANH LỌC ĐỀN THỜ

Giăng 2:12-17.

TN.

NGƯỜI DO THÁI ĐÒI PHÉP LẠ

Giăng 2:18-21.

TS.

NHỜ PHÉP LẠ CÓ NHIỀU NGƯỜI TIN CHÚA

Giăng 2:22-25.

TB.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÉP LẠ CHỮA BỆNH

Hê-bơ-rơ 2:1-4.

Sau cuộc gặp gỡ với Giăng Báp-tít, Giăng (sứ đồ), Anh-rê, Phi-e-rơ, Phi-líp, Na-tha-na-ên, thì Chúa Jêsus đến thành phố Cana dự đám cưới, vì Chúa và các môn đồ được mời, cũng có bà Ma-ri tại đó nữa. Sau khi dự tiệc cưới, Chúa và môn đồ đến thành phố Cabênaum, rồi lên Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt qua.

I. CHÚA THAY ĐỔI LÒNG NGƯỜI TẠI ĐÁM CƯỚI CANA.

(Giăng 2:1-12).

1. CHÚA JÊSUS VỚI MẸ NGÀI.

Chắc Ma-ri là thân nhân của chủ tiệc, nên bà biết tiệc cưới thiếu rượu. Đang khi mọi người trong gia đình bối rối, Ma-ri nhớ lại con của bà có thể giải quyết sự khó khăn này, đồng thời cũng là dịp tiện để Ngài tự tỏ ra là Con Đức Chúa Trời. Bà liền đến nói với Chúa Jêsus: “Người ta không còn rượu nữa”. Chúa đáp: “Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự gì chăng?”

Câu trả lời của Chúa Jêsus không vô lễ với bà Ma-ri. Trước đó, khi còn ở trong gia đình, Ngài chịu lụy cha mẹ (Lu-ca 2:51), vì Ngài hành động theo tư cách của người con Ma-ri. Bây giờ, Ngài bắt đầu chức vụ và hành động theo tư cách Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, trong đó có Ma-ri nữa. Chúa muốn nói: “Bà không có quyền can dự vào việc của tôi, bà đừng bước vào một địa hạt không thuộc về bà, vì bà không có thẩm quyền, bà hãy để tôi trọn quyền quyết định.” Biết như thế, nên bà bảo với các người hầu bàn: “Người biểu chi, hãy vâng theo cả!”

Trên thập tự giá, Chúa Jêsus cũng đã phán với Ma-ri lần thứ hai khi Ngài ủy thác bà cho sứ đồ Giăng: “Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi.” Rồi Ngài phán với ông Giăng: “Đó là mẹ ngươi.” Nếu Ma-ri có quyền như người ta tưởng, Chúa phải ủy thác Giăng cho bà, song ngược lại, vì Ma-ri già yếu, nên Ngài ủy thác bà cho Giăng chăm sóc.

2. CHÚA JÊSUS VỚI NHỮNG NGƯỜI HẦU BÀN.

Kế đó, Chúa Jêsus xoay qua các người hầu bàn mà bảo rằng: “Hãy đổ nước đầy những ché này”. Đó là 6 cái ché đá người Do thái dùng chứa nước để rửa chân cho khách, mỗi ché chứa chừng 38 lít. Mạng lịnh thật là rõ ràng và cấp bách, nên những người hầu bàn liền múc nước đổ đầy cho tới miệng 6 ché đá.

Bấy giờ, Chúa bảo: “Hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc.” Kẻ coi tiệc nếm rượu, thấy ngon qúa, lấy làm lạ, gọi chàng rể ra mà hỏi: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi thì kế rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi giữ rượu ngon cho đến bây giờ!” Ban đầu, chỉ có những người hầu bàn biết rõ dấu lạ mà Chúa đã làm thôi, song sau đó, ai nấy cũng đều biết rõ như vậy. Sự can thiệp của Chúa không những làm cho tiệc cưới đủ rượu mà còn dư, vì không thể nào khách uống hết 228 lít rượu mới đó; lại không những dư mà lại là rượu ngon nhất. Điều này tỏ ra ân sủng của Chúa thật dồi dào và quí báu (Ma-thi-ơ 9:17).

3. CHÚA JÊSUS VÀ MÔN ĐỒ NGÀI.

Khi Chúa Jêsus đã thi hành dấu lạ như vậy để bày tỏ sự vinh hiển của Ngài, thì các môn đồ tin Ngài là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, vì họ thấy đúng như lời Ngài hứa với Na-tha-na-ên: “Ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó.” Họ không còn nghi ngờ chi nữa. Nhờ đức tin đến Ngài, lòng họ được thay đổi như nước lã chỉ để rửa chân biến thành rượu ngon để uống, như một đời sống nghèo nàn trở nên một đời sống phong phú; như cảnh hổ thẹn, buồn bã của một tiệc cưới thiếu rượu, trở nên cảnh vui vẻ, hiển vinh vì có rượu dư dật và ngon lành. Không có Chúa đời sống con người buồn tẻ, vô vị; có Chúa đời sống con người trở nên vui tươi, có ý nghĩa.

II. CHÚA THAY ĐỔI LÒNG NGƯỜI TẠI ĐỀN THỜ GIÊ-RU-SA-LEM. (Giăng 2:13-25).

Chúa và môn đồ từ Cana đến Cabênaum, rồi từ Cabênaum đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt qua. Lễ Vượt qua hằng năm được cử hành trọng thể để kỷ niệm ngày dân Do thái được giải phóng khỏi ách nô lệ tại Ai-cập (Xuất 12). Mọi người nam ở cách đền thờ trong vòng 25 dặm phải lên đền thờ dự lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều người Do thái hoặc người ngoại bang theo đạo Do thái từ các nước trở về dự lễ.

1. CHÚA JÊSUS DẸP SẠCH ĐỀN THỜ (Giăng 2:13-17).

Đền thờ có 4 hành lang: Hành lang của dân ngoại theo Do thái giáo, hành lang của phụ nữ Do thái, hành lang của nam đinh Do thái và hành lang của thầy tế lễ.

Từ hành lang này đến hành lang kia có một bức tường ngăn cách, không ai có thể vượt qua được (Công 21:28-30; Ê-phê-sô 2:14). Người ngoại bang theo Do thái giáo chỉ được phép đến hành lang ngoài cùng, và tại đó người ta đổi tiền và mua bán súc vật.

Người Do thái từ các nước trở về hoặc người ngoại bang tới chỉ có tiền ngoại quốc, nên phải đổi ra tiền Do thái để dâng vào đền thờ (Xuất 30:11-16). Hầu hết những người từ xa tới đều không thể đem theo chiên, bò, bồ câu để dâng làm của lễ. Vì thế, nên những người tại Giê-ru-sa-lem tổ chức đổi tiền hay bán chiên, bò, bồ câu là có ý giúp đỡ những người hành hương có lòng tôn thờ Chúa. Nhưng sau đó trở thành một mối lợi lớn, nên ai nấy tranh nhau mua bán, đổi chác, biến hành lang dân ngoại ra một khu chợ. Người hành hương từ nước ngoài đến đó để suy gẫm, cầu nguyện, nhưng không làm chi được vì sự mua bán ồn ào.

Không chịu nỗi sự ô uế do lòng tham lam, lợi dụng cơ hội để bóc lột người ta, Chúa Jêsus lấy dây bện một chiếc roi. Chiếc roi này không phải là một dụng cụ, mà là một dấu hiệu về quyền uy. Ngài đuổi hết những người ấy ra khỏi hành lang và phán: “Hãy cất đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành nhà buôn bán.”

Mượn sự thờ phượng Chúa, mượn danh nghĩa đạo đức để trục lợi là một hành động ghê tởm. Hành động ấy đã khiến cho Nhà Chúa trở nên nhà buôn bán, và cuối cùng nó đã trở nên sào huyệt của trộm cướp. Chúng ta hãy tránh bất cứ một điều gì có tính cách trục lợi, vô luận ở dưới hình thức nào. Phải giữ cho Nhà Chúa được tôn nghiêm và thánh khiết, vì là nhà cầu nguyện của muôn dân.

2. CHÚA HỨA SẼ DỰNG LẠI ĐỀN THỜ (Giăng 2:18-22).

Sự làm sạch đền thờ khiến cho mọi người không thể im lặng, nên giữa vòng họ có hai phản ứng khác nhau:

a. Các môn đồ: Họ nhớ ngay dự ngôn về Đấng Mê-si được chép trong Thi thiên 69:9 nên càng tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hằng sống, Cứu Chúa của nhân loại.

b. Người Do thái vô tín: Họ nhận rằng hành động của Chúa Jêsus là hành động của Đấng Mê-si, song chưa đủ tin, nên Ngài bày tỏ thêm dấu lạ cho họ thấy. Chúa đáp: “Hãy phá đền thờ này đi, trong 3 ngày Ta sẽ dựng lại.” Người Do thái tỏ ra không tin, vì họ đã xây đền thờ đó mất 46 năm. Song Chúa nói về đền thờ là thân thể Ngài mà họ sẽ phá bằng cách giết Ngài trên thập tự giá và đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Nếu họ phá đền thờ, thì Chúa sẽ dựng lại trong 3 ngày còn dễ hơn là họ giết Ngài rồi Ngài sống lại. Không có phép lạ nào lớn lao bằng phép lạ Chúa Jêsus chịu chết và sống lại. Điều đó là một bằng cớ hiển nhiên và chắc chắn nhất, chứng minh Ngài là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại. Dân Do thái thật đã phá đền thờ, và Chúa thật đã dựng lại trong 3 ngày.

Kết quả: Có nhiều người tin Ngài. Chúa đã thay đổi lòng họ như đền thờ ô uế được tẩy sạch. Đời họ như đền thờ bị phá được dựng lại, tức là đồng chết và đồng sống lại với Chúa.

Học viên có nhận thấy đời mình được thay đổi như vậy chưa? Bất cứ ai thật lòng tin Chúa đều có kinh nghiệm ơn phước đó!

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa Jêsus phán với Ma-ri như vậy? (Giăng 2:4).

2. Số lượng rượu mà Chúa biến từ nước ra là bao nhiêu? Phẩm chất thế nào?

3. Việc Chúa biến nước thành rượu có nghĩa gì?

4. Nếu chúng ta tin Chúa thì đời sống của chúng ta sẽ ra sao?

5. Lễ Vượt qua của dân Do thái là lễ gì?

6. Từ đâu gây ra việc ô uế trong đền thờ?

7. Chúng ta phải luôn giữ cho nhà Chúa được như thế nào?

8. Chúa bảo phá đền thờ rồi Ngài dựng lại trong 3 ngày có nghĩa gì?

9. Làm sao để lòng chúng ta được thay đổi như nước thành rượu, như đền thờ ô uế trở nên thánh sạch?

BÀI 5. JÊSUS LÀ CỨU CHÚA

KINH THÁNH: Giăng 3:1-36.

CÂU GỐC: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự cứu rỗi do công lao của Chúa Jêsus là tuyệt đối cần thiết.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚNG TA CẦN CÓ MỘT CỨU CHÚA

Giăng 3:1-5.

TH.

ĐƯỢC SANH LẠI NHỜ CỨU CHÚA

Giăng 3:6-12.

TB.

CÔNG LAO CỦA CỨU CHÚA

Giăng 3:13-16.

TT.

SỰ CHỐI BỎ CỨU CHÚA

Giăng 3:17-21.

TN.

LỜI LÀM CHỨNG CHO CỨU CHÚA

Giăng 3:22-30.

TS.

SỰ SỐNG DO CỨU CHÚA BAN CHO

Giăng 3:31-36.

TB.

LỜI TIÊN TRI VỀ CỨU CHÚA

Ê-sai 53:1-6.

Bài học trước nói về Chúa Jêsus đã làm một việc chưa bao giờ có ai làm, là dẹp sạch đền thờ bằng cách đuổi kẻ bán người mua ra khỏi đó. Việc này làm chấn động dư luận trong cả thành phố Giê-ru-sa-lem, nên vài vị cầm quyền Do thái đâm ra tò mò. Một người trong vòng họ là Ni-cô-đem, đã tìm đến Chúa Jêsus vào một buổi tối.

I. CỨU CHÚA JÊSUS VÀ NI-CÔ-ĐEM (Giăng 3:1-21).

Ni-cô-đem là một nhà quý phái, một nhân vật rất quan trọng trong giới cầm quyền Do thái, ai cũng biết tên. Ông thuộc Pha-ri-si là một hệ phái giữ luật pháp nghiêm túc, một con người vào hàng đạo đức nhất thời bấy giờ. Ông là một người cai trị dân Do thái, một trong 70 hội viên của tòa công luận, là tòa án tối cao trong nước. Ông cũng là một giáo sư (Giăng 3:10) và là một người giàu có (Giăng 19:39-42). Theo quan điểm của loài người, Ni-cô-đem có đủ điều kiện để được cứu rỗi, được hạnh phúc vì quyền thế, học thức,đạo đức và giàu có.

Ông là một giáo sư của dân Do thái, nhưng muốn đến với Chúa Jêsus mà ông tôn xưng là giáo sư từ Đức Chúa Trời để học biết những gì thuộc về nước Đức Chúa Trời.

Chúa Jêsus phán ngay với ông: “Quả thật, quả thật Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”. Nếu Ni-cô-đem chưa được sanh lại thì giữa ông và Nước Đức Chúa Trời còn xa lạ quá, ông không thể nào thấy được, biết được, vào được nơi đó. Con người thiên nhiên không có tương quan gì với một nước siêu nhiên. Ni-cô-đem sửng sốt vì bấy lâu ông tưởng hễ là người Y-sơ-ra-ên thì đương nhiên được vào nước Đức Chúa Trời. Bây giờ Chúa bảo ông phải sanh lại, mà ông không hiểu thế nào là sanh lại và cách nào để được sanh lại. Đó là việc hoàn toàn bất năng.

Chúa tiếp: “Quả thật, quả thật Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh thì không được vào nước Đức Chúa Trời”. Chúa muốn ám chỉ về nước của lễ báp-têm mà Giăng đã làm để tội nhân ăn năn và Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động tái tạo tội nhân trở nên người mới. Công việc đó rất mầu nhiệm như công việc của gió. Gió có một sức mạnh phi thường và hành động một cách kỳ diệu; không ai có thể biết gió từ đâu đến và đi đâu, song có thể thấy rõ hiệu quả của gió như cây ngã, cát bay… Cũng một thể ấy, Thánh Linh hành động trong một tội nhân ăn năn là việc kỳ diệu, song chúng ta có thể thấy rõ hiệu quả là người ấy được đổi mới trong cách ăn ở của mình như “yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ.”

Mặc dầu Cựu ước đã dự ngôn về sự tha thứ và đổi mới của tâm linh (Ê-xê-chi-ên 18:31, 36:25-27), song Ni-cô-đem vẫn chưa hiểu điều Chúa dạy nên hỏi: “Điều đó làm thế nào được?” Chúa liền dùng một điển tích trong Cựu ước. Lúc dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong đồng vắng, họ đã phạm tội và bị rắn cắn. Khi họ ăn năn, Đức Chúa Trời bảo Môi-se làm một con rắn bằng đồng rồi treo trên cây sào, hễ ai bị rắn cắn mà nhìn xem con rắn bị treo trên cây sào đó thì được lành (Dân số ký 21:6-9). Rắn là một con vật bị rủa sả, đáng bị hình phạt treo trên cây sào, ám chỉ về nhân loại đã phạm tội đáng bị rủa sả đóng đinh trên thập tự giá, trong đó có Ni-cô-đem. Song Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội đã tình nguyện mang lấy tội lỗi và sự rủa sả của nhân loại mà chịu chết thế cho. “Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta” (IICôr 5:21). “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta” (Ga-la-ti 3:13). Đó là việc Chúa đã làm để hễ ai tin Ngài đều được sự sống đời đời.

Sự sống đời đời là gì? Là sự sống của Đức Chúa Trời. Chính Ngài ban sự sống của Ngài cho chúng ta. Với sự sống đó, chúng ta được tương giao mật thiết với Ngài; với sự sống đó, chúng ta sống cuộc đời sung mãn, đắc thắng, thánh khiết của một con trai, con gái Ngài (Giăng 10:10). Chúng ta nhận được sự sống đó ngay khi tin nhận Chúa Jêsus.

Loài người tội lỗi bị đoán xét là điều chắc chắn. Song Đức Chúa Trời yêu thương loài người đến nỗi đã ban Con Độc sanh của Ngài đến thế gian, không phải để đoán xét loài người mà để cứu loài người khỏi bị đoán xét, miễn là loài người tin. Trái lại, nếu ai không tin Chúa Jêsus thì chọn cho mình số phận bị đoán xét, tức là bị hư mất đời đời. Vì Chúa Jêsus là Cứu Chúa duy nhất của loài người.

Tóm lại, nếu một người như Ni-cô-đem mà không được vào nước Đức Chúa Trời, nghĩa là không được cứu rỗi thì ai dám nói mình tốt hơn Ni-cô-đem để hy vọng được cứu rỗi? Vì tất cả chúng ta đều là tội nhân đáng bị rủa sả, đáng bị hình phạt. “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt”. Vì thế, Chúa Jêsus là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời đã xả thân chịu chết đền tội cho chúng ta. Để được cứu rỗi, chúng ta phải ăn năn, tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa, hầu cho được tha thứ mọi tội, rồi được Đức Thánh Linh ngự vào lòng mà tái tạo chúng ta trở nên người mới, tức là làm cho chúng ta được sanh lại.

II. CỨU CHÚA JÊSUS VÀ GIĂNG BÁP-TÍT (Giăng 3:22-36).

Chúa Jêsus đã bày tỏ cho Ni-cô-đem biết rằng ông là một tội nhân, nên ông cần một Cứu Chúa mà Cứu Chúa là chính mình Ngài. Còn Giăng Báp-tít thì giới thiệu cho môn đồ của ông: Jêsus là Cứu Chúa.

Sau cuộc gặp gỡ với Ni-cô-đem, Chúa ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, đến ở một nơi trong vùng Giu-đê để dạy dỗ môn đồ Ngài và làm báp-têm cho những kẻ tin. Giăng Báp-tít cũng giảng dạy và làm báp-têm gần đó. Bấy giờ, có một môn đồ của Giăng, ganh tị đến tỏ cho ông biết rằng Chúa Jêsus đang làm báp-têm “và ai nấy đều đến cùng người” (Giăng 3:26). Giăng chẳng chút ganh tị mà còn tỏ ra rất vui mừng nhắc lại cho họ nhớ rằng, ông đã từng xác nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ là người đi trước dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Ông không phải là chàng rể mà chỉ là bạn của chàng rể, vui mừng khi nghe về chàng rể. Ông liền tuyên bố một câu bất hủ: “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống”. Ông muốn nói chính Chúa Jêsus đang làm báp-têm đó là Cứu Chúa của nhân loại.

Nguồn gốc của Chúa Jêsus là ở trên trời, Ngài từ trời mà xuống, Ngài có quyền trên hết muôn loài. Sự dạy dỗ của Ngài là sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời. Ngài được Đức Chúa Trời soi dẫn và được Đức Chúa Trời ban cho Thánh Linh không lường được, vì Đức Chúa Trời đã giao mọi sự cho Ngài. Nếu ai tin nhận Ngài là tin nhận Đức Chúa Trời, còn ai chối bỏ Ngài là chối bỏ Đức Chúa Trời. Ai tin nhận Ngài thì được sự sống đời đời, ai chối bỏ Ngài thì chẳng thấy sự sống đâu, song ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.

Trên đây là lời khích lệ và cũng là lời cảnh cáo nghiêm trọng cho những kẻ tin nhận và những kẻ chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế. Ai tin nhận Ngài là Cứu Chúa của mình phải nói như Giăng Báp-tít: “Ngài phải dấy lên, tôi phải hạ xuống”. Nghĩa là Ngài phải càng ngày càng dấy lên và tôi phải càng ngày càng hạ xuống!

CÂU HỎI

1. Ni-cô-đem là người thế nào?

2. Ni-cô-đem đến với Chúa Jêsus để làm gì?

3. Tại sao Chúa Jêsus đòi hỏi ông phải sanh lại?

4. Được sanh lại có nghĩa gì?

5. Ai làm cho chúng ta được sanh lại?

6. Muốn được sanh chúng ta phải làm gì?

7. Nếu không được sanh lại thì phải bị gì?

8. Giăng Báp-tít có thái độ nào khi ông nghe mọi người đến với Chúa Jêsus?

9. Giăng Báp-tít giới thiệu với môn đồ mình, Chúa Jêsus là ai?

10.Chúng ta phải đồng thanh với Giăng Báp-tít mà nói gì?

BÀI 6. CHÚA JÊSUS BAN NƯỚC HẰNG SỐNG

KINH THÁNH: Giăng 4:1-42.

CÂU GỐC: “Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời” (Giăng 4:14b).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Chúa Jêsus là Nguồn Nước Hằng Sống làm thỏa mãn tâm linh của con người

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CUỘC ĐÀM THOẠI BẮT ĐẦU

Giăng 4:1-8.

TH.

MỘT ƯỚC MUỐN NẢY SINH

Giăng 4:9-14.

TB.

MẤY LỜI GIÁO HUẤN

Giăng 4:15-24.

TT.

ĐẤNG BAN CHO TỰ GIỚI THIỆU

Giăng 4:25-30.

TN.

ĐƯỢC THÚC GIỤC PHỤC VỤ

Giăng 4:31-38.

TS.

KẾT QUẢ TẠI SA-MA-RI

Giăng 4:39-45.

TB.

CON TRAI CỦA QUAN THỊ VỆ

Giăng 4:46-54.

Tin lành Giăng 4.1-42 đã ghi lại cuộc đàm thoại hay nhất. Không phải tình cờ mà Chúa Jêsus đi ngang qua Sa-ma-ri khi Ngài từ xứ Giu-đê lên Ga-li-lê, song Ngài biết tại đó có nhiều tâm hồn khao khát sự cứu rỗi. Con người vô luận thuộc giới nào, thời đại nào cũng mang một tâm hồn khao khát. Sự khao khát đó không bao giờ được thỏa mãn bằng danh lợi, quyền lực hay những cuộc vui trần thế, mà chỉ được thỏa mãn bằng ân huệ của Chúa. Con người bởi Chúa sinh ra nên chỉ có Chúa mới làm thỏa mãn con người, vì chính Chúa đã đặt trong con người sự khao khát về Ngài. Muốn nhận được ân huệ của Chúa, chúng ta phải biết mình và nhu cầu của mình, rồi biết Chúa là Đấng duy nhất làm thỏa mãn mọi nhu cầu của chúng ta. Sự thỏa mãn tâm hồn độc lập với mọi sự vật bên ngoài. Chúa đã ban nước hằng sống cho người đàn bà Sa-ma-ri, các môn đồ và dân chúng tại Sikha.

I. NƯỚC HẰNG SỐNG CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ SA-MA-RI (4:1-30).

Vào lúc giữa trưa, một người đàn bà Sa-ma-ri từ trong thành ra giếng múc nước. Trong thành Sikha có giếng nước, nhưng vì sao bà lại đi xa đến giếng Gia-cốp? Đó là vì một lẽ riêng mà bà không muốn gặp ai, nên không những đi xa, lại cũng đi trong lúc không có người nữa.

Lúc bấy giờ các môn đồ đã ra phố mua thức ăn. Chúa Jêsus thấy bà múc nước thì phán rằng: “Hãy cho ta uống”. Mặc dầu Ngài khát nước, song Ngài khao khát hơn hết là đem ân huệ cho bà nầy.

Chúa xin nước là để bắt đầu câu chuyện thôi. Tuy bà là người tội lỗi, bị xã hội ruồng bỏ, song Chúa xin nước nơi bà là Ngài đặt mình ngang hàng với bà để tỏ thiện cảm cùng bà. Ôi, Chúa chúng ta nhân từ biết bao!

Bà ngạc nhiên thấy một người đàn ông Do thái xin nước nơi mình là một người đàn bà Sa-ma-ri, vì người Do thái khinh rẽ người Sa-ma-ri (Giăng 8:48), không bao giờ chịu giao thiệp với họ. Dẫu Chúa mang hình thể người Do thái, chính Ngài không phải là người Do thái mà là Đức Chúa Trời. Vì thế, Ngài không có thành kiến, cũng không oán thù ai. “Vì Đức chúa Trời yêu thương thế gian…” Bà hỏi: Tại sao ông là người Do thái lại xin uống nước nơi tôi là người đàn bà Sa-ma-ri?

Bà lại ngạc nhiên hơn khi nghe Chúa đáp rằng: “Nếu ngươi biết ta là ai, ngươi sẽ xin Ta và Ta sẽ cho ngươi nước sống.” Chúa xin bà nước thiên nhiên và Ngài hứa cho bà nước siêu nhiên. Nước thiên nhiên chỉ làm thỏa mãn xác thể tạm thời, nước siêu nhiên mới làm thỏa mãn tâm hồn mãi mãi.

Nghe vậy bà vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên hỏi: “Giếng thì sâu, ông không có chi để múc thì sao có nước sống đó.Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp còn không có nước đó mà ông lại có à! Ông há lớn hơn Gia-cốp sao?” Bà đang khoe khoang về Gia-cốp mà không biết rằng mình đang đối diện với Cứu Chúa của Gia-cốp.

Lời đáp của Chúa làm bà ngạc nhiên hơn: “Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi, nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời”.

Dầu bà chưa hiểu hết lời hứa của Chúa, song bà rất mừng xin Ngài cho ngay nước đó để bà không đến giếng mà múc nữa. Chúa nói về một thứ nước siêu nhiên, nhưng bà nghĩ đến nước thiên nhiên! Nước siêu nhiên đó là ân huệ, là sự cứu rỗi của chính Chúa ban cho như suối không hề khô cạn mà cứ tuôn tràn không dứt trong tâm hồn của tất cả những ai tin nhận Ngài. Dầu bà chưa hiểu, Chúa chấp nhận ngay lời xin của bà với một điều kiện: “Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây”.

Chúa sẵn sàng ban mọi sự, miễn là bà phải thú nhận tình trạng yếu đuối, thất bại vô vọng của bà. “Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót.” Giấu tội lỗi sẽ làm nguồn phước bị bế tắc, gây trở ngại cho cuộc đời. Đó là nguyên do của biết bao cuôc đời khó khăn, khao khát, mà nguồn phước vô tận không thể tràn vào và tuôn ra được. Bà đáp: “Tôi không có chồng.” Chúa tiếp: “Phải lắm, vì ngươi đã có năm đời chồng và người mà ngươi hiện có chẳng phải là chồng ngươi…” Bà rất đỗi kinh ngạc vì Chúa biết hết cuộc đời buồn bã, ê chề của bà và đã kể ra từng chi tiết. Bà tiếp: “Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri. Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên núi này, còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại Giê-ru-sa-lem”. Chúa dạy tiếp, thờ lạy chỗ nào cũng không quan trọng, cách thờ lạy mới quan trọng, tức là thờ lạy bằng tâm thần và lẽ thật.

Chịu cảm động sâu xa, bà muốn xưng nhận Chúa là Đấng Cứu thế mà các tiên tri đã dự ngôn, song còn ngần ngại, nên bà nói xa xa: “Tôi biết Đấng MêSi (nghiã là Đấng Chirst) phải đến, khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.” Chúa đáp: “Ta, người đang nói với ngươi đây, chính ta là Đấng đó”.

Không còn nghi ngờ nữa, bà vui mừng quá, bỏ cái vò của mình lại, vội vã vào trong thành nói lớn: “Hãy đến xem một người đã tỏ cho tôi mọi điều tôi đã làm, há chẳng phải là Đấng Cứu Thế sao?” Bà mang vò ra giếng múc nước, nhưng không mang nước về mà vò cũng bỏ lại, vì bà đi múc nước thiên nhiên lại được nước siêu nhiên, tức là điều quí hơn vô cùng điều bà tìm kiếm. Bà quên cái vò cũng như Phao-lô xem mọi sự như rơm rác vì đã được Cứu Chúa.

II. NƯỚC HẰNG SỐNG CHO CÁC MÔN ĐỒ (4:31-35).

Không những Chúa ban nước hằng sống cho người đàn bà Sa-ma-ri mà cũng ban cho các môn đồ Ngài. Khi các môn đồ từ ngoài phố trở về, họ ngạc nhiên thấy Chúa đang nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri. Ngạc nhiên hơn nữa là thấy Ngài như quên cả mệt mỏi và đói khát. Yêu thương Chúa quá, họ đứng bên Ngài mà nài nỉ rằng: “Thưa thầy, xin hãy ăn”, Chúa đáp: “Ta có một thứ lương thực nuôi mình mà các ngươi không biết”. Nghe vậy, các môn đồ tưởng rằng khi họ còn ngoài phố thì có ai đã đem thức ăn cho Chúa rồi. Biết họ hiểu sai, Chúa tiếp: “Đồ ăn của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta và làm trọn công việc Ngài”.

Ý muốn và công việc của Đức Chúa Cha ban cho Ngài là làm chứng để cứu người đàn bà Sa-ma-ri và dân thành Sikha. Không phải còn 4 tháng nữa, song bây giờ các ngươi “hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng đã vàng, sẵn cho mùa gặt” (Giăng 4.35-36). Chúa nói như thế để ám chỉ về dân thành Sikha, khi được nghe người đàn bà Sa-ma-ri làm chứng về Ngài, họ lũ lượt ra tìm Ngài với tâm hồn khao khát, sẵn sàng tiếp nhận Ngài. Đó là đồng ruộng đã vàng.

Qua bài học này, các môn đồ thỏa thích như được một suối nước sống tuôn tràn vào lòng và từ đó tràn ra. Truyền giảng Tin lành để cứu vớt tội nhân là làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Và làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời là một thức ăn ngon lành, bổ dưỡng và là nguồn vui vô tận. Bây giờ, chúng ta có thấy trước mặt mình là một đồng ruộng đã vàng, sẵn cho mùa gặt chưa?

III. NƯỚC SỐNG CHO DÂN CHÚNG TẠI SIKHA (4:29-42).

Nghe lời làm chứng của người đàn bà Sa-ma-ri gặp Chúa, dân Sa-ma-ri trong thành Sikha tin ngay và vội vã ra gặp Ngài, mời Ngài vào và xin Ngài ở với họ. Ngài ở lại đó 2 ngày. Bây giờ họ không còn phải nghe lời chứng của người đàn bà Sa-ma-ri nữa, mà họ được trực tiếp nghe Chúa nên có rất nhiều người tin Ngài, biết rằng Ngài là Cứu Chúa của thế gian. Lòng người Sikha khao khát bấy lâu, nay được thỏa mãn một niềm vui ngập tràn vì đã gặp Chúa.

Chúa Jêsus là nhu cầu của nhân loại. Ngài làm cho kẻ có tội được tha thứ và được thay đổi. Ngài làm cho kẻ phục vụ Ngài thấy được một khải tượng mới. Ngài làm cho kẻ khao khát Cứu Chúa được gặp chính Ngài. Đó là người đàn bà Sa-ma-ri, các môn đồ và dân thành Sikha. Ngài cũng sẵn sàng làm cho chúng ta như vậy.

CÂU HỎI

1. Nhân loại khao khát gì?

2. Ai có thể làm thỏa mãn sự khao khát của nhân loại?

3. Chúa dừng lại bên giếng Gia-cốp để làm gì?

4. Chúa hứa gì với người đàn bà Sa-ma-ri?

5. Tại sao bà đi múc nước mà bỏ quên cái vò lại?

6. Bài học cho các môn đồ là gì?

7. Dân thành Sikha đã nhận Chúa Jêsus là ai?

8. Kết quả lời làm chứng của người đàn bà Sa-ma-ri là gì?

9. Chúng ta nhận được sự dạy dỗ gì qua bài học này?

Bài 7. CHÚA JÊSUS BAN SỰ SỐNG

KINH THÁNH: Giăng 5:1-47.

CÂU GỐC: “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. Các ngươi không muốn đến cùng Ta để được sự sống” (Giăng 5:39-30.)

MỤC ĐÍCH: Chứng minh Chúa Jêsus rất tha thiết muốn giúp gười ta hiểu rằng Ngài là Đấng có quyền ban sự sống đời đời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÂN LÝ HÀNH ĐỘNG

Giăng 5:1-9.

TH.

CHÂN LÝ BỊ CHỐI BỎ

Giăng 5:10-16.

TB.

CHÂN LÝ ĐƯỢC GIẢI THÍCH

Giăng 5:17-23.

TT.

SỰ SỐNG ĐỚI ĐỜI TRONG CHÚA JÊSUS

Giăng 5:24-30.

TN.

LỜI CHỨNG CỦA GIĂNG BÁP-TÍT

Giăng 5:31-35.

TS.

LỜI CHỨNG CỦA VIỆC CHÚA LÀM VÀ CỦA CHA

Giăng 5:36-38

TB.

LỜI CHỨNG CỦA KINH THÁNH

Giăng 5:39-47.

Công việc của Chúa Jêsus luôn làm cho mọi người ngạc nhiên. Ngài hóa nước thành rượu, dẹp sạch đền thờ, tìm và cứu tội nhân. Hôm nay chúng ta học về Ngài chữa bệnh, tức là ban sự sống.

I. CHÚA JÊSUS BAN SỰ SỐNG CHO NGƯỜI BẠI (Giăng 5:1-16).

Một người đau bại đã 38 năm, đang nằm trên một chiếc giường nhỏ gần ao Bê-tết-đa. Nhìn con người tuyệt vọng và đáng thương đó, Chúa Jêsus cảm động nên hỏi: “Ngươi có muốn được lành chăng?” Người bại tỏ ý rất muốn, nhưng chưa đuợc vì không ai giúp đỡ. Chúa hỏi như vậy để gợi trong lòng người bại một niềm ao ước vô biên và một hy vọng lớn lao. Vì nếu người ấy không ao ước và không hy vọng thì Chúa không thể giúp đỡ gì cho anh ta được. Đối với chúng ta ngày nay cũng vậy, nếu chúng ta tuyệt vọng mà không còn ao ước được chữa lành thân thể hoặc linh hồn thì Ngài cũng không thể làm chi cho chúng ta. Lắm tín đồ cứ mãi sống cuộc đời què quặt thuộc linh, chỉ vì không ao ước được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi để sống cuộc đời mạnh khỏe, thánh khiết. Họ sống trong Hội Thánh như người bại nằm trên giường tại ao Bê-tết-đa 38 năm vậy.

Vì người bại rất ao ước và hy vọng nên Chúa bảo anh làm 3 điều: Đứng dậy, vác giường và đi. Đó là những việc bất năng cho anh, nếu làm đưọc thì anh đã làm rồi. Ba mươi tám năm qua, đã bao lần anh cố gắng hết sức, song thất bại hoàn toàn. Bây giờ không phải anh cố gắng nữa mà chỉ vâng lịnh Chúa, anh đứng dậy được, vác giường nổi và đi dễ dàng, vì Chúa ban cho anh sự sống, sức mạnh, đồng thời Ngài cũng tha tội cho anh. Vì thế, sau đó gặp anh, Ngài bảo: “Kìa ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng”.

Người bại được chữa lành mừng quá, vác giường đi giữa đám đông trong ngày Sabát. Người Do thái hỏi tại sao anh làm vậy, thì anh đáp: “Chính người đã chữa tôi đưọc lành bảo tôi làm”. Anh đã nói đúng. Đấng đã chữa cho anh được lành phải là Đấng vinh hiển, quyền oai thì anh sợ gì mà không vâng lời Ngài? Nếu chúng ta được Chúa cứu chuộc là việc lớn hơn việc Ngài chữa lành người bại thì tại sao chúng ta không dám vâng lời Ngài mà làm chứng về Ngài cho mọi người?

II. CHÚA JÊSUS TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN BAN SỰ SỐNG CỦA NGÀI (Giăng 5:17-30).

Người Do thái, nhất là giới lãnh đạo, không vui mừng vì một người bại 38 năm được chữa lành trong giây phút, mà lại thắc mắc vì Ngài làm việc đó trong ngày Sabát, nên họ muốn giết Ngài. Họ hành động theo lòng ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết luật lệ mà không biết tình thương; chỉ biết bắt bớ mà không biết giúp đỡ. Họ xem Chúa Jêsus như kẻ thù. Chúa Jêsus yêu thương họ và tuyên bố về quyền ban sự sống của Ngài để cứu họ ra khỏi tội lỗi.

1. CHÚA JÊSUS LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI, ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA NGÀI.

Chúa Jêsus làm việc như Ngài đã làm và đang làm cho đến bây giờ. Cha Ngài nghỉ công việc dựng nên trời đất và muôn vật, nhưng không hề nghỉ công việc cứu rỗi tội nhân, nên Ngài cũng làm như vậy (Giăng 5:17).

2. CHÚA JÊSUS CÓ QUYỀN BAN SỰ SỐNG NHƯ CHA NGÀI CÓ QUYỀN ĐÓ.

Cha Ngài có sự sống thì Ngài cũng có như vậy và Ngài muốn ban cho ai tùy ý. Ai tin Ngài thì được sự sống, vì Ngài không những có sự sống mà chính Ngài là sự sống và là sự sống đời đời. Ngài là Nguồn sự sống xác thể và sự sống tâm linh của con người.

3. CHA NGÀI ĐÃ GIAO QUYỀN PHÁN XÉT NHÂN LOẠI CHO NGÀI.

Ai tin Ngài thì không bị phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Đến một ngày kia, toàn thể nhân loại sẽ sống lại, ai tin Ngài thì sống lại để được sống; ai không tin Ngài thì sống lại để bị phán xét. “Kẻ thì được sự sống đời đời, kẻ thì để bị xấu hổ nhơ nhuốc đời đời” (Đa-ni-ên 12:2). Vì Ngài là quan án tối cao của tòa án chung thẩm.

Lời tuyên bố của Chúa Jêsus trên đây tỏ ra Ngài bình đẳng với Đức Chúa Trời. Ngài với Đức Chúa Trời là một, công việc của Ngài là công việc của Đức Chúa Trời. Vì vậy, ai tin Ngài là tin Đức Chúa Trời, còn ai chối bỏ Ngài là chối bỏ Đức Chúa Trời. Ai tôn kính Ngài là tôn kính Đức Chúa Trời, ai khinh dể Ngài là khinh dể Đức Chúa Trời. Ai thờ lạy Ngài là thờ lạy Đức Chúa Trời, còn ai bắt bớ Ngài là bắt bớ Đức Chúa Trời. Vì thế, ai chối bỏ Chúa Jêsus, khinh dể Ngài, bắt bớ Ngài là tự lên án chết cho mình mà thôi. Song phước thay cho ai tin nhận, tôn thờ, phục vụ, kính mến Ngài, vì kẻ ấy sẽ được sự sống đời đời.

III. CHÚA JÊSUS CHỨNG THẬT LỜI TUYÊN BỐ CỦA NGÀI (Giăng 5:31-47).

Để cho người Do thái thấy rằng lời tuyên bố của Ngài là thật thì Ngài làm theo đúng luật lệ trong Cựu ước. Luật lệ đó buộc phải có 2 hoặc 3 người làm chứng mới có giá trị cho một việc (Phục 19:15). Phao-lô cũng khuyên dạy như thế (IICôr 13:1; I Tim 5:19). Vì thế, Chúa Jêsus đã đưa ra 4 chứng nhân:

1. GIĂNG BÁP TÍT LÀM CHỨNG (Giăng 5:35).

Giăng là đuốc đang cháy và sáng để làm chứng cho người Do thái về Chúa Jêsus. Cấp lãnh đạo Do thái đã quen biết Giăng Báp-tít và họ được ông làm chứng rằng: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi… Ta đã thấy nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời” (Giăng 1:29-34).

2. CÁC CÔNG VIỆC NGÀI LÀM CHỨNG (Giăng 5:36).

Ngài đã đuổi quỉ, hoá bánh, chữa lành mọi thứ tật bịnh, nhất là mới vừa chữa cho người bại đã 38 năm. Các việc đó làm chứng một cách hùng hồn rằng Ngài là Đức Chúa Trời, vì ngoài Đức Chúa Trời không ai có thể làm được những việc như thế. Chính giáo sư Ni-cô-đem là một người Pha-ri-si cũng phải công nhận như vậy (Giăng 3:1-2).

3. ĐỨC CHÚA CHA LÀM CHỨNG (Giăng 5:37-38).

Đức Chúa Cha đã 3 lần làm chứng về Chúa Jêsus là Con yêu dấu của Ngài: Khi Chúa Jêsus chịu báp-têm (Ma-thi-ơ 3:17), khi Chúa hóa hình trên núi (Ma-thi-ơ 17:5), và khi người Hy-lạp xin ra mắt Chúa Jêsus (Giăng 12:28). Đức Chúa Cha đã làm chứng về Con Độc Sanh của Ngài để ai nấy đều tin Con ấy.

4. KINH THÁNH LÀM CHỨNG (Giăng 5:39, 45-47).

Kinh Thánh được chép để giới thiệu Chúa Cứu Thế cho loài người. Môi-se đã nói: “Từ giữa anh em Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một Đấng tiên tri như ta, các ngươi khá nghe theo Đấng đó” (Phục 18:15). Môi-se đã nhân danh Đức Chúa Trời truyền cho họ dâng tế lễ bằng con sinh, nhất là chiên con để làm tượng trưng về Đấng Cứu Thế chịu chết đền tội cho loài người. Rồi Giăng Báp-tít đã xác nhận Chúa Jêsus là Chiên Con đó (Giăng 1:29-34). Thế mà dân Do thái vẫn không tin, nên Chúa cảnh cáo họ: “Chớ ngờ rằng ấy là Ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha Ta, người sẽ tố cáo các ngươi, là Môi-se… Vì nếu các ngươi tin Môi-se cũng sẽ tin Ta, bởi ấy là về Ta mà người đã chép” (Giăng 5:45-46).

Dân Do thái đã dò xem Kinh Thánh mà không hiểu nội dung, tư tưởng, tinh thần của Kinh Thánh. Họ có lời Chúa trong tay, trong miệng mà không có trong lòng. Họ đọc Kinh Thánh mà không tin vì không được soi sáng để hiểu Kinh Thánh. Người Do thái không tin Chúa Jêsus là vì:

– Họ không có lời Chúa trong lòng (Giăng 5:38).

– Họ không tôn vinh Đức Chúa Trời (Giăng 5:44).

– Họ không tin Kinh Thánh (Giăng 5:47).

Kết quả họ không được sự sống đời đời mà phải đến sự phán xét. Cầu xin Chúa cứu chúng ta khỏi lòng vô tín do ganh tị, kiêu căng, cố chấp gây nên. Xin Chúa mở lòng, mở trí để chúng ta được hiểu lời Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa hỏi người bại: “Ngươi có muốn lành chăng?”

2. Làm sao để mỗi chúng ta có thể sống cuộc đời thuộc linh đắc thắng và mạnh mẽ?

3. Người Do thái có thái độ nào khi thấy người bại được chữa lành?

4. Tại sao người Do thái bắt bớ Chúa Jêsus?

5. Chúa Jêsus tuyên bố Ngài là ai và có quyền gì?

6. Kinh Thánh Cựu ước dạy phải có mấy người làm chứng thì mới có giá trị cho một việc?

7. Có 4 chứng nhân nào đã làm chứng về Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời?

8. Không tin Chúa Jêsus thì sẽ mắc tội gì?

9. Tin Chúa Jêsus thì được phước gì?

Bài 8. CHÚA JÊSUS LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

KINH THÁNH: Giăng 6:1-71.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là Bánh của sự sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ một đời sống có Chúa Jêsus làm Chủ tể và Cứu Chúa là cần yếu như thế nào.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚA JÊSUS HÓA BÁNH

Giăng 6:1-14.

TH.

QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA JÊSUS TRÊN THIÊN NHIÊN

Giăng 6:15-21.

TB.

BÁNH TỪ TRỜI

Giăng 6:22-34.

TT.

CHÚA JÊSUS LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG

Giăng 6:35-51.

TN.

BÁNH QUÝ HƠN MA NA

Giăng 6:52-59.

TS.

CÁC MÔN ĐỒ CHỊU THỬ NGHIỆM

Giăng 6:60-66.

TB.

PHI-E-RƠ THAY CHO 12 SỨ ĐỒ LÊN TIẾNG

Giăng 6:67-71.

Con người có sự sống xác thể cũng có sự sống tâm linh nên cần có thức ăn thuộc thể cũng như thức ăn thuộc linh để giữ gìn hai sự sống ấy. Sự sống xác thể cần bánh mì, cơm… sự sống tâm linh cần có Bánh Hằng sống là Chúa Jêsus.

I. CHÚA HÓA BÁNH (Giăng 6:1-15).

Chúa cảm động vì đoàn dân đông đến cùng Ngài để nghe dạy dỗ và để xem phép lạ. Chúa hỏi Phi-líp làm sao có đủ bánh cho đoàn dân đng đói có đủ ăn. Phi-líp không có ý kiến. Anh-rê trình bày là có một cậu bé trai có 5 cái bánh mạch nha và 2 con cá là phần ăn của cậu. Phần ăn của một người thì làm sao chia cho cả đoàn dân đông được? Dầu vậy, Chúa Jêsus đã nhận phần ăn đó mà phân phát cho 5.000 người ăn no nê mà còn thừa cả 12 giỏ đầy các mẩu bánh vụn. Mọi vật ở trong tay người và trong tay Chúa đều có sự khác nhau. Trong tay người thì một người ăn còn thiếu, trong tay Chúa thì 5.000 người ăn cũng dư.

Mục đích Chúa làm phép lạ đó không phải chỉ để nuôi đoàn dân đông, mà trước nhất là để chứng minh cho họ thấy rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Thế, hầu cho họ tin Ngài mà được bánh hằng sống. Chúa hóa bánh để tỏ ra Ngài lo đến nhu cầu thuộc thể của họ, đồng thời cũng tỏ ra Ngài quan tâm đến nhu cầu tâm linh của họ nữa. Song, đoàn dân đông chỉ tin Ngài là một tiên tri, muốn tôn Ngài làm vua để giải phóng họ khỏi quyền đô hộ của La-mã; nhất là để họ không cần làm việc mà cũng có bánh ăn luôn. Vì vậy, Chúa bỏ đi lên núi, ở một mình tại đó.

II. CHÚA DẠY DỖ VỀ BÁNH HẰNG SỐNG (Giăng 6:22-59).

1. GIĂNG 6:22-40.

Qua ngày sau, đoàn dân đông từ các nơi lại đến. Khi gặp Chúa, họ thưa rằng: “Lạy Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” Biết được mục đích của họ, Ngài đáp: “Quả thật, quả thật… các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no nê.”

Tìm Chúa là điều rất tốt, song chỉ để no bụng là sai lầm và thấp kém. Họ không nhìn thấy các phép lạ sờ sờ mà chỉ thấy bánh. Đối với họ, phép lạ không phải là điều phải nghĩ đến, song phải làm sao có bánh ăn là đủ. Họ không nghĩ đến Đấng làm ra bánh bởi quyền năng lớn lao của Ngài mà chỉ nghĩ đến bánh. Bất luận bánh đến từ đâu, đến cách nào, miễn là có bánh ăn mà thôi. Nhân loại chúng ta trải qua các đời cũng vậy, thấy cơm cứ ăn, thấy nước cứ uống, thấy mọi vật cứ dùng mà không hề nghĩ đến Đấng làm ra các thứ ấy. Chúng ta giống như một người được mời dự tiệc, thấy thức ăn rất ngon, cứ ăn cho thật nhiều, song không nghĩ đến chủ tiệc. Tức là chúng ta chỉ nghĩ đến vật thọ tạo mà quên Đấng Tạo Hoá. Chúa khuyên đoàn dân đông đã đến với Ngài chớ vì đồ ăn tạm thời mà hãy vì đồ ăn đời đời.

Đáng lẽ đoàn dân phải thưa: Xin Chúa cho linh hồn chúng tôi no nê như Ngài đã cho xác thể chúng tôi vậy, họ lại đem câu chuyện của Môi-se ra để so sánh. Môi-se đã cho tổ phụ họ ăn bánh từ trời 40 năm chứ không phải chỉ một lần. Họ muốn Chúa cho họ ăn bánh như Môi-se đã cho. Nếu Chúa làm vậy, họ sẽ theo Ngài mãi mãi. Chúa chuyển từ bánh thuộc thể đến bánh thuộc linh mà bảo rằng, Môi-se thật chưa cho tổ phụ họ ăn bánh từ trời xuống, vì mana chỉ là một thức ăn nay còn mai mất. Bây giờ Đức Chúa Trời mới cho họ bánh từ trời xuống là bánh ban sự sống đời đời cho thế gian. Họ vội vàng thưa: “Lạy Chúa, xin cho chúng tôi bánh đó luôn luôn”. Chúa đáp: “Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng ta chẳng hề đói và ai tin ta chẳng hề khát” (Giăng 6.35).

2. GIĂNG 6:41-51.

Người Do thái đã lầm lẫn khi nghe Chúa Jêsus phán: “Ta là bánh từ trời xuống”. Họ mang một thành kiến rất nặng về sự kiện Ngài là con của thợ mộc Giô-sép và Ma-ri ở Na-xa-rét. Mặc dù Ngài đã làm nhiều phép lạ dấu kỳ để chứng minh Ngài là Con Đức Chúa Trờ, Cứu Chúa của nhân loại, Đấng Mê-si của dân Do thái, vốn từ trời xuống, song họ là người xác thịt thì không thể hiểu được sự thuộc linh.

Đáp lại sự lầm lẫn của họ, Chúa bảo rằng họ có thể đến với Ngài chỉ khi nào họ được Đức Chúa Trời kéo đến; họ có thể hiểu Ngài chỉ khi nào họ được Đức Chúa Trời dạy dỗ; họ có thể được sự sống đời đời chỉ khi nào họ tin Ngài mà thôi. Cũng như Phi-e-rơ xưng Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống thì Ngài phán: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó, vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều này đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy” (Ma-thi-ơ 16:17).

Một lần nữa, Chúa xác nhận Ngài là bánh của sự sống, mana chỉ là tượng trưng mà thôi. Tổ phụ họ ăn mana rồi cũng chết, Ngài mới thật là bánh từ trời xuống, ai ăn Ngài sẽ sống đời đời. Chúa cho chúng ta sự sống đời đời qua sự xả thân của Ngài trên thập tự giá.

3. GIĂNG 6:52-59.

Người Do thái lại càng lằm bằm và tranh luận với nhau vì không hiểu thế nào là ăn thịt của Ngài. Họ cứ nghĩ đến sự ăn uống theo nghĩa đen, còn Chúa nói theo nghĩa bóng. Hàng năm, người Do thái dự lễ Vượt qua để kỷ niệm ngày họ được giài phóng khỏi Ai Cập nhờ huyết chiên con bôi trên mài cửa và cột cửa, cũng như nhờ ăn thịt chiên ấy. Cứ làm, song họ không hiểu rằng chiên con ấy chỉ về Đấng Cứu Thế.

Mấy câu này giống như Chúa đã phán trực tiếp với chúng ta về Tiệc Thánh mà chúng ta dự hàng tháng (ICôr 5:7b, 11.34-35). Nếu chúng ta dự Tiệc Thánh mà không nhận rõ ý nghĩa thuộc linh của nó thì cũng như dân Do thái dự lễ Vượt qua. Ăn thịt, uống huyết của Chúa là tuyệt đối lệ thuộc vào Ngài, là hoàn toàn hiệp nhất với Ngài và luôn luôn sống cho Ngài, sống bởi Ngài. Không có Ngài là không có sự sống. Ngài là nhu cầu thiết thực nhất của chúng ta. Chúng ta nhận Ngài bởi đức tin, bằng sự ăn bánh, uống chén.

4. GIĂNG 6:60-71.

Kết quả là ngay trong vòng các môn đồ, có nhiều người cũng lằm bằm vì cho sự dạy dỗ của Chúa là rất khó hiểu. Chúa bảo rằng tại họ hiểu lầm giữa thần linh và sự sống xác thịt. Chúa phán về thần linh và sự sống còn họ cứ chăm về xác thịt, nên có nhiều môn đồ trở lui. Song về phần các sứ đồ, Phi-e-rơ quả quyết: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Ngài có lời của sự sống đời đời, chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời”.

Các sứ đồ muốn nói rằng, ngoài Chúa ra không có ai xứng đáng cho họ theo. Họ tin Chúa, họ biết, nên dầu có nhiều người bỏ Chúa thì họ cũng chẳng nao núng gì. Ngay đêm trước đó, họ vượt biển, bị gió thổi ào ào, sóng nổi dữ dội, song Chúa đi trên mặt nước đến với họ. Khi họ rước Chúa vào thuyền tức thì thuyền đến bến (Giăng 6:16-21). Thế thì làm sao họ quên được, làm sao họ nghi ngờ được.

Nếu chúng ta tin Chúa như các sứ đồ đã tin, biết Ngài như các sứ đồ đã biết thì chúng ta cũng không cần sợ khi hàng ngàn người sa ngã chung quanh ta. Chúng ta hãy quì gối xuống, bởi đức tin ôm chặt lấy chân của Chúa và cung kính và quả quyết thưa rằng: “Lạy Chúa, chúng con theo ai? Chẳng có ai xứng đáng cho chúng con theo, chỉ có Chúa mà thôi. Ngài có lời của sự sống, Ngài là sự sống của chúng con. Có Ngài là đủ cho chúng con rồi, chúng con xin cứ theo Ngài”.

CÂU HỎI

1. Mục đích chính khi Chúa hóa bánh là gì ?

2. Hôm sau đoàn dân đông tìm Chúa để được gì ?

3. Chúa khuyên họ thế nào ?

4. Họ ước ao Chúa làm gì cho họ ?

5. Tại sao họ lằm bằm khi Chúa phán Ngài là bánh từ trời xuống ?

6. Tại sao họ lằm bằm khi Chúa phán về sự ăn thịt, uống huyết Ngài ?

7. Ăn thịt, uống huyết Chúa khi dự Tiệc Thánh có nghĩa gì ?

8. Tại sao có nhiều môn đồ trở lui ?

9. Thái độ của các sứ đồ lúc ấy ra sao ?

10. Thái độ của chúng ta bây giờ ra sao ?

Bài 9. CHÚA JÊSUS LÀ GIÁO SƯ LỚN

KINH THÁNH: Giăng 7:1-53.

CÂU GỐC: “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta” (Giăng 7:17).

MỤC ĐÍCH: Chứng minh rằng tận hiến đời mình cho Chúa là nền tảng của sự hiểu biết những vấn đề thuộc linh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

MỘT SỐ NGƯỜI KHINH DỂ LỜI DẠY CỦA CHÚA

Giăng 7:1-9.

TH.

MỘT SỐ NGƯỜI BÀN CÃI VỀ LỜI DẠY CỦA CHÚA

Giăng 7:10-18.

TB.

MỘT SỐ NGƯỜI SO SÁNH LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA

Giăng 7:19-24.

TT.

MỘT SỐ NGƯỜI CÃI LẠI LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA

Giăng 7:25-32.

TN.

MỘT SỐ NGƯỜI BỎ QUA LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA

Giăng 7:33-36.

TS.

LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA KHIẾN MỌI NGƯỜI MÃN NGUYỆN

Giăng 7:37-39.

TB.

LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA GÂY CHIA RẼ

Giăng 7:40-53.

Mỗi kỳ lễ lớn là một dịp tiện để Chúa giảng dạy, Ngài đã giảng dạy trong kỳ lễ Vượt qua (Giăng 5:1-6,71). Lần này Ngài giảng dạy trong kỳ lễ Lều tạm (Giăng 7:1-10,21). Chúa là một Giáo sư lớn.

I. CƠ HỘI GIÁO SƯ LỚN DẠY DỖ (Giăng 7:1-13).

Lễ Lều Tạm là một lễ lớn, kỷ niệm những ngàu lưu lạc của dân Do thái trong sa mạc suốt 40 năm. Lễ ấy kéo dài trong 8 ngày (Lê-vi ký 23:33-39).

Các em trai của Chúa Jêsus đề nghị Ngài lên dự lễ để có dịp tỏ mình cho thiên hạ. Chúa đáp: “Thì giờ Ta chưa đến, còn các ngươi thì giờ được tiện luôn luôn”.

Ngài không đi theo thì giờ, mục đích mà họ đề nghị; song Ngài đi theo thì giờ, cơ hội, phương tiện và mục đích mà Cha Ngài chỉ định. Ngài muốn đi cách kín đáo, vì trước đó đoàn dân đông đã có ý ép Ngài làm vua (Giăng 6:15).

Chúa dạy chúng ta phải đi nơi nào, cách nào, lúc nào với mục đích gì đều do Đức Chúa Trời chỉ định. Sau khi biết nơi nào mình phải đi, còn phải biết đi lúc nào. Sau khi biết lúc nào mình phải đi, còn phải biết đi cách nào. Sau khi biết cách nào mình phải đi còn phải biết đi để làm gì. Mọi sự phải hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định tối hậu của Chúa chúng ta.

II. LỜI DẠY CỦA GIÁO SƯ LỚN (Giăng 7:14-36).

Sự giảng dạy của Chúa được chia làm 3 phần:

1. CĂN NGUYÊN CỦA ĐẠO LÝ NGÀI (Giăng 7:14-24).

Khi nghe Chúa giảng dạy, người Do thái sững sờ, nói: “Người này chưa từng học, làm sao biết được Kinh Thánh?” Thường thì những người giảng dạy như Chúa Jêsus đều phải xuất thân từ trường của các Rabi tức là giáo sư (Ma-thi-ơ 23:7; Giăng 1:38; 20:16).

Chúa đáp: “Đạo lý của Ta chẳng bởi Ta, nhưng bởi Đấng đã sai Ta đến. Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sẽ biết Đạo lý Ta có phải bởi Đức Chúa Trời hay Ta nói theo ý Ta”. Chúa muốn nói rằng Ngài không xuất thân từ trường các Rabi, song Ngài xuất thân từ trường cao hơn mà Giáo sư là chính Đức Chúa Trời. Vì thế đạo lý của Ngài là đạo lý của Đức Chúa Trời. Ngài không giảng dạy để cho mình được vinh hiển, song để cho Đức Chúa Trời được vinh hiển. Nếu mục đích giảng dạy của Ngài là để Đức Chúa Trời được vinh hiển thì không thể nào Ngài là người “phỉnh dỗ dân chúng” mà phải “là một người lành” (Giăng 7:12). Vì người phỉnh dỗ dân chúng thì luôn luôn tìm sự vinh hiển cho mình.

Hơn nữa, nếu Ngài làm mọi sự để Đức Chúa Trời được vinh hiển thì không thể nào Ngài phạm luật pháp của Đức Chúa Trời được. Trái lại, Môi-se đã ban luật pháp cho người Do thái thì chính họ lại phạm luật pháp vì đã kiếm thế giết Ngài (Giăng 5:16-18), cho Ngài đã phạm luật pháp Môi-se vì chữa lành người bại trong ngày Sabát (Giăng 5:1-9). Chúa giải thích cho họ: Môi-se đã truyền cho người Do thái phải làm lễ cắt bì cho con trai sau khi chúng được sinh ra 8 ngày (Lê-vi ký 12:3). Vì vậy, rất nhiều con trai đã được làm lễ cắt bì nhằm ngày Sabát. Chúa hỏi họ: “Nếu các ngươi làm lễ cắt bì cho con trai mình trong ngày Sabát để khỏi phạm luật pháp Môi-se thì tại sao ta chữa lành cho người bại trong ngày Sabát, các ngươi lại nổi giận?” (Giăng 7:22-24).

Người Do thái vâng theo luật pháp Môi-se nên đã biết bao lần phạm ngày Sabát khi phải làm lễ cắt bì cho con trai mình. Vậy luật ngày Sabát phải nhường cho luật lễ cắt bì, bởi nhu cầu của con người phải trổi hơn ngày Sabát. “Vì loài người mà lập ngày Sabát, chớ chẳng phải vì ngày Sa bát mà dựng nên loài người” (Mác 2:27).

Thế thì, cắt bì là một nghi lễ biệt riêng con cái mình cho Chúa còn làm trong ngày Sabát được, tại sao chữa lành cho một người bại 38 năm và tha tội cho người ấy lại không thể làm trong ngày Sa bát? Chúa kết luận: “Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán” tức là đừng thấy đâu nói đó, “mà phải xét đoán theo lẽ công bình”, là phải xét đoán theo tinh thần cao thượng và mục đích lợi ích của luật pháp.

2. CĂN NGUYÊN CỦA CHÍNH NGÀI (Giăng 7:25-30).

Người thành Giê-ru-sa-lem thấy Chúa giảng dạy tự do mà không ai làm gì Ngài thì nghĩ rằng nhà cầm quyền đã tôn Ngài làm Đấng Christ. Song họ thắc mắc, nếu là Đấng Christ thì không ai biết được căn nguyên của Ngài (Mi-chê 5:1b), còn Jêsus này thì họ biết được (Giăng 6:42), nên Chúa lên tiếng giải đáp (Giăng 7:28-29).

Chúa xác nhận họ biết Ngài, song chỉ một phần nhỏ mà chưa biết căn nguyên và chức vụ của Ngài, nhất là họ chưa biết Đấng đã sai Ngài đến. Chúa nhấn mạnh căn nguyên của Ngài là từ trời, chức vụ của Ngài là Cứu Chúa: “Ta thì biết Ngài (Đức Chúa Trời), vì Ta từ Ngài đến và Ngài là Đấng đã sai Ta đến”. Thế thì sự hiểu biết của người Do thái về Chúa Jêsus quá nông cạn đến độ ngộ nhận Ngài là điên cuồng, bị quỉ ám, người phỉnh gạt, tay gian ác, thậm chí họ nhẫn tâm giết Ngài nữa.

3. SỰ TRỞ VỀ TRỜI CỦA NGÀI (Giăng 7:31-36).

Qua sự giảng dạy của Chúa có nhiều người tin nhận Ngài là Đấng Christ, vì họ nói rằng: “Khi Đấng Christ đến sẽ làm nhiều phép lạ hơn người này đã làm chăng?” Nghe vậy người Pha ri si và các thầy tế lễ cả sai lính đi bắt Ngài, Chúa liền lên tiếng vừa khuyên lơn, vừa cảnh cáo họ (Giăng 7:33-34).

Chúa biết thì giờ mà Ngài sẽ về với Cha Ngài đã gần rồi, nên Ngài khuyên người Do thái hãy mau tin nhận Ngài. Đây là cơ hội cuối cùng như lúc Ngài lên Giê-ru-sa-lem (Ma-thi-ơ 23:37; Lu-ca 19:41-44). Đồng thời, Ngài cảnh cáo họ: Nếu trễ nãi, họ sẽ tìm Ngài mà không gặp, muốn đến với Ngài mà không đến được. Cơ hội không phải lúc nào cũng có. Cơ hội đến rồi cơ hội đi mà không trở lại. Cơ hội không phải là ngày mai mà là hôm nay, ngay bây giờ (IICôr 6:2). Chúa cũng đã khuyên môn đồ như Ngài khuyên người Do thái (Giăng 13:33). Vậy chúng ta hãy chụp lấy cơ hội, tranh thủ thời gian để tin nhận Chúa, phụng sự Ngài ngay bây giờ.

III. VỊ GIÁO SƯ LỚN GIẢNG DẠY SAU KỲ LỄ LỀU TẠM (Giăng 7:37-53).

Bảy ngày lễ qua, bây giờ là ngày thứ tám cũng là ngày cuối cùng. Mọi người từ lều tạm bằng lá vào đền thờ; rồi từ đó được một thầy tế lễ hướng dẫn đến suối Silôê. Thầy tế lễ múc một bình vàng đầy nước. Khi trở lại, thầy tế lễ lên bàn thờ của lễ thiêu, đổ bình nước bên hướng đông và đổ chén rượu bên hướng Tây. Đang khi đó, đoàn dân hát: “Vậy nên các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi nguồn cứu rỗi” (Ê-sai 12:3). Đại ý nhắc lại khi tổ phụ họ lưu lạc trong sa mạc khô hạn thì được hòn đá phun ra nước cho họ uống, và bài hát là lời hứa về Đấng Mê-si sẽ đến để cho họ nguồn nước cứu rỗi. Nhân dịp đó, Chúa Jêsus đã đứng lên, lớn tiếng kêu gọi: “Nếu người nào khát hãy đến cùng Ta mà uống. Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình y như Kinh Thánh đã chép vậy”. Khát là dấu hiệu nhu cầu thuộc linh, còn Chúa là hòn đá bị đập tuôn ra nước để mãn nguyện con người. Kết quả là có người cho Ngài là tiên tri, có người cho Ngài Đấng Christ, bọn lính trở về nói: “Chẳng hề có người nào đã nói như người này”.

Chúa chúng ta là một Giáo sư lớn. Hãy học với Ngài hơn bất cứ với ai để hiểu biết vấn đề thuộc linh.

CÂU HỎI

1. Lễ Lều tạm là lễ gì?

2. Tại sao Chúa không đi dự lễ theo đề nghị của các em Ngài?

3. Tại sao người Do thái nói Chúa chưa từng học?

4. Chúa trả lời cho họ thế nào?

5. Đạo lý của Ngài đến từ đâu?

6. Chúa trả lời thế nào cho những kẻ lên án Ngài phạm ngày Sabát?

7. Căn nguyên của Ngài là từ đâu? Chức vụ của Ngài là gì?

8. Chúa khuyên lơn và cảnh cáo người Do thái thế nào?

9. Cuối cùng Ngài kêu gọi người Do thái làm gì?

10. Chúng ta phải học với ai để biết những vấn đề thuộc linh?

BÀi 10. CHỨNG CỚ BÀY TỎ CHÚA JÊSUS LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Giăng 8:1-47.

CÂU GỐC: “Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do” (Giăng 8:36).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng chúng ta chỉ tìm được sự tha tội, sự hướng dẫn và tự do thuộc linh trong Chúa Jêsus mà thôi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CON ĐỨC CHÚA TRỜI THA TỘI

Giăng 8:1-11.

TH.

CON ĐỨC CHÚA TRỜI GIẢI THÍCH

Giăng 8:12-20.

TB.

NGUỒN CHÂN LÝ

Giăng 8:21-27.

TT.

CON ĐỨC CHÚA TRỜI GIẢI PHÓNG CHÚNG TA

Giăng 8:28-36.

TN.

TẠI SAO CON ĐỨC CHÚA TRỜI BỊ CHỐI BỎ

Giăng 8:37-44.

TS.

CON ĐỨC CHÚA TRỜI BAN SỰ SỐNG

Giăng 8:48-51.

TB.

CON ĐỨC CHÚA TRỜI SỐNG ĐỜI ĐỜI

Giăng 8:52-59.

Người Do thái không tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại. Lòng hoài nghi, ngoan cố đã đưa đến hậu quả khủng khiếp là họ nộp Ngài để bị đóng đinh trên thập tự giá. Vì thế, Giăng thuật lại lời nói và việc làm của Chúa Jêsus để đọc giả của ông biết rằng Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của mọi người, hầu cho khi họ tin thì nhờ Danh Ngài mà được sống.

Cũng như sứ đồ Giăng, chúng ta không thể thêm bớt Lời của Chúa, song phải cậy Thánh Linh mà trình bày, giải thích một cách trung thực để người nghe tin nhận Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời.

I. CHÚA JÊSUS CÓ QUYỀN THA TỘI (Giăng 8:1-11).

Chúa Jêsus đã từng tha tội và chữa bệnh cho nhiều người (Ma-thi-ơ 9:2; Giăng 5:14). Lần này người Do thái dẫn đến trước mặt Ngài một người đàn bà bị bắt quả tang về tội tà dâm, để xem Ngài xử bà ấy thế nào. Làm như vậy, họ không có ý bênh vực sự thánh khiết của Đức Chúa Trời; song khai thác một hành vi bỉ ổi thành một phương tiện nguy hiểm để gài bẫy Chúa Jêsus, đưa Ngài vào một thế bí. Nếu Chúa truyền xử tử bà theo luật pháp Môi-se, họ sẽ làm ngay không chút thương xót, rồi liền sau đó đi tố cáo Ngài với chính quyền La-mã vì ngươòi Do thái không được phép xử tử ai (Giăng 18:31). Còn nếu Chúa bảo tha tội cho bà, thì họ tố cáo Ngài phạm luật Môi-se. Ôi, động lực của họ thật đê tiện, chân tướng của họ thật xấu xa.

Chúa Jêsus là Đấng Toàn tri nên Ngài thấy rõ mồn một âm mưu của họ. Chúa không trả lời câu hỏi của họ, song Ngài cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Họ hỏi nữa thì Chúa phán rằng: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người”. Nghe vậy họ lần lượt rút lui vì có ai dám nhân mình vô tội, nhất là trước mặt Chúa. Khi không có ai định tội bà, Chúa phán: “Ta cũng không định tội ngươi, hãy đi, đừng phạm tội nữa”. Chúa là Con Đức Chúa Trời, là Đấng vô tội, nên chỉ Ngài có quyền định tội và có quyền tha tội.

II. CHÚA JÊSUS BAN SỰ SÁNG (Giăng 8:12-30).

Buổi sáng ngày Lễ Lều tạm, Chúa đã ám chỉ Ngài là hòn đá bị đập tuôn ra nước cho dân Do thái trong sa mạc như thầy tế lễ múc nước và đổ ra (Giăng 7:37-38). Buổi chiều tối, khi đứng trước bốn chân đèn bạch lạp rất lớn, soi sáng trong sân đền thờ cho mọi người ra vào, Chúa ám chỉ Ngài là trụ lửa, nên phán rằng: “Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo Ta chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”. Dân Do thái đã nhờ trụ lửa dẫn dắt trong 40 năm.

Chúa Jêsus là ánh sáng từ Đức Chúa Trời, là Nguồn Sự sáng. Chúa Jêsus là Sự sáng của sự sống, vì nếu không có ánh sáng thì muôn vật không thể sống; ánh sáng soi đường dẫn lối mà cũng ban sự sống nữa. Sự sống thuộc linh của chúng ta không thể nào thiếu Chúa Jêsus, cũng như sự sống thuộc thể của chúng ta không thể nào thiếu mặt trời.

Khi Chúa Jêsus phán rằng Ngài là Sự sáng của thế gian có nghĩa Ngài là Đức Chúa Trời, vì cả Kinh Thánh đều mượn sự sáng để chỉ về Đức Chúa Trời. “Đức Giê-hô-va là ánh sáng của tôi” (Thi 27:1); “Đức Giê Hô Va sẽ làm sự sáng đời đời cho ngươi” (Ê-sai 60:19; Mi-chê 7:8), “Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGiăng 1:5).

Dù người Do thái ngoan cố không tin nhận Chúa Jêsus thì lời nói và việc làm của Ngài đều chứng tỏ Ngài là sự sáng. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng ai tin Ngài thì đã từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực Sa-tan đến Đức Chúa Trời, “nên người ấy chẳng còn đi trong tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”.

Tiếp theo lời tuyên bố Ngài là Sự sáng của thế gian, Chúa Jêsus cảnh cáo người Do thái một lần nữa như Ngài đã cảnh cáo họ trước đó (Giăng 7:33-34). Song lần này cũng như lần trước, người Do thái có ý mỉa mai Ngài (Giăng 7:35-36 và 8:22).

Chúa chỉ cho họ thấy một vực sâu giữa Ngài với họ: “Các ngươi bởi dưới mà có, còn Ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian này, còn Ta không thuộc về thế gian này”. Ngài từ trên trời xuống để đem họ từ đất lên trời. Chúa Jêsus không thuộc về thế gian, nhưng đã đến thế gian để cứu họ khỏi tội lỗi. Nếu họ không tin Ngài là Đấng đó thì họ sẽ chết mất trong tội lỗi của mình. Họ hỏi: “Đấng đó là ai?” Đã bao lần Chúa nói với họ về điều đó, song như với người điếc. Đã bao lần Chúa Jêsus chỉ cho họ song như chỉ cho người đui. Ngài là đền thờ (Giăng 2:19 ), Ngài là Con Đức Chúa Trời (Giăng 5:16-18), Ngài là Đấng Mê-si (Giăng 5:45-47), Ngài là Bánh hằng sống (Giăng 6:35, 48-51), Ngài là Nước hằng sống (Giăng 7:37-38), Ngài là sự sáng của thế gian (Giăng 8:12).

Chúa tiếp: “Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ các ngươi sẽ biết Ta là ai”. Ôi chừng đó thì muộn quá rồi. Họ ở trong tội, Chúa đến cứu họ song họ có ý chối từ Ngài để phạm tội thêm. Và càng phạm tội thì càng khó ăn năn để chuốc cho mình hình phạt kinh khiếp (Rô-ma 2:5). Có tội nào lớn hơn tội đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá? Tuy nhiên, giữa vòng họ có nhiều kẻ tin Ngài (Giăng 8:30).

Lòng vô tín, ngoan cố đã làm cho người Do thái mất phần ơn phước quí báu nhất, rồi sa vào tội lỗi lớn nhất và chuốc lấy cho mình hình phạt nặng nhất. Đó cũng là bài học cho chúng ta ngày nay.

III. CHÚA JÊSUS BAN TỰ DO THẬT (Giăng 8:31-47).

Người Do thái lấy làm hãnh diện khoe rằng họ là dòng dõi Áp-ra-ham, con cái Đức Chúa Trời, luôn luôn tự do. Song Chúa bảo rằng họ không phải như họ tưởng: “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi”. Với vẻ ngạo nghễ họ đáp: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai…” Chúa tiếp: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi”. Tội lỗi mà người ta buông mình vào đó, ban đầu xem như rất tự do; kế đó tội lỗi trở nên ông chủ và cuối cùng nó là một bạo chúa (II Phi-e-rơ 2:19). Người Do thái hẳn chưa quên là họ đã không dám ném đá người đàn bà tà dâm, vì ai nấy nhận mình đều có tội nên không thể chối mình là nô lệ được. Chúa phán trong Giăng 8:35 để họ thấy họ không còn thông công với Đức Chúa Trời như con trong nhà Cha mà ở ngoài nhà Cha như các nô lệ. Chỉ khi nào Chúa giải phóng họ thì họ mới được tự do thật. Tự do thật là tự do trong tâm linh, là thoát khỏi tội lỗi như Giô-sép, dầu bị các anh bán làm nô lệ tại Ê-díp-tô.

Con người vốn làm nô lệ cho tội lỗi, con cái của ma quỉ, dòng dõi của rắn lục nên chỉ khi nào được giải phóng, con người mới được tự do thật sự. Quả thật, Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời.

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus là ai?

2. Bằng cớ nào trong bài học này chứng minh Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời?

3. Sự sáng của sự sống có nghĩa gì?

4. Chúa muốn nói gì khi Ngài tự xưng là sự sáng?

5. Chúa cảnh cáo người Do thái thế nào?

6. Thế nào là tự do thật?

7. Muốn được tự do thật phải làm gì?

8. Tại sao ai phạm tội là tôi mọi của tội lỗi? Xin cho ví dụ.

9. Tại sao Chúa kể Giô-sép là tự do khi ông đang làm nô lệ tại Ê-díp-tô?

Bài 11. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU

KINH THÁNH: Giăng 8:48-59.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta” (Giăng 8:58).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus là Con đời đời của Đức Chúa Trời, có quyền đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU

Xuất 3:1-14.

TH.

TA LÀ CÁI CỬA

Giăng 10:1-10.

TB.

TA LÀ ĐƯỜNG ĐI

Ê-sai 58:1-9.

TT.

TA LÀ GỐC NHO

Giăng 15:1-14.

TN.

TA LÀ SỰ SÁNG

Giăng 1:4-9; 8:12.

TS.

TA LÀ ANPHA VÀ ÔMÊGA

Khải huyền 1:1-11.

TB.

TA LÀ SỰ SỐNG

Giăng 1:4; 5:26; 14:6.

Chúa Jêsus có rất nhiều danh hiệu diệu kỳ: Ngài là Nước Hằng sống (Giăng 4:10-14); là Bánh Hằng sống (Giăng 6:35); là Sự sáng (Giăng 8:12); là Cái cửa (Giăng 10:7); là Người Chăn chiên (Giăng 10:11); là Đường đi, Chân lý và Sự sống (Giăng 14:6); là Gốc nho thật (Giăng15:1)… Hôm nay, chúng ta học về Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Giăng 8:58).

I. CHÚA JÊSUS HẰNG SỐNG (Giăng 8:48-55).

Những lời tuyên bố của Chúa Jêsus trong Giăng 8 dẫn người Do thái từ ngạc nhiên đến ngạc nhiên, mặc dù họ không ngớt âm mưu gài bẫy Ngài. Chúa nói họ không phải tự do mà là nô lệ của tội lỗi, không phải dòng dõi Áp-ra-ham, không phải con cái Đức Chúa Trời mà là dòng dõi ma quỉ và là con cái của ma quỉ. Rồi Ngài thách đố họ: “Trong các ngươi có ai bắt Ta thú tội được chăng?”, nghĩa là Ngài không phải như họ, Ngài không nói sai. Hết thảy đều ngậm miệng. Vì ngoan cố, bực tức, họ nói để sỉ nhục Ngài: “Thầy là người Sa-ma-ri và bị quỉ ám, há không phải sao?” (Giăng 8:48). Chúa không bênh vực mình vì đã có Đấng bênh vực và xét đoán mọi sự đó. Song Ngài phán: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời Ta sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ” (Giăng 8:51).

Chúa Jêsus là Đấng Hằng Sống, Ngài ban sự sống cho những kẻ tin Ngài để họ không hề chết. Đối với Chúa, sự sống thật không phải là sự sống xác thể mà là sự sống tâm linh; không phải là sự sống tạm thời mà là sự sống vĩnh cữu. Sự sống của Chúa đã có từ trước vô cùng và còn đến mãi sau vô tận, trong một trạng thái bất biến, Ngài không hề tùy thuộc thời gian. Đối với Ngài sự chết là không có. Kẻ tin Ngài, thuộc về Ngài, được tương giao với Ngài, thì độc lập với thời gian, với sự chết. Những kẻ đó không từ sự sống đến sự chết, song từ sự sống đến sự sống. Sự chết xác thể chỉ đem họ đến gần Đức Chúa Trời và sống đời đời với Ngài. Vì chết là hiện hữu ngoài Đức Chúa Trời, còn sống là hiện hữu trong Đức Chúa Trời.

Người Do thái phản đối: “Áp-ra-ham đã chết, các tiên tri cũng vậy, mà Thầy nói: Kẻ nào giữ lời Ta sẽ chẳng hề chết.” Chúa cho họ biết rằng họ không hiểu lời Ngài vì họ không biết Đức Chúa Trời còn Ngài thì biết.

Chúa đã phán cho Ma-ri và Ma-thê trước mộ La-xa-rơ: “Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống mà tin Ta thì không hề chết” (Giăng 11:25-26). Trong câu 25, Chúa phán về trường hợp của La-xa-rơ là người đã chết về xác thể song vẫn sống về tâm linh, vì Chúa là sự sống mà ông đã tin. Trong câu 26, Chúa phán về trường hợp của Ma-ri và Ma-thê là người còn sống mà tin Ngài thì họ không hề chết, vì họ có sự sống của Chúa là sự sống đời đời. Chúa muốn nói: “Trong Ta thì kẻ chết được sống, kẻ sống không hề chết”. Sự chết chỉ là một biến cố trong quá trình của sự sống vô tận. Con cái của Đức Chúa Trời không bao giờ chết. Đây là lời cuối cùng của một thánh đồ: “Đừng khóc, tôi sẽ không chết, tôi lìa bỏ đất của kẻ chết để thấy phước hạnh của Chúa trong đất của kẻ sống”.

Để hiểu được lời Chúa trong Giăng 8:51 và 11:25-26, chúng ta phải tham khảo với lời Ngài trong Ma-thi-ơ 22:32. Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp” (Xuất 3:6). Khi Đức Chúa Jêsus trưng dẫn câu ấy thì Ngài giải thích: “Đức Chúa Trời không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”.

Như vậy, Chúa xác nhận Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp vẫn sống. Họ đang sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, đang được tương giao mật thiết với Ngài. Họ đang có một cuộc sống cao quí, vinh hiển phước hạnh hơn cuộc sống trần gian. Trước mặt Chúa họ là những con người không chết vì họ đã tin Ngài.

II. CHÚA JÊSUS HẰNG HỮU (Giăng 8:56-59).

Khi người Do thái tỏ ra bực dọc về lời tuyên bố của Chúa Jêsus trong câu 51, thì Chúa tiếp: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của Ta, người đã thấy và mừng rỡ”. Chúa muốn nói Ngài vốn có từ trước vô cùng, chứ không phải mới có mấy mươi năm như người Do thái tưởng. Ngài là Đấng Mê-si mà tổ phụ họ là Áp-ra-ham đã thấy trước và mừng rỡ về ngày mà Chúa sẽ giáng sinh, chịu chết đền tội cho nhân loại (Sáng 12:3; 18:18; 22:18; 26:4). Vì vô tín, người Do thái mù tịt hỏi: “Thầy chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy Áp-ra-ham?” Theo người Do thái, Áp-ra-ham sanh trước Chúa Jêsus 2.100 năm nên không thể nào Ngài đã thấy Áp-ra-ham, hay Áp-ra-ham đã thấy Ngài. Vì vậy, Chúa phán thêm: “Quả thật, quả thật, trước khi chưa có Áp-ra-ham đã có Ta”.

Chúa muốn nói Ngài là Đức Chúa Trời có từ trước vô cùng cho đến đời đời (Thi 90:2). Ngài không những thực hữu đồng thời với Áp-ra-ham mà còn trước Áp-ra-ham. Loài người thì tính năm, tháng, ngày, giờ vì mới được dựng nên sau khi Chúa đã dựng nên quả đất, mặt trời, mặt trăng. Còn đối với Chúa, Ngài thực hữu trước khi chưa có vũ trụ. Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Xuất 13:14). Ngài là Anpha và Ômêga (Khải 1:8), Ngài là Đấng Tạo hóa (Giăng 1:3). Sự sống của Ngài là sự sống vô hạn của Đức Chúa Trời vô hạn, là sự sống đời đời của Đức Chúa Trời đời đời.

Thế thì người Do thái phải hiểu rằng Chúa Jêsus là Đấng Hằng Hữu. Ngài là Cứu Chúa của nhân loại mà tổ phụ họ là Áp-ra-ham đã thấy khải tượng về Ngài nên rất vui mừng. Chúng ta ngày nay cũng phải hiểu như vậy. Chúa Jêsus không phải mới có gần 2.000 năm, để chúng ta nói rằng Ngài có sau Khổng Tử và sau Thích Ca. Không! Chúa Jêsus hằng hữu, nghĩa là Ngài vốn có từ trước vô cùng (Mi-chê 5:1), song mới đến trần gian gần 2.000 năm qua để tìm và cứu chúng ta. Trước khi chưa có Khổng Tử, Thích Ca, thì Chúa đã hằng hữu. Chúa Jêsus đã dựng nên trời, đất, muôn loài trong đó có loài người.

Đức Giê-hô-va của Cựu ước là Chúa Jêsus của Tân ước (Hãy so sánh Ê-sai 41:4; 44:6 với Khải huyền 1:8; 22:13; Ê-sai 40:3 với Ma-thi-ơ 3:3; Lu 1:76 và Ê-sai 8:13-14 với I Phi-e-rơ 2:6-7). Chúa Jêsus là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Chí Thánh, Chí Tôn, Chí Cao, Chí Đại, Vô Song, Vô Thượng, Vô Thủy, Vô Chung.

Qua các lời tuyên bố của Chúa Jêsus về thân vị và thẩm quyền của Ngài; người Do thái phải có một trong hai hành động (Câu 59):

1. Sấp mình dưới chân Ngài mà thưa như Thô-ma: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi” hoặc,

2. Ném đá Ngài vì cho Ngài lộng ngôn, phỉnh gạt.

Họ đã chọn hành động thứ hai. Toàn thể nhân loại cũng phải chọn một trong hai hành động đó để đưa mình đến một trong hai kết quả là sống đời đời với Đức Chúa Trời hay chết đời đời với ma quỉ.

Các bạn chọn hành động nào?

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus có những danh hiệu nào?

2. Chúa là Đấng Hằng sống có nghĩa gì?

3. Ai tin Chúa thì không hề chết có nghĩa gì?

4. Đức Chúa Trời không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống, có nghĩa gì?

5. Chúa Jêsus muốn xưng mình là ai khi Ngài tuyên bố rằng, Áp-ra-ham mừng rỡ mà thấy Ngài?

6. Tại sao Chúa Jêsus phán: Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta?

7. Tại sao chúng ta biết Ngài thực hữu không chỉ có gần 2.000 năm nay?

8. Ai dựng nên loài người, trong đó có Khổng Tử và Thích Ca?

9. Đức Giê-hô-va của Cựu ước là ai của Tân ước?

10. Tại sao người Do thái muốn ném đá Chúa Jêsus?

Bài 12. CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN

KINH THÁNH: Giăng 9:1-41.

CÂU GỐC: “Đương khi Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng của thế gian” (Giăng 9:5).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Chúa Jêsus là Sự sáng của thế gian.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

NGƯỜI MÙ ĐƯỢC SÁNG

Giăng 9:1-7.

TH.

NHỮNG CÂU HỎI VỀ SỰ SÁNG

Giăng 9:8-15.

TB.

NGƯỜI PHA-RI-SI KHƯỚC TỪ SỰ SÁNG

Giăng 9:16-22.

TT.

MỘT SỐ CÂU HỎI THÊM VỀ SỰ SÁNG

Giăng 9:23-29.

TN.

VÀI LỜI GIÁO HUẤN VỀ SỰ SÁNG

Giăng 9:30-34.

TS.

HIỂU BIẾT NHIỀU HƠN VỀ SỰ SÁNG

Giăng 9:35-38.

TB.

NGUY CƠ KHƯỚC TỪ SỰ SÁNG

Giăng 9:39-41.

Người đời thường thích phép lạ. Song không có phép lạ nào lớn bằng phép lạ Chúa cứu một người, đem người từ tối tăm qua sáng láng, từ sự chết đến sự sống, từ tội nhân đến thánh nhân, từ con cái ma quỉ đến con cái của Chúa. Vì thế, người được cứu phải đem chính đời mình mà chứng minh phép lạ của Chúa.

Hôm nay chúng ta học về Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, là Sự sáng của thế gian và một người đã được cứu phải đem chính bản thân mình làm chứng cho mọi người về Chúa.

I. CHÚA JÊSUS BAN SỰ SÁNG CHO NGƯỜI MÙ (Giăng 9:1-17).

Đang đi, Chúa Jêsus và môn đồ trông thấy một người mù từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Chúa: “Thưa Thầy, người hay cha mẹ người đã phạm tội mà người sanh ra như vậy?” Các môn đồ suy nghĩ theo quan niệm thông thường: Tội lỗi sanh ra bệnh tật. Dĩ nhiên, nếu do tội lỗi sanh ra thì cha mẹ người đã phạm. Song Chúa không qui tội cho ai, Ngài chỉ đáp rằng: “Ấy để cho những việc của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người”. Ngài không hướng tư tưởng của môn đồ về nguyên do của sự đau đớn mà đến mục đích của Đức Chúa trời cho phép xảy ra để bày tỏ quyền năng và ân điển của Ngài. Chúng ta không có phép xét đoán ai về tội lỗi của họ, nhưng

chúng ta có trách nhiệm cứu mọi người trong cơn đau đớn của họ về phương diện thuộc thể và thuộc linh. Khi còn là ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng sai ta đến, tối lại không ai làm việc được. Chúa Jêsus còn ở thế gian ngày nào thì trách nhiệm của Ngài là chiếu sáng. Chúng ta cũng vậy. Vì khi dịp tiện qua đi, thì giờ đã hết, không ai tìm lại được, không ai làm gì được.

Nói xong, Chúa nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và bảo: “Hãy đi rửa nơi ao Silôê”. Nước ao Silôê không có quyền làm cho mắt mù được sáng, nước miếng hòa với bùn cũng vậy. Song Chúa muốn anh mù hoàn toàn tin cậy và vâng lời Ngài để được sáng. Vậy anh đến ao, rửa và được lành ngay.

II. LÀM CHỨNG VỀ CHÚA CỦA SỰ SÁNG (Giăng 9:8-41).

Sau khi được sáng, anh đi một cách tự do chứ không còn sờ soạng từng bước như trước; không còn trở lại chỗ cũ ngồi xuống xin ăn, mặt anh không còn buồn bã mà vui vẻ. Từ đây anh có cơ hội làm chứng cho mọi người về Chúa của Sự sáng.

1. LÀM CHỨNG CHO NGƯỜI LÂN CẬN (Giăng 9:8-12).

Trước sự thay đổi đột ngột và quá lớn lao như vậy trong đời sống của một người mù từ thuở sanh ra, những người lân cận và quen biết anh lấy làm ngạc nhiên hỏi nhau: “Đó có phải là anh mù từ thuở sanh ra chăng?” Người này nói: “Nó đó”. Kẻ kia nói: “Không phải, song một người nào giống nó”. Anh mù nói: “Chính tôi đây”. Khi anh lên tiếng xác nhận thì không ai nghi ngờ nữa.

Họ hỏi: “Tại sao anh được sáng?” Anh liền thuật lại cách nào một người tên Jêsus đã chữa lành cho anh. Họ hỏi: “Người đó ở đâu?” Anh đáp: “Tôi không biết”.

Nếu chúng ta được cứu, chắc mọi người thân cận sẽ ngạc nhiên khi nhìn vào chúng ta vì họ thấy chúng ta có sự thay đổi đột ngột và lớn lao. Từ việc làm, lời nói, tư tưởng đều khác hơn trước như sáng với tối, trắng với đen, chánh với tà. Chính vì lý do đó mà đồng bào sẽ tìm hiểu tại sao và tạo cho chúng ta cơ hội làm chứng về Chúa cho họ. Nguyện Chúa cho chúng ta nói lên như người mù đã được sáng: “Chính tôi đây”.

2. LÀM CHỨNG CHO GIỚI THẨM QUYỀN (Giăng 9:13-17).

Kế đó là cơ hội cho người mù được sáng làm chứng cho giới thẩm quyền. Dầu đây không phải là tòa Công luận, song người Pha-ri-si thuộc thành phần giới thẩm quyền. Người ta dẫn anh mù được sáng đến cùng người Pha-ri-si. Họ hỏi: “Làm thế nào anh được sáng mắt?” Anh liền làm chứng cho họ về Chúa Jêsus đã chữa lành cho anh. Vì việc ấy xảy ra trong ngày Sabát, nên có người vịn vào đó mà cho rằng Chúa Jêsus không phải đến từ Đức Chúa Trời. Người khác cãi lại: “Người có tội làm phép lạ như vậy thế nào được?” Họ hỏi anh mù được sáng: “Theo anh thì Jêsus là ai?” Anh đáp: “Người đó là một tiên tri”. Dù họ cố tìm lý do để chối Chúa Jêsus là Đấng từ Đức Chúa Trời đến, họ cũng không thể chối cãi thực sự Ngài đã chữa lành cho người mù từ thuở sanh ra, vì chính anh đã làm chứng cho họ.

Nếu chúng ta thật được cứu thì cũng không thể nào giấu được, chối được phép lạ Chúa đã làm trong đời mình. Thấy cách ăn, nết ở hằng ngày của chúng ta, thiên hạ sẽ biết chúng ta là ai. Dầu Phi-e-rơ có chối cãi, một con đòi cũng nhận diện mà quả quyết rằng: “Ông cũng là người ở với Jêsus” (Ma-thi-ơ 26:69).

3. LÀM CHỨNG CHO GIA ĐÌNH (Giăng 9:18-23).

Do lòng ngoan cố, người Pha-ri-si nghĩ rằng anh mù đã đồng lõa với Chúa Jêsus mà phỉnh gạt thiên hạ, chớ không phải anh vốn mù mà được sáng. Vì vậy, họ gọi cha mẹ anh đến hỏi:

– Đây có phải là con trai các ngươi đã mù từ thuở sanh ra không?

– Phải.

– Tại sao bây giờ nó được sáng?

– Chúng tôi không biết. Xin hỏi nó.

Dầu cha mẹ anh biết rõ rằng Chúa Jêsus đã chữa cho con họ được lành, vì chắc anh đã vui mừng thuật lại mọi sự cho cha mẹ, song tại đây họ không dám nói thật vì sợ bị đuổi khỏi nhà hội, tức là bị dứt phép thông công. Nhưng chắc họ vui mừng cho con của họ vô cùng.

Phải chăng nhiều bậc cha mẹ ngày nay cũng có một thái độ và hành động như cha mẹ của anh mù này? Vì một lý do nào đó, họ không dám công khai tuyên bố hoặc nhìn nhận phép lạ của Đức Chúa Trời trong đời sống con họ, dầu họ biết điều đó rất rõ ràng và rất vui mừng.

4. LÀM CHỨNG CHO GIỚI THẨM QUYỀN MỘT LẦN NỮA (Giăng 9:24-34).

Người Pha-ri-si ở trong thế lúng túng. Để phá hủy đức tin của anh mù được sáng và chận đứng sự làm chứng của anh, không có cách nào tốt hơn là họ ra lệnh cho anh: “Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời, chúng ta biết người đó là kẻ có tội”.

Thấy người Pha-ri-si ngoan cố trước một sự thật hiển nhiên, anh mù mỉa mai họ: “Tôi chẳng biết người có phải là kẻ có tội chăng, chỉ biết một điều là tôi đã mù mà bây giờ được sáng”. Bị mỉa mai, người Pha-ri-si bực tức hỏi: “Người đã làm gì cho anh? Mở mắt anh thể nào?” Họ hỏi một câu trong nhiều lần để mong tìm thấy sự trả lời trước sau không hợp nhau.

Anh mỉa mai nữa: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông chẳng nghe tôi. Cớ sao các ông muốn nghe lại lần nữa? Há cũng muốn làm môn đồ của người chăng?”

Càng bị mỉa mai họ càng bực tức, mắng nhiếc anh rồi nói rằng: “Chúng ta biết Đức Chúa trời đã phán cùng Môi-se, nhưng người này chúng ta chẳng biết từ đâu đến”. Họ muốn trốn tránh trách nhiệm thừa nhận Chúa Jêsus là Con Đúc Chúa Trời, Đấng Cứu Thế, bằng hai chữ “Không biết”. Thật không có ai điếc bằng kẻ không chịu nghe, không ai đui bằng kẻ không chịu thấy, không ai dốt bằng kẻ không chịu hiểu.

Anh mù được sáng càng mỉa mai hơn nữa: “Người đã mở mắt cho tôi mà các ông chẳng biết người bởi đâu đến, ấy là sự lạ lắm.” Rồi anh căn cứ vào tín ngưỡng chung của người Do thái và dùng tam đoạn luận mà quả quyết rằng Chúa Jêsus từ Đức Chúa Trời đến.

1. Đại tiền đề: Đức Chúa Trời chỉ nhận lời kẻ kính sợ Ngài và làm theo ý muốn của Ngài (Giăng 9:31).

2. Tiểu tiền đề: Chúa Jêsus đã mở mắt người mù từ thuở sanh ra tức là Ngài đã được Đức Chúa Trời nhận lời (Giăng 9:32).

3. Kết luận: Chúa Jêsus đến từ Đức Chúa Trời (Giăng 9:33).

Người Pha-ri-si bắt lỗi anh dạy dỗ họ nên đuổi anh ra. Song anh thật xứng đáng để dạy dỗ họ, vì mắt xác thể anh đã sáng mà mắt tâm linh anh càng sáng hơn, đang khi mắt tâm linh họ đui mù.

III. ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI MÙ ĐƯỢC SÁNG NƠI CHÚA CỦA SỰ SÁNG (Giăng 9:35-38).

Càng làm chứng, đức tin của anh càng lớn, càng mạnh. Ban đầu anh nói: “Người tên là Jêsus” (Giăng 9:10). Sau đó, anh nói: “Người là một tiên tri” (Giăng 9:17). Kế đó, anh nói: “Người này từ Đức Chúa Trời đến” (Giăng 9:33). Cuối cùng, anh nói: “Lạy Chúa, tôi tin và sấp mình xuống trước mặt Ngài” (Giăng 9:38). Đức tin anh đã đến tuyệt điểm.

Kết luận (Giăng 9:39-41): Chúa là Sự sáng của thế gian. Tiếp nhận Ngài thì người mù được sáng, không tiếp nhận Ngài thì người mù lại mù hơn.

CÂU HỎI

1. Phép lạ lớn nhất của Chúa trải qua các đời là gì?

2. Sau khi được cứu chúng ta phải làm gì?

3. Người mù được sáng đã bắt đầu làm chứng cho ai?

4. Kế đó anh làm chứng cho những ai?

5. Anh dạn dĩ làm chứng, tỏ ra anh là người thế nào?

6. Chúa Jêsus đã làm gì khi nghe tin anh bị đuổi?

7. Càng làm chứng thì đức tin của anh ra sao?

8. Bài học hôm nay dạy dỗ chúng ta điều gì?

Bài 13. CHÚA JÊSUS LÀ NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH

KINH THÁNH: Giăng 10:1-30.

CÂU GỐC: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào từ nơi khác, thì người đó là trộm cướp” (Giăng 10:1).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng nếu chúng ta theo Chúa Jêsus, Ngài sẽ dẫn dắt, cứu giúp, giữ gìn chúng ta suốt đời bình an.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

THÍ DỤ VỀ NGƯỒI CHĂN HIỀN LÀNH

Giăng 10:1-6.

TH.

GIẢI NGHĨA THÍ DỤ ẤY

Giăng 10:7-14.

TB.

SỰ GIẢI NGHĨA THÍ DỤ ẤY GÂY CHIA RẼ

Giăng 10:15-21.

TT.

BẢN TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CHĂN

Giăng 10:22-26.

TN.

NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH VỚI CHIÊN

Giăng 10:27-30.

TS.

NGƯỜI CHĂN BỊ CHỐI BỎ

Giăng 10:31-42.

TB.

SỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH

Thi 23:1-6.

Sau khi người mù được chữa lành bị đuổi khỏi nhà hội, Chúa Jêsus liền mượn sự tương quan giữa bầy chiên với người chăn để dạy dỗ. Chúa muốn chỉ cho ai nấy thấy sự khác nhau giữa người chăn chiên với kẻ trộm cướp chiên, người chăn hiền lành với kẻ chăn thuê. Câu chuyện rất dễ hiểu vì Cựu ước đã nói rất nhiều về Đức Chúa Trời là người chăn (Sáng 49:24; Thi 23:1; 77:20; 79:13; 80:1; Ê-sai 40:11), còn các nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên là kẻ chăn thuê (Ê-sai 56:10-11; Giê 23:1-2; Ê-xê-chi-ên 34:2; Xa-cha-ri 11:17). Chúa muốn nói Ngài là Người Chăn hiền lành, người Pha-ri-si chỉ là trộm cướp, muông sói hay kẻ chăn thuê, nên họ đối xử với người mù được chữa lành một cách tàn tệ. Song người Pha-ri-si không hiểu Ngài muốn nói chi vì họ đã đui mù (Giăng 10:6).

I. NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH DẪN DẮT CHIÊN (Giăng 10:1-6).

Người Y-sơ-ra-ên đã không dẫn dắt được chiên, vì họ đui mù thì còn dẫn dắt được ai? Vả lại, họ không bởi cửa mà vào chuồng chiên mà lại trèo tường thì rõ là trộm cướp chứ đâu phải người chăn. Họ không được Chúa kêu gọi làm người chăn chiên của Ngài, song họ đã nhờ mưu mô thủ đoạn mà làm việc ấy, nên bầy chiên không quen biết họ, hễ khi nghe tiếng họ thì chạy trốn.

Chúa Jêsus là Người Chăn hiền lành. Ngài bởi cửa mà vào chuồng kêu tên từng con chiên một mà dẫn ra ngoài. Chiên rất quen tiếng của người chăn, nên khi nghe gọi tên mình thì vui mừng chạy theo người chăn. Khi chiên đã ra hết thì người chăn đi trước, chiên theo sau, vì chúng cũng rất quen biết hình dạng của người. Không có gì vui mừng cho bầy chiên bằng được người chăn dẫn dắt.

Chúa đã mượn bức tranh tuyệt đẹp về người chăn dẫn dắt bầy chiên để mô tả về Ngài dẫn dắt Hội Thánh và Hội Thánh theo Ngài suốt mọi đoạn đường. Chính vì thế mà Đa-vít vui mừng hát lên: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì… Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi” (Thi 23). Nếu chúng ta là chiên của Chúa, chúng ta quen với tiếng gọi của Ngài, chúng ta sẵn sàng đáp lại tiếng gọi đó để Ngài dẫn dắt chúng ta. Cám ơn Chúa, Ngài đã gọi đích danh mỗi chúng ta.

Kẻ trộm cướp không dẫn dắt được chiên bởi họ đâu có đi trước chiên của họ đâu? Vì vậy, họ phải dùng gậy gộc để lùa chiên, dùng sức mạnh để ép chiên đi con đường mình không muốn. Kẻ trộm cướp không chăn nuôi chiên mà chỉ làm thịt chiên. Đáng thương hại cho chiên nào rơi vào tay của trộm cướp, vì đã bị cám dỗ lìa khỏi bầy và người chăn hiền lành.

II. NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH CỨU GIÚP CHIÊN (Giăng 10:7-21).

Chúa Jêsus là Người Chăn chiên mà Ngài cũng là cái cửa duy nhất của chiên. Chuồng chiên chỉ có một cửa để vào ra, tàu Nô-ê và Đền tạm cũng vậy. Có người lầm tưởng đường nào cũng đưa mình đến sự cứu rỗi, cửa nào cũng vào được Thiên Đàng. Nhưng chúng ta nhớ rằng, Chúa Jêsus là cái cửa duy nhất để bầy chiên vào ra và gặp đồng cỏ. Ngài cũng là con đường duy nhất để nhân loại đến cùng Đức Chúa Trời (Giăng 10:9; 14:6).

Bọn trộm cướp đến chỉ để bắt lấy chiên và làm thịt, còn người chăn đến để cứu giúp, tức là cho chiên sự sống và sự sống dư dật. Chúng ta hãy cẩn thận nhận diện những tên trộm cướp và người chăn. Bầy chiên yêu người chăn song sợ trộm cướp; theo sát người chăn song tránh xa trộm cướp.

Kẻ chăn thuê hay kẻ chăn giả dối không thật lòng chăn chiên, không yêu chiên mà chỉ yêu mình; không nuôi chiên mà chỉ nuôi mình, nên khi thấy muông sói đến thì chạy trốn bỏ mặc cho chiên bị vồ xé và tan lạc. Kẻ trộm cướp và muông sói cũng như người chăn thuê là những mối nguy hại cho bầy chiên. Kẻ trộm cướp và muông sói tấn công từ bên ngoài; kẻ chăn thuê bỏ bầy chiên mở đường cho trộm cướp và muông sói vào bên trong mà phá hủy bầy chiên. Một người chăn hèn nhát chẳng khác gì một tên trộm cướp. Đức Giê-hô-va phán: “Những kẻ canh giữ Y-sơ-ra-ên đều đui mù, không biết chi hết. Chúng nó thảy đều như chó câm không biết sủa… lại là chó mê ăn không biết no.Ấy là những kẻ chăn chẳng khôn sáng: Mỗi người theo đường riêng mình, mỗi người tìm tư lợi, người nào cũng vậy. Khốn thay cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan lạc bầy chiên của đồng cỏ ta” (Ê-sai 56:10-11; Giê 23:1). Phao-lô cảnh cáo: “Tôi biết rằng sau khi tôi đi sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu, lại giữa anh em cũng sẽ có những người lấy lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ dành môn đồ theo họ” (Công vụ 20:29-30).

Người chăn hiền lành thì sống chết với bầy chiên, sẵn sàng phó mình để cứu giúp bầy chiên. Chúa phán: “Ta vì chiên Ta phó sự sống mình”. Chúa là Đấng Hằng sống vì chúng ta mà phó mình chịu chết, đền tội và sống lại. Ngài đã chiến thắng tội lỗi, ma quỉ, thế gian, sự chết để giải cứu chúng ta khỏi mọi thù nghịch và đem chúng ta về với Ngài. Có ai quyền năng bằng Chúa? Có ai yêu thương chúng ta như Ngài?

Không những Chúa lo cho bầy chiên hiện có mà còn lo cho những chiên khác đang tan lạc trên mọi núi đồi và trên khắp cả mặt đất. Ngài cũng phải đem họ về nữa để rồi sẽ chỉ có một bầy và chỉ một người chăn. Cho đến ngày nay, Chúa vẫn còn tiếp tục làm việc đó qua mỗi chúng ta là con cái Ngài, nhất là người có trách nhiệm đặc biệt trong việc chăn bầy. Mối quan tâm của chúng ta là đem nhiều chiên lạc về chuồng.

III. NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH GÌN GIỮ CHIÊN (Giăng 10:22-30).

Hễ chiên của Chúa thì nghe tiếng Ngài, quen biết Ngài và theo Ngài. Chúa ban cho chiên sự sống của Ngài là sự sống đời đời và giữ gìn họ một cách trọn vẹn, đến nỗi sẽ chẳng có con nào chết mất và cũng chẳng có một con nào bị cướp khỏi tay Ngài. Chiên đó không những của Ngài mà cũng là của Cha Ngài. Cha Ngài là Đấng lớn hơn hết, nên chẳng hề có ai cướp nỗi chiên đó khỏi tay Cha. Ngài với Cha là một (Giăng 10:28-30).

Đặc tính của kẻ thuộc về Ngài là nghe tiếng Chúa, quen biết Chúa và sẵn sàng theo Ngài. Còn Chúa long trọng tuyên bố rằng Ngài ban cho họ sự cứu rỗi, giữ gìn họ suốt cuộc đời, thoả mãn mọi nhu cầu, đề phòng mọi bất trắc, chống trả mọi thù nghịch vô luận đến từ đâu để đảm bảo an ninh cho họ. Đức Cha và Đức Con là Chúa tể mọi người và mọi sự; hiệp nhất trong chương trình đó nên kẻ thuộc về Chúa không còn gì để lo sợ nữa.

Đành rằng sẽ có sự bắt bớ của ma quỉ, song nó chỉ như sư tử rống rình mò chung quanh, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Chúa đã đặt một giới hạn cho ma quỉ, một hàng rào bảo vệ chúng ta mà ma quỉ không bao giờ vượt qua được. Chúa có thể cứu chúng ta khỏi lò lửa hực và có thể cứu chúng ta trong lò lửa hực, giữ gìn đức tin chúng ta trong mọi cơn thử thách. Trải qua các đời, kẻ thuộc về Chúa từng chịu nhạo cười, roi vọt, xiềng xích, lao tù. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ, bị giết bằng gươm, lưu lạc rày đây mai đó, mặc da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi điều, bị hà hiếp ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất. Nhưng họ không hề chối Chúa, không mất sự cứu rỗi, không mất sự sống đời đời. Đó là những kẻ đang sống trước mặt Chúa, những kẻ không hề chết, những anh hùng đức tin.

Chúa Jêsus là người chăn hiền lành. Các sứ đồ là người chăn, các trưởng lão là người chăn, các Mục sư, Truyền đạo là người chăn, các chấp sự là người chăn. Các hướng dẫn viên thanh thiếu nhi cũng là người chăn. Song chúng ta chăn với tư cách nào? Chăn như chăn chiên mình hay chăn thuê? Người chăn hiền lành hay hung ác? Người chăn can đảm hay hèn nhát? (Xin kết thúc bằng cách đọc lớn Ê-xê-chi-ên 34:1-10).

CÂU HỎI

1. Trong Cựu ước ai là người chăn hiền lành?

2. Trong Cựu ước ai là người chăn hung ác?

3. Chúa Jêsus muốn nói hai hạng đó là ai trong thời của Ngài?

4. Người chăn dắt chiên, còn kẻ trộm làm gì?

5. Người chăn nuôi chiên, còn kẻ chăn thuê làm gì?

6. Người chăn cứu giúp chiên, còn kẻ chăn thuê làm gì?

7. Người chăn giữ gìn chiên, còn kẻ chăn thuê làm gì?

8. Đặc tính của chiên là gì?

9. Chúa tuyên bố gì với kẻ theo Ngài ?

10. Sách Ê-xê-chi-ên 34:1-10 dạy ta điều gì?

Bài 14. CHÚA JÊSUS LÀ BẠN THÂN

KINH THÁNH: Giăng 11:1-45

CÂU GỐC: “Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta” (Giăng 15:14).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng ai tin Chúa Jêsus và làm theo điều Ngài dạy sẽ trở nên bạn hữu của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

LA-XA-RƠ CHẾT

Giăng 11:1-16.

TH.

ĐẤNG CHRIST LÀ SỰ SỐNG

Giăng 11:17-31.

TB.

LA-XA-RƠ ĐƯỢC KHIẾN SỐNG LẠI

Giăng 11:32-45.

TT.

ÂM MƯU GIẾT CHÚA JÊSUS

Giăng 11:46-57.

TN.

CHÚA JÊSUS GỌI CON TRAI BÀ GÓA SỐNG LẠI

Lu-ca 7:11-18.

TS.

ĐẤNG CỨU CHUỘC TÔI VẪN SỐNG

Lu-ca 24:1-10.

TB.

TOÀN THỂ TÍN HỮU SẼ SỐNG

Khải huyền 20:1-6.

Một trong những điều êm dịu và quý nhất trên đời là có một mái nhà, một gia đình mà mình có thể đến bất kỳ lúc nào để nghỉ ngơi trong sự bình an và thương yêu. Đối với Chúa Jêsus, đó là gia đình của La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri.

Bài học hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Jêsus có cả thần tánh lẫn nhân tánh. Ngài là Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, là Đức Chúa Trời thật mà cũng là người thật. Hơn nữa, Ngài là bạn thân của những kẻ tin cậy và kính mến Ngài.

I. TÌNH BẠN CỦA CHÚA JÊSUS (Giăng 11:1-6).

Tình bạn giữa Chúa Jêsus và gia đình La-xa-rơ thật là thân thiết, nên khi La-xa-rơ đau, Ma-ri và Ma-thê sai người đến với Chúa, chỉ thưa rằng: “Này, kẻ Chúa yêu mắc bệnh”. Họ tưởng bao nhiêu lời đó là đủ rồi, vì Chúa biết mọi sự, Ngài yêu thương họ chân tình, chắc Ngài sẽ không bỏ qua, cũng không chậm trễ đến với họ trong cơn khó khăn như vậy.

Chúa liền tuyên bố để trả lời cho người đem tin: “Bệnh này không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời…” Kết quả cơn bệnh của La-xa-rơ không phải là chết mà là để sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được tỏ ra, có nghĩa là La-xa-rơ sẽ được sống lại.

Vì tình thương đối với gia đình này, cũng như vì vinh hiển của Đức Chúa Trời, nên khi nghe La-xa-rơ đau, Chúa nán lại nơi Ngài đang ở 2 ngày nữa. Mặc dầu Chúa có trọn quyền hành động, song mọi hành động của Ngài đều có mục đích. Chúa đã khiến con gái Giairu mới chết được sống lại (Ma-thi-ơ 9:18-26). Chúa đã khiến con trai của bà goá Nain, không những chết mà thi hài của cậu ta đang được khiêng đi chôn, cũng được sống lại (Lu 7:11-17). Bây giờ Chúa muốn làm một việc lớn hơn nữa là khiến La-xa-rơ đã nằm 4 ngày trong mồ được sống lại. Đó là lý do Ngài ở nán lại 2 ngày. Căn cứ vào câu chuyện này, nhà Cải chánh Giáo hội là Martin Luther đã nói: “Khi chúng ta xin bạc Chúa cho vàng”, tức là khi Ma-ri, Ma-thê xin Chúa chữa lành người đau thì Ngài kêu kẻ chết đã 4 ngày sống lại. Tình bạn của Chúa vừa đậm đà, vừa cao thượng.

II. CHÚA JÊSUS LÀ BẠN THÂN CỦA MÔN ĐỒ (Giăng 11:7-16).

Chúa đối với môn đồ như bạn thân nên Ngài không giấu chi với họ (Giăng 15:15). Khi Ngài định trở lại Giu-đê thì các môn đồ ngạc nhiên, nhắc lại rằng người Giu-đa tại đó đã muốn ném đá Ngài (Giăng 10:31). Chúa bảo: “Ban ngày há chẳng có 12 giờ sao? Ai đi ban ngày thì không vấp… nhưng ai đi ban đêm thì vấp”. Bước đi trong ý Chúa như đi giữa ban ngày, không có gì phải sợ. Khi Chúa giao cho chúng ta một công tác, Ngài cũng cho chúng ta thì giờ để thi hành công tác ấy. Không ai có thể rút ngắn một giờ, một phút nào cho đến khi chúng ta thi hành xong công tác. Ngược lại bước đi theo ý riêng như bước đi trong đêm tối, bị vấp ngã ngay, như “Giu-đa lãnh lấy miếng bạc rồi, liền đi ra, khi ấy đã tối” (Giăng 13:30). Không nên phí một giờ nào Chúa cho mình, cũng không nên thêm một giờ nào vào đời mình bằng cách chối Chúa để cầu an. Nếu bởi vô luận cách nào để thêm cho mình một giờ thì đó là giờ thứ 13, tức là giờ tối tăm, giờ vấp ngã mà thôi.

Chúa tỏ thật cho môn đồ biết rằng La-xa-rơ đã chết, vì họ lầm hiểu khi Ngài nói La-xa-rơ đang ngủ. Kinh Thánh thường dùng giấc ngủ để chỉ về sự chết xác thể (Mác 5:39; Công 7:60; ICôr 15:6; ITê 4:13). Sự chết chỉ là một giai đoạn trong đời sống bất diệt và trường cửu của tín đồ. Sau đó Chúa liền đến Bêthani.

III. CHÚA JÊSUS LÀ BẠN THÂN CỦA MA-THÊ, MA-RI (Giăng 11:17-37).

Khi Chúa đến, La-xa-rơ đã chết 4 ngày rồi. Ma-thê chạy ra đón Chúa, thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh tôi không chết”. Có lẽ đó là lời trách nhẹ vì Chúa đến trễ. Cũng có lẽ Ma-thê biết khi người đem tin đến với Chúa thì La-xa-rơ đã chết, nên Ma-thê rất tiếc là ngay lúc đó không có Ngài. Câu nói đó mở đường cho câu sau: “Mà bây giờ tôi cũng biết rằng mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho”. Chúa quả quyết: “Anh ngươi sẽ sống”. Ma-thê thưa: “Tôi vẫn biết rằng, đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống”. Chúa tiếp: “Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết”.

Chúa mượn sự chết và sự sống lại thuộc thể để dạy về sự chết và sự sống lại thuộc linh. Chúa là sự sống đời đời mà La-xa-rơ đã tin Ngài thì thần linh vẫn sống mặc dù xác thịt đã chết. Chúa dự báo rằng trong ngày Chúa tái lâm, kẻ chết xác thể như La-xa-rơ sẽ sống lại, kẻ chưa chết như Ma-thê, Ma-ri sẽ biến hóa và không hề chết. Chúa đã dùng cơn hoạn nạn mà dạy Ma-thê một bài học vô giá và Ma-thê đã bày tỏ đức tin của mình một cách mạnh mẽ (Giăng 11:27).

Ma-thê liền chạy về báo tin cho em, Ma-ri chạy ra gặp Chúa, cũng nói như chị mình: “Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh tôi không chết”. Chúa Jêsus thấy Ma-ri và nhiều người khóc thì đau lòng, cảm động nói: “Các ngươi đã chôn người ở đâu?” Thưa rằng: “Lạy Chúa, hãy đến xem”. Chúa Jêsus khóc. Ngài cảm thông nỗi đau đớn của các bạn Ngài trước mặt kẻ thù là sự chết. Ngài vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc. “Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ…” (Ê-sai 63:9). Chúng ta đau đớn bao nhiêu, Chúa cũng đau đớn bấy nhiêu. Chúa với chúng ta là một như đầu với chi thể, như gốc nho với nhánh nho.

IV. CHÚA JÊSUS LÀ BẠN THÂN CỦA LA-XA-RƠ (Giăng 11:38-44).

Khi đến trước cửa mộ, Chúa bảo: “Hãy lăn hòn đá đi.” Ma-thê thưa: “Lạy Chúa đã có mùi vì người nằm đó 4 ngày rồi”. Ma-thê sợ sự hôi thối làm cho mọi người khó chịu. Chúa nhắc lại: “Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng, nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?” Đó là điều Chúa nói trước với Ma-thê khi Ngài mới đến (Giăng 11:22-27). Người ta thường đòi thấy để tin, song Chúa bảo tin để thấy. Ma-thê phải tin để thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Vậy họ lăn hòn đá đi. Chúa ngước mắt lên trời mà cầu nguyện, tỏ ra Ngài tùy thuộc Cha Ngài, Ngài là Con đời đời của Cha. Cầu nguyện xong, Ngài kêu: “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra”. Người chết đi ra. Ngài đã khóc chỉ vì yêu thương, song Ngài quyền năng vô cùng nên đã kêu La-xa-rơ sống lại.

Chúa đã mặc áo cho kẻ lõa lồ (Sáng 3:21), an ủi kẻ buồn rầu (Sáng 25:11); chôn kẻ chết (Phục 35:6); cho kẻ đói ăn (Xuất 16:13-15); cho kẻ khát uống (Xuất 17:5-7). Chúa khóc bên mồ kẻ chết (Giăng 11:35); kêu kẻ chết sống lại (Giăng 11:43). Đó là Chúa chúng ta, bạn thân của chúng ta.

Kết quả là có nhiều người Giu-đa đến cùng Ma-ri và thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm, bèn tin Ngài (Giăng 11:45). La-xa-rơ chết để Chúa được vinh hiển. La-xa-rơ chết để nhiều người tin Ngài. (Nên chấm dứt bài học bằng bài Thánh ca số 81).

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus tìm được gì nơi gia đình La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri?

2. Những người trong gia đình này được gọi là những người như thế nào?

3. Tại sao khi nghe tin La-xa-rơ đau mà Chúa còn ở nán lại 2 ngày?

4. Chúa tỏ cho môn đồ biết điều gì?

5. Tại sao Ngài dám trở lại Giu-đê? (Giải thích theo câu 9 và 10).

6. La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri đại diện cho ai trong ngày Chúa tái lâm?

7. Hãy nêu ra thần tánh và nhân tánh của Chúa trong câu chuyện này?

8. Hãy kể ra cách Chúa đối xử với bạn của Ngài từ thời A-đam đến nay.

9. Kết quả sự đau và chết của La-xa-rơ là gì?

Bài 15. CHÚA JÊSUS LÀ VỊ KHÁCH QUÍ

KINH THÁNH: Giăng 12:1-11.

CÂU GỐC: “Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta” (Khải huyền 3:20).

MỤC ĐÍCH: Dạy về tầm quan trọng của sự làm chứng bằng hành vi và thái độ sống hàng ngày.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚA JÊSUS LÀ NGƯỜI KHÁCH TRONG NGÀY LỄ VƯỢT QUA

Giăng 12:1-11.

TH.

CHÚA JÊSUS LÀ NGƯỜI KHÁCH DỰ TIỆC CƯỚI

Giăng 2:1-12.

TB.

MA-THI-Ơ ĐÃI TIỆC CÁC BẠN CŨ

Lu-ca 5:27-32.

TT.

CHÚA JÊSUS ĐẾN THĂM MA-THÊ VÀ MA-RI

Lu-ca 10:38-42.

TN.

MỘT THÍ DỤ VỀ YẾN TIỆC

Ma-thi-ơ 22:1-14.

TS.

CHÚA JÊSUS TẠI NHÀ XACHÊ

Lu-ca 19:1-10.

TB.

CHÚA JÊSUS TẠI NHÀ MỘT NGƯỜI PHA-RI-SI

Lu-ca 7:36-50.

Việc xảy ra trong đoạn 12 là kết quả của đoạn 11. Chúa Jêsus kêu La-xa-rơ đã chết 4 ngày được sống lại, nên có bữa tiệc này do La-xa-rơ, Ma-thê, Ma-ri cùng một số người có cảm tình với họ đứng ra tổ chức để tỏ lòng biết ơn Ngài và giới thiệu Ngài với bà con thân hữu. Buồn thảm đã qua, nước mắt đã hết, bây giờ là ngày vui mừng cảm tạ. Ngoài một số người được mời, còn có một số rất đông đến xem Chúa Jêsus và La-xa-rơ là người Ngài đã khiến sống lại. Trong bữa tiệc này chúng ta thấy:

I. MA-THÊ PHỤC VỤ KHÁCH QUÍ (Giăng 12:1-2).

Ma-thê là người hầu hạ. Bà đã mở cửa đón rước Chúa vào nhà và hầu hạ Ngài (Lu 10:38-42). Bà đã ra tận ngõ đón Chúa khi La-xa-rơ chết (Giăng 11:20). Bà được Chúa hứa cho La-xa-rơ sống lại (Giăng 11:40). Bây giờ bà hầu hạ Ngài trước mặt nhiều người để tỏ lòng biết ơn Ngài. Thiết tưởng, đối với Ma-thê không có gì sung sướng bằng được hầu hạ Chúa của mình để nói cho mọi người biết bà kính trọng, yêu thương Ngài là dường bao.

Thật lòng yêu Chúa, chúng ta muốn được hầu hạ Ngài, đồng thời giới thiệu Ngài cho bà con, thân hữu bằng cách tổ chức một bữa ăn, một buổi trà đàm để làm chứng cho mọi người về những việc lớn Chúa đã làm cho mình, hoặc đưa họ đến nhà thờ nghe giảng… Xin Chúa mở mắt để chúng ta thấy cơ hội và phương tiện có thể giới thiệu Ngài cho mọi người (Thi 66:16; Lu 8:39).

II. LA-XA-RƠ PHỤC VỤ KHÁCH QUÍ (Giăng 12:2, 9-11).

La-xa-rơ không nói gì cũng không làm gì, ông chỉ cần có mặt trong bữa tiệc bên cạnh Chúa Jêsus. Vì chính ông là nhân chứng, là bằng cớ rõ ràng và mạnh mẽ nhất về quyền năng của Chúa Jêsus, quyền năng đắc thắng sự chết. Đó chính là sự phục vụ của La-xa-rơ. Vì thế, khi dân chúng thấy La-xa-rơ thì tin Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế mặc dù bọn gian ác tìm phương ngăn trở bằng sự đe dọa (Giăng 9:22).

Chúa Jêsus không những chỉ làm cho La-xa-rơ sống lại sau 4 ngày chôn trong phần mộ, Ngài còn khiến kẻ chết trong tội lỗi được sống lại với Ngài và đồng ngồi với Ngài trong các nơi trên trời (Ê-phê-sô 2:4-6). Chúng ta đã được cứu là từ cõi chết qua cõi sống, từ tối tăm qua sáng láng, từ nô lệ của ma quỉ đến con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta lấy chính mình mà chứng minh quyền năng của Chúa để nhờ đó có nhiều người tin nhận Ngài.

Tóm lại, tình thương phải có hành động, hành động của tình thương phải có cơ hội. Cơ hội qua đi, tình thương không làm gì được.

Có một ông chồng khó tính, luôn gắt gỏng với vợ. Ngày kia vợ ông phát bệnh và qua đời. Bấy giờ ông nhìn lại sách vở, quần áo với bao nhiêu việc mà vợ ông đã làm, ông cảm thấy thương vợ vô cùng. Có những đêm ông trằn trọc thầm nghĩ: “Ôi, ước gì tôi có thể gặp bà ấy một lần nữa, dầu chỉ trong vài phút thôi để tôi nói cho bà biết tôi yêu bà ấy là dường nào”. Song ông không bao giờ gặp lại bà cho đến khi ông chết, vì cơ hội đã qua. Sự thực này thức tỉnh chúng ta bày tỏ tình thương với Chúa và với nhau trong khi còn dịp tiện.

III. MA-RI PHỤC VỤ KHÁCH QUÍ (Giăng 12:3).

Ma-ri đã từng ngồi dưới chân Chúa để nghe dạy (Lu 10:39). Bà đã sấp mình dưới chân Ngài mà khóc khi La-xa-rơ chết (Giăng 11:32-33). Bây giờ bà xức dầu thơm cam tòng cho Ngài. Vì cam tòng hương rất quí giá, nên có nhiều thứ cam tòng hương giả, mà dầu bà dùng xức cho Chúa là thật. Không những phẩm chất tốt, lượng lại rất nhiều. Nếu đem dầu ấy ra bán sẽ được 300 đơ-ni-ê (Ma-thi-ơ 20:1-2). Thế thì cân cam tòng hương đó là món gia bảo của Ma-ri mà thiết tưởng ngoài ra nó bà không có gì quí hơn.

Ma-ri đã lấy cả cân cam tòng hương mà xức hết cho Chúa Jêsus. Giăng nói bà xức chân của Chúa, còn Ma-thi-ơ và Mác nói bà xức đầu Ngài (Ma-thi-ơ 26:7; Mác 14:3). Chắc sau khi đã xức dầu cho đầu Chúa, bà cũng xức cho chân Ngài nữa. Vì phong tục Do thái thường xức dầu cho khách để tỏ lòng kính mến (Thi 23:5).

Sau khi xức dầu cho Chúa, Ma-ri còn cúi xuống lấy tóc mình lau chân Ngài. Đối với phụ nữ Do thái, lọn tóc trên đầu họ là quí lắm, luôn luôn được bao lại kín đáo cẩn thận. Khi phải xổ tóc ra trước mặt nhiều người là một sự sỉ nhục. Song vì kính mến Chúa thiết tha, tôn thờ Ngài hết lòng, Ma-ri không còn thấy sự hy sinh nào là lớn quá, sự hầu việc nào là hèn quá. Bà chỉ sợ dâng ít quá chứ không sợ dâng nhiều quá. Dâng bao nhiêu cũng thấy là vẫn còn quá ít, chỉ tiếc là không còn chi nữa để dâng. Bà không nghĩ về mình mà chỉ nghĩ về Chúa, muốn làm cách nào để tỏ lòng kính mến biết ơn và tôn vinh Ngài. Bà muốn nói rằng, “tóc là quí nhất trên đầu tôi chỉ đáng lau chân cho Chúa thôi. Tôi là ai, tôi có chi là thuộc về Chúa tất cả”.

Cả nhà thơm nức mùi dầu thơm của Ma-ri. Cả Hội Thánh của Chúa trải qua các đời còn được thơm lây mùi dầu đó. Hành động của tình thương sáng choang mà thời gian không thể làm cho lu mờ, ngào ngạt mà thời gian không thể làm cho mờ nhạt.

Ma-ri và Giu-đa tương phản rõ rệt; một người hết lòng yêu Chúa còn một người hết lòng yêu mình, bao giờ cũng nghĩ đến mình thôi (Giăng 12.4-8). Lòng ích kỷ sinh ra tham lam và tham lam sinh ra âm mưu phản bội Chúa để được tiền thay vì dâng tiền cho Chúa. Ma-ri dâng cho Chúa 300 đồng bạc, còn Giu-đa bán Chúa để được 30 miếng bạc.

Song Giu-đa cố giấu tính ích kỷ bỉ ổi của mình sau tấm bình phong đẹp đẽ: LO CHO KẺ NGHÈO. Miệng lúc nào cũng oang oang lo cho kẻ nghèo, mà tay lúc nào cũng bo bo giữ lấy túi tiền và làm cho đầy ắp. Ông đã nổi giận, lên tiếng công kích Ma-ri là phí của. Đối với Ma-ri thì dâng cho Chúa bao nhiêu cũng không tiếc, không thể nào gọi là phí của được. Còn đối với Giu-đa dâng cho Chúa bao nhiêu cũng phí, nhưng đặt vào tay ông thì bao nhiêu cũng tốt.

Ma-ri không có nửa lời biện minh cho hành động của mình, bà yên lặng giao phó mọi sự cho Chúa. Ngài liền lên tiếng giải thích và bênh vực hành động của Ma-ri: “Hãy để mặc nàng, nàng đã để dành dầu thơm này cho ngày chôn xác ta.” Ma-ri biết rằng chỉ còn một tuần nữa Chúa sẽ chịu chết trên thập tự giá, nên đây là cơ hội cuối cùng để bà dâng hết cho Ngài. Một cân dầu cam tòng hương thật của Ma-ri dâng cho Chúa trong lúc này tốt hơn một trăm cân một dược với lư hội của Ni-cô-đem khi Chúa đã chết. Chúng ta có nhận biết cơ hội hầu việc Chúa không? Chúng ta có thấy cơ hội cuối cùng để tôn vinh Ngài không?

Chúa phán thêm: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian hễ nơi nào Tin Lành này được giảng ra thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người” (Ma-thi-ơ 26:13). Nếu Ma-ri đã nổi gân cổ tự bênh vực mình thì Chúa chắc đã không lên tiếng bênh vực bà. Song vì bà im lặng nên Chúa đã đứng ra bênh vực bà, làm cho ý nghĩa việc bà làm nổi bật và có giá trị vĩnh cửu mà bà không thể tưởng tượng được.

Lòng nhiệt thành kính mến Chúa bao giờ cũng bị kẻ ích kỷ chống đối mà họ cho là lãng phí, dại dột. Song nếu chúng bình tĩnh, im lặng thì Chúa sẽ lên tiếng. Không ai bênh vực chúng ta tốt như Ngài. Chúng ta hãy để Ngài làm việc ấy.

CÂU HỎI

1. Lý do của bữa tiệc trong chuyện này là gì?

2. Trong bữa tiệc Ma-thê đã làm gì?

3. La-xa-rơ đã làm gì trong bữa tiệc đó?

4. Trong bữa tiệc Ma-ri đã làm gì?

5. Của dâng của Ma-ri có giá trị thế nào?

6. Cách dâng của Ma-ri có giá trị thế nào?

7. Tại sao Giu-đa công kích Ma-ri?

8. Tại sao Chúa Jêsus bênh vực Ma-ri?

9. Sự bênh vực của Chúa có giá trị thế nào?

Bài 16. CHÚA JÊSUS LÀ VUA

KINH THÁNH: Giăng 12:12-50.

CÂU GỐC: “Hô-sa-na! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là vua của Y-sơ-ra-ên” (Giăng 12:13).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus là Vua của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

VUA ĐƯỢC XỨC DẦU

Giăng 12:1-11.

TH.

VUA ĐẾN

Xa-cha-ri 9:9; Giăng 12:12-15.

TB.

VUA ĐÁP LỜI

Giăng 12:16-19.

TT.

VUA ĐƯỢC TÌM KIẾM

Giăng 12:20-26.

TN.

CÔNG VIỆC CỦA VUA

Giăng 12:27-36.

TS.

VUA BỊ CHỐI BỎ

Giăng 12:37-43.

TB.

VUA CHỊU XÉT XỬ

Giăng 12:44-50.

Sau khi gọi La-xa-rơ sống lại, thì trong bữa tiệc tại Bêthani, Chúa Jêsus được Ma-ri xức dầu và tôn thờ như Cứu Chúa và Vua. Trong dịp tiện cuối cùng này, Chúa Jêsus muốn công khai chứng tỏ cho mọi người biết Ngài là Vua của Y-sơ-ra-ên, Cứu Chúa của nhân loại, nên Ngài đã đến Giê-ru-sa-lem trước Lễ Vươt Qua.

I. VUA ĐƯỢC TUNG HÔ (Giăng 12:12-19).

Chúa Jêsus cỡi lừa con vào thành Giê-ru-sa-lem làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Xa-cha-ri 9:9: “Hỡi con gái Si-ôn, hãy trổi tiếng reo vui. Này Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa”. Dân Do thái biết rõ lời tiên tri đó chỉ về Đấng Mê-si của họ sẽ đến thế gian.

Đoàn dân đông đến dự lễ đã từng chứng kiến việc Chúa Jêsus kêu La-xa-rơ sống lại, nên chẳng ai nói với ai, họ tự động lấy lá kè giơ cao lên, biểu hiện sự vui vẻ, đẹp đẽ, đắc thắng rồi tung hô: “Hô-sa-na! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên!” Hô-sa-na có nghĩa là “Xin Chúa cứu chúng tôi”. Bởi ơn thần hựu, họ đã vô tình làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Thi Thiên 118:26 mà người Do thái biết rằng lời ấy chỉ về Đấng Mê-si, Vua của họ sẽ đến thế gian.

Như vậy, Chúa Jêsus đã chứng minh một cách đầy đủ Ngài là Đấng Mê-si, Vua của Y-sơ-ra-ên bằng những hành động công khai đúng như Kinh Thánh đã dự ngôn. Nói một cách khác, Ngài đã trình bày một cách rõ ràng ủy nhiệm thư của Đức Chúa Trời giao phó cho Ngài chức vụ đó. Song rất tiếc, nhóm lãnh đạo dân Do thái vẫn cứ ngoan cố, bướng bĩnh nói với nhau rằng: “Các ngươi thấy mình chẳng làm nổi chi hết. Kìa, cả thiên hạ đều chạy theo người”. Đáng lẽ họ phải vui mừng thấy cả thiên hạ đều chạy theo Chúa, họ lại cay đắng, bực tức khi thấy như vậy. Lòng ganh tị dẫn đến lòng vô tín, lòng vô tín dẫn đến lòng đui mù, điếc lác thuộc linh nên không còn nhận biết giá trị của việc thuộc linh. Vì vậy, họ đã định giết cả La-xa-rơ để trừ hậu hoạn (Giăng 12:9-10). Lòng ganh tị thật là dễ sợ. Nó dẫn đến tội giết người, giết luôn cả Đấng Cứu Thế mà không ngờ.

II. VUA CHỊU CHẾT (Giăng 12:20-36).

1. VUA TRẢ LỜI CHO NGƯỜI HY LẠP (Giăng 12:20-28).

Thấy đoàn dân tung hô Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, Vua của Y-sơ-ra-ên, người Hy lạp có mặt tại đó lúc bấy giờ xin ra mắt Chúa. Kinh Thánh không ghi lại câu hỏi của họ, song nhờ câu trả lời của Chúa chúng ta đoán được họ đã hỏi gì. Chúa đáp: “Giờ đã đến để Con người sẽ được vinh hiển”. Người Hy lạp là dân ngoại bang, nhưng cũng đồng ý với dân Y-sơ-ra-ên mà tung hô Ngài là Đấng Cứu Thế, Vua của muôn dân. Chúa chấp nhận lời ấy mà nói rằng đã đến lúc Ngài được tung hô như vậy.

Chúa giải thích cách nào Ngài được tôn vinh là Đấng Cứu Thế, Vua của muôn dân. Ngài phán: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia chẳng chết sau khi gieo xuống đất thì cứ ở một mình, nhưng nếu chết đi thì kết quả được nhiều”. Ngài mượn công lệ thiên nhiên về hột giống lúa mì để chỉ về Ngài phải chịu chết và được kết quả. Đồng thời, Ngài khuyên mọi kẻ theo Ngài, hầu việc Ngài phải chấp nhận nguyên tắc bất di bất dịch đó để được tôn trọng.

Khi nghĩ đến sự chết trên thập tự giá để đển tội cho cả thế gian, linh hồn Chúa Jêsus bị rung động vì sự ô nhục, gớm ghiếc cực điểm của nó. Một cuộc chiến đấu kịch liệt xảy ra. Ngài cầu xin Cha cứu Ngài khỏi giờ khủng khiếp đó. Song lập tức, Ngài thưa rằng cũng chỉ vì cớ đền tội cho cả thế gian mà Ngài phải chấp nhận giờ khủng khiếp đó. Ngài kêu lên: “Cha ôi, xin làm sáng danh Cha” tức là ý Cha được nên. Có tiếng từ trời đáp lại ngay: “Ta đã làm sáng danh rồi, Ta còn làm sáng danh nữa”.

Thật là một cơn chiến đấu kịch liệt và chớp nhoáng và Chúa Jêsus đã toàn thắng. Vua vinh hiển đã phải chịu chết một cách sỉ nhục; Đấng chí thánh đã trở nên tội lỗi vì chúng ta. Ôi, xin đừng xem thường sự chết của Chúa. Ngài đã phải trả một giá quá đắt, phải vượt muôn vàn khó khăn để cứu chúng ta.

2. VUA PHÁN VỚI ĐOÀN DÂN (Giăng 12:29-36).

“Hiện bây giờ có sự phán xét thế gian này và hiện nay vua chúa của cả thế gian này phải bị xua đuổi. Còn Ta, khi Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta” (Giăng 12:31-32). Sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá không phải thất bại mà là đắc thắng hoàn toàn. Bởi sự chết đó Ngài đã trục xuất Sa-tan là vua của thế gian này khỏi chỗ đứng của nó. Chỗ đứng của Sa-tan là căn cứ vào sự công bình của Đức Chúa Trời để đòi Ngài hình phạt tội nhân. Vì thế, khi Chúa Jêsus chịu chết đền tội cho cả thế gian thì đã làm thỏa mãn đòi hỏi của sự công bình. Ngay trong giờ Chúa tuyên bố “Mọi sự đã được trọn”, thì Sa-tan bị trục xuất khỏi chỗ đứng của nó.

Đối với Sa-tan là như vậy, còn đối với mọi người thì Chúa có thẩm quyền, có ân huệ để kéo họ đến cùng Ngài, trong đó có cả người Do thái lẫn người Hy lạp và muôn dân. Vì Ngài là Vua của các vua, Chúa của các chúa (Công 2:36 ; 5:31; Phi-líp 2:11).

Đối với đời, muốn làm vua người ta phải đánh giặc cho đến khi đắc thắng khải hoàn. Đối với Chúa, muốn được tôn làm vua Ngài phải hy sinh vì mọi người trên thập tự giá. Người ta đắc thắng bằng sức mạnh của quân đội, còn Chúa Jêsus đắc thắng bằng sức mạnh của tình yêu, nên thần dân của Chúa tôn Ngài làm Vua của họ, làm Vua muôn đời để họ cứ được yêu Ngài như Ngài yêu họ.

Dân Do thái không hiểu Chúa Jêsus nên hỏi: “Chúng tôi có học trong luật pháp rằng Đấng Christ còn đời đời, vậy sao Thầy nói Con người phải bị treo lên?” Nhân loại không hiểu Ngài, ngay cả chúng ta cũng không hiểu Ngài, nếu chúng ta không chấp nhận con đường Gô-gô-tha. Chúng ta thích được hoan nghênh mà không thích chịu hy sinh. Chúng ta thích sống cho mình nên chỉ sống một mình. Vậy chúng ta thà vì Chúa chịu hao mòn, còn hơn vì mình mà chịu ten rét. Phải ngắm thập tự giá làm mục tiêu và mão triều thiên làm mục đích.

III. VUA BỊ CHỐI BỎ (Giăng 12:37-50).

Dầu Chúa làm bấy nhiêu phép lạ trước mắt dân chúng, họ cũng không tin Ngài. Lòng vô tín khiến cho người Do thái xem mà không thấy, nghe mà không hiểu rồi đâm ra sợ hãi. Kẻ sợ mất miếng ăn, người sợ mất địa vị, kẻ sợ mất mạng sống, người sợ mất danh vọng, nên đa số đã chối bỏ Đấng Mê-si là Vua của mình để chuốc lấy sự xét đoán. Những ai tin nhận Ngài thì bước đi trong sự sáng, hưởng được sự sống đời đời.

Không ai tin nhận Chúa Jêsus mà không phải đương đầu với sự phê bình, hiểu lầm, bắt bớ… Song mọi sự đó sẽ theo thời gian mà qua đi. Còn nếu chối bỏ Chúa Jêsus thì phải đương đầu với những mối lo sợ triền miên mỗi lúc một nặng khi gần đến ngày phán xét của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy chọn con đường tin nhận Chúa Jêsus, tôn Ngài làm Vua, làm Chúa của đời mình vậy.

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus đã làm điều gì để chứng tỏ Ngài là Đấng Mê-si và là Vua của Y-sơ-ra-ên?

2. Điều đó làm ứng nghiệm 2 câu Kinh Thánh nào?

3. Tại sao dân chúng tung hô Chúa Jêsus?

4. Chúa trả lời thế nào cho người Hy lạp xin ra mắt Ngài?

5. Chúa phán thế nào cho đoàn dân về sự chết của Ngài?

6. Tại sao nhân loại không thể hiểu được Chúa Jêsus một cách đúng?

7. Tại sao dân chúng không tin Chúa Jêsus?

8. Hậu quả của lòng không tin là gì?

9. Tin nhận Ngài làm Vua, Chúa của mình, chúng ta được gì?

Bài 17. CHÚA JÊSUS LÀ GƯƠNG TỐT CHO CHÚNG TA

KINH THÁNH: Giăng 13:1-30.

CÂU GỐC: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như Ta đã yêu các ngươi thể nào thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy” (Giăng 13:34).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus là gương mẫu tối cao cho chúng ta về sự phục vụ bằng tình thương và khiêm nhường.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚA DẠY MỘT BÀI HỌC

Giăng 13:1-20.

TH.

SỰ KHIÊM NHƯỜNG VÀ SỰ CAO TRỌNG

Ma-thi-ơ 18:1-7.

TB.

TÍNH CÁCH CAO QUÍ CỦA SỰ PHỤC VỤ

Ma-thi-ơ 20:20-28.

TT.

TỘI KIÊU NGẠO

Ma-thi-ơ 23:1-12.

TN.

CHỖ THẤP NHẤT

Lu-ca 14:1-11.

TS.

PHẦN THƯỞNG CHO NGƯỜI KHIÊM NHƯỜNG

I Phi 3:1-11.

TB.

NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÚNG TA

Giăng 13:21-28.

Trong Kinh Thánh có nhiều người làm gương tốt cho chúng ta, song không có ai bằng Chúa Jêsus. Ngài đã đến thế gian để chịu chết đền tội cho chúng ta hầu cho chúng ta tin Ngài mà được tha thứ; được đổi mới càng ngày càng giống như Đức Chúa Trời trong sự công bình và thánh khiết của lẽ thật. Ngoài ra, cuộc sống của Chúa Jêsus tại trần gian là để làm gương cho chúng ta noi dấu chân Ngài (I Phi-e-rơ 2:21; Phi-líp 2:5; IGiăng 2:6).

Hôm nay chúng ta học về Chúa Jêsus là gương mẫu tối cao cho chúng ta trong tinh thần phục vụ bằng tình thương và khiêm nhường.

I. CHÚA JÊSUS RỬA CHÂN CHO MÔN ĐỒ (Giăng 13:1-20).

Chúa Jêsus biết:

1. Biết thì giờ Ngài phải lìa thế gian để trở về cùng Cha đã đến (Giăng 13:1), đó là thì giờ đau đớn cho đến chết, song cũng là thì giờ rất vinh hiển cho đến đời đời.

2. Biết địa vị cao trọng của Ngài, là Cha đã giao mọi sự trong tay Ngài.

3. Biết Ngài sẽ trở về cùng Cha (Giăng 13:3).

Chúa đã yêu kẻ thuộc về mình thì cứ yêu cho đến cuối cùng, nên khi biết như vậy, Ngài bày tỏ tình yêu đối với họ bằng cách đang bữa ăn tối, Chúa đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn vấn ngang lưng, múc nước đổ vào chậu và rửa chân cho môn đồ. Rửa chân cho khách là công việc của đầy tớ nên các môn đồ không ngờ Chúa làm công việc đó. Vì vậy, một số người sững sờ không biết phản ứng làm sao, đành để Chúa rửa chân cho mình. Song khi Chúa đến với Phi-e-rơ thì ông từ chối:

– “Chúa ôi! Chúa lại rửa chân cho tôi sao?” Ông muốn nói rằng ông phải rửa chân cho Chúa, chứ lẽ nào Chúa lại rửa chân cho ông.

– “Hiện nay ngươi không hiểu việc Ta làm nhưng sau sẽ hiểu”. Chúa muốn nói rằng sau khi rửa chân xong, Ngài sẽ giải thích cho Phi-e-rơ hiểu.

– “Chúa sẽ chẳng rửa chân cho tôi bao giờ”. Ông không dám nói Chúa làm sai, song ông không dám vô lễ để Ngài rửa chân cho ông.

– “Nếu Ta không rửa chân cho ngươi, ngươi chẳng có phần chi với Ta hết”. Chúa muốn nói ông sẽ không có tương quan gì, không có thông công nào với Ngài (ICác 12:16).

– “Lạy Chúa, chẳng những rửa chân mà thôi, lại cũng rửa tay và đầu nữa”. Phi-e-rơ muốn dự phần với Chúa rất nhiều, rất trọn vẹn, bằng toàn thân chứ không phải chỉ một ít.

– “Ai đã tắm rồi thì chỉ cần rửa chân thì được sạch cả”. Chúa giải thích cho Phi-e-rơ 2 phương diện:

a/ Về toàn thể thì chưa được sạch trọn vẹn vì còn Giu-đa trong đó.

b/ Về cá nhân thì các môn đồ còn cãi nhau để giành cho mình phần làm lớn.

Sau khi rửa chân cho môn đồ xong, Chúa mặc áo lại, ngồi vào bàn và giải thích việc Ngài đã làm cho họ. Giăng 13:13-17 là một bài vừa giải nghĩa và ứng dụng sự dạy dỗ vào đời sống của môn đồ. Ngài cho họ một bài học thích đáng về tinh thần phục vụ bằng tình thương và khiêm nhường qua lời nói và việc làm của Ngài. Ngài nói thế nào thì làm thế ấy. Muốn theo Chúa để làm môn đồ của Ngài, chúng ta phải sống như Ngài đã sống. Giăng 13:14: “Các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau”. Giăng 13:15: “Các ngươi cũng làm như Ta đã làm cho các ngươi”. Giăng 13:16: “Sứ giả cũng chẳng lớn hơn Đấng sai mình”. Giăng 13:17: “Ví bằng các ngươi biết những sự này thì có phước, miễn là các ngươi làm theo”.

Đầy tớ không thể ghen ghét khi chủ mình rất thương yêu. Đầy tớ không thể kiêu căng khi chủ mình hết sức khiêm nhường. Ai muốn ngồi bên cạnh Chúa là một việc tốt. Nhưng hãy xem. Kìa, Ngài cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng, múc nước đổ vào chậu và rửa chân cho các môn đồ. Chúng ta càng trở nên cao trọng trong con mắt của Chúa và trở nên gần gũi với Ngài khi chúng ta càng trở nên khiêm nhường như Ngài để phục vụ anh chị em mình (Ma-thi-ơ 18:4). Muốn lên, ta phải đi xuống, con đường đến chỗ cao nhất là sẽ xuống chỗ thấp nhất.

Tóm lại, dấu hiệu của một người hầu việc Chúa là thương yêu và khiêm nhường, hạ mình xuống làm đầy tớ rửa chân cho anh em mình, làm tấm thảm chùi chân của họ chứ không phải là hòn đá vấp chân họ. Đó là điều người hầu việc Chúa phải thực hiện.

Vì vậy mà Giu-đa Íchcariốt dầu ở giữa môn đồ vẫn không phải là người hầu việc Chúa, trái lại là kẻ phản Chúa. Ông ăn bánh của Ngài rồi dở gót nghịch cùng Ngài. Chúa biết rõ hành động của Giu-đa nên:

II. CHÚA JÊSUS YÊU THƯƠNG GIU-ĐA ÍCHCARIỐT (Giăng 13:21-30).

Từ đoạn 13 trở đi, Chúa Jêsus không còn giảng dạy công khai giữa dân chúng, song Ngài ở riêng với các môn đồ để chuyện trò thân mật cùng họ.

Tâm thần Chúa bối rối không phải vì Ngài sợ phải chết do sự phản bội của Giu-đa. Ngài chắc chắn phải chịu chết, song Ngài không muốn thấy Giu-đa phản Ngài để chuốc lấy hậu quả vô cùng khủng khiếp. Suốt thời gian theo Chúa, đã nhiều lần nhiều cách Ngài rất muốn cứu ông, song lòng ông vẫn đóng chặt. Dầu Chúa đã rửa chân cho Giu-đa như cho các môn đồ khác, thì chỉ chân ông được sạch song lòng ông vẫn ô uế nên ông không có phần gì với Ngài cả.

Để cảnh cáo Giu-đa; Chúa Jêsus công khai tuyên bố: “Một người trong các ngươi sẽ phản Ta”. Giu-đa đóng kịch rất tài, các môn đồ cứ tưởng ông thành thật, chân chính, sốt sắng, yêu thương. Cho đến lúc này các môn đồ cũng chưa biết Giu-đa sẽ phản Ngài, nên họ hỏi: “Lạy Chúa, ấy là ai?”

Để trả lời câu hỏi của các môn đồ, Chúa phán: “Ấy là kẻ mà Ta trao cho miếng bánh Ta sẽ nhúng đây”. Đoạn Ngài nhúng một miếng bánh vào nước nho rồi trao cho Giu-đa. Ôi, phải chi Giu-đa lùi lại, không dám nhận miếng bánh đó. Song từ lâu ông đã nhường chỗ cho ma quỉ để nó ám vào ông (Giăng 6:7; Lu 22:3), nên bây giờ ông phải tiến trên con đường của nó, bằng sức mạnh của nó chứ không có thể lui được. Vì vậy, ông đã thản nhiên đưa tay nhận miếng bánh đó, ông muốn công khai tuyên bố rằng: “Ta là kẻ phản Chúa đây”. Ngay khi đó, Sa-tan vào lòng ông và ông hoàn toàn thuộc về nó, trở nên công cụ của nó. Chúa bảo Giu-đa: “Sự ngươi làm, hãy làm mau đi!” Hết rồi, khi Giu-đa đi ra thì trời đã tối và ông biến mất trong bóng tối cho đến đời đời.

Con cái của Đức Chúa Trời và con cái của ma quỉ không có tương quan gì với nhau. Kể từ đó Giu-đa không còn xuất hiện giữa các môn đồ cho đến khi ông dẫn kẻ thù đến bắt Chúa trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Giăng 18:3).

Mỗi hành động của Chúa Jêsus đều là gương tốt cho chúng ta. Hoặc khi Ngài rửa chân cho các môn đồ hay khi Ngài tìm cách cảnh cáo để cứu Giu-đa. Phục vụ Chúa bằng tình thương, khiêm nhường và nhẫn nhục.

CÂU HỎI

1. Chúa đã hành động thế nào để làm gương cho các môn đồ?

2. Rửa chân là công việc của ai?

3. Tại sao Phi-e-rơ không chịu để Chúa rửa chân cho ông?

4. Chúa nói gì để cảnh cáo Phi-e-rơ?

5. Tại sao Phi-e-rơ xin rửa cả đầu và tay?

6. Chúa giải thích và dạy các môn đồ thế nào về việc Ngài rửa chân họ?

7. Muốn hầu việc Chúa, chúng ta phải thế nào?

8. Tai sao các môn đồ không biết Giu-đa sẽ phản Chúa?

9. Bằng cớ nào chứng tỏ Chúa vẫn thương Giu-đa và tìm cách cứu ông?

Bài 18. CHÚA JÊSUS LÀ ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT VÀ SỰ SỐNG

KINH THÁNH: Giăng 14:1-24.

CÂU GỐC: “Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ con đường duy nhất để đến với Đức Chúa Trời là qua Chúa Jêsus.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

NHÀ TRÊN TRỜI

Giăng 14:1-6.

TH.

NHÀ CỦA CHA

Giăng 14:7-15.

TB.

ĐẤNG AN ỦI TRÊN TRỜI

Giăng 14:16-26.

TT.

SỰ BÌNH AN TRÊN TRỜI

Giăng 14:27-31.

TN.

HÃY YÊN LÒNG

Ma-thi-ơ 14:22-33.

TS.

BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỨC THÁNH LINH

Giăng 4:10-14; 7:37-39.

TB.

HÃY Ở TRONG NGÀI

IGiăng 2:24-29; 3:22-24.

Chúa Jêsus sắp chịu chết trên thập tự giá. Ngài nói những lời từ giã các môn đồ. Lời từ giã của một người trong giờ phút cuối cùng còn quan trọng, phương chi lời từ giã của Đấng Cứu Thế còn quan trọng hơn biết bao.

Chúa Jêsus vừa cho biết Giu-đa sẽ phản Ngài, Ngài sẽ đi đến một nơi mà các môn đồ không đến được. Mọi lời đó làm cho họ thấy hy vọng tiêu tan, trời đất tối tăm, quay cuồng và sụp đổ. Vì vậy, Chúa phải an ủi bằng những lời vừa mạnh mẽ, vừa dịu dàng: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin Ta nữa”. Đặt hết niềm tin nơi Chúa là bí quyết để được bình an, vững vàng. Mặc dù chúng ta không thay đổi được hoàn cảnh, song đắc thắng hoàn cảnh. Chúa Jêsus không hứa với chúng ta sự dễ dàng khi theo Ngài, song thử thách chúng ta bằng những khó khăn để chúng ta trở nên cao trọng.

Và khi các môn đồ bối rối vì Chúa không còn ở bên họ, họ không biết đường nào đến với Ngài, thì Chúa Jêsus đã tuyên phán: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống”.

I. CHÚA JÊSUS LÀ ĐƯỜNG ĐI (Giăng 14:2-6).

Dưới đất này không có nơi nào không có bối rối, vì những hoàn cảnh phản bội, chối bỏ, chia ly… và nhiều điều khác nữa. Vì vậy Chúa Jêsus phải ra đi để sắm sẵn cho chúng ta một chỗ ở, chỗ ở đó là trong nhà Cha Ngài. Nhà gợi lên cho chúng ta cảnh sum họp cha con, anh chị em ruột thịt, đem lại cho chúng ta niềm ao ước mau được về đó.

Không những là nhà mà còn là nhà của Đức Chúa Trời thì phải là một nơi bình an, vui vẻ, thánh khiết, hiển vinh; có thể tóm một lời là nơi hoàn toàn hạnh phước. Ở đó không có chiến tranh, chết chóc, khóc lóc, chia ly vì không hề có tội lỗi. Dưới đất này không có một nơi nào như vậy.

Khi mọi sự đã sẵn, Chúa phán: “Ta sẽ trở lại”. Đó là lời cam đoan của Đức Chúa Trời hằng sống, Cứu Chúa của nhân loại. Chúa tiếp: “Đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu các ngươi cũng ở đó”. Tự chúng ta không thể về nhà trên trời nên Ngài sẽ đem chúng ta về, tức là hướng dẫn, tiếp đón chúng ta và ngày của Chúa trở lại không còn lâu nữa (Hê-bơ-rơ 10:37; Khải 3:11; 22:7; 12:20).

Nếu phải đến một nơi xa lạ, chúng ta muốn tìm được một ngôi nhà, hỏi người địa phương và được ông chỉ dẫn: “Đi thế nầy, thế khác…” Chúng ta sẽ bối rối không biết ngôi nhà đó ở đâu. Song có một người khác nói: “Tôi sẽ đi với anh, hướng dẫn anh đến tận nơi.” Chúng ta sẽ sung sướng biết bao. Chúa Jêsus sẽ dẫn chúng ta về thiên đàng. Ngài đã phán với anh trộm cướp ăn năn, tin nhận Ngài: “Quả thật, hôm nay ngươi sẽ ở với Ta trong thiên đàng”.

Thiết tưởng chúng ta không cần biết thiên đàng ở đâu, thiên đàng ra sao; chỉ cần biết Chúa Jêsus ở đâu chúng ta sẽ ở đó với Ngài vì chúng ta hết lòng yêu Ngài. Một em trai 7 tuổi ôm Kinh Thánh đi nhà thờ. Dọc đường một ông trêu chọc em:

– Này, Chúa Jêsus ở đâu?

– Thưa ông, Ngài ở thiên đàng.

– Không, Ngài ở địa ngục mà.

– Thưa ông, nếu Ngài ở địa ngục thì địa ngục cũng biến thành thiên đàng.

Bây giờ chúng ta biết Chúa đi đâu và biết đường đi nữa. Không những Chúa đi đường cùng chúng ta mà chính mình Ngài là con đường duy nhất để nhờ Ngài chúng ta được về cùng Đức Chúa Trời. Bởi sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá đã mở một con đường, bắc một chiếc thang, xây một nhịp cầu từ đất lên trời.

II. CHÚA JÊSUS LÀ LẼ THẬT (Giăng 14:7-14).

Chúa Jêsus không những là giáo sư dạy lẽ thật mà chính Ngài là lẽ thật. Ngài bày tỏ lẽ thật.

1. VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

“Ví bằng các ngươi biết Ta thì cũng biết Cha Ta; và từ nay các ngươi biết Ngài và đã thấy Ngài… Ai đã thấy Ta, tức là thấy Cha”.

Mọi người có thể biết Đức Chúa Trời, thấy Đức Chúa Trời, nghe Đức Chúa Trời, tin Đức Chúa Trời, yêu Đức Chúa Trời, thờ phượng Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus vì Chúa Jêsus là hiện thân của Đức Chúa Trời. Đó là một lẽ thật không hề thay đổi, không thể chối cãi.

2. VỀ SỰ HẦU VIỆC VÀ CẦU NGUYỆN.

“Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin Ta cũng sẽ làm việc Ta làm, lại cũng làm việc lớn hơn nữa vì Ta đi về cùng Cha. Các ngươi nhân danh Ta cầu xin điều chi, Ta sẽ làm cho” (Giăng 14:12-14).

Những lời hứa trên đây là một lẽ thật đã được chứng minh đầy đủ. Chúa Jêsus chỉ giảng trong xứ Phalêtin, các môn đồ Ngài đã đi khắp thế giới. Chúa chưa lập một chi hội nào, các môn đồ Ngài đã lập nhiều chi hội. Trong hơn 3 năm, Chúa chỉ có hơn 500 người tin Chúa, Phi-e-rơ giảng một bài có hơn 3.000 người tin, rồi 5.000, rồi hàng vạn người tin. Chúng ta hãy nắm lấy lời hứa này mà tin Chúa cho ứng nghiệm tại đây, trong năm nay.

Muốn được như vậy, chúng ta phải cầu nguyện. Hai lần Chúa bảo hãy nhân danh Ngài mà cầu xin bất luận điều chi và 2 lần Ngài hứa “Ta sẽ làm cho”. Lời hứa này là một lẽ thật như chính mình Ngài là lẽ thật. Lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được Chúa nhậm với một điều kiện là nhân danh Ngài và với một mục đích là “Cha được sáng danh nơi Con”. Nhân danh Chúa không có nghĩa là trước khi chấm dứt một bài cầu nguyện thì nói: “Nhân danh Chúa Jêsus, Amen”, song có nghĩa là chúng ta cầu nguyện đẹp lòng Ngài y như Ngài cầu nguyện. Ấy là cầu nguyện cho “Danh Cha được tôn thánh, nước Cha được đến, ý Cha được nên ở đất như trời”. Chúa đang chờ đợi để nghe lời cầu nguyện như vậy.

III. CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SỐNG (Giăng 14:15-24).

Khi còn tại thế, Chúa Jêsus đã ở với môn đồ, song ở ngoài họ. Khi Ngài về trời thì Đức Thánh Linh giáng xuống ở với môn đồ và ở trong họ. “Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng Ta ở trong Cha Ta, các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi… Nếu ai yêu mến Ta thì vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người” (Giăng 14:20,23).

Chúa Jêsus là sự sống vĩnh cửu, sự sống phong phú, đắc thắng và thánh khiết. Khi Ngài ngự vào lòng chúng ta bởi Thánh Linh, Ngài truyền đạt sự sống Ngài cho chúng ta (Giăng 6:33; 10:10). Với sự sống đó, chúng ta sẽ sống như Ngài đã sống. Ngài là sự sống của chúng ta (Phi-líp 1:21; Cô-lô-se 3:4; Ga-la-ti 2:20; IGiăng 5:12). Nhờ đó chúng ta được dựng nên giống như Đức Chúa Trời trong sự công bình và thánh khiết của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24; Cô-lô-se 3:10), cho đến chừng Đấng Christ thành hình trong chúng ta (Ga-la-ti 4:19).

Là con cái của Chúa, chúng ta đâu có ước ao nào lớn hơn là ngày càng giống Cha mình. Đứa con nào cũng sung sướng khi nghe người lân cận nói: “Em này giống cha quá”. Người cha nào cũng sung sướng khi nghe người lân cận nói về con mình như vậy. Ba Ngôi Đức Chúa Trời ngự trị lòng chúng ta để làm nên việc ấy.

Chúa Jêsus là Đường đi dẫn chúng ta về cùng Cha. Về phương diện thuộc linh, việc này đã xong vì chúng ta được giao thông với Cha và với nhau. Về phương diện thuộc thể, cảnh đoàn tụ sẽ thực hiện nay mai khi Chúa trở lại. Chúa Jêsus là Lẽ thật, Ngài bày tỏ mọi sự về Cha cho chúng ta. Chúa Jêsus là Sự sống, Ngài ban chính mình Ngài cho chúng ta để ai nấy sống bởi Ngài và sống cho Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao các môn đồ bối rối?

2. Chúa Jêsus làm gì để an ủi họ?

3. Chúa Jêsus là đường đi, có nghĩa gì?

4. Chúa Jêsus bày tỏ lẽ thật gì cho chúng ta?

5. Muốn làm công việc lớn cho Chúa, chúng ta phải làm gì?

6. Cầu nguyện thế nào để được Chúa nhậm?

7. Chúa Jêsus là sự sống có quan hệ gì với chúng ta?

8. Ước ao lớn nhất của con cái Chúa là gì?

9. Làm sao chúng ta có thể ngày càng giống như Chúa chúng ta?

Bài 19. CHÚA JÊSUS LÀ GỐC NHO

KINH THÁNH: Giăng 15:1-27.

CÂU GỐC: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh, ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, ví ngoài Ta các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:5).

MỤC ĐÍCH: Dạy Cơ Đốc Nhân phải được kết hợp với Chúa Jêsus vì ngoài Ngài chúng ta chẳng làm chi được.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

GỐC NHO THẬT

Giăng 15:1-11.

TH.

CÁC NHÁNH NHO

Giăng 15:12-27.

TB.

Ở TRONG CHÚA

IGiăng 2:24-29.

TT.

CÁC ĐỨC HẠNH CỦA CON CÁI CHÚA

IGiăng 3:1-12.

TN.

SỰ THỬ NGHIỆM TÌNH THƯƠNG

IGiăng 3:13-24.

TS.

TRÁI CỦA THÁNH LINH

Ga-la-ti 5:16-26.

TB.

TRÁI CỦA TÌNH THƯƠNG

ICôr 13:1-13.

Sau khi Chúa Jêsus và môn đồ dự lễ Vượt qua tại phòng cao và chuyện trò thân mật như có chép trong đoạn 13 và 14, thì Chúa phán: “Hãy đứng dậy, chúng ta phải đi khỏi đây…” (14:3,6).

Ngang qua đền thờ, nhờ ánh trăng, Chúa thấy trên cổng có một cây nho bằng vàng được chạm trổ rất đẹp. Cảnh vật đó tạo cho Ngài cơ hội để dạy môn đồ một bài học giá trị về mối tương quan mật thiết giữa Ngài với họ, là bí quyết để họ sống một đời sống kết quả. Chúa phán: “Ta là gốc nho thật”. Ngài không phải là cây nho bằng vàng không có sự sống, song Ngài là cây nho thật.

I. GỐC NHO LÀ NGUỒN CỦA SỰ SỐNG (Giăng 15:1-6).

Tại phòng cao, Chúa đã phán: “Các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi” (Giăng 15:20). Bây giờ Chúa mượn sự tương quan mật thiết giữa gốc nho và nhánh nho để khai triển và soi sáng ý ấy cho được rõ ràng hơn. Ngài phán: “Hãy cứ ở trong Ta thì Ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho thì không tự mình kết quả được. Cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong Ta thì không kết quả được, Ta là gốc, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, vì ngoài Ta các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:4-5). Chúa muốn nói rằng Ngài là nguồn của sự sống, của sức mạnh. Chúng ta không thể sống độc lập mà phải hoàn toàn và luôn luôn tùy thuộc vào Ngài như nhánh nho tùy thuộc vào gốc nho. Niềm hãnh diện của gốc nho là nhánh vì không phải gốc nho mang trái mà là nhánh mang trái. Song nguồn sống và sức mạnh của nhánh là gốc nho, vì cớ gốc nho cung cấp mủ, nhựa nên nhánh nho mới sinh trái được. Trong chúng ta không có sự sống đời đời, không có sự sống thuộc linh, nên ngoài Chúa ra chúng ta không làm chi được, tức là không thể kết quả.

Một nhánh nho sinh trái chỉ về đời sống của một tín đồ kết quả (Ga-la-ti 5:22). Một nhánh nho không sinh trái chỉ về đời sống của một tín đồ không tôn vinh Chua, không đẹp lòng Ngài trong nếp sống hàng ngày của mình; song không vì cớ đó mà mất sự cứu rỗi. Tuy nhiên, Giăng 15:6 là một lời cảnh cáo quan trọng, vì nêu lý do không kết quả là tại “chẳng cứ ở trong Ta”. Theo công lệ đó, vô luận nhánh nho nào cứ ở trong gốc nho thì đương nhiên sinh ra trái hoặc nhiều hoặc ít, chứ không thể không có. Nhánh nho chỉ để sinh trái, nếu không thì chẳng dùng vào việc gì được, người ta ném nó vào lò lửa (Ê-xê-chi-ên 15:1-5). Vậy chúng ta đã ăn năn tin nhận Chúa Jêsus và được cứu rỗi thì hãy kết quả xứng đáng do sự liên hiệp mật thiết với Ngài tức là cứ ở trong Ngài (Giăng 7-27).

II. KẾT QUẢ CỦA SỰ Ở TRONG GỐC NHO (Giăng 15:7-27).

Hễ nhánh nho cứ ở trong gốc nho bao lâu thì gốc nho cũng ở trong nhánh bấy lâu. Hễ chúng ta cứ ở trong Chúa chừng nào, thì Chúa cũng ở trong chúng ta chừng ấy. Đó là bí quyết của một đời sống kết quả.

1. LỜI CẦU NGUYỆN ĐƯỢC NHẬM (Giăng 15:7).

Nếu chúng ta cứ ở trong Chúa và những lời Chúa ở trong chúng ta, thì ý Chúa trở thành ý của chúng ta, nên vô luận chúng ta xin điều chi cũng đều đẹp lòng Ngài, và được Ngài nhậm. Nếu chúng ta chìm đắm trong Chúa, biến mất trong Chúa và Chúa hoàn toàn chiếm hữu chúng ta thì ai nấy đều có một cuộc sống luôn luôn mãn nguyện. Vì vậy, câu này nêu lên 2 lý do mà bao nhiêu lần, bao nhiêu lời cầu xin của chúng ta không được Chúa nhậm: (1) Chúng ta không cứ ở trong Chúa, (2) Chúng ta không để lời Chúa dầm thấm vào huyết quản của chúng ta.

2. NIỀM VUI ĐẦY ĐỦ (Giăng 15:8-11).

Sống cuộc đời kết quả để Đức Chua Trời được tôn vinh là dấu hiệu của môn đồ Chúa Jêsus, vì Ngài đã sống như vậy (Giăng 17:4). Vì thế, Đức Chúa Trời đã 2 lần phán về Chúa Jêsus rằng: “Này là Con yêu dấu của Ta” (Ma-thi-ơ 3:17; 17:5). Chúa Jêsus cũng yêu thương chúng ta như Đức Chúa Trời yêu thương Ngài, nên Chúa bảo chúng ta cứ ở trong sự yêu thương Ngài là vâng giữ điều răn Ngài. Kết quả cuối cùng là chúng ta được vui mừng trọn vẹn.

Tại sao đời sống của một tín đồ thiếu sự vui mừng? Vì không ở trong sự yêu thương của Chúa mà giữ điều răn Ngài. Không ở trong sự yêu thương của Ngài thì không kết quả. Không kết quả thì không tôn vinh Đức Chúa Trời. Không tôn vinh Đức Chúa Trời thì không được làm môn đồ của Chúa Jêsus. Thế thì chúng ta phải cứ ở trong Chúa để được kết quả hầu sự vui mừng của chúng ta được trọn vẹn.

3. YÊU THƯƠNG LẪN NHAU (Giăng 15:12,13.17).

Ở trong Chúa là giữ điều răn của Ngài, là yêu thương lẫn nhau (Giăng 15:13,14,15). Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau đến mức độ như Ngài đã yêu thương chúng ta và phó sự sống Ngài vì chúng ta.

Trong Chúa có sự yêu thương và chính mình Chúa là sự yêu thương, thì không thể nào chúng ta ở trong Chúa lại không yêu thương nhau. Người không yêu thương nhau là người không ở trong Chúa. Giu-đa ở giữa các môn đồ mà không ở trong Chúa nên ông bị loại ra như nhánh nho không ở trong gốc, vì ông không hề yêu thương ai ngoài tiền bạc. Trái thứ nhất của Thánh Linh là yêu thương. Điều răn mới của Chúa là yêu thương lẫn nhau. Đức tính lớn hơn hết của Cơ đốc nhân là yêu thương. Chúa truyền cho chúng ta mọi sự để chúng ta yêu thương lẫn nhau. Chúa là cây nho mà bản chất của gốc, rễ, nhánh, lá, hoa, trái đều là yêu thương.

4. KẾT BẠN VỚI CHÚA (Giăng 15:14-16).

Ở trong Chúa, làm theo lời Ngài, chúng ta được kể là bạn hữu của Ngài. Chính Chúa xác nhận như vậy. Ngài nâng chúng ta lên địa vị ngang hàng với Ngài, còn hơn Giô-na-than kết bạn với Đa-vít. Bằng cớ là Ngài không giấu chi với chúng ta, mà bày tỏ mọi điều cần thiết. Đức Chúa Trời đã phán: “Lẽ nào Ta giấu với Áp-ra-ham điều chi Ta sẽ làm sao?” (Sáng 18:17), vì Chúa kể Áp-ra-ham là bạn hữu Ngài (II Sử 20:7; Ê-sai 41:8; Giê 2:23). Cũng một kinh nghiệm như Áp-ra-ham, Đa-vít đã viết: “Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính sợ Ngài, tỏ cho người ấy biết giao ước của Ngài” (Thi 25:14). Trong Chúa chúng ta có nhũng đặc ân vô giá, đáng phải nhảy múa, ca hát mà tôn vinh Ngài.

5. BỊ THẾ GIAN GHÉT (Giăng 15:18-27).

Ở trong Chúa và Chúa ở trong chúng ta đưa đến một kết quả nữa là chúng bị thế gian ghét. Thế gian đã ghét Chúa thì cũng không thể yêu chúng ta được trừ khi chúng ta chối Chúa. Thế gian yêu kẻ thuộc về mình, còn chúng ta thuộc về Chúa. Không những thế gian 20 thế kỷ trước đã ghét Chúa mà thế gian ngày nay cũng vậy. Nếu đến ngày nay Chúa mới giáng sinh thì thế gian cũng đóng đinh Ngài như 20 thế kỷ trước. Những kẻ không tin nhận Chúa hôm nay đồng ý với những kẻ đóng đinh Ngài trước đây. “Đầy tớ chẳng hơn chủ mình, nếu họ bắt bớ Ta ắt cũng bắt bớ các ngươi… Ai ghét Ta cũng ghét Cha Ta nữa” (Giăng 15:20,23). Về điểm này, nếy đầy tớ hơn chủ, con hơn cha là đầy tớ bất trung, con phản nghịch.

Chúa nói những điều này không phải để chúng ta nhục chí, song làm cho chúng ta hứng chí là chúng ta được như Chúa, vì cớ Chúa, thuộc về Chúa.

Chúa là gốc nho,chúng ta là nhánh nho, Chúa hạ mình cần đến chúng ta kết quả cho Ngài. Vậy chúng ta hãy nhờ Ngài để có trái, có nhiều trái và nhiều trái lắm dầu phải bị tỉa sửa luôn luôn.

CÂU HỎI

1. Gốc nho và nhánh nho có quan hệ gì với nhau?

2. Chúa là gì đối với chúng ta?

3. Tại sao chúng không thể sống độc lập?

4. Một đời sống kết quả và không kết quả có nghĩa gì?

5. Thế nào là ở trong Chúa và Chúa ở trong mình?

6. Ở trong Chúa được kết quả gì?

7. Làm sao để lời cầu nguyện được nhậm?

8. Làm sao để niềm vui được đầy đủ?

9. Tại sao phải yêu thương lẫn nhau?

10. Được kết bạn với Chúa có nghĩa gì?

11. Tại sao ở trong Chúa thì bị thế gian ghét?

Bài 20. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG BAN ĐỨC THÁNH LINH

KINH THÁNH: Giăng 16:1-15.

CÂU GỐC: “Dầu vậy, Ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi, vì nếu Ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu, song nếu Ta đi thì Ta sẽ sai Ngài đến” (Giăng 16:7).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng mỗi Cơ đốc nhân có thể sống đắc thắng nhờ Đức Thánh Linh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

SỰ BAN CHO ĐỨC THÁNH LINH

Giăng 16:1-11.

TH.

ĐỨC THÁNH LINH GIẢI BÀY LẼ THẬT

Giăng 16:12-21.

TB.

“HÃY VỮNG LÒNG”

Giăng 16:22-23.

TT.

LỜI TIÊN TRI VỀ ĐỨC THÁNH LINH

Giô-ên 2:28-32; Giăng 4:13-15; 7:37-39.

TN.

LỜI TIÊN TRI ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM

Công 2:1-21.

TS.

THÂN THỂ CHÚNG TA LÀ ĐỀN THỜ

Rô-ma 8:9-17; ICôr 6:19.

TB.

ĐƯỢC ĐÓNG ẤN BẰNG ĐỨC THÁNH LINH

Ê-phê-sô 1:13-14; 5:18-20.

Trước giờ chia ly, Chúa báo trước cho môn đồ những việc sẽ xảy đến cho họ, như bị người đời ghen ghét và bắt bớ. Ngài biết rõ họ buồn rầu, nên phán: “Dầu vậy, Ta nói cùng…Ngài đến”. Tại sao Chúa Jêsus đi và Đức Thánh Linh đến là điều ích lợi cho môn đồ?

Vì Chúa Jêsus đang ở trong thân xác. Ngài bị hạn chế, ở đâu chỉ ở đó, còn Đức Thánh Linh là Thần nên cùng một lúc Ngài có thể ở khắp mọi nơi. Chúa Jêsus có thể ở với môn đồ mà không thể ở trong môn đồ. Còn Đức Thánh Linh đồng thời ở với và ở trong họ. Các môn đồ được Chúa Jêsus ở với không bằng được Đức Thánh Linh ở trong, như chúng ta thấy trong 4 sách Tin lành và sách Công vụ. Vì vậy sự đến của Đức Thánh Linh Chúa Jêsus là quan trọng và cần thiết.

I. ĐỨC THÁNH LINH AN ỦI (Giăng 14:16).

Đức Thánh Linh được tôn là Đấng An ủi. Đức Thánh Linh đến ở với Hội Thánh đời đời để an ủi mọi tín đồ. An ủi là bảo vệ khi ta bị công kích, nâng đỡ khi ta yếu đuối, khích lệ khi ta ngã lòng. An ủi cũng có nghĩa là đứng một bên như trạng sư để bênh vực, cầu thay, minh oan. Khi phải đứng hầu trước tòa công luận, Phi-e-rơ đầy dẫy Đức Thánh Linh (Công 4:8), khi phải đương đầu với sự chết, Ê-tiên đầy dẫy Đức Thánh Linh (Công 7:55), khi đối mặt với tay phù thủy ghê gớm, Phao-lô đầy dẫy Đức Thánh Linh (Công 13:9), mặc dầu trước đó họ đã dầy dẫy Ngài. Hội Thánh đầu tiên được Đức Thánh Linh vùa giúp mà số tín hữu được thêm lên (Công 9:31). Phao-lô kể lại thể nào tại Asi, ông bị đè nén quá chừng, quá sức đền nỗi hết mong sống được. Nhưng ông “chúc tạ Đức Chúa Trời… là Cha thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự an ủi. Ngài an ủi chúng tôi trong mọi việc khốn nạn” (IICôr 1:3-5).

Thế thì không có hoạn nạn nào, khổ sở nào hay là đè nén nào mà Chúa không thể an ủi. Không có bệnh tật nào ở thế gian mà thiên đàng không thuốc chữa. Vậy, chúng ta hãy đến với Chúa để được Ngài an ủi.

II. ĐỨC THÁNH LINH NHẮC LẠI (Giăng 14:26).

Ngoài an ủi, Đức thánh Linh còn làm một việc kỳ diệu nữa là nhắc lại cho các môn đồ nhớ mọi điều Chúa đã dạy và làm. Nhờ đó, họ ghi chép lại một cách chính xác mỗi lời mỗi việc. Điều này không những đảm bảo cho sự chính xác của 4 sách Tin lành mà cũng bảo đảm cho cả Tân ước. Giáo lý của Chúa Jêsus cũng như đời sống và công việc Ngài đươc ghi chép một cách chính xác.

Dạy dỗ mọi sự và nhắc lại mọi sự là 2 điều có liên hệ mật thiết với nhau. Đức Thánh Linh nhắc nhở điều cũ để dạy dỗ điều mới (Giăng 12:16). Sự việc này “giống như một chủ nhà kia đem những việc mới và cũ ở trong kho ra” (Ma-thi-ơ 13:52).

Chúng ta phải học lời Chúa luôn, song không có giáo sư nào tốt bằng Đức Thánh Linh. Ngài dạy dỗ, soi sáng, giải thích và nhắc lại mọi sự. Có những đoạn hoặc câu Kinh Thánh chúng ta đã học từ lâu gần như quên rồi, nhưng khi phải đương đầu với sự cám dỗ và thử thách nặng nề, thì chính lúc đó Đức Thánh Linh nhắc lại, chúng ta áp dụng ngay và có hiệu quả lớn lao. Cũng có những đoạn hoặc câu Kinh Thánh chúng ta đọc mà không hiểu, thình lình có một việc xảy ra thì Đức Thánh Linh soi sáng cho chúng ta hiểu được một cách rõ ràng. Đó là kinh nghiệm của hầu hết anh em trong hoàn cảnh xa nhà, xa Hội Thánh.

III. ĐỨC THÁNH LINH KHIẾN THẾ GIAN TỰ CÁO (Giăng 16:8-11).

Công việc quan trọng nhất của Đức Thánh Linh đối với thế gian là khiến họ tự cáo về tội lỗi mình. Đành rằng Hội Thánh phải truyền giảng, phân phát lời Chúa bằng nhiều cách khác nhau, song chỉ Đức Thánh Linh có thể khiến tội nhân tự cáo tội lỗi của mình để ăn năn. Chúng ta không thể nào ỷ lại vào bài hát, bài giảng, song phải xin Đức thánh Linh hoàn toàn sử dụng và hành động để cứu vớt tội nhân. Nếu không bởi Đức Thánh Linh làm việc ấy thì thể nào bài giảng của Phi-e-rơ có 3.000 người ăn năn.

1. “VỀ TỘI LỖI VÌ HỌ KHÔNG TIN TA”.

Không có tội nào lớn bằng tội không tin Chúa Jêsus làm Cứu Chúa. Chính vì không tin nên dân Giu-đa đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Ngày nay, người không tin nhận Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế có nghĩa là họ đồng ý với dân Giu-đa mà đóng đinh Ngài. Tại một xứ kia, khi thổ dân xem chiếu hình Chúa Jêsus bị đóng đinh, có một người trong đám họ kêu lên: “Chúa ơi! Xin hãy xuống, tôi mới là kẻ đáng chết như vậy”.

2. “VÌ SỰ CÔNG BÌNH, VÌ TA ĐI VỀ CÙNG CHA VÀ CÁC NGƯƠI CHẲNG THẤY TA NỮA”.

Đức Chúa Trời bày tỏ sự công bình của Ngài trong sự chết đền tội cho nhân loại mà Chúa Jêsus đã thực hiện trên thập tự giá; bằng cách khiến Chúa Jêsus sống lại, về trời và ban Đức Thánh Linh giáng lâm. Người Giu-đa không thể nào chối cãi sự thật hiển nhiên đó.

3. “VỀ SỰ PHÁN XÉT VÌ VUA CHÚA THẾ GIAN NÀY ĐÃ BỊ PHÁN XÉT.”

Ma quỉ đã tập trung toàn lực tại thập tự giá và nó thảm bại khi Chúa Jêsus phán: “Mọi sự đã được trọn”. Từ đó ma quỉ bị loại, nó không còn chỗ đứng để kiện cáo ai nữa, mà chỉ còn chờ đợi số phận khốn nạn dành cho nó là hỏa ngục.

Đức Thánh Linh dùng 3 điều trên đây để khiến thế gian tự cáo và đem họ đến sự ăn năn. Nội dung lời dạy của chúng ta phải hướng về 3 điều này.

IV. ĐỨC THÁNH LINH DẠY DỖ (Giăng 16:12-15).

Bấy giờ Chúa Jêsus còn có nhiều điều để dạy dỗ môn đồ song họ chưa đủ khả năng nhận lấy. Khi Đức Thánh Linh đến, Ngài sẽ dẫn họ vào tất cả lẽ thật tương quan đến Chúa Jêsus (Giăng 14:6). Đức Thánh Linh đã dẫn dắt các môn đồ như người chỉ đường dẫn dắt khách lạ trong vùng họ chưa từng đặt chân đến. Đó là tất cả lẽ thật chứa đựng trong sách Công vụ, các thư tín và sách Khải huyền.

Chúa Jêsus phán: “Vì Ngài sẽ lấy mọi sự thuộc về Ta mà rao bảo cho các ngươi”. Sau khi các sứ đồ đã chép xong Tân ước và ai nấy lần lượt qua đời, thì không còn sự khải thị nào nữa. Kể từ đó, Đức Thánh Linh soi sáng và hướng dẫn để chúng ta hiểu được lẽ thật cứu rỗi. Kinh Thánh không có ý giải thích mọi vấn đề trong vũ trụ mặc dù Kinh Thánh có đề cập đến khoa học và nhiều môn học khác, song chỉ để chứng minh cho sự cứu rỗi là nhu cầu thiết yếu của con người. Chủ đích của Kinh Thánh là “SỰ CỨU RỖI”.

“Ấy chính Ngài (Đức Thánh Linh) sẽ làm sáng danh Ta”. Đức Thánh Linh không nói về mình, không làm sáng danh mình, nhưng nói về Chúa Jêsus. Người nào được Thánh Linh sử dụng cũng nói và làm như vậy. Đó là hòn đá thử nghiệm để các tín hữu biết ai nói và làm theo Đức Thánh Linh cảm động hay chỉ nói theo tánh xác thịt của mình. Thuật sĩ Si-môn lấy bạc dâng cho Phi-e-rơ mà nói rằng: “Hãy cho tôi quyền phép ấy để tôi đặt tay trên ai thì nấy được nhận lãnh Đức Thánh Linh” (Công 8:19). Ma quỉ giả làm thiên sứ, kẻ giúp việc nó giả làm kẻ giúp việc Chúa, chó sói mang lốt chiên, song chúng ta nhờ những trái nó mà nhận biết được.

Công việc của Đức Thánh Linh rất nhiều. Chúng ta chỉ học 4 điều trên đây để được Ngài an ủi, nhắc nhở, cáo trách và dạy dỗ; hầu ai nấy có một đời sống đắc thắng, thánh khiết. Ngài đến làm mọi việc ấy cho chúng ta. Vậy ai nấy hãy bước đi theo Ngài, tận hiến cho Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao Đức Thánh Linh đến là để ích lợi cho môn đồ?

2. Từng trải của môn đồ khi được Chúa Jêsus ở với và khi được Đức Thánh Linh ở trong khác nhau thế nào?

3. Đức Thánh Linh an ủi có nghĩa gì?

4. Đức Thánh Linh nhắc lại cho môn đồ nhớ gì?

5. Tại sao chúng ta biết Tân ước được các môn đồ ghi chép là chính xác?

6. Đức Thánh Linh làm gì cho người thế gian?

7. Tại sao không tin nhận Chúa Jêsus là tội lớn?

8. Chủ đích của Kinh Thánh là gì?

9. Tai sao chúng ta biết người đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ nói và làm cho Chúa Jêsus được tôn vinh?

Bài 21. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG CẦU THAY

KINH THÁNH: Giăng 17:1-26.

CÂU GỐC: “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (Hê-bơ-rơ 7:25).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng ta phải cầu nguyện cho những kẻ khác nữa như Chúa Jêsus vẫn làm.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚA JÊSUS CẦU NGUYỆN CHO CHÍNH NGÀI

Giăng 17:1-5.

TH.

CHÚA JÊSUS CẦU NGUYỆN CHO MÔN ĐỒ NGÀI

Giăng 17:6-19.

TB.

CHÚA JÊSUS CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH NGÀI

Giăng 17:20-26.

TT.

CHÚA JÊSUS HIỆN VẪN LÀM VIỆC

Rô 8:34; Hêb 7:25-28.

TN.

ÁP-RA-HAM CẦU THAY

Sáng 18:23-32.

TS.

MÔI-SE, NGƯỜI CẦU THAY

Xuất 32:7-15.

TB.

PHAO-LÔ, NGƯỜI CẦU THAY

Êph 1:15-21.

Chúa Jêsus đã dạy các môn đồ cầu nguyện (Ma-thi-ơ 6:9-15). Ngài cũng đã nhiều lần cầu nguyện trước các môn đồ, song chỉ cầu nguyện ngắn (Ma-thi-ơ 11:25-27; 26:36-46 ; Giăng 11:41-42…) Lần này Chúa cầu nguyện dài và rất đầy đủ. Bài cầu nguyện của Chúa chia 3 phần: (1) Chúa cầu nguyện cho chính Ngài; (2) Chúa cầu nguyện cho các môn đồ; (3) Chúa cầu nguyện cho Hội Thánh.

Qua lời cầu nguyện được chép, chúng ta thấy được lòng của Chúa.

I. CHÚA CẦU NGUYỆN CHO CHÍNH NGÀI (Giăng 17:1-5).

Chúa cầu nguyện cho chính Ngài nhưng không do động cơ ích kỷ.

1. “XIN LÀM VINH HIỂN CON HẦU CHO CON CŨNG LÀM VINH HIỂN CHA”.

Chúa Jêsus vốn có sự vinh hiển như Đức Chúa Trời, vì Ngài bình đẳng với Đức Chúa Trời về mọi phương diện và là một trong ba Ngôi Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã tạm gác sự vinh hiển của Ngài mà mặc lấy hình người để chịu chết đền tội cho chúng ta. Bây giờ đã đến lúc Ngài phải mặc lại sự vinh hiển đó.

Để mặc lại sự vinh hiển đó, Chúa Jêsus chịu chết vì tội nhân trên thập tự giá và sống lại. Đối với Chúa, sự chết đền tội cho loài người và sống lại là con đường dẫn đến sự vinh hiển tuyệt vời và đời đời, nên lời cầu nguyện thứ nhất là: “Thưa Cha, giờ đã đến”. Bấy lâu Ngài chờ đợi giờ đó, tức là giờ Ngài tận hiến sự sống mình trên bàn thờ của Cha để thực hiện chương trình cứu chuộc mà Cha đã hoạch định từ buổi sáng thế. Đó là chủ đích của sự nhập thể của Ngài. “Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất thảy đều quì xuống và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha” (Phil 2:9-11).

Không phải là lúc người ta sống mà chính lúc người ta chết; chết cách nào và chết vì cớ gì mới là lúc người ta được đánh giá một cách đúng. Không có lúc nào Chúa Jêsus được tỏ ra cao trọng và vinh hiển bằng chính lúc Ngài chịu chết vì tội nhân và sống lại.

2. “CON BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI CHO NHỮNG KẺ MÀ CHA ĐÃ GIAO CHO CON”.

Chúa xin cho được vinh hiển để làm vinh hiển Cha Ngài và để ban sự sống đời đời cho tín đồ. Sự sống đời đời không chỉ về giá trị thời gian mà chỉ về giá trị của tính chất như vui vẻ, bình an, thánh khiết, vinh hiển, trường cửu. Đó là sự sống của Đức Chúa Trời.

Sự sống đời đời là nhìn biết Cha và Con. Sự nhìn biết đây có 2 chiều là không những người đó nhìn biết Chúa mà Chúa cũng nhìn biết người ấy. Như câu “các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi. Ai có các điều răn của Ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến Ta. Người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu lại, Ta cũng sẽ yêu người và tỏ cho người biết Ta” (Giăng 14:20-21). Như vậy, người có sự sống đời đời là người nhìn biết Chúa và Chúa nhìn biết người đó; là người ở trong Chúa và Chúa ở trong người; là người yêu Chúa và Chúa yêu người.

II. CHÚA CẦU NGUYỆN CHO CÁC MÔN ĐỒ NGÀI (Giăng 17:6-19).

Chúa sắp về trời, để lại một số môn đồ yếu đuối giữa cõi đời tối tăm và gian ác. Họ gian ác đến độ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Vì thế, mặc dù Chúa đã hết lòng dạy dỗ ho, Ngài vẫn còn cầu thay tha thiết cho họ.

1. “LẠY CHA THÁNH, XIN GÌN GIỮ HỌ TRONG DANH CHA” (c.11)

Danh Cha tức là chính mình Cha. Được gìn giữ trong danh Đức Chúa Trời có nghĩa là được gìn giữ trong chính mình Ngài. Không có chỗ nào an ninh bảo đảm bằng ở trong Đức Chúa Trời. Ngài là Vầng đá muôn đời, là thành trì kiên cố; Ngài là bánh và nước hằng sống, là nhu cầu thiết yếu của mỗi chúng ta. Ở trong Ngài chúng ta sẽ được giữ gìn khi ra khi vào từ nay cho đến đời đời (Thi 121:1).

2. “XIN CHA GÌN GIỮ HỌ KHỎI ĐIỀU ÁC” (Giăng 17:14-15).

Môn đồ còn ở thế gian và thế gian ghen ghét họ như ghen ghét Chúa, thì họ dễ sợ hãi, đầu phục và đồng hóa với thế gian. Vì thế, Chúa Jêsus xin Cha giữ gìn các môn đồ khỏi bị nhiễm độc của thế gian, để dù họ ở trong thế gian mà thế gian không ở trong họ. Họ không cần được cất khỏi thế gian, vì Chúa đã huấn luyện họ hơn 3 năm để chuẩn bị cho một chức vụ, họ phải sống giữa thế gian để thi hành chức vụ ấy.

Chúng ta không cần tìm cuộc sống ẩn dật vì chúng ta là sự sáng của thế gian. Điều quan trọng là chúng ta được gìn giữ khỏi tội lỗi để cứ chiếu sáng như đuốc trong thế gian (Phil 2:15).

3. “XIN CHA LẤY LẼ THẬT KHIẾN HỌ NÊN THÁNH” (Giăng 17:16-17).

Các môn đồ được nên thánh là nhờ dâng mình cho Đức Chúa Trời để phục vụ Ngài trong công tác truyền giảng Tin lành, cứu vớt tội nhân. Bất luận người nào, vật gì đã dâng cho Chúa đều được nên thánh. Đang khi ấy, Đức Chúa Trời lấy lời quyền năng của Ngài làm cho môn đồ nên thánh trong nếp sống hàng ngày của họ. Ngày nay cũng vậy, tất cả chúng ta đều đã dâng mình cho Ngài (Rô 12:1-2) để làm một công tác nào đó của Hội Thánh như một chi thể trong thân (Rô 12:3-8). Khi chúng ta dâng mình hầu việc Chúa như vậy, Ngài làm cho chúng ta nên thánh trong kinh nghiệm cá nhân qua lời hằng sống của Ngài.

III. CHÚA JÊSUS CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH NGÀI (c.20-26).

Sau khi Chúa Jêsus cầu nguyện cho chính mình và các môn đồ, giờ Ngài cầu nguyện cho những kẻ tin Ngài tức là Hội Thánh của Ngài.

1. XIN CHO AI NẤY HIỆP VỚI NHAU VÀ VỚI CHÚA (Giăng 17:20-26).

Sự hiệp một của Hội Thánh mà Chúa Jêsus cầu nguyện không phải là thống nhất giáo hội theo phương diện tổ chức. Nhưng là sự hiệp một thuộc linh do Đức Thánh Linh thực hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sự hiệp một đó không còn phân biệt người Hy lạp hay Do thái, người văn minh hay dã man, người tôi mọi hay tự chủ, đàn ông hay đàn bà, mà hết thảy đều là một trong Chúa Jêsus, như các chi thể trong thân mà Chúa Jêsus là đầu. Sự hiệp một này còn sánh với sự hiệp một giữa Con và Cha như “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”. Hơn nữa, không những Hội Thánh hiệp một với nhau mà cũng hiệp một với Chúa, “lại để cho họ cũng ở trong chúng ta… Con ở trong họ và Cha ở trong Con để cho họ toàn vẹn hiệp làm một”. Đó là sự hiệp một của Hội Thánh phổ thông gồm đủ màu da, tiếng nói thuộc mọi thời đại, mọi phương trời. Sự hiệp một như vậy không ai tổ chức được, đó là công việc của Đức Thánh Linh.

2. XIN CHO AI NẤY ĐƯỢC Ở THIÊN ĐÀNG ĐỜI ĐỜI VỚI NGÀI (Giăng 17:24-26).

Vì tình thương của Chúa đối với chúng ta, Ngài tha thiết cầu nguyện để Chúa ở đâu chúng ta cũng ở đó với Ngài. Ngài hứa sẽ trở lại đem chúng ta về cùng Ngài. Ngay với anh trộm cướp ăn năn, Ngài cũng hứa như vậy.

Chúa đã ban cho chúng ta sự vinh hiển của Ngài (Giăng 17:22) là sự vinh hiển được tha tội, được làm con của Ngài, được làm bạn với Ngài, được sự sống và phục vụ Ngài. Rồi khi Chúa tái lâm, chúng ta sẽ thấy Chúa mặt đối mặt; chúng ta sẽ giống như Ngài trong sự vinh hiển (IGiăng 3:2).

Qua bài học này, chúng ta phải cầu nguyện cho chính mình có một cuộc đời luôn luôn tôn vinh Chúa, luôn được giữ gìn trong danh Ngài, tránh khỏi điều ác mà được nên thánh trong cách ăn ở hàng ngày của mình. Chúng ta cũng phải cầu nguyện cho Hội Thánh Chúa trong cả thế giới luôn được hiệp một với nhau cũng như với Chúa và cho nhiều đồng bào tin nhận Ngài, để cuối cùng tất cả chúng ta đều được ở với Chúa trong thiên đàng vinh hiển đời đời.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết Chúa Jêsus không ích kỷ khi cầu nguyện cho chính Ngài?

2. Sự sống đời đời mà Chúa ban cho chúng ta là thể nào?

3. Chúa cầu xin Cha gìn giữ chúng ta trong danh Cha có nghĩa gì?

4. Tại sao Chúa không cầu xin Cha cất chúng ta khỏi thế gian?

5. Chúng ta được nên thánh nhờ lời của Cha, có nghĩa gì ?

6. Tại sao chúng ta biết sự hiệp một mà Chúa cầu xin không có nghĩa là thống nhất giáo hội?

7. Sự hiệp một này là công việc của ai?

8. Điều cuối cùng mà Chúa đã cầu xin với Cha là gì?

9. Qua bài học này, chúng ta học được phải cầu nguyện cho những điều gì?

Bài 22. CHÚA JÊSUS CHỊU THƯƠNG KHÓ

KINH THÁNH: Giăng 18:1-40.

CÂU GỐC: “Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình” (I Phi-e-rơ 2:23).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thể nào Chúa Jêsus chịu thương khó vì cớ học viên để khích lệ họ đứng vững trong Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

GIU-ĐA PHẢN CHÚA

Giăng 18:1-14.

TH.

PHI-E-RƠ CHỐI CHÚA

Giăng 18:15-27.

TB.

PHI-LÁT XỬ ÁN CHÚA

Giăng 18:28-40.

TT.

HÊ-RỐT NHẠO BÁNG CHÚA

Lu-ca 23:1-12.

TN.

PHI-LÁT BỐI RỐI

Ma-thi-ơ 27:19-25.

TS.

CHÚA JÊSUS BỊ CHỐI BỎ

Lu-ca 23:13-24.

TB.

SỰ VÔ TỘI CỦA CHÚA JÊSUS

I Phi-e-rơ 2:17-25.

Chúa Jêsus là Vua của vũ trụ, nên dân nào, nước nào, người nào được Ngài làm Vua thì phước biết bao. Chính dân Do thái được phước ấy vì Chúa đến thế gian để làm Vua của họ (Ma-thi-ơ 2:2; Giê 23:5; Xa-cha-ri 9:9). Song thật tiếc, họ đã chối bỏ Ngài lại còn bắt nộp Ngài cho chính quyền La-mã để đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Nhưng không phải họ có quyền bắt và giết Chúa Jêsus, mà Ngài bằng lòng chịu thương khó vì cớ chúng ta.

Truyện tích hôm nay thuật lại sự thương khó của Chúa Jêsus tại vườn Ghết-sê-ma-nê, tại tòa án An-ne và Cai-phe, và cuối cùng giải đến tòa Phi-lát. Đó là con đường Ngài phải đi để đạt mục đích làm Vua, làm Chúa của kẻ nào tin nhận Ngài.

I. CHÚA JÊSUS TẠI VƯỜN GHẾT-SÊ-MA-NÊ (Giăng 18:1-11).

Trong bức tranh này và các bức tranh kế tiếp, chúng ta thấy sự gian ác của con người lên đến tột đỉnh mà Chúa đã nói: “Này là giờ của các ngươi và quyền của sự tối tăm” (Lu 22:53). Đồng thời chúng ta cũng thấy quyền năng và sự nhân từ của Chúa là vô song và tuyệt đối.

1. CHÚA QUYỀN NĂNG VÔ SONG (Giăng 18:1-70).

Giu-đa đã đi ra (Giăng 13:30), bây giờ ông trở lại vào lúc nửa đêm cùng đoàn người có đèn, đuốc và khí giới, hằn học để bắt Chúa. Giu-đa biết rõ chỗ Chúa và môn đồ đang ở vì ông đã từng họp tại đó với họ. Mặc dù lễ Vượt qua nhằm lúc có trăng, nhưng bọn người gian ác tưởng Chúa sẽ trốn nên bố trí rất kỹ. Biết vậy, Chúa không cho họ hỏi mà bước tới hỏi họ rằng: “Các ngươi tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Jêsus, người Na-xa-rét”. Chúa phán: “Chính ta đây”. Vừa nghe Chúa phán như thế, chúng bèn lui lại và té xuống đất. Trong Tân ước, hai lần Chúa xưng như vậy, cũng như trong Cựu ước Ngài xưng là Đấng Hằng hữu, nên Chúa hỏi lại: “Các ngươi tìm ai?” Họ đáp: “Jêsus, người Na-xa-rét”. Chúa phán: “Ta đã nói với các ngươi rằng chính ta đây”. Chúa có quyền năng vô cùng, chỉ một lời nói của Ngài cũng đủ tiêu diệt mọi kẻ ác, song Ngài tình nguyện chịu chết để cứu họ.

2. CHÚA NHÂN TỪ TUYỆT ĐỐI (Giăng 18:8-10).

Chúa biết các môn đồ không đủ sức đương đầu với sự bắt bớ nên Ngài nói với bọn người gian ác: “Vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, hãy để cho những kẻ này đi”. Thế là Ngài chăm sóc kẻ thuộc về Ngài một cách chu đáo, không để một việc gì xảy ra quá sức chịu đựng của chúng ta, hầu cho không mất một người nào, trừ ra đứa con của sự hư mất (Giăng 17:12).

Phi-e-rơ nổi nóng, rút gươm ra bênh vực Thầy mình, chém đứt vành tai hữu của Manchu. Chúa can thiệp ngay và “rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành” (Lu 22:51). Nếu tai của Manchu không lành, chắc Phi-e-rơ phải gặp nhiều khó khăn vì anh ta là đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm. Cám ơn Chúa, Ngài đã giải cứu con cái Ngài trong một phút nóng nảy đã hành động vội vàng, dại dột.

Hai phép lạ liên tiếp xảy ra: (1) Bọn gian ác lui lại và té xuống đất; (2) Manchu được lành ngay vành tai khi Chúa Jêsus rờ đến. Thế mà họ vẫn im lìm, không mảy may xúc động vì lòng họ quá chai lì.

3. CHÚA VÂNG PHỤC TRỌN VẸN (Giăng 18:11).

Chúa sẵn sàng uống chén thạnh nộ của Cha Ngài vì tội lỗi của toàn thể nhân loại trải qua các thời đại. Thật là chén khủng khiếp mà Ngài đã phải than:”Linh hồn Ta buồn rầu lắm cho đến chết” (Mác 14:34). Điều ấy cho chúng ta thấy tội lỗi chúng ta lớn là dường nào. Sự hình phạt chúng ta đáng phải chịu nặng là dường bao. Con người thường vâng phục bất đắc dĩ khi ở trong hoàn cảnh vô phương tự cứu; còn Chúa Jêsus tình nguyện vâng phục trong khi Ngài có thừa quyền tự cứu. Chúa mới thật là vâng phục (Ma-thi-ơ 26:53).

II. CHÚA JÊSUS TRƯỚC AN-NE VÀ CAIPHE (Giăng 18:12-27).

Tại vườn Ghết-sê-ma-nê, bọn người gian ác trói Chúa lại và giải đến An-ne và Cai-phe, tức là tòa án tôn giáo, ngay trong đêm đó. An-ne tra hỏi Ngài về môn đồ và sự dạy dỗ của Ngài. Không phải vì không biết mà hỏi, nhưng ông muốn hỏi để xem Ngài trả lời có chỗ nào sai sót không. Câu trả lời của Chúa có ý quở trách An-ne: Tại sao hỏi Ngài mà không hỏi những kẻ nghe Ngài, vì Ngài đã dạy dỗ họ cách công khai. Một người đứng bên cạnh đã vả má Chúa, cho rằng Ngài vô lễ với thầy tế lễ. Chúa bảo: “Nếu Ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho Ta, nếu Ta nói phải tại sao ngươi đánh Ta?”

Về sau thầy tế lễ thượng phẩm An ne cũng bảo người ta vả má Phao-lô như vậy (Công 23:1-3). Người ta ghét Chúa, đánh Ngài, giết Ngài một cách vô cớ vì không tìm được một lỗi nào của Ngài cả (Giăng 15:25). Chúng ta không lấy làm lạ khi bị người ta đối xử với chúng ta như vậy khi chúng ta hết lòng theo Chúa.

Trong khi Chúa Jêsus bị tra hỏi trước tòa án An-ne và Cai-phe, thì bên ngoài Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần. Phi-e-rơ sưởi vì lạnh, ông lạnh vì sợ, ông sợ vì theo Chúa xa xa (Ma-thi-ơ 26:58). Theo Chúa xa xa làm cho ta nguội lạnh (Lu 24:32), nguội lạnh làm cho ta sợ hãi, sợ hãi làm cho ta chối Chúa.

Một con đòi hỏi Phi-e-rơ: “Ông có phải là môn đồ của Jêsus không?”. Ông đáp: Không. Giây lát có người hỏi ông như người trước. Ông đáp: Không. Một người bạn của Manchu có mặt trong vườn khi Phi-e-rơ chép đứt tai của Manchu nói: “Ta há chẳng từng thấy ngươi trong vườn với người sao?” Phi-e-rơ quả quyết: Không. Tức thì gà gáy.

Dầu tội của Phi-e-rơ không nhẹ hơn tội của Giu-đa, nhưng Phi-e-rơ có điều tốt hơn Giu-đa là ông đã ăn năn (Ma-thi-ơ 26:75; Mác 14:72; Lu 22:51-62). Vả, trong Phi-e-rơ có điều tốt mà ta không tìm thấy trong Giu-đa, ấy là: (1) Ông can đảm rút gươm bênh vực thầy mình; (2) Ông theo Chúa, dù xa xa, trong khi nhiều người bỏ Ngài mà trốn đi; (3) Phi-e-rơ dù yếu đuối song thành thật, dù vấp phạm song đã có thể thưa: “Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa” (Giăng 21:15). Vì vậy, Chúa đã xây lại mà ngó ông (Lu 22:61).

III. CHÚA JÊSUS TRƯỚC MẶT PHI-LÁT (Giăng 18:28-40).

An-ne và Cai-phe đã lên án tử hình Chúa Jêsus, nhưng họ không có quyền thi hành bản án ấy mà phải trình lên Tổng đốc La-mã quyết định tối hậu. Vì vậy, Chúa bị giải từ tòa án tôn giáo đến tòa án chính trị vào sáng sớm hôm sau. Theo thứ tự thời gian thì Chúa dự Lễ Vượt qua tại phòng cao tối thứ năm. Sau đó, Ngài cùng các môn đồ đến vườn Ghết-sê-ma-nê lúc 10 giờ, rồi độ 1 giờ sáng thứ sáu, Chúa bị bắt giải đến An-ne và Cai-phe. Sáng thứ sáu, lúc 7 giờ Chúa bị giải đến Phi-lát.

Trước mặt An-ne và Cai-phe, họ tố cáo Ngài lộng ngôn, xưng mình là Con Đức Chúa Trời, nên lên án tử hình Ngài về mặt tôn giáo. Trước Phi-lát, họ tố cáo Ngài chống chính phủ, xưng mình là Vua, nên họ xin Phi-lát lên án tử hình Ngài về mặt chính trị (Lu 23:2). Phi-lát gạn hỏi: “Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không?” Chúa xác nhận. Ba lần Phi-lát tuyên bố Chúa Jêsus vô tội, song ông không đủ can đảm trả tự do cho Ngài mà lại hỏi ý kiến dân chúng. Dân chúng bị các nhà lãnh đạo Do thái xúi giục xin tha Baraba là một tên trộm cướp, để giết Chúa Jêsus là một Đấng Thánh khiết và quyền năng.

Thật là mỉa mai, các nhà lãnh đạo Do thái không vào trường án vì sợ ô uế (Giăng 18:28) mà không sợ ô uế khi âm mưu giết Con Đức Chúa Trời. Qua các hành động trên, dân Do thái tự xưng là khôn ngoan mà thật ra là ngu dại, tự xưng là đạo đức mà thật ra là gian ác. Họ dung túng người gian ác mà giết hại người hiền lành nên họ không thể nào được phước và nhân loại trải qua 20 thế kỷ cũng vậy. Tuy nhiên, qua sự thương khó, Chúa Jêsus đã đạt được mục đích là trở nên Vua của các vua, Chúa của các chúa. Hễ ai tin nhận Ngài, tôn vinh Ngài thì sẽ không thiếu một ơn phước nào cho cuộc sống hiện tại và tương lai của mình.

CÂU HỎI

1. Sự chết của Chúa Jêsus bày tỏ 2 điều gì trái ngược nhau?

2. Điều gì tỏ ra Chúa Jêsus quyền năng vô cùng?

3. Điều gì tỏ ra Chúa Jêsus nhân từ tuyệt đối?

4. Làm sao chúng ta biết Chúa vâng phục trọn vẹn?

5. Những bước nào dẫn Phi-e-rơ đến chỗ chối Chúa?

6. Những điểm khác nhau giữa Phi-e-rơ và Giu-đa là gì?

7. Tại tòa án tôn giáo, họ tố cáo Chúa tội gì?

8. Tại tòa chính trị, họ vu khống Ngài tội gì?

9. Tại sao Phi-lát biết Chúa vô tội mà không trả tự do cho Ngài?

10. Hành động của dân Do thái tỏ ra họ là những người thế nào?

11. Muốn được phước, chúng ta phải làm gì?

BÀi 23. CHÚA JÊSUS CHỊU CHẾT

KINH THÁNH: Giăng 19:1-42.

CÂU GỐC: “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời” (I Phi-e-rơ 3:18a).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus Christ chịu chết vì tội chúng ta và sự chết của Ngài là nền tảng đức tin của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CUỘC XÉT XỬ CHÚA JÊSUS

Giăng 19:1-15.

TH.

CHÚA JÊSUS BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ

Giăng 19:16-24.

TB.

NHỮNG LỜI CHÚA PHÁN TRÊN THẬP TỰ GIÁ

Giăng 19:25-30.

TT.

LỜI TIÊN TRI VỀ SỰ HY SINH CỦA CHÚA

Ê-sai 53:1-12.

TN.

SỰ CHẾT CỦA CHÚA JÊSUS

Giăng 19:31-37.

TS.

SỰ CHÔN THI HÀI CHÚA

Giăng 19:38-42.

TB.

ĐIỀU CHIÊN CON ĐÁNG ĐƯỢC

Khải 5:6-14.

Phi-lát vừa là tổng đốc vừa là quan án. Ông có trách nhiệm thi hành công lý, song ông trốn trách nhiệm mà đổ trên dân chúng. Ông biết Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội, nhưng không có can đảm trả tự do cho Ngài. Ông cố tránh cái khó lại gặp cái khó hơn, ông dùng 2 phương pháp mà cả đều thất bại: (1) Ông bằng lòng tha một trong hai người là Chúa Jêsus hoặc Baraba, nhưng dân chúng lại xin tha Baraba là một tên cướp. (2) Để xoa dịu cơn phẫn nộ của họ, ông sai đánh đòn Chúa Jêsus. Sau đó ông cho dẫn Ngài ra, đầu đội mão gai và mình đầy những máu. Ông mong họ chịu cảm động mà bỏ qua, họ lại la lớn: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá”.

Dân Do thái gian ác, còn Phi-lát hèn nhát. Ông là quan mà không chí công vô tư nên khi nghe họ đe dọa: “Ví bằng quan tha người này thì quan không phải là trung thần của Sêsa…” thì ông sợ hãi. Dầu ông cố trốn trách nhiệm song Kinh Thánh vẫn lên án ông (Công 4:27). Ngày nay Chúa Jêsus cũng đang đứng trước tòa án lương tâm của mỗi người, ai nấy đều có trách nhiệm đối với Ngài, hoặc can đảm mà tin nhận Ngài hoặc hèn nhát mà chối bỏ và đóng đinh Ngài.

I. CHÚA JÊSUS BỊ ĐÓNG ĐINH (Giăng 19:16-24).

Đóng đinh trên thập tự giá là lối xử tử khủng khiếp hơn hết xưa nay do người Ba tư bày ra. Họ cho đất của họ là đất thánh, không cho chôn xác phạm nhân mà phải đóng đinh trên thập tự giá để chim trời rỉa ăn. Người La mã chỉ áp dụng hình phạt này cho dân bị trị và nô lệ. Thế mà Con Độc Sanh của Đức Chúa trời lại phải chịu hình phạt ấy vì cớ chúng ta.

Họ đóng đinh Ngài giữa 2 tên trộm cướp là muốn sỉ nhục Ngài một cách thậm tệ, biệt Ngài vào hạng người gian ác. Nhưng họ không ngờ đã làm ứng nghiệm lời tiên tri từ 700 năm trước (Ê-sai 53:12). Nhất là nhờ đó mà một trong hai tên trộm cướp được cứu.

Để trả thù dân Do thái, Phi-lát chế nhạo họ bằng cách cho viết một tấm bảng bằng da câu JÊSUS NGƯỜI NA-XA-RÉT LÀ VUA DÂN DO THÁI trong ba thứ chữ Hê-bơ-rơ, Hy lạp, La tinh, rồi đặt phía trên thập tự giá của Ngài. Hê-bơ-rơ cho người Do thái đọc, Hy Lạp là chữ phổ thông cho người trí thức đọc và La tinh là chữ của chính quyền La mã. Phi-lát muốn cho mọi người biết Jêsus là vua dân Do thái, không ngờ ông làm việc đó là tự lên án mình đã đóng đinh Cứu Chúa của nhân loại. Dân Do thái lấy làm xấu hổ về tấm bảng đó, và yêu cầu Phi-lát thay đổi, song ông không chấp nhận.

Sau khi đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá, bọn lính chia nhau áo xống Ngài làm bốn phần: mũ hoặc khăn, giày, áo ngắn, thắt lưng. Về áo dài không đường may, họ bắt thăm ai trúng nấy được. Họ đã vô tình làm ứng nghiệm lời tiên tri của Đa-vít (Thi 22:8). Di sản thuộc linh mà Chúa để lại cho mọi người là sự cứu rỗi, nó giống như chiếc áo dài không đường may đó, tức là sự cứu rỗi trọn vẹn, không thể phân chia, ai tin thì được tất cả, ai không tin thì không được gì hết.

Trong sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta thấy rõ sự gian ác cực độ của dân Do thái, sự hèn nhát, ích kỷ của Phi-lát và sự tham lam đê tiện của bọn lính. Tất cả mọi người, qua mọi hành động đó làm nổi bật vẻ cao thượng tuyệt vời của Chúa Jêsus.

II. NHỮNG LỜI CHÚA PHÁN TRÊN THẬP TỰ GIÁ (Giăng19:25-30).

Trên thập tự giá, Chúa phán tất cả 7 lần:

(1) “Lạy Cha, xin tha cho họ…” (Lu 23:34).

(2) “Quả thật, hôm nay ngươi sẽ ở với Ta…” (Lu 23:43).

(3) “Hỡi đàn bà kia, đó là con của bà…” (Giăng 19:26).

(4) “Đức Chúa Trời tôi ôi…” (Ma-thi-ơ 27:16).

(5) “Ta khát” (Giăng 19:28).

(6) “Mọi sự đã được trọn” (Giăng 19:30).

(7) “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha” (Lu 23:46).

Sách Giăng chỉ ghi 3 lần:

1. CHÚA GIAO MA-RI CHO GIĂNG BẢO DƯỠNG (Giăng19:25-27).

Trong cơn đau đớn kịch liệt cả xác lẫn hồn, người ta thường quên mọi người. Song Chúa Jêsus nghĩ đến mẹ và bạn của Ngài; nên đã nói một câu làm cho mẹ Ngài có thêm một người con và bạn Ngài có một người mẹ. Trong khi thi hành trách nhiệm của Đấng Cứu Thế là chịu chết trên thập tự giá, Chúa cũng không quên thi hành trách nhiệm của một người con đối với mẹ theo phần xác và tình bạn bè chân thật. Điều này nói lên Chúa không quên chúng ta trong bất luận trường hợp nào, giờ phút nào mà luôn chăm sóc chúng ta cách chu đáo. Xin đừng qui cho Ma-ri cái quyền ban ơn, trái lại bà cần có người bảo dưỡng lúc về già. Từ khi bắt đầu chức vụ Đấng Cứu Thế, Chúa Jêsus không còn gọi Ma-ri là mẹ Ngài mà chỉ gọi “Đàn bà kia” (Giăng 2:4). Bà cũng như Ma-ri vợ Cơlêôba, Ma-ri Ma-đơ-len và bao nhiêu bà khác (Công 1:14).

2. “TA KHÁT” (Giăng 19:28-29).

Từ khi bị bắt tại vườn Ghết-sê-ma-nê cho đến giờ đó chắc không có ai cho Ngài uống nước. Hơn nữa, vì máu ra nhiều, thân thể bị kiệt quệ nên Ngài khát một cách kinh khủng. Lời tiên tri này rất đúng cho Chúa: “Sức lực tôi khô như miếng gốm và lưỡi tôi dính nơi ổ gà” (Thi 22:15). Cám ơn các anh lính La-mã đã cho Ngài uống giấm.

3. “MỌI VIỆC ĐÃ ĐƯỢC TRỌN” (Giăng 19:20-30).

Tại thập tự giá, công cuộc cứu rỗi đã hoàn thành, tội nhân không cần làm gì hơn là tin nhận Ngài. Cả vũ trụ là công việc của Chúa đã làm xong từ buổi sáng thế (Sáng 2:1), thì cho đến nay không ai có thể làm gì thêm. Ơn cứu rỗi đối với chúng ta cũng vậy, đó không phải là công việc chúng ta làm cho Chúa, song là công việc của Chúa đã làm cho chúng ta (Ê-phê-sô 2:8-9).

III. CHÚA JÊSUS CHẾT VÀ ĐƯỢC CHÔN (Giăng 19:31-42).

Dân Do thái xin Phi-lát cho hạ các thây xuống vì họ muốn làm theo luật Môi-se (Phục 21:22-23). Đánh gãy ống chân để thân người sụm xuống, mạch máu tim đứt và con người sẽ chết ngay. Khi bọn lính thấy Chúa Jêsus đã chết thì không đánh gãy ống chân Ngài, song để Ngài thật chết, một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, liền có máu và nước chảy ra.

Khi một người đã chết, máu đông lại không còn chảy ra được. Chúa Jêsus chết trước 2 tên trộm cướp là một trường hợp đặc biệt. Ngài đã chịu đau đớn cùng tột cả xác thể, nhất là tâm hồn (Ma-thi-ơ 26:38; Mác 14:34), nên trái tim Ngài vỡ ra, làm cho máu trộn với chất lỏng của tâm nang, tức là màng tim. Máu đó không đông lại khi Ngài chết nên khi ngọn giáo đâm vào thì nước và máu cùng chảy ra (Thi 22:14-15). Xem thế đủ biết Chúa chịu đau đớn vì chúng ta là dường nào! Tất cả những việc xảy ra cho Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Kinh Thánh.

Sự an táng thi hài của Chúa Jêsus không có đông người đến dự, chỉ có 2 bà Ma-ri, 2 ông là Giô-sép và Ni-cô-đem. Hai ông này là nhân viên tòa công luận, đã tin Chúa nhưng không dám xưng ra vì sợ. Khi Chúa chịu chết, Giô-sép không còn sợ nữa mà dám đến Phi-lát xin thi hài của Ngài để mai táng. Ni-cô-đem nhớ lại lời Chúa phán về con rắn bằng đồng bị treo trên cây sào, nên cũng hăng hái bày tỏ là môn đồ của Ngài. Họ khâm liệm và an táng Chúa một cách trọng thể bằng vải gai trắng quấn cẩn thận thi hài của Ngài, rồi tẩm một trăm cân một dược hòa với lư hội, xong đặt thi hài trong một huyệt mới. Dầu hai ông đã trễ nải tỏ ra mình là môn đồ của Chúa, song vẫn còn cơ hội cuối cùng để họ hầu việc Ngài.

CÂU HỎI

1. Ai là người có trách nhiệm về sự đóng đinh Chúa Jêsus?

2. Đã biết Chúa Jêsus vô tội, tại sao Phi-lát không trả tự do cho Ngài?

3. Tại sao họ đóng đinh Chúa Jêsus giữa 2 tên trộm cướp?

4. Chiếc áo không đường may của Chúa chỉ về gì ?

5. Trên thập tự giá, Chúa phán mấy lần?

6. Chúa giao Ma-ri cho Giăng bảo dưỡng, có sự dạy dỗ gì cho chúng ta?

7. Chúa phán “Mọi sự đã được trọn” có nghĩa gì ?

8. Tại sao Chúa chết trước hai tên trộm cướp?

9. Sự chết của Chúa đã đem lại gì cho Giô-sép và Ni-cô-đem?

10. Anh chị quyết định thế nào đối với Chúa Jêsus?

Bài 24. CỨU CHÚA JÊSUS SỐNG LẠI

KINH THÁNH: Giăng 20:1-18.

CÂU GỐC: “Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy” (Rô-ma 6:4b).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự sống lại của Chúa Jêsus đảm bảo cho chúng ta được cứu rỗi, được nếp sống phong phú và được sống lại trong tương lai.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

NGÀI SỐNG LẠI RỒI

Giăng 20:1-10.

TH.

CHÚA JÊSUS HIỆN RA VỚI MA-RI MAĐƠLEN

Giăng 20:11-18.

TB.

MỘT BẢN PHÚC TRÌNH GIẢ DỐI

Ma-thi-ơ 28:1-15.

TT.

MỘT VIỆC CHẮC CHẮN

ICôr 15:1-11.

TN.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ SỐNG LẠI

ICôr 15:22-26.

TS.

CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI

ICôr 15:54-58.

TB.

SỐNG ĐỜI ĐỜI

Khải huyền 1:1-18.

Chúa Jêsus chịu chết và sống lại là hai sự kiện lịch sử làm nền tảng cho đức tin chúng ta. “Ngài bị nộp vì tội lỗi chúng ta và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta” (Rô 4:25). Chúng ta không có một Cứu Chúa nằm rục xương trong phần mộ, song có một Cứu Chúa hằng sống đã tình nguyện chịu chết đền tội cho chúng ta và sống lại khải hoàn. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời để cầu thay cho chúng ta theo tư cách thầy tế lễ thượng phẩm. “Bởi đó, Ngài có thể cứu trọn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời” (Hêb 7:25).

Sự sống lại của Chúa cho chúng ta quyền năng và sức sống để chúng ta đắc thắng mọi sự cám dỗ và tội lỗi. Sự sống lại của Chúa bảo đảm cho chúng ta rằng chúng ta sẽ sống lại khi Chúa Jêsus từ trời tái lâm. Nói tóm một lời, nếp sống đạo đức của chúng ta yếu hay mạnh, con người thuộc linh của chúng ta ấu trĩ hay trưởng thành đều tùy thuộc vào đức tin của chúng ta đến Cứu Chúa sống lại và hằng sống (Khải 1:17-18).

I. VINH HIỂN CHÚA SỐNG LẠI (Giăng 20:1-10).

Ma-ri Ma-đơ-len đã được Chúa cứu khỏi 7 quỉ dữ (Mác 16:9; Lu 8:2) nên bà rất yêu mến Ngài. Bà đã đứng dưới chân thập tự giá của Chúa để chứng kiến mọi sự xảy đến cho Ngài và an ủi Ngài trong giờ phút đau thương hấp hối. Bà cũng đến tận ngôi mộ đã an táng xác Ngài (Ma-thi-ơ 27:55,56,61). Đó là ngày thứ sáu. Ngày thứ bảy bà sắm sửa thuốc thơm để xức xác Ngài. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, tức là ngày Chúa nhật, bà đã đến mộ Chúa lúc trời còn mờ mờ. Chắc chắn đêm hôm trước bà ngủ ít lắm, chỉ mong trời mau sáng.

Thiết tưởng không phải chỉ một mình Ma-ri Ma-đơ-len đến mộ của Chúa mà cũng có vài bà khác cùng đi, song Giăng ghi lại Ma-ri Ma-đơ-len là vai chính trong việc này (Ma-thi-ơ 28:1; Mác 16:1; Lu 24:1). Họ thừa biết phần mộ của Chúa được niêm phong và canh giữ cẩn thận. Tảng đá chắn cũng là một trở ngại lớn. Đó là những mối lo của họ, song Chúa đã chuẩn bị hết mọi sự cho họ rồi. Này, một cơn động đất dữ dội xảy ra, thiên sứ từ trời đến với hào quang sáng chói. Bọn lính canh kinh tâm tán đởm ngã xuống đất bất tỉnh, tảng đá lăn xa, bày ra mộ trống. Cảnh tượng ấy thật oai nghi, hùng vĩ chưa từng có. Chúa đã bố trí mọi sự không phải để các bà gặp một xác chết song để gặp một Cứu Chúa sống lại và sống đời đời.

Khi đến nơi, nhìn vào mộ trống không thấy xác Chúa đâu cả, Ma-ri hoảng hốt vội vàng chạy về báo tin cho Phi-e-rơ và Giăng: “Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu”. Hai ông chạy đến, thấy vải liệm còn nguyên và khăn trùm đầu của Chúa cuốn lại để riêng nơi khác. Hai ông tin rằng Chúa Jêsus đã sống lại, song việc xảy ra quá đột ngột nên họ sững sờ, yên lặng trở về nhà mình.

Chúa Jêsus không để lại cho chúng ta một lăng tẩm nào như vua chúa thế gian, như các giáo chủ khác. Ngài cũng không để lại cho chúng ta một mớ tóc hay một nắm xương. Ngài chỉ để lại cho chúng ta một ngôi mộ trống vì Ngài đã sống lại. Đó là niềm hãnh diện vô biên của chúng ta.

II. MA-RI MAĐƠLEN GẶP CHÚA SỐNG LẠI (Giăng 20:11-18).

Sau khi Phi-e-rơ và Giăng trở về nhà mình, Ma-ri vẫn đứng trước mộ trống, ôm mặt khóc. Bà không thể trở về nếu chưa biết xác Chúa ở đâu. Hai thiên sứ hỏi bà: “Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc?” Song bà không nhận ra đó là hai thiên sứ. Bà xây lại thấy Chúa Jêsus nhưng cũng không nhận ra Ngài mà tưởng là người làm vườn. Chúa hỏi: “Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc, ngươi tìm ai?” Hai câu trả lời của bà đều có một ý: Tôi muốn biết xác Chúa tôi ở đâu.

Ma-ri hết lòng yêu thương Chúa, nhưng bà chưa hiểu Chúa đủ. Không biết rằng Chúa đã sống lại nên tâm trí bà lúc bấy giờ chỉ hướng về xác Chúa. Vì vậy, khi đáng cười bà cứ khóc, lúc đáng vui bà lại buồn. Chúng ta cũng giống như Ma-ri Ma-đơ-len, ai nấy cứ sống như Chúa Jêsus còn nằm trong mộ. Vì thế, Phao-lô đã thiết tha cầu nguyện cho Hội Thánh chung được biết Đức Chúa Trời, biết hy vọng của mình, biết quyền năng vô hạn của Ngài, là quyền đã khiến Chúa Jêsus sống lại (Ê-phê-sô 1:17-21). Vì càng hiểu biết Chúa, chúng ta càng yêu mến, tin cậy và phục vụ Ngài trọn đời mình. Bạn đang cười hay khóc? Đang vui hay buồn?

Vì ôm mặt khóc, nước mắt chan hòa nên bà không thấy rõ Chúa đang sống, đang đứng trước mặt mình. Nếu bà không khóc mà mở toang đôi mắt, đôi tai lắng nghe, bình tâm suy xét, chắc bà đã thấy thiên sứ, nghe họ giải thích, nhớ lại lời Chúa và biết Ngài đã sống. Vì ngoài các môn đồ thì ai cất xác Chúa làm chi và các môn đồ đâu có đủ sức đánh ngã bọn lính. Giả định họ đánh ngã bọn lính thì đâu có thì giờ mà ngồi lại tháo vải liệm và khăm trùm đầu của Chúa để riêng ra cho có thứ tự. Chỉ có một lời giải thích cho sự việc đó là Chúa đã sống lại.

Khi có một sự cố bất thường xảy ra chúng ta thường rơi vào tâm trạng như Ma-ri: thấy trắng hóa đen, tưởng bạn là thù, xem phước là họa. Chúa đang thách thức Sa-tan và quyền lực tối tăm của nó. Chúa đang bố trí mọi sự để một lần nữa chứng minh sự sống lại của Ngài và quyền vô hạn của Ngài từ trời chí đất.

Bạn ơi, xin đừng chán nãn nữa, xin đừng cúi xuống nhìn trong mộ để tìm một xác chết, song hãy ngước lên nhìn Chúa Jêsus hằng sống đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời để cầu thay cho chúng ta và Ngài sẽ tái lâm một ngày gần đây.

Dầu Ma-ri Ma-đơ-len kém phần tri thức, song rất trổi về phần tâm linh nên Chúa thương xót bà mà không lời quở trách. Ngài phán: “Hỡi Ma-ri!” Thiết tưởng đây là cách Chúa thường gọi bà khi trước. Như chiên quen tiếng người chăn, con quen tiếng cha, trò quen tiếng thầy mình nên bà biết ngay đó là Chúa Jêsus. Vừa la lên “Rabuni” bà vừa chạy lại ôm chân Ngài. Chắc trong đời của Ma-ri không có sự vui mừng nào bằng sự vui mừng này, không ai có lời nào tả xiết. Đức tin của bà đã lên đến cực độ. Trong nỗi vui mừng đó, Ma-ri không muốn buông chân Chúa ra. Song Ngài phải về với Cha Ngài, nên Ngài truyền lệnh cho Ma-ri phải gấp rút báo tin cho các môn đồ đến gặp mặt Ngài tại Ga-li-lê (Ma-thi-ơ 28:10; Mác 16:7).

Ma-ri thấy Chúa trước nhất và cũng được Ngài sai đi trước nhất. Vậy, bà đi thuật lại cho các môn đồ rằng: “Tôi đã thấy Chúa và Ngài đã phán cùng tôi những điều đó”. Bà đem tin vui này cho những kẻ đang tang chế, khóc lóc (Mác 16:10). Từ đó các môn đồ đều có một kinh nghiệm tương tự như Ma-ri là ai nấy đổi buồn ra vui, đổi khóc ra cười, đổi tuyệt vọng ra hy vọng, đổi nhút nhát ra dạn dĩ, yếu đuối ra mạnh mẽ, thất bại ra đắc thắng. Cũng từ đó các môn đồ luôn luôn làm chứng về sự sống lại của Chúa Jêsus và có kết quả lớn: Nào là phép lạ, dấu kỳ được tỏ ra, nhiều ngưòi được cúu rỗi, Hội Thánh được thành lập, lớn lên và lan tràn khắp thế giới.

CÂU HỎI

1. Sự sống lại của Chúa có tương quan gì đến đời sống của chúng ta?

2. Ma-ri Ma-đơ-len đã được Chúa cứu thể nào?

3. Ma-ri đã theo Chúa thế nào?

4. Các bà đến mộ Chúa lúc sáng sớm để làm gì?

5. Chúa bố trí mọi sự để cho các bà biết gì?

6. Ma-ri ôm mặt mà khóc thì có hại gì?

7. Chúa để lại cho chúng ta những gì?

8. Khi được thấy Chúa sống lại thì Ma-ri làm gì?

9. Chúa sai Ma-ri đi đâu?

10. Sự sống lại của Chúa đã thay đổi đời sống các môn đồ thế nào?

Bài 25. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG CHỦ TỂ

KINH THÁNH: Giăng 20:19-31.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy Ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy” (Giăng 20:29).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Đức Chúa Trời mong chúng ta tin lời Ngài và vâng theo các mạng lệnh Ngài suốt cuộc đời của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

CHÚA HIỆN RA VỚI NHỮNG NGƯỜI THEO NGÀI

Giăng 20:19-23.

TH.

CHÚA HIỆN RA CHO THÔMA

Giăng 20:24-31.

TB.

CHÚA HIỆN RA CHO HAI MÔN ĐỒ

Lu-ca 24:13-24.

TT.

NGƯỜI KHÁCH LẠ

Lu-ca 24:25-35.

TN.

ĐÔI TAY BỊ ĐÂM LỦNG

Lu-ca 24:35-48.

TS.

NHỜ TIN MÀ SỐNG

Rô-ma 10:1-13.

TB.

NHỮNG LỜI CUỐI CÙNG CỦA CHÚA JÊSUS

Công 1:1-9.

Gần sáu tháng qua, chúng ta đã học về Chúa Jêsus là Đấng quyền năng, hằng sống, nhơn từ… Ngài cũng là Vua vinh hiển song bị dân Do thái chối bỏ, bắt nộp cho Phi-lát, bị đóng đinh trên thập tự giá. Vì Ngài quyền năng và hằng sống nên không ai có thể giết Ngài, song Ngài đã tình nguyện chết đền tội cho chúng ta và sống lại. Sự sống lại và sự sống đời đời là bằng cớ chứng minh Ngài là Đấng bách chiến bách thắng, không còn có kẻ thù nào đứng nỗi trước mặt Ngài kể cả sự chết. Vì vậy, Ngài là Đấng Chủ tể của nhân loại nói chung và của mỗi chúng ta nói riêng.

I. ĐẤNG CHỦ TỂ TRUYỀN LỆNH (Giăng 20:19-23).

Buổi chiều ngày Chúa sống lại, các môn đồ họp nhau lại trong một ngôi nhà, có lẽ là nơi họ đã dự lễ Vượt qua với Chúa trước đó. Ai nấy đều ngạc nhiên nghe Ma-ri Ma-đơ-len thuật lại thể nào bà đã gặp Chúa (Giăng 20:11-18). Hai bà khác nói lên việc họ gặp Chúa hiện ra khi họ từ ngôi mộ trống trở về (Ma-thi-ơ 28:9-10). Rồi hai người từ Em-ma-út chạy đến báo tin họ đã gặp Chúa trên con đường trở về làng và nhất là lúc họ ăn bữa với Ngài.

Đang khi các cửa đóng kín mít vì sợ người Do thái, thình lình Chúa hiện ra đứng giữa các môn đồ. Biết họ bối rối lắm, Chúa vội vàng truyền lịnh: “Bình an cho các ngươi”, rồi Ngài giơ tay và sườn cho họ xem. Ai nấy đều mừng rỡ. Không có sự bình an, vui vẻ nào bằng khi được thấy Chúa sống lại. Cơn bão táp mưa sa đã tan, bóng tối tiêu tan, bình minh ló dạng. Đấng Chủ tể đã lập lại trật tự và an ninh cho dân sự của Ngài.

Chúa tiếp tục truyền lịnh: “Bình an cho các ngươi, Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các ngươi thể ấy”. Tin mừng này không phải chỉ riêng cho môn đồ được hưởng nhưng họ phải ra đi truyền lại cho mọi người. Chúa lấy chính mình Ngài làm gương khích lệ họ là họ được sai đi cũng như Ngài được sai đi. Trước khi thăng thiên, Ngài còn tái xác quyết mạng lịnh này: “Hết cả quyền bính trên trời dưới đất đã giao cho Ta, vậy hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta…” (Ma-thi-ơ 28:18-20).

Kế đó, Chúa hà hơi trên môn đồ và truyền lịnh: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh. Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại thì sẽ bị cầm tội cho kẻ đó”. Các môn đồ không thể nào thi hành nổi mạng lịnh của Chúa nếu không nhận lãnh Đức Thánh Linh. Song đây chỉ là trái đầu mùa của một mùa phong phú sẽ đến với họ vào ngày lễ Ngũ Tuần. Đời xưa Đức Chúa Trời đã hà hơi vào A-đam và lập nên nhân loại cũ. Đời nay, Chúa Jêsus đã hà hơi vào các môn đồ và lập nên nhân loại mới. Số môn đồ được Chúa chúc bình an, sai đi truyền giảng, ban Đức Thánh Linh không phải chỉ có 11 người, song trong đó cũng có các bà và hai môn đồ ở Em-ma-út, nên việc tha tội và cầm tội không phải chỉ giao cho các sứ đồ mà có cả môn đồ nữa, vì họ cũng đã nhận lãnh Đức Thánh Linh. Trước đó, Chúa đã nói với Phi-e-rơ: “Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi…” (Ma-thi-ơ 16:19), thì bây giờ Ngài cũng nói với các sứ đồ khác và môn đồ như vậy (Ma-thi-ơ 18:18). Chúng ta không hề thấy Phi-e-rơ hay vô luận một sứ đồ nào đã tha tội hay cầm tội ai, vì việc đó nằm trong công tác truyền giảng Tin Lành như Chúa đã phán: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp-têm sẽ được rỗi, nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” (Mác 16:15-16). Phi-e-rơ đã mở nước thiên đàng cho dân Do thái nhằm ngày lễ Ngũ Tuần, ông cũng mở nước thiên đàng cho dân ngoại trong nhà Cọt-nây. Phao-lô đã mở nước thiên đàng cho các dân tộc trên thế giới bấy giờ qua ba vòng truyền giáo của ông. Ngày nay mỗi chúng ta đều có thể sử dụng chìa khóa nước thiên đàng và quyền tha tội, cầm tội bằng công tác truyền giảng Tin Lành. Đấng Chủ tể đã truyền lịnh cho các môn đồ xưa thể nào, cũng truyền lịnh cho chúng ta ngày nay thể ấy.

II. ĐẤNG CHỦ TỂ NHẬN SỰ THỜ PHƯỢNG (Giăng 20:24-29).

Không hiểu vì lý do gì mà Thô-ma vắng mặt trong buổi họp vừa kể trên. Phải chăng ông buồn bã, thất vọng? Vắng mặt trong một buổi họp như thế làm cho ông mất phước rất nhiều vì khi được người khác chia sẻ lại, ông còn nói lên sự nghi ngờ. Cũng như Thô-ma, trong lúc buồn bã thất vọng, chúng ta thường lánh mặt không muốn gặp ai. Tự cô lập như vậy là một hành động nguy hiểm, chưa kể đến bị mất các phước hạnh lớn lao. Trái lại, giữ mối tương giao mật thiết với anh chị em mình là cách tốt nhất để giải quyết và chiến thắng lo buồn, thất vọng.

Chúa Jêsus rất nhân từ với Thô-ma. Ngài nghe Thô-ma nói, thấy lòng nghi ngờ của ông nên tám ngày sau, khi các môn họp lại và có Thô-ma nữa, thì Ngài hiện ra với họ như lần trước. Không đợi Thô-ma hỏi, Chúa bảo: “Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây và xem bàn tay Ta, cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn Ta. Chớ cứng lòng song hãy tin”.

Không dám xem cũng chẳng dám đặt tay vào, nghe tiếng Chúa phán cũng đủ quá cho ông rồi. Thô-ma liền la lên: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi”. Ông nhận Chúa là Chủ tể của riêng mình, ông thuộc về Ngài và Ngài thuộc về ông. Thô-ma đáng trách nhưng cũng có điểm đáng khen. Ông nói thật những gì có trong lòng mình không chút giấu diếm. Khi không tin thì nói không tin, khi tin rồi thì nói tin và hết lòng tin. Có người nói mình tin lại không tin, nói mình hiểu lại không hiểu. Thà hãy thành thật như Thô-ma.

Chúa phán với Thô-ma: “Vì ngươi đã thấy Ta nên ngươi tin. Phươc cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin”. Ngày nay chúng ta chưa từng thấy như Thô-ma, song chúng ta đã tin Chúa sống lại và nhờ đó chúng ta có phước; rồi một ngày không xa, chúng ta thấy Ngài mặt đối mặt.

III. AI TIN ĐẤNG CHỦ TỂ THÌ ĐƯỢC SỐNG (c.30-31).

Trong vô số phép lạ dấu kỳ Chúa đã làm, Giăng không kể hết ra trong sách của ông, song ông chỉ chọn lọc những phép lạ quan trọng nhất để chứng minh Ngài là Đấng Christ, tức là Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu làm Vua, làm Cứu Chúa mà dân Do thái đã bao năm tháng đợi chờ. Ai tin Ngài thì được sự sống.

“Tin” là một chữ rất quan trọng trong sách Giăng, được diễn tả nhiều lần, nhiều cách. Chịu Thánh Linh dẫn dắt, ông trình bày những sự thật diệu kỳ để độc giả tin. Chúa Jêsus cũng nhiều lần nhấn mạnh chữ TIN.

Chúa trách lòng không tin của người Do thái: “Các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình, vì nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (8:24). “Nếu Ta nói lẽ thật sao các ngươi không tin Ta?” (Giăng 8:46). “Ta đã bảo các ngươi mà các ngươi không tin Ta” (Giăng10:25). “Về tội lỗi vì họ không tin Ta” (Giăng16:9).

Chúa kêu gọi dân Do thái tin Ngài: “Ví bằng Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi chớ tin Ta. Còn nếu Ta làm dầu các ngươi chẳng tin Ta, hãy tin những việc Ta” (Giăng 10:38). “Khi Ta nói rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta, thì hãy tin Ta; bằng chẳng, hãy tin bởi công việc Ta” (Giăng 14:11).

Biết bao lời hứa quí báu cho kẻ tin: “Hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (Giăng 3:15). “Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu” (Giăng 3:18). “Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35). “Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình” (Giăng 7:38 ).

Nguyện Chúa cho mỗi chúng ta hết lòng tin Chúa và bày tỏ lòng tin đó bằng sự vâng lời Ngài, yêu mến Ngài, phục vụ, tận hiến đời mình cho Ngài.

CÂU HỎI

1. Chúa phán: “Bình an cho các ngươi” có nghĩa gì?

2. Chúa sai những ai đi truyền giảng?

3. Chúa ban Thánh Linh cho những ai?

4. Chúa giao chìa khóa nước thiên đàng, quyền tha tội, cầm tội cho những ai?

5. Sử dụng chìa khóa nước thiên đàng và quyền cầm tội, tha tội có nghĩa gì?

6. Cái hại của Thô-ma khi vắng mặt trong một buổi họp là gì

7. Chúa đối với Thô-ma thể nào?

8. Thô-ma đã bày tỏ đức tin của ông thế nào?

9. Đại ý của sách Giăng là gì?

10. Chúa có thái độ nào đối với kẻ không chịu tin Ngài?

Bài 26. CHÚA JÊSUS LÀ CHỦ CỦA CHÚNG TA

KINH THÁNH: Giăng 21:1-25.

CÂU GỐC: “…Đức Chúa Jêsus phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta hơn những kẻ này chăng? Phi-e-rơ đáp rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy chăn những chiên con Ta” (Giăng 21:15).

MỤC ĐÍCH: Dạy dỗ mỗi chúng ta phải vâng lời, yêu mến, bước theo Chúa Jêsus để làm chứng có kết quả cho Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN.

PHỤC VỤ CHỦ

Giăng 21:1-14.

TH.

YÊU MẾN CHỦ

Giăng 21:15-25.

TB.

MỘT CHUYẾN ĐI THÀNH CÔNG

Lu-ca 5:1-11.

TT.

LỜI CẢNH CÁO PHI-E-RƠ

Lu-ca 22:24-34.

TN.

PHI-E-RƠ CHỐI CHÚA

Lu-ca 22:54-62.

TS.

SỰ THA TỘI

Thi 85:1-13.

TB.

SỰ MẠNH DẠN CỦA PHI-E-RƠ

Công 4:13-22.

Hôm nay chúng ta học bài cuối cùng của sách Tin Lành Giăng. Chúng ta đã học nhiều về Chúa Jêsus là Bạn thân, là Vua, là Đường đi, Lẽ thật và Sự sống; là Gốc nho, là Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta, là Chủ tể. Ngài thật là như vậy đối với chúng ta, song nếu chúng ta chưa tôn xưng Ngài là Chủ của chúng ta thì chưa trọn vẹn. Ngài phải là Chủ của chúng ta một cách riêng tư. Thô-ma đã công xưng: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi”. Phao-lô cũng nói: “Ngài là Chúa tôi”. Mỗi chúng ta phải nói: “Chúa Jêsus là Chủ của tôi”.

I. VÂNG LỜI CHỦ (Giăng 21:1-14).

Sau khi sống lại, Chúa hiện ra cho các bà bảo họ báo lại cho các môn đồ hãy đến Ga-li-lê sẽ gặp Ngài tại đó (Ma-thi-ơ 28:10). Vì vậy có 7 môn đồ đã đến miền Ga-li-lê.

Đang khi chờ đợi Chúa, Phi-e-rơ nói: “Tôi đi đánh cá”. Các môn đồ khác họa theo: “Chúng tôi đi với anh”. Biển Tibêriát cũng là biển Ga-li-lê hay là hồ Ghênêxarết (Giăng 6:1; Lu 5:1) là nơi họ rất quen thuộc. Hơn nữa, họ thạo nghề đánh cá, lại đánh cá vào ban đêm là lúc thuận tiện hơn hết. Vì vậy, ai nấy đều tin chắc chắn sẽ được nhiều cá. Song lần này cũng như lần trước, họ chẳng được chi cả (Lu 5:5) mặc dù họ hết lòng hết sức đánh cá suốt đêm.

Bài học thứ nhất mà Chúa muốn dạy họ là trong sinh hoạt hằng ngày đừng cậy tài cậy sức của mình, đừng hành động theo ý riêng mà phải chờ mạng lịnh của Chúa. Một đầy tớ phải chờ khi nào chủ bảo mới làm, chủ sai mới đi, chứ không phải muốn đi đâu thì đi, muốn làm chi thì làm. Một đoàn quân không thể tiến hay thoái khi chưa có lệnh của vị chỉ huy. Đành rằng chúng ta sốt sắng, hăng say hoạt động không ngừng, song không được phép đặt Chúa ngoài phạm vi hoạt động của mình, mà phải hoạt động dưới sự điều khiển của Ngài.

Chúng ta thường tự nhủ, tôi làm việc của Chúa, tôi làm việc cho Chúa, song nên nhớ rằng không ai sống cuộc đời tín đồ Đấng Christ nếu không có Đấng Christ ngự trị trong lòng. Nói cách khác, chỉ có Đấng Christ mới có thể sống cuộc đời tín đồ Đấng Christ. Không ai có thể làm việc của Chúa nếu người đó tự điều khiển mà không để Ngài điều khiển công việc của Ngài qua chính mình. Lời tuyên bố của Chúa sau đây khiến chúng ta phải hổ thẹn: “Ta không thể tự mình làm nổi việc gì… vì TA chẳng tìm ý muốn của Ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai Ta” (Giăng 5:30; 14:10).

Các môn đồ là những người rất quan trọng sẽ làm đảo lộn thế giới, mở mang Hội Thánh của Chúa nên họ không thể sống theo ý riêng. Để dạy cho họ một bài học, Chúa đã ra lệnh cho tất cả cá trong phạm vi hoạt động của môn đồ phải di tản khỏi đó nên công lao của họ ra hư không như dã tràng xe cát.

Bài học thứ hai Chúa muốn dạy môn đồ là họ phải vâng lời. Chúa hỏi: “Hỡi các con, không có chi ăn hết sao?” Thưa rằng: “Không”. Chúa bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì các con sẽ được”. Dù sương mù che khuất, thức suốt đêm mệt mỏi, mắt họ đã mờ nên không nhận biết Chúa Jêsus. Tuy nhiên, nghe mạng lịnh nghiêm minh của Ngài, họ vâng lời ngay. Kết quả được 153 con cá lớn đến nỗi không kéo lên được.

Đánh cá suốt đêm, thả lưới rất nhiều lần mà không có con nào, bây giờ chỉ có một lần mà cá đầy lưới. Họ biết ngay người ra lịnh cho họ là Chúa Jêsus. Mừng quá không chờ thuyền được, Phi-e-rơ nhảy xuống nước lội vào bờ để gặp Chúa. Thế mới biết làm việc dưới quyền điều khiển của Chúa khác hơn là tự điều khiển lấy công việc của mình. Chúa là Chủ tể trời đất, điều khiển muôn vật. Ê-li vâng lời Chúa, Ngài dùng con quạ nuôi ông. Giô-na không vâng lời Chúa, Ngài dùng con cá lớn nuốt ông. Trước đó, các môn làm theo ý riêng nên Chúa ra lịnh cho tất cả cá di tản đi nơi khác, đến khi họ vâng lời Ngài, Ngài ra lịnh tập trung chúng lại, nên chỉ một mẻ lưới là đủ. Sau đó là bữa ăn thân mật giữa Chúa và các môn đồ.

II. YÊU MẾN CHỦ (Giăng 21:5-17).

Một đầy tớ yêu mến chủ mới có thể vâng lời chủ. Khi nào đầy tớ nói được rằng: “Tôi yêu chủ tôi” (Xuất 21:5-6) thì người mới có thể hầu việc chủ trọn đời mình.

Vì vậy, sau bữa ăn, Chúa hỏi Phi-e-rơ: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” Vì trước khi Chúa chịu chết, Phi-e-rơ muốn tỏ ra rằng ông là người yêu Chúa hơn hết, nên đã nói: “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ Thầy song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy” (Ma-thi-ơ 26:33). Bây giờ ông không dám quả quyết như vậy nữa mà chỉ thưa: “Lạy Chúa, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Phi-e-rơ không còn kiêu căng, tự tin. Lần thứ hai Chúa hỏi: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ trả lời y như lần trước. Lần thứ ba, Chúa hỏi: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa”.

Tại sao Chúa hỏi Phi-e-rơ đến 3 lần “ngươi yêu Ta chăng?” Vì sau 3 lần chối Chúa, Phi-e-rơ mang nặng một tâm trạng đau buồn vì tội lỗi, chẳng biết Chúa có tha thứ hay không, dù ông đã khóc lóc cách thảm thiết với tấm lòng ăn năn tan vỡ. Chúa hỏi 3 lần để 3 lần Phi-e-rơ có dịp xác nhận ông yêu Ngài, hầu cho cũng 3 lần Chúa tuyên bố: “Hãy chăn chiên Ta”. Như vậy Chúa đã công khai phục chức cho ông cách hoàn toàn. Tình thương của Chúa chờ đợi để tha thứ và quên đi mọi tội lỗi của chúng ta.

Không phải chỉ có Phi-e-rơ phạm tội nặng nề như thế mà chúng ta cũng đã chối Chúa dưới nhiều hình thức khác nhau, hoặc đã phản bội Chúa như Giu-đa hay bắt bớ Chúa như Sau-lơ. Chúa nhắc lại tội của Phi-e-rơ không phải để lên án ông, song để tha thứ và phục chức cho ông, hầu ông được vững lòng phục vụ Ngài. Cũng vậy, Chúa đang chờ đợi chúng ta xưng tội và công bố chúng ta yêu Ngài để Chúa cũng công khai tha thứ và phục hồi quyền công dân thiên quốc cho chúng ta. Lắm người đã mất niềm vui, đức tin yếu đuối, hy vọng mỏi mòn vì một tâm trạng đau buồn sau khi vấp phạm mà chưa ăn năn. Bây giờ hãy làm đi để được Chúa tha thứ ngay.

Chúa muốn trọng dụng Phi-e-rơ trong chức vụ chăn bầy song với điều kiện là ông phải yêu Ngài. Nếu khi Chúa hỏi mà Phi-e-rơ thưa: “Tôi không yêu Chúa”, thì chắc không bao giờ Chúa phán: “Hãy chăn chiên Ta.” Vì Chúa không bao giờ giao bầy chiên Ngài yêu cho kẻ không yêu Ngài, bởi biết rằng kẻ đó sẽ làm tan tác và hủy diệt bầy chiên của Ngài. Muốn hầu việc Chúa trong bất kỳ công trường nào, chúng ta phải yêu Ngài. Nếu không yêu Ngài, chúng ta là kẻ sỉ nhục Ngài chứ không tôn vinh Ngài, phản bội chứ không trung thành với Ngài; phá hủy Hội Thánh chứ không gây dựng.

III. THEO CHỦ (Giăng 21:18-25).

Trong phần này, có hai lần Chúa bảo Phi-e-rơ: “Hãy theo Ta”. Một đầy tớ phải vâng lời chủ, yêu mến và theo chủ cho đến cuối cùng. Có nhiều điều quan hệ đến nhiều người mà không quan hệ đến cá nhân mình. Song có một điều mà mỗi chúng ta phải quan tâm là theo Chúa. Chúa đã gọi Phi-e-rơ vào chức vụ trước đó 3 năm (Ma-thi-ơ 4:18-19), bây giờ Chúa tái quyết: “Hãy theo Ta”. Thật Phi-e-rơ đã theo Chúa trọn đời cho đến khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá. Ông đã nhận Chúa Jêsus là Chủ của mình.

Nếu chúng ta muốn hầu việc Chủ mình như Phi-e-rơ thì phải bắt đầu bằng sự vâng lời, tiếp tục trong tình yêu và theo Ngài cho đến cuối cùng. Vì vâng lời sinh ra yêu thương, yêu thương là sức mạnh giúp chúng ta bước theo Ngài từng bước.

CÂU HỎI

1. Bảy môn đồ đã đến Ga-li-lê với mục đích gì?

2. Họ làm gì khi chờ đợi Chúa?

3. Họ rất thạo nghề đánh cá nhưng sao suốt đêm chẳng bắt được con nào?

4. Chúa bảo họ thả lưới ở đâu để được cá?

5. Qua việc đánh cá, Chúa dạy họ hai bài học gì?

6. Tại sao Chúa hỏi Phi-e-rơ đến 3 lần: Ngươi yêu Ta chăng?

7. Tại sao 3 lần Chúa bảo Phi-e-rơ: Hãy chăn chiên Ta?

8. Muốn hầu việc Chúa chúng ta phải có điều kiện nào?

9. Tại sao Chúa không giao bầy chiên Ngài yêu cho kẻ không yêu Ngài?

10. Muốn hầu việc Chúa, chẳng những vâng lời, yêu Chúa mà còn gì nữa?

BÀI 27. SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

KINH THÁNH: Công vụ 1:1-14.

CÂU GỐC: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ Đức Thánh Linh ban quyền năng cho kẻ vâng lời Ngài để thực hiện công việc Ngài cách kết quả.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hội Thánh được thành lập

(Công vụ 1-4).

TH:

Sự bắt bớ khiến Hội Thánh tan lạc

(Công 5-8).

TB:

Sau-lơ trở lại đạo, dân ngoại được nghe Tin Lành

(Công 9-12).

TT:

Hành trình truyền giảng 1 & 2

(Công 13-16).

TN:

Hành trình truyền giảng 2 & 3

(Công 17-20).

TS:

Hành trình truyền giảng 3. Phao-lô bị bắt

(Công vụ 21-24).

TB:

Phao-lô trước mặt Ạc-ríp-ba: Hành trình sang Rô-ma

(Công 25-28).

Sáu tháng qua, chúng ta đã học sách Tin Lành Giăng về Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại.

Sáu tháng này, chúng ta học sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi chép câu chuyện đức tin biến thành hành động, tức là công tác của các sứ đồ sau khi đã tin Chúa.

Muốn học sách Công Vụ Các Sứ Đồ, chúng ta phải lấy thì giờ đọc hết 28 đoạn, nếu đọc được nhiều lần càng tốt, để có một cái nhìn tổng quát nội dung của sách.

I. TÊN SÁCH.

Tên sách là Công Vụ Các Sứ Đồ. Song trong sách không phải chỉ ghi công việc của các sứ đồ mà cũng có công việc của các chấp sự và tín hữu (2:14; 6:8; 8:4-5; 11:19-20). Tuy nhiên trên hết phải nói là công việc của Đức Thánh Linh làm qua sứ đồ, chấp sự và tín hữu. Trong một cộng đồng, ai nấy đều có trách nhiệm, ai nấy phải dự phần đóng góp tùy phương tiện và cơ hội, tùy ân tứ và khả năng Chúa cho mình, chứ không ai được phép miễn trừ.

II. TÁC GIẢ.

Đọc Công Vụ 1:1 và Lu-ca 1:1-4, chúng ta phải nhận rằng hai sách đều do một tác giả. Văn thể, từ, tinh thần của hai sách đều giống nhau. Lu-ca có theo Phao-lô trong các vòng truyền giáo, nên ông ghi lại các việc đã xảy ra (Công Vụ 16:9-40). Tác giả dùng nhiều lần chữ “chúng tôi”, nghĩa là tác giả đã chứng kiến. Chúng ta tin chắc Lu-ca là tác giả của sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Khi ông được Thánh Linh cảm động mà ghi lại hai sách đó, ông cũng không ngờ nó trở thành nguồn phước vô tận cho vô số người suốt 20 thế kỷ qua. Nếu chúng ta tận tâm, trung thành phục vụ Chúa, chúng ta cũng không ngờ công tác của mình có kết quả như vậy.

III. MỤC ĐÍCH.

Mục đích sách Công Vụ Các Sứ Đồ là ghi lại lịch sử thành lập và phát triển của Hội Thánh từ gần đến xa, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh, từ thơ ấu đến trưởng thành. Sách cũng ghi lại nếp sống gương mẫu của Hội Thánh, phương pháp truyền giảng và thành lập các Hội Thánh địa phương do Đức Thánh Linh hoàn toàn hướng dẫn và kiểm soát. Ai muốn sống đẹp lòng Chúa, muốn hầu việc Chúa cách kết quả, hãy đọc sách này. Ai thích đọc lịch sử, nhứt là lịch sử Hội Thánh, hãy đọc sách này. Công dân của vô luận nước nào cũng thích đọc lịch sử của nước đó. Chúng ta là công dân thiên quốc, lẽ nào không thích đọc lịch sử nước mình, và lịch sử đó được ghi chép trong Sách Công Vụ Các Sứ Đồ.

IV. BỐ CỤC.

Để có một cái nhìn tổng quát từ đầu đến cuối hầu dễ học, chúng ta có thể chia sách Công Vụ Các Sứ Đồ như sau.

1. CÁCH THỨ NHẤT.

I. Công Vụ của Phi-e-rơ giữa người Do thái (1-12).

II. Công vụ của Phao-lô giữa người ngoại bang (13-28).

2. CÁCH THỨ HAI.

I. Việc truyền giảng Tin Lành tại Giê-ru-sa-lem (1-7).

II. Việc truyền giảng Tin Lành tại Giu-đê và Sa-ma-ri (8-12).

III. Việc truyền giảng Tin Lành khắp thế giới bấy giờ (13:28).

1. Vòng truyền giảng 1 (13:4-14:27). Bắt đầu từ An-ti-ốt và trở về An-ti-ốt.

2. Vòng truyền giảng 2 ( 15:40-18:22). Bắt đầu từ An-ti-ốt và trở về An-ti-ốt.

3. Vòng truyền giảng 3 (18:23-21:5). Bắt đầu từ An-ti-ốt và trở về Giê-ru-sa-lem.

Giữa ba vòng truyền giảng đó có Giáo Hội nghị tại Giê-ru-sa-lem (15 1:39), Phao-lô bị tù tại Sê-sa-rê (21:16-26:32). Sau ba vòng truyền giảng, Phao-lô bị giải qua La-mã (2728).

3. CÁCH THỨ BA.

I. Lời hứa ban Đức Thánh Linh (1).

II. Được đầy dẫy Đức Thánh Linh (2).

III. Nhờ Đức Thánh Linh làm chứng về Chúa khắp nơi (3-28).

Các giai đoạn phát triển của Hội Thánh đầu tiên.

1. Từ 1:1-6:7 Hội Thánh được nẩy nở, tín đồ được thêm lên.

2. Từ 6:8- 9:31 Hội Thánh được bình an, gây dựng, an ủi và thêm lên.

3. Từ 9:32-12:24 Hội Thánh được nẩy nở, càng thêm lên.

4. Từ 12:25-16:5 Hội Thánh được vững vàng, tín đồ thêm lên.

5. Từ 16:8-19:20 Hội Thánh càng nẩy nở và đắc thắng.

6. Từ 19:28-28:31 Hội Thánh được tự do truyền giảng.

V. CÂU CHÌA KHÓA.

Chìa khóa dùng để mở. Để hiểu biết bất luận một sách nào, chúng ta phải nắm được câu chìa khóa. Câu chìa khóa của sách công vụ là 1:8. Đại ý: Khi Đức Thánh Linh giáng lâm, chúng ta nhận được quyền năng của Ngài thì làm chứng từ gần đến xa cho đến cùng trái đất. Đức Chúa Trời hứa ban Đức Thánh Linh và chúng ta ao ước được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Vậy Đức Chúa Trời hứa ban Đức Thánh Linh cho chúng ta để làm gì? Chúng ta ước ao được đầy dẫy Đức Thánh Linh để làm gì?

VI. CHỮ CHÌA KHÓA.

Chữ chìa khóa của sách Công Vụ Các Sứ Đồ cũng nằm trong 1:8 là LÀM CHỨNG. Làm chứng là nói lại những điều mình đã nghe, đã thấy, đã biết, tức là đã nếm, đã kinh nghiệm (IGiăng 1:1-3). Làm chứng có giá trị hay không còn tùy thuộc vào hành vi, tư cách của người đó. Vì vậy, từ chứng nhân của Chúa cũng có nghĩa là biểu hiệu, lý do, ủy nhiệm thư. Chính cách ăn ở tốt của chúng ta khiến cho lời làm chứng của chúng ta về Chúa Jêsus chịu chết đền tội và sống lại có một giá trị lớn lao như một biểu hiệu, một lý do, một ủy nhiệm thư. Phi-e-rơ đã chối Chúa, các môn đồ khác đã chạy trốn chỉ vì sợ hãi, tưởng Chúa đã chết mà không hề sống lại. Nhưng trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ dạn dĩ đứng ra với 11 sứ đồ làm chứng trước mặt hàng ngàn người về Chúa thật đã chết và cũng đã thật sống lại, rồi trở về trời và ban Đức Thánh Linh xuống. Cuối cùng ông đã kết án dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá. Kết quả của buổi truyền giảng thật lớn lao.

Chúng ta tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa, là Vua, là Chủ của chúng ta. Vậy bây giờ, chúng ta phải làm gì? Chúng ta có sẵn sàng biến đức tin thành hành động không?

Trước khi về trời, Chúa đã giao cho các môn đồ sứ mạng vĩ đại không ai làm nổi. Song đồng thời, Chúa hứa ban Thánh Linh cho họ. Thế thì sứ mạng và ân tứ đi liền nhau. Không bao giờ Chúa giao cho một sứ mạng mà Ngài lại không dự bị ân tứ. Chúng ta không cần trốn tránh, hoặc lo sợ khi nhận thấy sứ mạng quá lớn lao và nặng nề. Hãy như các môn đồ tin cậy, vâng lời, chờ đợi, để nhận được ân tứ. Không ai có thể thực hiện nổi sứ mạng của Chúa bằng chính sức riêng của mình, song ai cũng có thể thực hiện nổi sứ mạng của Chúa bằng chính Đức Thánh Linh. Vì thế, Chúa dặn dò các môn đồ đừng ra khỏi Giê-ru-sa-lem cho đến chừng Đức Thánh Linh giáng lâm. Đừng làm bất luận việc gì của Chúa bằng sức riêng, song hãy làm bất luận việc gì Ngài giao bằng sức của Đức Thánh Linh. Song để khỏi lầm lẫm, chúng ta phải nói cho đúng hơn là không phải chúng ta được Thánh Linh, mà chính Ngài được chúng ta. Không phải là chúng ta dùng Thánh Linh để làm việc nọ, việc kia, song Ngài dùng chúng ta để làm công việc của Ngài. Chúng ta dâng mình cho Ngài, để Ngài chiếm hữu, kiểm soát, hướng dẫn trong mỗi hành động, ngôn ngữ và tư tưởng. Chúa là Vua, là Chủ. Chúng ta là con cái, là nô lệ, là công cụ trong tay Ngài. Nguyện sự vinh hiển chỉ thuộc về Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao gọi là sách Công Vụ Các Sứ Đồ?

2. Nói đúng hơn là sách ghi chép công vụ của ai?

3. Ai viết Công Vụ Các Sứ Đồ? Làm sao chúng ta biết được?

4. Mục đích của sách Công Vụ Các Sứ Đồ là gì?

5. Tại sao chúng ta phải học sách Công Vụ Các Sứ Đồ?

6. Cho bết câu chìa khóa của sách Công Vụ Các Sứ Đồ.

7. Chữ chìa khoá của sách Công Vụ Các Sứ Đồ là gì?

8. Khi Chúa giao sứ mạng, thì Ngài dự bị điều gì cho người đó?

9. Nhờ đâu chúng ta làm tròn sứ mạng của Chúa?

10. Muốn được đầy dẫy Đức Thánh Linh, chúng ta phải làm gì?

BÀI 28. ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM

KINH THÁNH: Công vụ 1-2.

CÂU GỐC: “Ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha Ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:48b,49).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ cho các học viên tầm quan trọng của sự đầy dẫy Đức Thánh Linh, để sống và làm chứng cho Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chức vụ của Chúa Jêsus sau khi sống lại

(Công 1:1-5).

TH:

Lời hứa ban Đức Thánh Linh

(Công 1:6-14).

TB:

Việc chọn Mathia

(Công 1:15-26).

TT:

Đức Thánh Linh giáng lâm

(Công 2:1-13).

TN:

Phi-e-rơ giảng trong Thánh Linh

(Công 2:14-31).

TS:

Phi-e-rơ giảng trong Thánh Linh

(Công 2:32-40).

TB:

Hội Thánh đầu tiên

(Công 2:41-47).

Trước khi về trời, Chúa bảo các môn đồ đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nghĩa là đừng bắt đầu chức vụ cho đến khi Đức Thánh Linh giáng lâm. Vì khi Đức Thánh Linh giáng lâm thì Ba Ngôi Đức Chúa Trời không những ở với chúng ta luôn cho đến tận thế mà còn ở trong chúng ta, để nhờ Ngài chúng ta có một đời sống đắc thắng và một chức vụ kết quả. Không phải Cơ Đốc Nhân có thiện chí và nhiệt tâm là đủ tư cách và khả năng phục vụ Chúa đâu, mà phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Một chiếc đèn có đủ bộ phận cần thiết cũng chưa có thể cháy sáng cho đến khi có dầu. Đức Thánh Linh là dầu, còn chúng ta là những chiếc đèn.

I. CHỜ ĐỢI LỜI HỨA VỀ ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM.

Sau khi Chúa thăng thiên, các môn đồ trở về Giê-ru-sa-lem, họp trong một phòng cao để cầu nguyện và chờ đợi Đức Thánh Linh giáng lâm. Số người họp lại là 120 người, kể cả các bà, trong số đó có “Ma-ri là mẹ Đức Chúa Jêsus cùng anh em Ngài”. Đây là lần cuối cùng, Kinh Thánh chép về Ma-ri, và bà cũng cầu nguyện với Chúa như bao nhiêu môn đồ khác.

Đang khi chờ đợi, chắc lòng họ băn khoăn, sợ hãi, cảm thấy cô đơn vì không có Chúa ở đó với họ. Ngoài ra ai nấy nhớ lại mạng lịnh của Chúa bảo phải đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ngài, làm báp têm cho họ và dạy họ giữ tất cả mọi điều Ngài đã truyền, thì lòng họ càng thêm lo lắng.

II. LỜI HỨA VỀ ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM (2:1-13).

Lễ Ngũ Tuần cũng được gọi là Lễ Mùa Gặt, tức là 50 ngày sau Lễ Vượt Qua, và 10 ngày sau khi Chúa thăng thiên. Dân Do thái vì sanh kế phải đi xa, đều cố gắng trở về quê hương dự lễ. Một số dân ngoại bang tại các nước đã theo Do thái giáo cũng đến Giê-ru-sa-lem dự lễ. Vì vậy, đường phố đông nghẹt người, cả Do thái lẫn dân ngoại bang.

Đang khi các môn đồ họp lại cầu nguyện như thường ngày, thình lình họ nghe tiếng gió thổi ào ào, thấy hình như những lưỡi bằng lửa hiện ra đậu trên mỗi người. Ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bắt đầu nói các thứ tiếng ngoại quốc mà họ chưa từng học, để ca ngợi Đức Chúa Trời. Đây không phải là tiếng lạ, vì tiếng lạ là một thứ tiếng không có trong thế gian, không một người nào hiểu được ngoài ra người nói đó. Song bấy giờ có 13 sắc dân ngoại bang đều được nghe các môn đồ nói tiếng riêng của xứ họ sanh đẻ. Đó là người Do thái nói tiếng Bạtthê, Mê-đi, Ê-lamít, Mêsôbôtani v.v… Vì vậy, ai nấy đều sững sờ và sợ hãi. Chúa thi hành phép lạ đó để mọi dân tộc lúc bấy giờ được nghe Tin Lành chuẩn bị cho cuộc truyền giảng Tin Lành khắp thế giới của Phao-lô được kết quả.

III. HIỆU NĂNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM (2:14-41).

Trước đó 50 ngày, Phi-e-rơ nhút nhát đến nỗi ba lần chối Chúa, song bây giờ ông can đảm phi thường, dám ra mặt, đứng lên với 11 sứ đồ mà giảng Tin Lành (14-21). Ông kêu gọi mọi người phải nghe ông giải thích và biết rõ sự hiểu lầm của họ. Các môn đồ không có say sưa như họ tưởng, nhưng được đầy dẫy Đức Thánh Linh đúng như tiên tri Giô-ên đã dự ngôn. Đây là việc của Đức Chúa Trời chớ không phải là việc của người ta, là việc Chúa đã báo trước, chớ không phải là việc tình cờ xảy ra, là việc đáng cho họ tin theo, chớ không phải là việc để cho họ nhạo báng. “Ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu”.

Tiếp theo, Phi-e-rơ giảng về sự chết và sự sống lại của Chúa (22-31). Trước hết ông nhấn mạnh: “Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời này”. Rồi ông nhắc lại Chúa Jêsus đã làm nhiều dấu kỳ, phép lạ để chứng minh Ngài là Chúa và Cứu Chúa của nhân loại, Đấng Mê-si của dân Do thái mà ai nấy đều biết rõ. Song họ lại ngoan cố không tin mà nộp Ngài để đóng đinh trên thập tự giá. Dầu vậy, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại. Việc đó không phải là ngẫu nhiên, song xảy ra đúng theo sự biết trước và định trước của Đức Chúa Trời. Rồi ông trưng dẫn lời của Đa-vít được chép trong Thi thiên 16:8-11 để chứng minh. Chúa Jêsus chịu chết và sống lại làm ứng nghiệm các lời tiên tri đó.

Phi-e-rơ giảng luận tiếp về Chúa Jêsus thăng thiên và Đức Thánh Linh giáng lâm (32-36). Sau khi Chúa Jêsus sống lại và ở với các môn đồ trong 40 ngày mà ai nấy đều thấy, đều nghe, đều biết để làm chứng lại, thì Ngài về trời và ban Thánh Linh giáng lâm như Ngài đã hứa. Điều nầy cũng không phải là tình cờ, song nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời đúng như lời tiên tri đã chép trong Thi thiên 110:4.

Ông kết thúc bằng một lời buộc tội là cả quốc gia Do thái phải biết rằng họ đã đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá, mà Đấng đó được Đức Chúa Trời khiến sống lại, đem về trời, tôn Ngài làm Chúa và Cứu Chúa của nhân loại. Dân Do thái nói mình tôn thờ Đức Chúa Trời, phục vụ Đức Chúa Trời, là con cái của Ngài, là dân sự của Ngài, nhưng trên thực tế họ chống lại Ngài, thù nghịch Ngài.

Lời lẽ của Phi-e-rơ thật là đơn giản, song rất rõ ràng, đầy quyền năng và sức sống, ai nấy đều hiểu được và cảm động. Bài giảng của ông căn cứ hoàn toàn trên Kinh Thánh, tức là các lời tiên tri. Vì vậy dân Do thái không chối cãi gì được?

Bài giảng này được Thánh Linh cảm động để làm kiểu mẫu cho tất cả các bài giảng Tin Lành trải qua các đời. Chúng ta phải căn cứ trên lời Đức Chúa Trời mà giãi bày Chúa Jêsus giáng sinh, chịu chết, sống lại, về trời và ban Thánh Linh giáng lâm. Ai không tin nhận Ngài làm Chúa và Cứu Chúa của riêng mình, là đồng ý với dân Do thái mà đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Đó là tội trọng không còn có tế lễ nào chuộc được nữa.

Kết quả: Người Do thái cảm động sâu xa, kêu la rằng: “Anh em ơi, chúng tôi phải làm chi?” Họ biết mình đã phạm tội nặng, họ muốn biết phải làm gì để được tha thứ, được cứu rỗi. Sự giảng dạy của chúng ta hay lời làm chứng phải nhằm mục đích là tôn vinh Chúa Jêsus và đưa tội nhân đến chỗ nhận biết tội lỗi ghê gớm của mình.

Phi-e-rơ trả lời: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Chúa Jêsus chịu phép báp têm, để được tha tội mình, rồi sẽ được nhận lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh”. Hối cải là đồng nghĩa với ăn năn. Ăn năn là nhận biết tội, ghê gớm tội, lìa bỏ tội, tin nhận Chúa Jêsus. Ăn năn không những để được tha tội mà đồng thời cũng đầy dẫy Đức Thánh Linh.

Trong ngày đó có độ 3.000 người chịu báp têm, gia nhập Hội Thánh. Kết quả lớn lao này không phải là công việc của Phi-e-rơ, mà là công việc của Thánh Linh làm qua Phi-e-rơ. Ông không có chi, ông không ra chi, song Thánh Linh làm mọi sự trong mọi người để Chúa Jêsus được vinh hiển.

Muốn được cứu, mỗi tội nhân phải ăn năn, tin nhận Chúa Jêsus và gia nhập Hội Thánh. Không thể thiếu một bước nào trong các bước đó. Hội Thánh là thân thể của Chúa, chúng ta gia nhập Hội Thánh để trở nên những chi thể của thân Ngài (ICôr 12:13). Mỗi tín đồ là một phần tử của Hội Thánh, ai nấy đều phải hiệp một để sinh hoạt, hầu lớn lên và mạnh mẽ.

Chúng ta tự xét để biết mình là những tín đồ thế nào? Có được đầy dẫy Đức Thánh Linh hay không? Nếu Thánh Linh đầy dẫy trong chúng ta, ai nấy không còn sợ sệt, không còn im bặt, không còn thụ động, mà đứng lên, bước ra hoạt động trong công tác chứng đạo, truyền giảng để tôn vinh Chúa và cứu vớt tội nhân.

Bây giờ chúng ta không cần chờ đợi như các môn đồ, vì Thánh Linh đã giáng lâm. Chúng ta hãy khao khát Ngài, tận hiến đời mình cho Ngài hầu Ngài trọn quyền chiếm hữu, kiểm soát, hướng dẫn, sử dụng chúng ta trong bất cứ công tác nào, ở vô luận môi trường nào. Tất cả 120 người trong phòng cao của ngày Lễ Ngũ tuần đều được đầy dẫy Thánh Linh, song không phải tất cả đều biệt riêng cho chức vụ giảng đạo. Một số người về nhà làm nhiều công việc khác nhau, nhưng ai nấy đều làm chứng về Chúa Jêsus cho mọi người.

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa bảo các môn đồ đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem?

2. Thánh Linh giáng lâm nhằm ngày nào? Lúc các môn đồ đang làm gì?

3. Có bao nhiêu người giữa vòng họ được đầy dẫy Thánh Linh?

4. Khi đầy dẫy Thánh Linh, các môn đồ nói các thứ tiếng gì?

5. Khi đầy dẫy Thánh Linh, Phi-e-rơ trở nên người như thế nào?

6. Phi-e-rơ giải thích thế nào về tình trạng của các môn đồ mà dân chúng cho là say rượu?

7. Phi-e-rơ giảng thế nào về Chúa Jêsus?

8. Phi-e-rơ căn cứ vào đâu mà giảng luận?

9. Người Do thái đáp ứng thế nào khi nghe Phi-e-rơ giảng?

10. Phi-e-rơ bảo họ phải làm gì?

BÀI 29. DANH CHÚA JÊSUS.

KINH THÁNH: Công vụ 3:1-4:31.

CÂU GỐC: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công vụ 4:12).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích học viên tiếp nhận danh Chúa Jêsus để đời mình được thay đổi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Quyền làm phép lạ nhờ danh Chúa Jêsus

(Công 3:1-11).

TH:

Sự mạnh dạn để truyền giảng danh Chúa Jêsus

(Công 3:12-26).

TB:

Sự cứu rỗi nhờ danh Chúa Jêsus

(Công vụ 4:1-12).

TT:

Chịu bắt bớ vì danh Chúa Jêsus

(Công 4:13-21).

TN:

Không có sự cứu rỗi ngoài danh Chúa Jêsus

(Giăng 3:1-16).

TS:

Được sống nhờ danh Chúa Jêsus

(Giăng 1:11-13; 20:29-31).

TB:

Cầu nguyện và tạ ơn trong danh Chúa Jêsus

(Công 4:22-31).

Chúng ta cầu nguyện nhân danh Chúa Jêsus. Nhân danh Chúa Jêsus có nghĩa gì? Danh Chúa Jêsus là chính mình Ngài, là thần tánh vinh hiển của Ngài, là uy quyền tuyệt đối của Ngài. Nhân danh Chúa Jêsus là hết lòng nương nhờ Ngài, ẩn mình dưới cánh bóng toàn năng của Ngài.

Chúng ta không thể nhân danh một người mà mình không hề quen biết, chúng ta chỉ có thể nhân danh người mà mình rất quen biết một cách cá nhân, như biết mặt, tánh tình, địa vị, quyền hành. Chúng ta phải biết Chúa Jêsus như vậy, ngoài ra chúng ta phải tin cậy Ngài, phải vâng lời Ngài, mới nhân danh Ngài được. Nguyện Chúa dạy chúng ta biết nhân danh Ngài để cầu nguyện và hành động.

I. MỘT PHÉP LẠ ĐƯỢC THỰC HIỆN NHÂN DANH CHÚA JÊSUS (3:1-11).

Sau Lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh bắt đầu sinh hoạt với số tín đồ hơn 3.000 người. Ai nấy đều bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. Vì có nhiều dấu kỳ phép lạ được thực hiện, nên ai nấy thêm lòng kính sợ. Các phép lạ được thực hiện rất nhiều, song Kinh Thánh chỉ ghi lại một phép lạ là người què từ thuở sanh ra được chữa lành.

Đến giờ cầu nguyện, Phi-e-rơ và Giăng lên đền thờ. Tại cổng đền thờ gọi là Cổng Đẹp, có một người què từ thuở sanh ra được đặt ở đó để hằng ngày ăn xin những người vào đền. Thấy Phi-e-rơ và Giăng vào, người què chìa tay xin bố thí. Hai ông ngó chăm người què rồi nói, “Hãy nhìn xem chúng ta”. Người què nhìn xem hai ông tưởng sẽ được tiền. Phi-e-rơ nói “Ta không có vàng bạc chi hết”. Người què đang hy vọng liền thất vọng. Song Phi-e-rơ không ngừng hẳn tại đó, mà nói thêm: “Song điều ta có thì ta cho ngươi, nhân danh Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, hãy bước đi”. Phi-e-rơ liền nắm tay hữu người đỡ dậy. Dầu Phi-e-rơ không có vàng bạc chi hết, song ông có điều quý hơn vàng bạc là danh Chúa Jêsus. Nếu Phi-e-rơ cho người vàng bạc thì chẳng bao lâu người ăn tiêu cũng hết mà phải cứ què suốt đời. Song Phi-e-rơ đã nhân danh Chúa cho người được bước đi là điều quý hơn vàng bạc biết bao!

Mọi người sanh ra trong đời nầy là sanh ra trong tội lỗi (Thi 51:5), như người què quặt từ trong bụng mẹ. Vì vậy, con người theo ai cũng được mà không theo Chúa được, làm dữ được mà làm lành không được. Ai nấy ở trong tình trạng què quặt thuộc linh. Vì thế, ai nấy cứ nghĩ đến nhu cầu của mình mà xin chớ không hề cho, luôn đòi người khác cho mình mà không hề cho ai. Ngoài ra người ta cũng không hiểu đúng nhu cầu của mình, nên thay vì xin được tha tội, thì cứ xin được vàng bạc.

Phi-e-rơ nắm tay người què đỡ dậy thì bàn chân và mắt cá của người được lành mạnh. Người bèn nhảy, đứng lên và bước đi vào đền thờ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ca ngợi Đức Chúa Trời. Trong đời anh không có vui mừng nào bằng vui mừng này. Đã hơn 40 năm (Công vụ 4:22), đây là lần thứ nhất anh biết bước đi. Hằng ngày anh được đặt ngồi tại cổng đền thờ mà chưa bao giờ vào đền thờ, nên đây cũng là lần thứ nhất anh được vào trong đền thờ. Đây là hình ảnh một người được tha tội mà Đa-vít đã phải la lên: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình” (Thi 32:1).

Bởi đầy dẫy Thánh Linh, Phi-e-rơ và Giăng không ngần ngại mà bảo người què: “Hãy nhìn xem chúng ta”. Hai ông không kiêu căng, chẳng phạm thượng đâu. Ngày hôm nay, chúng ta không dám nói như vậy không hẳn là khiêm nhường, song vì sợ bị chỉ trích, nên phải tránh khéo mà nói rằng: “Hãy nhìn xem Chúa, đừng nhìn xem chúng tôi”. Nếu Phi-e-rơ và Giăng đang say rượu mà bảo người què nhìn xem họ, thì chắc người què đã què thêm. Hãy cẩn thận, kẻo người xung quanh vấp phạm vì cách ăn ở bê tha của chúng ta. Ai nấy phải sống như Phi-e-rơ và Giăng để có thể nhân danh Chúa như họ.

II. GIẢNG DẠY TRONG DANH CHÚA JÊSUS (3:12-26).

Dân chúng thấy người què từ thuở sanh ra bước đi bên cạnh Phi-e-rơ và Giăng thì lấy làm sững sờ. Phép lạ ấy như một tiếng chuông vang dội kêu gọi mọi người trong thành Giê-ru-sa-lem đến để thấy và nghe.

Đang khi ai nấy kinh ngạc, tưởng như Phi-e-rơ và Giăng có quyền năng, nhân đức riêng mà làm được phép lạ lớn lao ấy, Phi-e-rơ liền giải thích sự việc cho họ như sau: Chúa Jêsus là Đấng thánh khiết và công bình mà họ lại chối bỏ và đóng đinh trên thập tự giá. Đó là họ giết Chúa của sự sống. Nhưng Đức Chúa Trời của tổ phụ họ là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đã tôn vinh Chúa Jêsus mà khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. Ấy là nhờ đức tin trong danh Chúa Jêsus mà người què được mạnh khỏe và hiện đang đứng trước mặt mọi người.

Phi-e-rơ không nặng lời quở trách tội ác của họ, song êm dịu khuyên lơn: “Hỡi anh em, bây giờ tôi biết anh em và các quan của anh em, vì lòng ngu dốt nên đã làm điều đó. Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi”. Phi-e-rơ còn trưng dẫn các lời tiên tri để chứng minh Chúa Jêsus là Đấng Mê-si của người Do thái, Cứu Chúa của nhân loại. Thấy người què được chữa lành đang đứng đó, nghe Phi-e-rơ giải thích rành mạch, nhiều người đã tin, nên số tín đồ lên tới 5.000 người.

Giảng dạy trong danh Chúa Jêsus là giảng dạy trong quyền năng, vinh hiển và chân lý, là giảng dạy trong sự kiện lịch sử, trong kinh nghiệm cá nhân, trong bằng chứng hiển nhiên, hùng hồn và cụ thể, chớ không phải lý luận suông. Nguyện Chúa dùng đời sống của mỗi tín đồ làm cho sự giảng dạy của Mục sư có hiệu lực lớn lao.

III. LỜI CA TỤNG VÀ CẦU NGUYỆN TRONG DANH CHÚA JÊSUS (4:1-31).

Các thầy tế lễ, quan giám điện, người Sađusê thoạt đến lấy làm tức giận nghe hai sứ đồ giảng cho dân chúng về Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết. Giảng như vậy là công khai lên án họ đã đóng đinh Đấng Mê-si, Chúa Cứu Thế. Họ liền hạ ngục hai ông.

Sáng hôm sau, cả tòa công luận họp một phiên trọng thể gồm đủ mọi thành viên quan trọng và đem hai sứ đồ ra xét xử. Họ hỏi hai ông nhân danh ai mà làm các điều đó. Bấy giờ Phi-e-rơ đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ người què mà nói rằng: “Hết thảy các ông, và dân Y-sơ-ra-ên đều khá biết, ấy là nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, Đấng mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, ấy là nhờ Ngài mà người này được lành mạnh hiện đứng trước mặt các ông”.

Cả tòa công luận bối rối, không chối cãi được, đành phải miễn cưỡng cấm đoán, ngăm dọa, rồi trả tự do cho hai sứ đồ.

Khi hai ông trở về, liền triệu tập toàn thể tín đồ họp lại ca tụng Chúa và cầu nguyện. Họ cảm tạ Chúa là Đấng dựng nên trời đất, Ngài biết trước mọi việc nên đã dự ngôn trong Thi Thiên 2:1,2. Họ trình lên Chúa: Hê-rốt đại diện chính quyền Do thái, Phi-lát đại diện chính quyền La-mã, cùng dân ngoại bang ở ngoài giao ước, dân Y-sơ-ra-ên ở trong giao ước đã hiệp lại chống cự Chúa Jêsus, và bây giờ họ còn tiếp tục chống cự. Tuy nhiên, các môn đồ không xin Chúa làm hại ai, họ không xin Chúa cho họ khỏi bị bắt, mà chỉ xin Chúa cho họ năng lực để cứ giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ và Chúa thi hành các phép lạ cặp theo lời nói của họ để làm cho vững đạo. Kết quả là họ được Chúa nhận lời ngay. Nơi nhóm lại rúng động là bằng cớ sự hiện diện của Chúa, ai nấy đều đầy dẫy Thánh Linh, và ai nấy đều giảng đạo cách dạn dĩ.

Trên đây là thái dộ và hành động của Hội Thánh trong cơn bắt bớ, là mẫu mực của sự cảm tạ và cầu xin của Hội Thánh, là bí quyết đắc thắng của Hội Thánh trong cơn bắt bớ.

Vinh hiển thay danh Chúa Jêsus!

CÂU HỎI

1. Nhân danh Chúa Jêsus có nghĩa gì?

2. Nhu cầu lớn nhất của người què là gì?

3. Nhu cầu lớn nhất của loài người là gì?

4. Tại sao Phi-e-rơ và Giăng nói với người què: “Hãy nhìn xem chúng ta”?

5. Nhờ đâu mà Phi-e-rơ giảng dạy một cách dạn dĩ?

6. Tại sao khi nghe giảng về Chúa Jêsus sống lại thì nhà cầm quyền Do thái run sợ mà phải ngăn cấm các sứ đồ?

7. Khi được trả tự do thì Phi-e-rơ và Giăng làm gì?

8. Họ cảm tạ Chúa về điều gì?

9. Họ đã xin Chúa những điều gì?

10. Hội Thánh ngày nay phải sống theo mẫu mực nào? Bí quyết nào?

BÀI 30. CAN ĐẢM VÂNG LỜI CHÚA

KINH THÁNH: Công vụ 4:32-5:42.

CÂU GỐC: “Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công vụ 5:29).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ sự cần thiết phải can đảm vâng lời Đức Chúa Trời hầu làm đẹp lòng Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Dâng hiến trong Hội Thánh

(Công 2:42-47).

TH:

Kẻ giả hình trong Hội Thánh

(Công 5:1-11).

TB:

Quyền năng trong Hội Thánh

(Công 5:12-16).

TT:

Cuộc bắt bớ thứ hai

(Công 5:17-28).

TS:

Hội Thánh đầy dẫy Đức Thánh Linh

(ITê 1:1-10).

TB:

Dâng hiến cách vui mừng

(I ICôr 9:1-15).

Trên đường theo Chúa, chúng ta thường gặp nhiều nan đề phải giải quyết, nhiều trở ngại phải vượt qua, nhiều bất trắc phải đề phòng. Vì vậy, muốn sống đẹp lòng Chúa, chúng ta phải can đảm.

Hội Thánh ban đầu đã được thành lập ngay khi Đức Thánh Linh giáng lâm, Phi-e-rơ giảng một bài có 3.000 người tin Chúa. Hội Thánh khởi sự sinh hoạt một cách tốt đẹp. Nhờ đó có nhiều phép lạ dấu kỳ được thực hiện và nhiều người được thêm vào Hội Thánh. Tuy nhiên, sinh hoạt của Hội Thánh không thể cứ phẳng lặng như mặt nước hồ thu, hoặc như dòng sông êm đềm chảy mãi, mà đã xảy ra nhiều cơn bão tố phũ phàng. Vậy Hội Thánh phải can đảm để vâng lời Chúa.

I. CAN ĐẢM DÂNG CỦA CẢI (4:32-37).

Tín đồ không phải là con người hèn nhát, mà là con người can đảm. Có can đảm mới dám tin nhận Cứu Chúa Jêsus, mới dám dâng mình cho Ngài, trong đó có sự dâng của cải.

Khi được Thánh Linh cảm động, tình thương bùng cháy, tuôn tràn, nhiều tín đồ đã tình nguyện bán gia tài, điền sản mình, đem tiền dâng vào quỹ của Hội Thánh để các sứ đồ theo các nhu cầu của mỗi người mà phân phát cho họ. Đây không hề có sự cưỡng bách, cũng không có tổ chức, mà chỉ có những người tự ý làm, nên không phải hết thảy đều làm. Vì vậy trường hợp của Giô-sép gọi là Ba-na-ba được đề cao như là một trường hợp đặc biệt. Phi-e-rơ cũng đã nói với A-na-nia: “Nếu ngươi chưa bán ruộng đó, há chẳng phải là của ngươi sao? Khi bán rồi, giữ giá đó há chẳng được sao?” Bà thân của Giăng gọi là Mác còn giữ riêng cho mình một ngôi nhà làm nơi Hội Thánh nhóm lại cầu nguyện (Công 12:12). Hơn nữa, việc dâng của cải để ăn chung với nhau như vậy chỉ có tính cách tạm thời khi tín đồ còn ít, chỉ có tính cách địa phương tại Giê-ru-sa-lem. Chúng ta không hề thấy còn có Hội Thánh nào làm như vậy. Trong lúc có cơn đói kém, Hội Thánh An-ti-ốt đã định “mọi người tùy sức riêng mình, gởi một món tiền bố thí cho anh em ở trong xứ Giu-đê” (Công 11:29). Phao-lô đã viết thư khuyên Hội Thánh Cô-rinh-tô về sự dâng tiền như sau: “Về việc góp tiền cho thánh đồ, thì anh em cũng hãy theo như tôi đã định liệu cho các Hội Thánh xứ Ga-la-ti. Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi một người trong anh em khá tùy sức mình chắt lót được bao nhiêu thì để dành tại nhà mình…” (ICôr 16:1,2).

II. CAN ĐẢM QUỞ TRÁCH TỘI LỖI (5:1-17).

Đây là việc bất trắc xảy ra đã làm cho Hội Thánh của Chúa tại Giê-ru-sa-lem đau buồn lắm. Song mặt khác, Chúa đã can thiệp mà giữ gìn chân tánh của Hội Thánh, nên kết quả rất vui mừng.

Khi A-na-nia và Sa-phi-ra thấy những người đã bán ruộng của mình và đem dâng vào quỹ Hội Thánh thì được mọi người hoan nghinh, nên ông bà cũng quyết định làm như vậy. Vì lòng ích kỷ, ông bàn với bà sau khi bán xong sẽ đem dâng vào quỹ Hội Thánh một phần thôi, song cứ nói là dâng hết.

Đức Thánh Linh đã tỏ cho Phi-e-rơ biết âm mưu dối trá và lường gạt đó, nên ông ngay thẳng quở trách họ: “Hỡi A-na-nia, sao quỷ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối Đức Thánh Linh… Sao các ngươi dám đồng mưu thử Thánh Linh của Chúa?” Cả hai ông bà đều chết.

Hội Thánh của Chúa là nơi Ngài đang ngự, nên mọi việc chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói đều có tương quan đến chính mình Chúa. A-na-nia và Sa-phi-ra đã làm dối và nói dối, tưởng rằng chỉ đối với người và chắc không ai biết. Họ không ngờ rằng mình đã làm, đã nói với Chúa và Ngài biết rõ mọi sự. Ông bà giả đò đạo đức để được tiếng khen, đồng thời cũng gian lận để được ích lợi vật chất là kể từ đó về sau, ông bà có quyền ăn chung với Hội Thánh mà còn có phần riêng ở nhà nữa. Lòng ham thích tiền bạc và tiếng khen là cội rễ của mọi điều ác. Vì vậy ông bà đã bị sửa trị nghiêm khắc.

Nếu Phi-e-rơ không can đảm theo sự dẫn dắt của Chúa mà quở trách tội lỗi, chắc Hội Thánh đã lần hồi sa sút, vì tội lỗi sẽ lan tràn như chất men ngấm vào bột, làm cho cả đống bột dậy lên, như con rắn lửa vào vườn Ê-đen để phá hoại. Nhưng khi tội lỗi bị tiêu trừ thì Chúa được tôn vinh, nên có nhiều phép lạ, dấu kỳ được làm ra, như tật bịnh được chữa lành, người bị quỷ ám được giải phóng. Dân chúng từ các thành phố lân cận lũ lượt kéo tới Giê-ru-sa-lem. “Vì vậy số người tin Chúa càng ngày càng thêm, nam nữ đều đông lắm”.

Tội lỗi của A-na-nia và Sa-phi-ra bắt đầu từ cá nhân đến gia đình, từ gia đình đến Hội Thánh. Chúng ta hãy tiêu trừ sự tham lam dối trá từ trong lòng mình, từ trong gia đình mình, thì tội lỗi sẽ không đến với Hội Thánh. Hội Thánh được phước, không phải là Hội Thánh có nhiều tiền bạc, mà có sự thánh khiết. Chúng ta và gia đình chúng ta cũng vậy.

III. CAN ĐẢM CHỊU BẮT BỚ (5:17-42).

Trong thời đó, người can đảm lắm mới dám tin Chúa, càng can đảm hơn nữa mới dám làm chứng và truyền giảng Tin Lành. Vì ai đã làm như vậy là dám chấp nhận sự bắt bớ. Nên nhớ rằng sự can đảm này không do con người thiên nhiên mà có, song do sự đầy dẫy Thánh Linh (4:31).

Khi biết do sự giảng dạy của các sứ đồ mà số người tin theo ngày càng đông hơn, thì thầy cả thượng phẩm và người Sađusê không đầy Thánh Linh mà đầy lòng ghen ghét, bắt các sứ đồ bỏ vào ngục. Tối lại, Chúa can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ bằng cách sai thiên sứ của Ngài mở cửa ngục cho các sứ đồ ra khỏi, và bảo họ cứ tiếp tục truyền giảng lời của sự sống cho dân chúng. Sáng hôm sau, các người lính tìm thấy các sứ đồ đang dạy dỗ dân chúng trong đền thờ. Các quan đều bối rối, liền điệu các sứ đồ đến toà công luận. Thầy cả thượng phẩm nhắc lại cấm lệnh (4:18) không cho nhân danh Chúa Jêsus mà giảng dạy và lên án các sứ đồ bất tuân, khiến cả thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy sự dạy dỗ của mình. Các sứ đồ làm việc đó là công khai lên án tòa công luận đã giết Chúa Jêsus và khiến cho huyết Ngài đổ lại trên họ (Ma-thi-ơ 27:25).

Bấy giờ, Phi-e-rơ và các sứ đồ nắm ngay cơ hội đó mà giảng cho toà công luận (5:29-32). Biết rằng làm như vậy, chắc chắn chuốc lấy cho mình sự bắt bớ, song các sứ đồ sẵn sàng chấp nhận và long trọng tuyên bố: “Chúng tôi phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta”. Họ là những người can đảm và sống theo nguyên tắc không hề thay đổi là PHẢI VÂNG LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI. Mỗi khi hành động, họ không hỏi việc này có đem lại an ninh cho mình không, mà cứ hỏi việc này có đẹp lòng Chúa hay không, Chúa có muốn chúng ta làm việc này hay không.

Tòa công luận rất căm tức các sứ đồ, vì bao nhiêu việc đã xảy ra: Cấm ngặt thì các sứ đồ cứ giảng dạy, bắt bỏ vào ngục thì thiên sứ mở cửa cho họ ra, điệu họ đến Tòa Công luận thì họ giảng cho Tòa Công luận. Vì thế, Tòa Công luận lập mưu giết các sứ đồ, song Chúa dùng Ga-ma-li-ên can thiệp, nên họ chỉ đánh đòn các sứ đồ (IICôr 11:24), cấm giảng dạy, rồi tha ra. Các sứ đồ lấy làm sung sướng vì được vinh hạnh chịu đau đớn và sỉ nhục vì Danh Chúa. Rồi ai nấy cứ mạnh dạn tiếp tục truyền giảng Tin Lành cho mọi người, cả trong đền thờ lẫn từng nhà một.

Nỗi nguy hơn hết của Hội Thánh không phải là lúc Hội Thánh bị chống đối và bắt bớ, trái lại, khi Hội Thánh bị chống đối và bắt bớ là khi Hội Thánh được trong sạch và mạnh mẽ. Còn khi Hội Thánh được chiếu cố hơn hết là khi Hội Thánh yếu đuối hơn hết. Vì vậy, muốn danh Chúa được đồn rộng và tôn vinh, tội nhân được cứu, Hội Thánh phải can đảm vâng lời Đức Chúa Trời.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta phải can đảm mới dâng của cải được?

2. Tại sao chúng ta biết Hội Thánh đầu tiên không có lệ tập trung tài sản?

3. Động cơ nào đã thúc đẩy một số tín đồ bán rruộng mình dâng tiền vào Hội Thánh?

4. Tại sao A-na-nia và Sa-phi-ra bị sửa phạt ?

5. Sự sửa phạt A-na-nia và Sa-phi-ra có kết quả thế nào?

6. Chúng ta phải tiêu trừ tội lỗi bắt đầu ở đâu?

7. Các sứ đồ biết rằng nếu cứ giảng, sẽ bị bắt bớ, song tại sao họ lại cứ giảng?

8. Các sứ đồ có thái độ nào khi bị đòn vọt và lao tù?

9. Nguyên tắc mà các sứ đồ sống hàng ngày là gì?

10. Sự chống đối và bắt bớ làm cho Hội Thánh ra sao?

BÀI 31. SỰ BẮT BỚ KHIẾN HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN

KINH THÁNH: Công vụ 6:1-8:4 (Xin đọc trước ở nhà, để khi học chung chỉ đọc 6:1-7; 8:1-4).

CÂU GỐC: “Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành” (Công vụ 8:4).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích học viên trung tín làm chứng cho Chúa bất chấp sự bắt bớ nào.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Các chấp sự đầu tiên

(Công 6:1-7; I Ti 3:1-16).

TH:

Cuộc bắt bớ thứ ba

(Công 6:8-15).

TB:

Bài giảng của Ê-tiên

(Công 7:1-19).

TT:

Ê-tiên kể lại lịch sử dân Do thái

(Công 7:20-35).

TN:

Ê-tiên nói về lòng vô tín

(Công 7:36-53).

TS:

Sự chết của Ê-tiên

(Công 7:54-8:4).

TB:

Những cuộc bắt bớ Phao-lô phải chịu

(IICôr 11:23-33).

Hội Thánh càng bị bắt bớ thì càng phát triển, càng phát triển thì càng có nhiều nan đề, song nếu giải quyết được nan đề thì Hội Thánh lại càng phát triển hơn. Khi Hội Thánh có đông tín đồ thì sự tổ chức phải được chu đáo, nhất là trật tự và kỷ luật. Phao-lô viết cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình… Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICôr 14:33,40).

I. SỰ TỔ CHỨC KHIẾN HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN (6:1-7).

Khi Hội Thánh đã lên đến con số năm, bảy ngàn người thì sự cung cấp thức ăn hằng ngày là một nan đề. Vì thế, người Do thái nói tiếng Hy lạp, vì vốn sanh trưởng ở nước ngoài, phàn nàn với người Do thái nói tiếng Hy-bá-lai về các quả phụ của họ bị bỏ bê. Việc nầy xảy ra ngoài ý muốn của các sứ đồ, vì thiếu nhân viên phụ trách. Các sứ đồ nhận thấy sự phàn nàn đó là đúng, nên sẵn sàng giải quyết ngay. Thế là một phiên họp đặc biệt được triệu tập. Các sứ đồ phân tách hai việc: Giảng lời Đức Chúa Trời và phục vụ bàn ăn. Rồi phân công: Các sứ đồ cứ tiếp tục cầu nguyện và giảng đạo, còn Hội Thánh cử bảy người phục vụ bàn ăn. Bảy người đó phải được tiếng tốt, đầy dẫy Thánh Linh và sự khôn ngoan. Đề nghị đó được Hội Thánh hoan nghinh, vì tỏ ra tinh thần dân chủ rõ rệt. Tức thì bảy người được cử lên và được các sứ đồ đặt tay cầu nguyện, rồi giao việc bàn ăn cho họ.

Các sứ đồ rất khôn ngoan trong việc lãnh đạo Hội Thánh, giải quyết nan đề một cách thích nghi, nên mọi sự được ổn thỏa. Dầu là nhân viên phục trách bàn ăn, nhưng phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Có tiếng tốt, tức là Hội Thánh tín nhiệm.

2. Đầy dẫy Thánh Linh nghĩa là được Ngài chiếm hữu, kiểm soát và sử dụng.

3. Có sự khôn ngoan, để biết tổ chức việc cung cấp thức ăn hàng ngày cho mọi người một cách đầy đủ và công bằng.

Chúng ta tìm thấy ở đây một nguyên tắc: Công việc tốt không làm nên người tốt, song người tốt mới làm được công việc tốt. Phục vụ bàn ăn là một công việc tốt, nên cần phải có người tốt mới làm được. Chúng ta thường quan niệm sai rằng giao một công việc tốt cho người không tốt, để nhờ công việc tốt mà khiến cho người không tốt trở nên tốt. Đó chẳng khác nào giao một chiếc xe hơi mới cho người không biết lái hay là lái ẩu, giao một khu vườn đẹp cho người không biết làm vườn hoặc làm cẩu thả.

Kết quả việc cử bảy chấp sự phụ trách bàn ăn là: “Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm. Cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa”. Thế thì chấp sự trong Hội Thánh là những người quan trọng, phụ tá đắc lực cho Mục sư trong việc chăm sóc tín đồ. Không có một ban chấp sự như vậy, không Mục sư nào thành công được.

II. SỰ PHÁT TRIỂN KHIẾN HỘI THÁNH BỊ BẮT BỚ (6:8-8:3).

Hội Thánh đã bị bắt bớ, bây giờ bị bắt bớ càng hơn. Vì được đầy dẫy Thánh Linh nên ngoài công việc bàn ăn, Ê-tiên còn làm dấu kỳ phép lạ rất lớn như chữa tật bệnh, đuổi quỉ ám và giảng Lời Ngài cách có quyền năng. Dầu bị các nhà cầm quyền chống đối kịch liệt, song không ai địch nổi với Thánh Linh đang ngự trong lòng ông. Vì thế, những người gian ác vừa vu khống, vừa bạo hành, bắt Ê-tiên đến Tòa Công luận. Bấy giờ những người ngồi tại đó ngó chăm Ê-tiên, thấy mặt người như mặt thiên sứ.

Ê-tiên khởi sự giảng dạy. Ông dẫn giải lịch sử dân Do thái để chứng minh Đức Chúa Trời nhân từ, thành tín đối với tổ phụ họ. Rồi ông kết thúc và ứng dụng rằng như tổ phụ của họ đã cứng cổ, cứng lòng, bịt tai mà chống cự với Chúa thì họ cũng vậy. Tổ phụ họ đã giết các tiên tri, thì họ cũng giết Đấng Công Bình là Chúa Jêsus.

Nghe đến đó, họ căm tức đến nỗi nghiến răng với Ê-tiên, vì ông đã dám tố cáo và lên án họ. Bấy giờ ông lại càng được đầy dẫy Thánh Linh, ngó chăm lên trời và nói: “Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Đức Chúa Trời”. Họ bịt tai, la lớn, xông vào kéo Ê-tiên ra ngoài thành, rồi ném đá ông cho đến chết. Ê-tiên bình tĩnh quỳ xuống cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn con… Xin đừng đổ tội này cho họ!”. Nói xong ông ngủ yên.

Có hai khuôn mặt và hai tấm lòng hoàn toàn khác nhau. Một khuôn mặt hiền từ và một khuôn mặt hung dữ, một tấm lòng bình an và một tấm lòng căm tức. Nếu dân Do thái bắt bớ và giết các tiên tri, lại cũng giết Đấng Cứu thế, thì họ giết Ê-tiên cũng chẳng lạ gì.

Sự bắt bớ đã đến mức độ khủng khiếp, song đồng thời cũng mở một giai đoạn mới cho Hội Thánh được phát triển mạnh hơn. Khi Ê-tiên bị bắt và bị ném đá, một thành viên của Toà Công luận đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Thanh niên đó là Sau-lơ. Chàng vô cùng ngạc nhiên trước cái chết của Ê-tiên. Không thể nào một con người lộng ngôn lại chết như vậy được. Lòng chàng bắt đầu rung động. Để đánh tan sự cảm xúc sâu xa đó, chàng tiếp tục bắt bớ càng mạnh hơn. Song cuối cùng chàng bị chinh phục hoàn toàn để trở nên một Cơ Đốc nhân gương mẫu, một sứ đồ trứ danh. Giọt máu của Ê-tiên là hột giống mạnh mẽ của Tin Lành.

III. HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN HƠN TRONG CƠN BẮT BỚ (8:4).

Mọi sự bắt bớ bao giờ cũng nhằm mục đích tiêu diệt Hội Thánh càng sớm càng tốt, song kết quả trái lại là làm cho Hội Thánh càng được phát triển hơn.

Sự bắt bớ là hành động của quỉ Sa-tan qua những con người bằng lòng làm công cụ cho nó, nhưng Đức Chúa Trời chủ trị mọi sự, trong đó có sự bắt bớ để khiến nó trở nên ích lợi cho Hội Thánh Ngài, cho chương trình cứu rỗi của Ngài. Trước khi về trời, Chúa Jêsus đã phán: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”. Song từ khi Thánh Linh giáng lâm cho đến lúc này, số tín đồ tại Giê-ru-sa-lem từ 120 người lên đến 3.000, 5.000, rồi nhiều lắm, đông lắm và họ chưa bao giờ nghĩ đến việc đem Tin Lành của Chúa đi xa hơn.

Vì vậy, Chúa đã cho một cơn bắt bớ lớn xảy ra để “hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri” (8:1). Hột giống không phải cứ giữ trong bồ mà phải rải ra mới có kết quả, thì tín đồ không phải cứ tập trung trong một nhà thờ, một chi hội mà phải đi ra làm chứng, nếu không thì phải tản lạc họ ra như hột giống.

Nhận thức ý muốn của Chúa, nhớ lại mạng lịnh của Ngài nên khi tín đồ bị tan lạc khắp nơi, mất hết tài sản lẫn công ăn việc làm, thì ai nấy không vì cớ đó mà nãn lòng, nhụt chí, trái lại, họ “đi từ nơi này đến nơi khác truyền giảng Tin Lành”. Như vậy, sự bắt bớ đó không tàn hại Hội Thánh được, nhưng làm cho Hội Thánh phát triển hơn bao giờ hết.

Đó là đường lối của Chúa. Nếu Ngài cho phép Hội Thánh bị bắt bớ, tài sản của tín hữu bị mất mát, công việc làm ăn bị đình trệ và phải tan lạc khắp nơi thì không phải để chúng ta nản lòng, nhụt chí mà để chúng ta thức tỉnh, hăng say làm chứng về Ngài cho mọi người khắp mọi nơi. Chúa đã rẽ Biển Đỏ và sông Giô-đanh, khiến mặt trời dừng lại, làm rúng động trời đất, thì Ngài sẽ đổi họa thành phước, đổi rủi thành may, để Hội Thánh càng ngày càng phát triển. Đối với Chúa, không có gì là đột xuất cả, mọi biến cố, mọi bất trắc Chúa đã biết trước và đã dự liệu từ buổi sáng thế. Biết đường lối của Chúa như vậy, chúng ta hãy vui mừng, cảm tạ, ca ngợi Chúa, rồi tận dụng khả năng, ân tứ, thì giờ, cơ hội để truyền giảng Tin Lành.

Một thiếu nữ Y-sơ-ra-ên đã bị quân Sy-ri bắt đem về làm phu tù, hầu hạ vợ quan tổng binh Na-a-man. Ngày kia cô nói với bà chủ: “Chớ chi chúa tôi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bịnh phung”. Trong một hoàn cảnh như vậy mà cô dám làm chứng về Chúa và kết quả là quan Tổng binh Na-a-man được chữa lành (IICác 5:1-19). Vậy bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta hãy làm chứng để cứu vớt tội nhân, hầu danh Chúa được vinh hiển.

CÂU HỎI

1. Theo ICôr 14:33,40, thì Đức Chúa Trời ngự trong Hội Thánh thể nào?

2. Tại sao có sự lằm bằm xảy ra trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem?

3. Hội Thánh đã giải quyết như thế nào?

4. Tại sao Ê-tiên bị điệu đến Tòa Công luận?

5. Trước Toà Công luận, Ê-tiên đã làm gì?

6. Kết quả của Ê-tiên là gì?

7. Sự chết của Ê-tiên có ảnh hưởng gì cho Sau-lơ?

8. Sự bắt bớ đã làm cho tín đồ tại Giê-ru-sa-lem ra sao?

9. Tại sao Chúa lại cho sự bắt bớ lớn như vậy xảy ra cho Hội Thánh Ngài?

10. Các tín đồ tại Giê-ru-sa-lem ý thức thế nào về sự bắt bớ? Họ đã làm gì?

BÀI 32. CHỨC VỤ CỦA PHI-LÍP

KINH THÁNH: Công vu 8:5-40.

CÂU GỐC: “Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh Thánh đó mà rao giảng Đức Chúa Jêsus cho người” (Công vụ 8:35).

MỤC ĐÍCH: Giúp các học viên chấp nhận bước theo sự dẫn dắt của Thánh Linh và khích lệ họ làm chứng mỗi khi có cơ hội.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phi-líp là ai?

(Công 6:1-6).

TH:

Phi-líp tại Sa-ma-ri

(Công 8:4-8).

TB:

Phi-líp và Si-môn

(Công 8:9-25).

TT:

Phi-líp và người Ê-thi-ô-pi

(Công 8:26-40).

TN:

Khúc Kinh Thánh của Phi-líp

(Ê-sai 53:1-12).

TS:

Lời tiên tri của Ê-sai được ứng nghiệm

(Lu-ca 23:32-45).

TB:

Cảnh cáo tội nhân

(Ê-xê-chi-ên 33:1-9).

Một chân trời mới dang rộng trước mặt Hội Thánh. Bấy lâu Hội Thánh chỉ hoạt động tại Giê-ru-sa-lem, quanh quẩn giữa người Do thái. Bây giờ Hội Thánh bắt đầu hoạt động trong cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, rồi từ đó đến các nước trên thế giới.

Vì sự bắt bớ, các tín đồ phải chạy tan lạc nơi này nơi khác. Song tại bất luận nơi nào, họ không khoanh tay bó gối ngồi im, hoặc than thân trách phận, mà cứ truyền giảng Tin Lành. Chấp sự Phi-líp chạy xuống Sa-ma-ri và đã trở nên nhà truyền đạo tại đó.

I. PHI-LÍP, MỘT TRUYỀN ĐẠO (Công 5:25).

Ông giảng về Chúa Jêsus là Đấng Cứu thế. Đoàn dân nghe ông nói đồng thời thấy các phép lạ ông làm, nên cùng nhau lắng tai nghe ông hơn. Mặc dầu Phi-líp là người Do thái, dân chúng là người Sa-ma-ri, song quyền năng và ân điển của Chúa đã phá hủy bức tường ngăn cách giữa hai dân tộc. Phi-líp không giảng suông, mà cặp theo lời giảng có các phép lạ như chữa lành kẻ bị quỉ ám, người bệnh tật. Vì thế, cả thành Sa-ma-ri vui mừng khôn xiết.

Giảng chánh giáo tức giảng lời của Đức Chúa Trời là tốt, song chưa đủ. Lời đó cần phải cặp theo quyền năng của Thánh Linh để trở nên sống, linh động, và sắc bén như gươm hai lưỡi, đâm thấu vào hồn, linh, cốt, tủy, làm cho con người tan vỡ. Ngoài ra lời đó còn có quyền năng đuổi mọi thứ quỉ tham lam, dối trá, gian dâm, đồng thời chữa các thứ bệnh như ghen ghét, giận dữ, bối rối, lo âu, thất vọng, là gốc rễ của vô số bệnh khác trong xác thể và trong tâm hồn con người. Hội Thánh ngày nay phải xin cho được quyền năng của Thánh Linh cặp theo sự giảng dạy như lời Chúa hứa trong Mác 16:17,20.

Tại Sa-ma-ri có một thầy phù thủy tên là Si-môn, giỏi nghề tà thuật và rất là điêu ngoa, xảo quyệt. Ông dám mạo nhận là có quyền năng từ Đức Chúa Trời, làm cho ai nấy phải ngạc nhiên. Ông đã lợi dụng lòng mê tín của dân chúng mà sống cuộc đời phè phỡn. Nhưng khi nghe Phi-líp giảng và thấy phép lạ ông làm nhân danh Chúa Jêsus thì dân chúng phân biệt ngay sự khác nhau giữa Phi-líp với Si-môn như sáng với tối, thật với giả, Đức Chúa Trời với ma quỉ. Vì thế ai nấy đều bỏ Si-môn mà đến với Phi-líp, xin ông làm báp têm cho. Si-môn thấy mình cô đơn vì bị mọi người bỏ rơi, nên ông cũng đến xin Phi-líp làm báp têm và ở luôn với Phi-líp. Dầu Si-môn đã làm như vậy, song chúng ta biết rằng ông không thật lòng ăn năn, tin nhận Cứu Chúa Jêsus. Ông ở với Phi-líp để tìm ra cái bí quyết giảng dạy và làm phép lạ, hầu ông có thể tiếp tục nghề phù thủy của mình theo một lối mới và có hiệu lực hơn. Vì vậy, sau đó ông xin lót bạc cho Phi-e-rơ và Giăng để được ban cho quyền năng và ông đặt tay trên ai cũng được nhận lãnh Thánh Linh. Si-môn là con người buôn thần bán thánh, lạm dụng lòng tin kính của người khác mà làm nguồn lợi cho mình. Lịch sử cho biết về sau ông đã gây rối rất nhiều ngay từ bên trong Hội Thánh. Nhận một người giả dối vào Hội Thánh là một điều hiểm nguy, không cần nói đến người giả dối lập tâm, cố sức phá hoại Hội Thánh, mà chỉ nói đến người chưa được tái sanh ở trong Hội Thánh cũng đã gây bao nhiêu khốn đốn như dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa (Dân 11:4).

Dầu vậy, chức vụ của Phi-líp có kết quả đến nỗi tiếng đồn thấu tai các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem, nên họ sai Phi-e-rơ và Giăng đến tận nơi quan sát và phụ lực. Đến nơi, hai ông đặt tay cầu nguyện cho các tín đồ mới để cho ai nấy được nhận lãnh Đức Thánh Linh.

II. PHI-LÍP, MỘT CHỨNG NHÂN (Công 8:26-38).

Khi Phi-líp đang hoạt động truyền giảng một cách kết quả, thình lình một thiên sứ của Chúa bảo ông chờ dậy đi qua con đường vắng vẻ từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa. Thế là ông phải từ thành thị đến sa mạc, từ chỗ đông người đến chỗ vắng vẻ, từ chỗ tương giao với nhiều anh em đến chỗ cô đơn.

Chúng ta không hiểu thiên sứ đã hiện ra với ông cách nào hoặc trực tiếp, hay qua chiêm bao, song chính Phi-líp biết rõ. Chắc ông không khỏi ngạc nhiên, vì thiên sứ không cho ông biết đi đến đó để làm gì, để gặp ai. Tuy nhiên, “người chờ dậy và đi”. Đó là vâng lời trọn vẹn, phục tùng hoàn toàn. Đó là tư cách của một chứng đạo viên, hay nói chung là tư cách của một người hầu việc Chúa.

Đức Chúa Trời chẳng hề sai lầm. Khi đến nơi chỉ định, Phi-líp thấy một người ngồi trên xe ngựa và đang đọc sách. Đức Thánh Linh phán với Phi-líp. “Hãy lại gần và theo kịp xe đó”. Phi-líp liền chạy theo và nghe người đang đọc sách tiên tri Ê-sai. Phi-líp hỏi: “Ông hiểu điều ông đọc đó chăng?” Người đáp: “Nếu chẳng ai dạy tôi, thể nào tôi hiểu được”. Người bèn mời Phi-líp lên xe, ngồi bên cạnh mình. Thì ra người đó là hoạn quan quản thủ kho tàng của nữ vương nước Ê-thi-ô-pi, ông theo Do thái giáo nên lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng và đang trên đường trở về.

Phi-líp bắt đầu từ chỗ hoạn quan đang đọc là Ê-sai 53:7,8 mà truyền giảng về Chúa Jêsus cho người. Cuộc trò chuyện đã đầy đủ và rõ ràng. Đến một chỗ bên vệ đường có nước, hoạn quan xin Phi-líp làm báp têm cho mình, nhân danh Chúa Jêsus.

III. KẾT QUẢ CHỨC VỤ CỦA PHI-LÍP (Công 8:39-40).

1. Hoạn quan Ê-thi-ô-pi vui vẻ trên đường về nhà mình. Dấu hiệu thứ nhất của một người được cứu là vui vẻ. Những người trong thành Sa-ma-ri vui mừng khôn xiết (Công 8:8). Các tín đồ tại An-ti-ốt được đầy dẫy sự vui vẻ (13:52). Gia đình người đề lao mừng rỡ vì đã tin Đức Chúa Trời (16:34).

2. Hoạn quan Ê-thi-ô-pi là người đầu tiên đem Tin Lành về xứ mình và truyền giảng cho cả lục điạ châu Phi. Ngày nay, Hội Thánh tại Ê-thi-ô-pi vẫn nhận rằng nhờ hoạn quan đó mà Tin Lành đã đến xứ của họ rất sớm.

Vậy thì ai có thể đánh giá nổi kết quả của việc Phi-líp hướng dẫn hoạn quan Ê-thi-ô-pi trở về cùng Chúa? Khi nào lên trời, chúng ta mới biết hết giá trị của nó.

Chúng ta phải giựt mình mà nghĩ rằng, nếu Phi-líp đã không vâng lời Chúa, cứ ở lại truyền giảng cho dân chúng tại thành Sa-ma-ri thì ông đã bỏ mất một cơ hội quí hơn vàng, để rồi không bao giờ tìm lại được. Đường lối của Chúa không phải là đường lối của chúng ta. Đôi khi Ngài làm gián đoạn chương trình và công việc của chúng ta mà chúng ta không hiểu được lý do. Song bất luận ai đã phục tùng Ngài, vâng lời Ngài, thì chẳng bao giờ hối tiếc, vì hễ nơi nào Chúa sai chúng ta đi, tại đó có một cái cửa mở rộng cho mình.

Trong một trường hợp bất ngờ, chấp sự Phi-líp là người thứ nhất đã mở cửa thiên đàng cho dân ngoại tại Sa-ma-ri và tại Ê-thi-ô-pi. Kết quả lớn lao đó là do Phi-líp bước theo sự dẫn dắt của Chúa từng bước một: “Hãy chờ dậy đi qua phía nam… hãy lại gần và theo kịp xe đó. Phi-líp chạy đến…” (c. 26,29,30). Ông không tránh trút, cũng chẳng hề trễ nải một ngày, một giờ nào. Hiện nay, biết bao người đang ngồi trên xe thời gian và đang đổ xuống chốn trầm luân đời đời. Ai sẽ theo kịp để cứu họ?

Chấp sự Phi-líp rất khéo léo khi hỏi hoạn quan: “Ông hiểu điều mình đọc đó chăng?” Phi-líp cũng rất am tường Kinh Thánh, nên ông đã giải nghĩa Ê-sai 53 là chỉ về Chúa Jêsus, khiến cho hoạn quan hiểu, tin và xin chịu báp têm ngay. Tuy Phi-líp không được phong chức truyền đạo theo nghi lễ, song công tác của ông chứng rằng ông là người được xức dầu. Vì thế, về sau Kinh Thánh gọi ông là nhà truyền đạo (Công 21:8, Ê-phê-sô 4:11).

Trong công tác chứng đạo, chúng ta xin Chúa hướng dẫn từng bước một, để chúng ta gặp được những người như hoạn quan Ê-thi-ô-pi.

CÂU HỎI

1. Khi các tín đồ tan lạc khắp nơi thì họ làm gì?

2. Tại sao Phi-líp giảng tại Sa-ma-ri có kết quả lớn?

3. Tại sao Si-môn đến xin Phi-líp làm báp têm và ở luôn với Phi-líp?

4. Si-môn là người thế nào đối với Hội Thánh?

5. Đang khi ở tại Sa-ma-ri thi Chúa bảo Phi-líp đi đâu?

6. Tại sao chúng ta biết Phi-líp là con người vâng phục Chúa trọn vẹn?

7. Hoạn quan Ê-thi-ô-pi là người thế nào?

8. Kết quả công tác chứng đạo của Phi-líp là gì?

9. Dấu hiệu thứ nhất của một người được cứu rỗi là gì?

10. Trong công tác chứng đạo, chúng ta nên xin Chúa điều gì?

BÀI 33. SAU-LƠ, KẺ BẮT BỚ TRỞ THÀNH NHÀ TRUYỀN ĐẠO

KINH THÁNH: Công vụ 9:1-31.

CÂU GỐC: “Ta đã chọn người này làm một đồ dùng Ta, để đem danh Ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên; Ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì danh Ta là bao nả” (Công vụ 9:15,16).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích các tín hữu dâng đời sống mình cho Chúa và tuân hành các mạng lịnh của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa hiện ra cho Sau lơ

(Công 9:1-9).

TH:

Sau lơ trở lại đạo

(Công 9:10-17).

TB:

Sự ủy thác cho Sau lơ

(Công 9:18-31).

TT:

Phao-lô trước Phê-tu

(Công 22:6-16).

TN:

Phao-lô trước Ạc-ríp-ba

(Công 26 9:20).

TS:

Đức Chúa Trời kêu gọi Sau lơ

(Ga-la-ti 1:1-17).

TB:

Được cứu để phục vụ

(I Tim 1:1-17).

Chúng ta thích đọc tiểu sử của các danh nhân. Kinh Thánh chép tiểu sử của các bậc danh nhân thánh khiết đã lập nên những công nghiệp vẻ vang, để khích lệ chúng ta. Hôm nay chúng ta học biết tiểu sử của Sau-lơ, một kẻ bắt bớ trở nên nhà truyền đạo.

Đời sống của Sau-lơ chứng minh quyền năng và ân điển của Chúa đối với tội nhân, đồng thời dạy chúng ta cách nào để trở nên một Cơ Đốc Nhân chân chính.

I. SAU-LƠ BẮT BỚ ĐẠO.

Sau-lơ là người Do thái, sanh tại thành Tạtsơ, học đạo tại Giê-ru-sa-lem với giáo sư Ga-ma-li-ên, sốt sắng về luật pháp, theo phe Pha-ri-si, có quốc tịch La-mã, nhân viên Tòa Công Luận, một học giả, một nhà đại tư tưởng (Công 22:1-3, 25-28). Cha mẹ ông chắc giàu có, quyền thế, nên ông được như vậy. Ông có nghề may trại.

Lúc Ê-tiên bị ném đá, Sau-lơ đã chứng kiến và rất đồng ý vì ông cho Ê-tiên đã sai lầm theo một giáo phái mới, chống lại cựu truyền của tổ phụ. Nhưng trước cái chết thảm khốc của Ê-tiên, tinh thần của Sau-lơ bị rúng động, lương tâm bị cáo trách dữ dội. Nếu quả Ê-tiên là một người sai lầm, cuồng tín thì không thể nào chết một cách can đảm, bình tĩnh và cao thượng như vậy được. Để phá tan sự cảm động đó, Sau-lơ tiếp tục bắt bớ Hội Thánh càng dữ dội hơn, như xông vào nhà tín đồ bắt đàn ông, đàn bà mà bỏ tù. Một số người chạy trốn ra ngoại quốc là thành Đa-mách, nước Sy-ri, ông cũng quyết tâm đến đó bắt họ đem về để trị tội.

Nếu một người phạm tội mà không chịu ăn năn, người đó sẽ cứ phạm tội mỗi ngày một nhiều hơn, làm cho lương tâm của mình ngày càng chai lì, rồi tội chồng thêm tội.

II. SAU-LƠ TRỞ LẠI ĐẠO (Công 9:1-19).

Sau-lơ bấy giờ như một thú dữ, lúc nào cũng chực sẵn trước những mồi ngon là tín đồ của Chúa để cắn xé. Ông xui thầy tế lễ thượng phẩm cấp giấy phép để ông đến nhà hội tại Đa-mách, hầu gặp ai là tín đồ thì bắt giải về Giê-ru-sa-lem.

Từ Giê-ru-sa-lem đến Đa-mách khoảng 270 cây số, phải đi một tuần hay mười ngày. Đương khi đi đường, ông thấy một ánh sáng kỳ diệu chiếu trên ông, đồng thời có tiếng từ trời phán rằng: “Sau-lơ, Sau-lơ sao ngươi bắt bớ Ta?”

Qua dị tượng đó, Sau-lơ biết Đấng phán cùng mình không phải là người thường, nên ông cung kính thưa: “Lạy Chúa, Chúa là ai?”

Chúa đáp: “Ta là Jêsus mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dậy vào trong thành, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều phải làm”.

Sau-lơ như người đương ngủ mà bị đánh thức, như người mù từ thuở sanh ra được mở mắt để thấy và biết sự sai lầm tai hại của mình. Bấy lâu ông cứ tưởng Jêsus là tên lộng ngôn, đáng bị tử hình trên thập tự giá và đã trở nên người thiên cổ, nhưng bây giờ ông mới biết Ngài là Chúa đang sống trong vinh quang kỳ diệu hơn hết. Trước kia ông vẫn tưởng chỉ bắt bớ một người mê tín, không ngờ ông đã bắt bớ chính mình Chúa.

Người ta bèn cầm tay Sau-lơ và dẫn vào thành Đa-mách. Ông không thấy, không ăn, không uống luôn ba ngày. Ngay từ đó, Sau-lơ đã trở nên một người khác. Khi từ thành Giê-ru-sa-lem ra đi, ông hăm hở đến Đa-mách để bắt trói tín đồ, bây giờ ông vào Đa-mách như một đứa trẻ thôi.

Chúa toàn năng làm được mọi sự. Song Ngài hạ mình sử dụng một người cộng tác với Ngài trong việc đem Sau-lơ trở lại. Người đó là A-na-nia. Ông không phải là sứ đồ, cũng không phải là chấp sự mà chỉ là một tín đồ. Ông chỉ xuất hiện tại đây một lần rồi biến mất. Song chúng ta phải nhận rằng ông là một tín đồ sốt sắng, rất quen biết Chúa Jêsus, đã thi hành một công tác rất vĩ đại. Khi Chúa cho ông biết mọi sự về Sau-lơ, thì ông đi ngay. A-na-nia đã đến với Sau-lơ trong tình thương nồng nàn: “Hỡi anh Sau-lơ”. Dầu biết rằng Sau-lơ làm hại nhiều tín đồ khác, trong đó có A-na-nia, nhưng bây giờ ông đã tha thứ hết, sẵn sàng đặt tay cầu nguyện cho Sau-lơ được đầy dẫy Thánh Linh và sáng mắt lại. Sau khi chịu báp têm, Sau-lơ ăn uống và bình phục.

III. SAU-LƠ TRỞ THÀNH NHÀ TRUYỀN ĐẠO (Công 9:19-31).

Sau-lơ bắt đầu giảng dạy ngay từ thành Đa-mách rằng Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Ai nấy đều lấy làm ngạc nhiên hỏi nhau: Đây là người đã từng bắt bớ những người cầu khẩn danh Chúa Jêsus tại Giê-ru-sa-lem, và đến đây để bắt bớ nữa, mà bây giờ lại giảng về Chúa Jêsus sao? Còn Sau-lơ, ngày càng hăng say, chứng minh với người Do thái rằng Chúa Jêsus là Đấng Cứu thế.

Người Do thái bèn âm mưu giết Sau-lơ. Khám phá ra âm mưu đó, các môn đồ lấy thúng dòng Sau-lơ xuống ngoài vách thành, trong ban đêm. Thế là Sau-lơ thoát thân trở về Giê-ru-sa-lem.

Tại Giê-ru-sa-lem, Sau-lơ trình diện với các sứ đồ, song ai nấy đều nghi ngờ, sợ hãi. Ba-na-ba liền hướng dẫn Sau-lơ đến giới thiệu với các sứ đồ và thuật lại mọi việc đã xảy ra trên con đường đến Đa-mách. Từ đó, Sau-lơ bắt đầu giảng về Chúa Jêsus tại Giê-ru-sa-lem. Nhưng người Do thái lại âm mưu giết Sau-lơ, nên anh em khuyên ông lánh mặt qua Tạtsơ. Từ đó các Hội Thánh tại Giu-đa với Sa-ma-ri được bình an, gây dựng và phát triển.

Sau-lơ tin Chúa là một biến động phi thường làm rung chuyển quyền lực của Sa-tan. Sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus đã là một đòn chí tử cho nó rồi, bây giờ thêm một đòn nguy hiểm nữa. Đồng thời toàn thể Hội Thánh của Chúa được phấn khởi trong niềm tin tưởng vô biên rằng Tin Lành là quyền năng của Đức Chúa Trời để chinh phục tội nhân, biến cải họ thành thánh nhân, trở nên những công cụ sắc bén trong tay của Ngài và số người tin Chúa càng thêm lên mãi. Hội Thánh Chúa ngày nay há không được phấn khởi như vậy để truyền giảng, hầu sẽ có một Sau-lơ tại Việt Nam trong giai đoạn này hay sao?

Qua đời sống của Sau-lơ, chúng ta biết rằng một người muốn trở nên một Cơ Đốc Nhân chân chính, người đó phải gặp Chúa cách riêng, biết Ngài đang sống, nghe rõ tiếng Ngài và sẵn sàng vâng phục. Chúng ta có thể không gặp Chúa cùng một hình thức như Sau-lơ gặp Ngài, song nội dung phải giống nhau.

Khi gặp Chúa, Sau-lơ đã thưa: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” (Công 22:10). Đây là tiếng nói từ môt tấm lòng tan vỡ của sự ăn năn, và đầu phục hoàn toàn. Sau-lơ tưởng việc làm của mình là tốt đẹp vì ông sốt sắng theo cựu truyền của tổ phụ. Bây giờ ông mới thấy việc ấy hoàn toàn sai lầm, phạm tội gớm ghê, nên ông xin Chúa chỉ cho ông điều phải làm. Người tin Chúa là người thôi làm điều mình muốn, mà bắt đầu làm điều Chúa muốn mình làm. Điều gì trước kia người ghét, bây giờ lại ưa, điều gì trước kia người cho là lợi, bây giờ là lỗ; Đấng mà người đã từng chống đối bây giờ người đầu phục, nhưng kẻ mà người đã từng bắt bớ cho đến chết, bây giờ người muốn đứng vào hàng ngũ của họ để chịu bắt bớ.

Câu “Lạy Chúa, tôi phải làm chi”, còn là tiếng nói của tấm lòng tận hiến. Người ấy muốn thưa với Chúa, “từ đây con thuộc về Ngài, xin Ngài thực hiện chương trình của Ngài cho đời sống của con” (Công 9:15,16). Đó cũng là bí quyết thành công của Sau-lơ trong 30 năm chức vụ, mà kết quả còn đến ngày nay cho chúng ta được hưởng.

CÂU HỎI

1. Sau-lơ là người thế nào?

2. Tại sao Sau-lơ đồng ý ném đá Ê-tiên?

3. Tại sao Sau-lơ chịu cảm động về sự chết của Ê-tiên?

4. Chúa Jêsus đã hiện ra với Sau-lơ cách nào?

5. Sau-lơ đã biến cải như thế nào?

6. Câu nào tỏ ra Sau-lơ hoàn toàn đầu phục Chúa?

7. Câu nào tỏ ra Sau-lơ tận hiến đời mình cho Chúa?

8. Làm thế nào để trở thành một Cơ Đốc Nhân chân chính?

9. Chúng ta phải làm gì sau khi học đời sống của Sau-lơ?

BÀI 34. CHIẾN THẮNG THÀNH KIẾN

KINH THÁNH: Công vụ 10:1-48.

CÂU GỐC: “Hết thảy các Đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài” (Công vụ 10:43).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Đức Chúa Trời chẳng tây vị ai cả, Ngài tiếp nhận bất cứ ai tin Ngài và vâng theo mạng lịnh của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời làm việc qua Phi-e-rơ

(Công 9:32-43).

TH:

Khải tượng của Cọt-nây

(Công 10:1-8).

TB:

Khải tượng của Phi-e-rơ

(Công 10:9-23).

TT:

Phi-e-rơ đến thăm Cọt-nây

(Công 10:23-33).

TN:

Bài giảng của Phi-e-rơ cho người ngoại bang

(Công 10:34-43).

TS:

Công tác của Đức Thánh Linh

(Công 10:44-48).

TB:

Chìa khóa nước thiên đàng

(Ma-thi-ơ 16:18-20).

Thành kiến là ý kiến đã có sẵn từ lâu, cố chấp, khó thay đổi. Trong Hội Thánh ban đầu, có tín hữu thành kiến giữa người văn minh và người bán khai, người tự chủ với người nô lệ, đàn ông với đàn bà, và nhất là người Do thái với người ngoại bang. Song sau đó, Hội Thánh của Chúa đã chiến thắng thành kiến, vì Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá đã phá hủy bức tường ngăn cách giữa các giai cấp, các dân tộc, làm cho mọi người trở nên một nhà mà thôi (Ê-phê-sô 2:13-16). “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờréc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn phân biệt đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một” (Ga-la-ti 3:28).

Từ trước, dân Do thái đã có thành kiến lớn giữa họ với các dân ngoại bang. Đức Chúa Trời đã tự tỏ mình ra cho Áp-ra-ham, chọn lựa dòng dõi ông làm một dân thuộc riêng về Ngài, để họ truyền giảng chân lý cho cả thế gian, song dân Do thái đã hiểu sai là chỉ có họ mới là dân đáng được cứu rỗi. Vì vậy, Tin Lành của Chúa Jêsus đã triệt hạ thành kiến đó của người Do thái, bày tỏ rằng Hội Thánh phải gồm muôn dân, muôn nước.

I. PHI-E-RƠ VƯỢT QUA THÀNH KIẾN (Công 10:9-23).

Phi-e-rơ là người Do thái, nên cũng không tránh khỏi thành kiến với dân ngoại bang, cho họ là ô uế, gớm ghê, không thể nào gần được. Vì vậy, Chúa đã chuẩn bị ông ngay từ khi Ngài còn thi hành chức vụ tại trần gian. Số là một ngày kia, Chúa từ Giu-đê lên Ga-li-lê và đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. Chúa đã dừng tại đó làm chứng cho một phụ nữ, rồi vào thành Sa-ma-ri ở lại đó với họ hai ngày vì có rất nhiều người trong thành tin nhận Ngài (Giăng 4:1-42). Khi Hội Thánh Giê-ru-sa-lem bị bắt dữ dội, các tín đồ chạy qua Sa-ma-ri lánh nạn và làm chứng đem lại kết quả lớn lao. Bấy giờ, các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem phái Phi-e-rơ và Giăng qua đó xem xét. Chính Phi-e-rơ đã chứng kiến Thánh Linh giáng trên các tín đồ ngoại bang khi ông đặt tay cầu nguyện cho họ. Sau đó, chính ông cũng đi giảng cho dân ngoại trong các thành thuộc địa phận Sa-ma-ri.

Bài học hôm nay cho biết Phi-e-rơ đang ở trong nhà một người thợ thuộc da tên là Si-môn, tại Giốpbê (Công 9:43). Ngày kia, đang khi chờ bữa ăn trưa thì ông lên mái nhà để cầu nguyện. Ông thấy một dị tượng, có một chiếc khăn lớn níu bốn góc lên và từ trời sa xuống. Trong khăn có đủ mọi loài thú, thanh sạch và không thanh sạch, đồng thời có tiếng phán rằng: “Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn”. Phi-e-rơ từ chối, vì trong số ấy có loại thanh sạch, nhưng cũng đã bị lây ô uế với loại không thanh sạch. Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch thì chớ cầm bằng ô uế”. Rồi các vật đó bị thâu lại trên trời.

Đang khi Phi-e-rơ còn ngần ngại về ý nghĩa của dị tượng, thì có những người của đội trưởng Cọt-nây sai đến tìm ông. Ngay lúc đó, Đức Thánh Linh phán với Phi-e-rơ: “Kìa, có ba người đang tìm ngươi. Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì Ta đã sai họ đó”. Bấy giờ, Phi-e-rơ hiểu rõ ý nghĩa của dị tượng, ông không được phép xem dân tộc nào là ô uế khi Chúa đã làm cho họ thanh sạch. Ông phải nhận họ là anh em trong một Hội Thánh. Vì vậy sáng hôm sau, Phi-e-rơ và một số anh em tại Giốpbê, cùng đi đến nhà Cọt-nây tại Sê-sa-rê. Thế là Phi-e-rơ đã chiến thắng thành kiến với dân ngoại bang.

II. CỌTNÂY, NGƯỜI NGOẠI BANG (Công 10:1-8).

Đội trưởng Cọt-nây là người La-mã, chỉ huy một đại đội, trấn đóng tại Sê-sa-rê, thuộc địa phận nước Do thái. Ông đã theo Do thái giáo thờ phượng Đức Chúa Trời một cách sùng kính như bố thí và cầu nguyện luôn. Tuy nhiên ông chưa được cứu rỗi.

Vì vậy, một ngày kia, Cọt-nây đang cầu nguyện, một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng ông và bảo rằng: “Lời cầu nguyện cùng sự bố thí ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời, và Ngài đã ghi nhớ lấy. Vậy, bây giờ hãy sai người đến thành Giốpbê, mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ… Người ấy sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, ngươi và cả nhà mình sẽ được cứu rỗi” (10:4; 11:14).

Thiên sứ không thể nói cho Cọt-nây biết sự cứu rỗi, mà chỉ giới thiệu Phi-e-rơ cho Cọt-nây. Thiên sứ không kinh nghiệm sự cứu rỗi thì thể nào làm chứng sự cứu rỗi được? Chính Phi-e-rơ mới có thể làm điều đó, vì ông đã kinh nghiệm. Vì thế, chỉ có người kinh nghiệm sự cứu rỗi mới có thể làm chứng sự cứu rỗi cho người khác.

Cọt-nây cũng như hoạn quan Ê-thi-ô-pi và Sau-lơ đều là những người khao khát sự cứu rỗi. Họ khao khát vì chưa được cứu rỗi, song khi đã chuẩn bị lòng mình để nhận sự cứu rỗi, thì Chúa cũng chuẩn bị người đem sự cứu rỗi đến cho họ bằng cách này hay cách khác. Sự cứu rỗi phải qua một đường lối duy nhất là được tái sanh nhờ tin đến Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của riêng mình. Đạo đức như Ni-cô-đem hay tội lỗi như người đàn bà Sa-ma-ri đều phải qua con đường ấy.

III. PHƯỚC HẠNH SAU KHI XÓA BỎ THÀNH KIẾN (10:24-28).

Chúa đã sắp xếp mọi sự một cách chu đáo. Vì vậy, trước khi Phi-e-rơ đến, gia đình Cọt-nây và bà con bạn hữu đã họp lại trong nhà ông, sẵn sàng chờ đợi. Khi Phi-e-rơ bước vào, Cọt-nây liền ra rước, cúi xuống chân ông mà lạy, xem Phi-e-rơ là một sứ giả từ trời. Phi-e-rơ vừa vội vàng đỡ dậy, vừa nói với Cọt-nây: “Ông hãy đứng dậy, tôi đây cũng là người”. Một số người cho Phi-e-rơ là giáo hoàng đầu tiên, nhưng họ chưa sống theo hành động và lời nói khiêm tốn của Phi-e-rơ.

Phi-e-rơ liền trình bày cho mọi người biết, lý do ông đến là bởi Đức Chúa Trời sai khiến và hỏi Cọt-nây đã cho người tìm ông có việc gì.

Cọt-nây thuật lại thể nào thiên sứ đã hiện ra và bảo ông cho người mời Phi-e-rơ đến. Cọt-nây tiếp: “Vậy, bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi”. Thái độ, hành động và ngôn ngữ của Cọt-nây khiêm tốn, chân thành, đẹp đẽ biết bao! Đây là một cuộc gặp gỡ phi thường do ơn thiên hựu.

Nếu tất cả thính giả lúc nào cũng sẵn sàng trước mặt Đức Chúa Trời để nghe lời của Ngài, thì còn gì phước hạnh hơn. Nếu tất cả diễn giả đều là những người được Chúa sai đi để nói điều chi Chúa dặn mình phải nói thì chắc chắn có nhiều người được cứu.

Trước một môi trường hoàn toàn thuận lợi như trên, Phi-e-rơ hăng say truyền giảng Tin Lành. Ngay khi ông còn nói thì Đức Thánh Linh đã giáng trên mọi người đang nghe, ai nấy đều được đầy dẫy chính mình Ngài, họ liền nói tiếng ngoại quốc mà ca tụng Ngài. Nhà Cọt-nây đã mở toang, lòng của mọi người cũng vậy, nên Thánh Linh đã tràn vào, không cần chờ đợi nghi thức nào như sự đặt tay cầu nguyện. Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ đã dùng chìa khóa nước thiên đàng mà mở cửa cho người Do thái, bây giờ ông dùng chìa khóa ấy mở cửa cho người ngoại bang. Đức Chúa Trời cứu vớt người ngoại bang cũng như người Do thái, không phân biệt ai hết.

CÂU HỎI

1. Thành kiến là gì?

2. Vì sao người Do thái có thành kiến với người ngoại bang?

3. Để triệt hạ thành kiến của Phi-e-rơ, Chúa đã chuẩn bị cho ông thế nào?

4. Chúa đã chuẩn bị Cọt-nây thế nào để ông và cả nhà nhận ơn cứu rỗi?

5. Cọt-nây là con người thế nào?

6. Cọt-nây có thái độ nào khi Phi-e-rơ đến nhà ông?

7. Phi-e-rơ có thái độ nào khi được Cọt-nây tôn sùng?

8. Chúa đã ban phước cho gia đình Cọt-nây thế nào đang khi nghe giảng?

9. Phi-e-rơ đã sử dụng chìa khóa nước thiên đàng của Chúa giao như thế nào?

10. Con đường duy nhất của sự cứu rỗi là gì?

BÀI 35. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

KINH THÁNH: Công vụ 11:1-30.

CÂU GỐC: “Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời, bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa” (Công vụ 11:23).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích các học viên chia sẻ từng trải trong Chúa của mình cho người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chức vụ của Phi-e-rơ cho người ngoại bang

(Công 11:1-18).

TH:

Các giáo sĩ tại An-ti-ốt

(Công 11:19-26).

TB:

Ba-na-ba tại Chíp rơ

(Công 4:32-37).

TT:

Phục vụ Chúa bằng sự dâng tiền

(Công 11:27-30).

TN:

Phục vụ Chúa trong cơn bắt bớ

(Ma-thi-ơ 10:16-23).

TS:

Lời ủy thác trọng đại

(Ma-thi-ơ 28:16-20).

TB:

Sứ điệp Tin Lành

(Rô-ma 8:1-3).

Việc Chúa sai Phi-e-rơ đến giảng cho gia đình Cọt-nây là người ngoại bang mở đường cho sự thành lập Hội Thánh giữa dân ngoại. Hội Thánh đó là An-ti-ốt.

Thành phố An-ti-ốt thuộc xứ Sy-ri, lớn vào hạng ba trong thế giới bấy giờ, chỉ sau thành phố La-mã và A-léc-xan-tri. Song An-ti-ốt cũng là một thành phố tội lỗi. Khi Ê-tiên bị ném đá, các tín đồ chạy tản lạc đến Giu-đa, Sa-ma-ri thì có một số chạy sang Sy-ri, đến thành An-ti-ốt. Ban đầu, họ làm chứng cho người đồng hương Do thái, sau họ làm chứng cho người ngoại bang. Sự làm chứng của họ không có một hình thức nào hấp dẫn như chúng ta có ngày nay, song có cánh tay toàn năng của Chúa ở cùng, nên kết quả có nhiều người Do thái và người ngoại bang tin theo.

Chúng ta thấy Hội Thánh được phát triển theo thứ tự sau đây: Ban đầu Hội Thánh được thành lập tại Giê-ru-sa-lem giữa người Do thái, rồi nhờ cơn bắt bớ, Phi-líp đến giảng cho Sa-ma-ri. Dân Sa-ma-ri là dân Do thái lai dân ngoại bang, nên họ là cây cầu giữa hai dân ấy. Kế đó, Phi-e-rơ được Chúa sai đến giảng cho gia đình Cọt-nây là dân La-mã, song gia đình Cọt-nây chưa thành một Hội Thánh. Bấy giờ một Hội Thánh dân ngoại bang được thành lập tại An-ti-ốt, một thành phố ngoại bang.

Tại An-ti-ốt có 4 đặc điểm.

1. Một Hội Thánh mới giữa dân ngoại bang được thành lập.

2. Một trung tâm mới được thành lập để truyền giáo cho ngoại quốc.

3. Một nhà truyền giáo mới được gọi vào chức vụ.

4. Một tên mới được đặt cho là Cơ Đốc Nhân.

I. TRÁCH NHIỆM CỦA BA-NA-BA (Công 11:19-24).

Những tín đồ tại Giê-ru-sa-lem với mấy tín đồ tại Chíp-rơ và Sy-ri đã đến An-ti-ốt làm chứng và kết quả là có Hội Thánh tại đó. Kinh Thánh không nêu tên của họ, mặc dù họ đã làm được việc lớn, đáng khen, song tên và công việc của họ chắc không thiếu trong sổ sự sống trên trời.

Kết quả đó là một phép lạ chớ chẳng phải thường, nên tiếng đồn thấu tai Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem và Hội Thánh đã sai Ba-na-ba đến An-ti-ốt. Các nhà lãnh đạo Hội Thánh bấy giờ thật là sáng suốt, đã chọn một người xứng đáng cho một công tác thuộc linh vĩ đại. Chúng ta quen biết Ba-na-ba với biệt danh là “Con trai của sự an ủi” (Công 4:36-37). Khi Sau-lơ đã tin Chúa, thì Hội Thánh Giê-ru-sa-lem còn sợ, không chắc là một môn đồ, song nhờ sự giới thiệu của Ba-na-ba mà Sau-lơ được tiếp đón nồng hậu. Tại đây Kinh Thánh còn ghi nhận: “Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin”. Biết bao người được ghi nhận vào hàng tri thức, tài năng, hùng biện, nhưng không phải là người lương thiện, không phải là người đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Phước thay cho Hội Thánh có tín đồ ưu tú như Ba-na-ba.

Đến nơi, với con mắt thuộc linh, Ba-na-ba nhận định giá trị của sự việc thuộc linh, là ân điển của Đức Chúa Trời đang hành động trong lòng kẻ tin vì họ có sự yêu thương, vui mừng, bình an, nên ông hoan nghinh họ là anh chị em thân mến trong Chúa. Vốn là “con trai của sự yên ủi”, nên ông an ủi và khích lệ họ vững lòng theo Chúa và gắn bó với Ngài hơn.

Đánh giá đúng công trình của người khác không phải việc dễ. Do tinh thần ganh tị, tự tôn, kỳ thị hay tây vị làm cho chúng ta nhìn công trình của người khác một cách lệch lạc, nên thay vì tiếp tục xây dựng, chúng ta có thể phá hoại. Ai nấy cần có tinh thần vô tư, cung kính, nhất là có sự sống thuộc linh trưởng thành khi nhận định công trình của người khác.

Ngoài ra, với sự hiện diện của Ba-na-ba, có rất đông người được cứu thêm vào Hội Thánh An-ti-ốt. Bước chân của người được phước đến đâu cũng đem phước cho người khác (Sáng 12:2). Đó là một đời sống mà tất cả chúng ta phải ao Ước.

II. BA-NA-BA CHIA SẺ TRÁCH NHIỆM VỚI SAU-LƠ (Công 11:25-26).

Từ khi tin Chúa, Sau-lơ bị đồng bào mình chống đối đến độ tìm phương giết chết (Công 9:23; 29:30). Vì vậy, anh em trong Chúa tại Giê-ru-sa-lem khuyên ông nên lánh mặt về quê nhà tại Tạtsơ. Từ đó đã 9 năm qua như không ai nhớ đến Sau-lơ, còn ông thì sốt ruột chờ đợi cơ hội phục vụ Chúa qua công tác đem Tin Lành cho cả thế gian.

Bấy giờ Hội Thánh An-ti-ốt càng ngày càng lớn, công việc càng ngày càng nhiều, Ba-na-ba cảm thấy một mình không thể đảm đang. Ông không muốn ôm đồm mà làm không xuể. Ông nhớ lại Sau-lơ là con người có khả năng, có ân tứ xứng hiệp với nhu cầu tại An-ti-ốt. Một thành phố lớn, gồm có dân Do thái và dân ngoại bang, giữa dân ngoại bang có nhiều thành phần khác nhau, nên cần có một người lỗi lạc, có tâm hồn cao thượng, bao dung, sẵn sàng trở nên mọi cách cho mọi người như Sau-lơ. Đồng thời Ba-na-ba cũng biết rằng được Sau-lơ cộng tác thì mọi việc sẽ trôi chảy, rồi chẳng bao lâu sẽ vượt lên trên mình, còn mình sẽ rơi vào hạng nhì. Dầu vậy, Ba-na-ba không nghĩ đến danh dự và quyền lợi riêng tư mà chỉ nghĩ đến nhu cầu của Hội Thánh. Ba-na-ba liền đi Tạtsơ cố tìm cho được Sau-lơ, tìm gặp rồi, bèn đưa về An-ti-ốt.

Thái độ và hành động của Ba-na-ba rất cao đẹp. Con người lương thiện đầy dẫy Thánh Linh và đức tin đó đã đào tạo được một nhà truyền giáo trứ danh cho dân ngoại. Nếu ta không thể làm việc lớn cho Chúa, ta nên như Ba-na-ba, đưa một anh em xuất chúng vào làm việc lớn cho Ngài. Ta phải lấy làm hãnh diện có nhiều anh em trổi hơn mình, đảm đang Hội Thánh. Chúng ta phải giết chết tánh ganh tị, nếu không, nó sẽ giết chết đời mình như nó đã giết chết vua Sau-lơ.

Trọn một năm, hai người cùng nhóm với Hội Thánh và dạy dỗ nhiều người. Ấy là tại An-ti-ốt, người ta bắt đầu kêu môn đồ là Cơ Đốc Nhân, tức là người của Chúa Cơ Đốc. Cám ơn Chúa vì người thế gian biết chúng ta thuộc về Ngài.

III. KẾT QUẢ CỦA TINH THẦN TRÁCH NHIỆM (Công 11:27-30).

Nhờ sự cộng tác của Ba-na-ba và Sau-lơ, danh Chúa Cơ Đốc (Christ) được mọi người biết đến, nên ai nấy gọi tín đồ là người của Chúa Cơ Đốc. Không những vậy thôi, khi anh em trong Hội Thánh An-ti-ốt nghe anh em trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem gặp cơn đói kém, họ liền tự ý lạc quyên một số tiền cứu trợ và nhờ Ba-na-ba và Sau-lơ trao giúp.

Tại đây chúng ta thấy tinh thần của Hội Thánh chung. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem nghĩ đến Hội Thánh An-ti-ốt mà sai người đến thăm viếng và chăm sóc, đồng thời tiếp nhận Hội Thánh An-ti-ốt là của Chúa cũng như Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Đối lại, Hội Thánh An-ti-ốt tỏ lòng tri ân, thương yêu Hội Thánh Giê-ru-sa-lem mà sẵn sàng chia xẻ giúp đỡ. Điều này nói lên Hội Thánh An-ti-ốt đã trưởng thành trong sự sống thuộc linh, không còn ích kỷ, không còn chia rẽ dân Do thái và dân ngoại bang, mà chỉ biết là anh em thân mến trong Chúa. Thánh Linh ở trong tín đồ người Do thái cũng như ở trong tín đồ người ngoại bang, khiến họ cảm thông nhau, thương yêu nhau, sẵn sàng chia cơm xẻ áo cho nhau.

Kể từ đây Hội Thánh An-ti-ốt là trung tâm truyền giảng cho thế giới, phát xuất 3 vòng truyền giáo do Ba-na-ba và Sau-lơ thực hiện. Kết quả đó, ngoài sự giảng dạy ân điển, còn do nếp sống gương mẫu của Ba-na-ba và Sau-lơ. Thật hai ông có thể nói với Hội Thánh An-ti-ốt như Phi-e-rơ đã nói với người què: “Hãy nhìn xem chúng ta” (Công vụ 3:4).

CÂU HỎI

1. Chúa sai Phi-e-rơ đến giảng Tin Lành cho gia đình Cọt-nây là người La-mã để mở đường cho việc gì?

2. Tại An-ti-ốt có 4 đặc điểm nào?

3. Ai là người đem Tin Lành cho dân ngoại tại An-ti-ốt?

4. Tại sao Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã sai Ba-na-ba đến xem xét công việc tại An-ti-ốt?

5. Khi Ba-na-ba đến thì công việc Chúa tại An-ti-ốt được thêm kết quả gì?

6. Khi công việc càng lớn, càng nhiều thì Ba-na-ba đã làm gì?

7. Tại sao Ba-na-ba nghĩ đến Sau-lơ?

8. Thái độ và hành động của Ba-na-ba tỏ ra ông là người thế nào?

9. Sau một năm cộng tác với nhau, hai ông đã được kết quả thế nào?

10. Hội Thánh An-ti-ốt có một trình độ thuộc linh ra sao?

BÀI 36. QUYỀN NĂNG CỦA SỰ CẦU NGUYỆN.

KINH THÁNH: Công vụ 12:1-25.

CÂU GỐC: “Vậy Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội Thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn” (Công vụ 12:5).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích các học viên từng trải quyền năng của sự cầu nguyện trong đời sống mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phi-e-rơ được cứu khỏi ngục

(Công 12:1-11).

TH:

Lời cầu nguyện được nhậm

(Công 12:12-19).

TB:

Nhận lấy sự hình phạt

(Công 12:20-25).

TT:

Bài giảng của Phi-e-rơ về sự chịu khổ

(I Phi 2:19-25).

TN:

Bài giảng của Gia-cơ về sự cầu nguyện

(Gia-cơ 5:10-18).

TS:

Đức tin đang khi chịu khổ

(Đa-ni-ên 3:13-25).

TB:

Được bình an bởi đức tin

(Thi 37:1-17).

Nhiều người cảm thấy an toàn khi có một triệu bạc gởi vào ngân hàng hơn là có lời của Chúa hứa với mình trong Kinh Thánh. Song những biến cố trên thế gian nầy đã làm cho nhiều người mất hết tài sản dầu gởi vào ngân hàng hay giữ trong nhà cũng vậy. Đang khi đó, lời của Đức Chúa Trời đã hứa với chúng ta thì không bao giờ thay đổi. Chúa hứa sẽ giải cứu, lo liệu, cung cấp, chăn dắt, gìn giữ chúng ta. Dân Y-sơ-ra-ên đã kinh nghiệm và chứng minh rằng lời hứa của Chúa đối với họ thảy đều ứng nghiệm cả (Giô-suê 21:45; 23:14; ICác 8:56). Bài học hôm nay còn chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã làm vượt quá mọi sự chúng ta cầu xin và suy tưởng (Ê-phê-sô 3:20).

Việc đã xảy ra tại Giê-ru-sa-lem trong ngày Lễ Vượt Qua lần này, bày tỏ 3 quyền.

1. Quyền hành của vua Hê-rốt.

2. Quyền năng của Đức Chúa Trời.

3. Quyền năng sự cầu nguyện của Hội Thánh.

I. QUYỀN HÀNH CỦA VUA HÊ-RỐT (Công 12:1-4).

Có ba vua mang tên Hê-rốt. Hê-rốt đại đế trong thời Chúa giáng sinh, Hê-rốt Antiba đã giết Giăng Báp-tít, còn Hê-rốt Ạc-ríp-ba là con và cháu nội của hai ông kia. Vua có quyền hành song không sử dụng quyền hành đúng chỗ mà lạm dụng quyền hành để hà hiếp Hội Thánh. Vua ngang nhiên bắt bớ sứ đồ Gia-cơ và chém đầu. Trong Hội Thánh không có ai đứng lên phản đối, ngược lại dân Do thái tỏ ra hoan nghinh. Thắng thế, Hê-rốt bắt Phi-e-rơ và hạ ngục, đợi xong lễ sẽ đem ra xét xử rồi giết luôn.

Hội Thánh càng tấn bộ gây cho người Do thái càng phẫn nộ. Họ mượn tay vua Hê-rốt để tiêu diệt Hội Thánh và nhắm vào các lãnh tụ trước nhất. Vua Hê-rốt là một chính trị gia lỗi lạc, cũng mượn cơ hội đó làm vừa lòng người Do thái để dễ cai trị, và củng cố địa vị của mình. Đối với Hê-rốt, vua không cần biết Hội Thánh tốt hay xấu, chỉ cần bảo vệ ngôi báu, ai chết mặc ai, chết bao nhiêu cũng được.

Kinh Thánh dạy rằng: “Các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định… Quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi” (Rô-ma 13:1-4). Song họ như vua Hê-rốt, thường bị cám dỗ mà lạm dụng quyền hành của mình để thay vì làm ích cho người lành thì lại làm hại. Chúng ta có bổn phận cầu thay cho họ.

II. QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Công 12:6-10).

Phi-e-rơ ngồi tù hai lần rồi. Lần trước Chúa giải cứu ông một cách kỳ diệu (Công 5:22-23), nên lần này họ canh giữ ông cẩn mật lắm. Có 16 tên lính thay phiên nhau canh giữ mà hai tên bị xiềng chung với Phi-e-rơ, một người bên phải và một người bên trái. Vì Lễ Vượt Qua kéo dài 8 ngày nên họ phải chờ đợi.

Đêm cuối cùng và sáng hôm sau Phi-e-rơ sẽ ra tòa, ông vẫn bình an và ngủ mê (Giăng 14:27). Thình lình cả ngục sáng choang như ban ngày, đồng thời thiên sứ đập vào sườn Phi-e-rơ để đánh thức người. Thiên sứ bảo: “Hãy mau chờ dậy… Hãy nịt lưng và mang dép vào”. Xiềng liền rớt ra khỏi tay người như chỉ gai gặp phải lửa. Thiên sứ tiếp: “Hãy mặc áo ngoài và theo ta”. Phi-e-rơ vâng lời, song cứ tưởng là chiêm bao. Qua khỏi hai vọng canh có 4 tên lính, song chúng ngủ mê như chết, chẳng hay biết gì cả. Ra tới cổng sắt, cổng sắt mở toang. Đi với thiên sứ của Đức Chúa Trời thì không có trở lực nào đứng nổi mà hết thảy đều bị san bằng. Chúa đã rẽ Biển Đỏ và sông Giô-đanh cho dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua, thì việc mở cửa ngục cho Phi-e-rơ ra khỏi đó là việc quá nhỏ.

Quyền hành của vua Hê-rốt là bao nhiêu so với Đức Chúa Trời toàn năng? Điều rất mỉa mai là vua cũng dự Lễ Vượt Qua, tỏ ra một con người ngoan đạo theo cựu truyền của tổ phụ, nhưng chính lúc đó, vua sát hại đầy tớ của Chúa và còn âm mưu sát hại nữa. Tuy nhiên, vua làm sao vượt qua được giới hạn mà Chúa đã đặt cho vua? Chúng ta đừng làm như vua Hê-rốt và cũng đừng để Hê-rốt xen vào giữa vòng chúng ta.

Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời luôn luôn tể trị mọi sự, nhất là những sự có tương quan đến người thuộc về Ngài. Song tại sao Chúa giải cứu Phi-e-rơ mà để cho Gia-cơ bị chém đầu? Giăng, Gia-cơ và Phi-e-rơ là 3 môn đệ thân tín nhất của Chúa Jêsus. Chúng ta không dám nghĩ rằng Gia-cơ có lỗi, còn Phi-e-rơ vô tội. Không phải hết thảy những kẻ sống lâu là được phước hơn những người chết sớm. Mêtusêla sống 969 tuổi, song chúng ta không thấy ông làm gì ngoài ra sanh con cái (Sáng 5:25-27). Nếu Sa-lô-môn đã chết sớm hơn thì tốt hơn ông sống lâu, vì lúc trở vể già ông đã bị cám dỗ mà phạm tội (IICác 11:4-8).

Về phần Giăng và Gia-cơ họ đã xin rằng khi Chúa được vinh hiển thì cho họ ngồi bên hữu và bên tả Ngài. Chúa hỏi; “Các ngươi có uống được chén Ta uống, và chịu được phép báp têm Ta chịu chăng? Thưa rằng: Được” (Mác 10:35-40). Uống chén của Chúa uống và chịu báp têm Ngài chịu là đồng chịu khổ với Ngài trong sự sống cũng như sự chết. Kết quả là giữa vòng các sứ đồ, Gia-cơ chết sớm nhất và Giăng sống lâu nhất. Đó đúng như lời họ xin và được Chúa chấp nhận.

III. QUYỀN NĂNG CỦA HỘI THÁNH TRONG SỰ CẦU NGUYỆN (Công 12:5, 11-19).

Chúng ta thấy hai lực lượng tương phản rõ rệt: Hê-rốt bắt Phi-e-rơ và hạ ngục. Hội Thánh cứ cầu nguyện cho người luôn. Cuối cùng Hê-rốt chỉ thấy ngục trống, tức giận, ông đem lính canh ra giết.

Suốt thời gian Phi-e-rơ ở trong ngục, Hội Thánh chỉ làm một điều là thiết tha cầu nguyện cho ông. Nhất là đêm cuối cùng, họ quyết định không ngủ mà cứ cầu nguyện, không những tại nhà Ma-ri là mẹ của Mác, mà cũng tại các nơi khác nữa. Họ cầu nguyện như trong cơn hấp hối để chiến đấu với quyền lực của Sa-tan đang ở phía sau Hê-rốt.

Thình lình một con đòi nghe tiếng gõ cửa, liền chạy ra và nhận ra tiếng của Phi-e-rơ. Mừng quá, cô ta không mở cửa mà chạy vào báo tin cho Hội Thánh. Ai nấy bảo: “Mày điên rồi”. Song cô ta quả quyết là Phi-e-rơ. Khi mở cửa ra thấy Phi-e-rơ, hết thảy đều sững sờ. Chúa đã trả lời vượt quá điều họ cầu xin. Lời nào tả xiết nỗi vui mừng của Hội Thánh! Đức tin của họ lớn mạnh biết bao!

Ngày nay cũng vậy, không có quyền năng nào sánh với quyền năng cầu nguyện. Ma quỉ không sợ gì bằng sợ chúng ta cầu nguyện. Hãy đặt sự cầu nguyện vào hàng đầu và hàng cuối của mỗi ngày, mỗi việc, suốt cuộc đời. Hội Thánh hãy sử dụng quyền năng cầu nguyện để nhiều con cái Chúa được giải cứu, hoặc khỏi ngục tù trần gian, hoặc khỏi ngục tù tội lỗi. Nếu Chúa không giải cứu họ khỏi ngục tù trần gian thì Ngài giải cứu họ trong đó, nghĩa là Ngài ở với họ mà biến ngục tù trở nên nơi an toàn, hạnh phúc.

IV. CHÚA BÀY TỎ QUYỀN NĂNG (Công 12:20-25).

Bấy giờ vua Hê-rốt trở về Sê-sa-rê. Dân Ty-rơ và dân Si-đôn đã nhờ Hê-rốt giúp đỡ, nên họ đến để tỏ lòng biết ơn vua. Nhân dịp này, Hê-rốt mặc áo nạm bạc sáng ngời, đọc diễn văn long trọng. Dân chúng hoan nghinh và tâng bốc vua: “Ấy là tiếng của một vị thần, chẳng phải tiếng người ta đâu”. Hê-rốt lấy làm hãnh diện mà chấp nhận điều đó, muốn làm ra mình bằng Đức Chúa Trời. Ngay giờ đó, ông mắc bệnh và chết.

Phá hại Hội Thánh của Chúa là tội đáng chết, lại còn kiêu căng, đem mình lên địa vị cao hơn Chúa dành cho mình thì không thể nào thoát khỏi bị hình phạt. Mạng sống của con người ở trong tay Chúa, Ngài muốn cất đi lúc nào cũng được.

Kết quả của mọi việc trên là “Đạo của Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra”. Sự bắt bớ không làm hại Hội Thánh, trái lại làm cho Hội Thánh tinh khiết hơn, lớn mạnh hơn; nhưng sự cám dỗ làm cho Hội Thánh phạm tội, thì Hội Thánh ngày càng suy yếu hơn. Nếu phải chọn một trong hai điều, bị bắt bớ và cám dỗ, chúng ta thà chịu bị bắt bớ.

CÂU HỎI

1. Phép lạ chúng ta học hôm nay xảy ra tại thành phố nào?

2. Vua Hê-rốt đã sử dụng quyền hành của mình thế nào?

3. Dân Do thái muốn mượn tay Hê-rốt để làm gì?

4. Vua Hê-rốt muốn đẹp lòng dân Do thái để được gì?

5. Tại sao xiềng xích rớt ra khỏi tay Phi-e-rơ?

6. Tại sao cổng sắt mở toang trước mặt Phi-e-rơ?

7. Tại sao Chúa giải cứu Phi-e-rơ mà để Gia-cơ chết?

8. Tại sao chúng ta biết Chúa trả lời cho Hội Thánh vượt quá điều họ xin?

9. Tại sao vua Hê-rốt chết?

10. Sự bắt bớ của Hê-rốt đã khiến Đạo Chúa có kết quả như thế nào?

BÀI 37. ĐOÀN TRUYỀN GIÁO TIN LÀNH ĐẦU TIÊN.

KINH THÁNH: Công vụ 13:1-52.

CÂU GỐC: “Vậy, hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em; lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình” (Công vụ 13:38-39a).

MỤC ĐÍCH: Thức tỉnh các học viên về trách nhiệm và đặc quyền của họ trong việc truyền giảng Tin Lành.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao lô bắt đầu công tác truyền giáo

(Công 13:1-7).

TH:

Phao lô tại Chíp-rơ

(Công 13:8-15).

TB:

Phao lô tại An-ti-ốt

(Công 13:16-24).

TT:

Phao lô giảng về Đấng Christ chết và sống lại

(Công 13:25-33).

TN:

Sự phục sinh

(Công 13:34-43).

TS:

Lời giảng dạy của Phao lô bị chống đối

(Công 13:44-52).

TB:

Những lời giáo huấn của Chúa Jêsus

(Ma-thi-ơ 10:5-15).

Khi Chúa Jêsus về trời, Ngài chỉ có 12 sứ đồ thuộc vùng Ga-li-lê. Theo khả năng của họ, Tin Lành có thể truyền xa lắm là trong phạm vi xứ Phalêtin, quê hương của họ. Nhưng sau 50 năm, Tin Lành đã truyền đến Tiểu Á Tế Á, Bắc Phi, Âu Châu. Vô luận nơi nào Tin Lành truyền đến, đều có người tin theo và Hội Thánh được thành lập.

Hôm nay chúng ta học về Tin Lành truyền sang phương tây, tức là miền Tiểu Á do đoàn truyền giáo đầu tiên được Hội Thánh An-ti-ốt Sy-ri cử đi. Đây là bước tiến quan trọng của Hội Thánh. Hội Thánh đã nhiều lần giảng cho người ngoại quốc như hoạn quan Ê-thi-ô-pi, gia đình Cọt-nây người La-mã, người Sa-ma-ri, người An-ti-ốt. Song đây là lần đầu tiên Hội Thánh cử đoàn truyền giáo giảng Tin Lành cho người ngoại quốc.

I. ĐOÀN TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN ĐƯỢC THÀNH LẬP (Công 13:1-3).

Trong Hội Thánh An-ti-ốt có ban hướng dẫn gồm 5 người: Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Nigiê tức là Đen, có lẽ ông là người Phi Châu, Lusiút người Syren ở Bắc Phi, Ma-nahem là bạn của vua Hê-rốt và Sau-lơ. Họ thuộc về giai tầng xã hội và chủng tộc khác nhau, song đều là tiên tri và giáo sư của Hội Thánh, nên hiệp một nhau trọn vẹn. Họ hướng dẫn Hội Thánh trong sự thờ phượng Chúa và kiêng ăn.

Trong sự thờ phượng luôn luôn có phần ca hát để cảm tạ, tôn vinh Chúa về các ơn phước lớn lao hằng ngày. Chúng ta ca hát vui thỏa vì đó là dấu hiệu của người được cứu rỗi: “Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, khỏi vũng bùn lấm, Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, và làm cho bước tôi vững bền. Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người thấy điều đó, bắt sợ, và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va” (Thi 40:2-3).

Ngoài ra cũng có phần đọc lời Chúa và dự Tiệc Thánh. Mỗi tín đồ phải xem Tiệc Thánh là một lễ rất quan trọng mà ai nấy phải mong đợi và cung kính khi dự. Hội Thánh phải cử hành lễ ấy một cách trang nghiêm, xứng hiệp với ý nghĩa như Chúa đã phán dạy.

Trong sự thờ phượng còn có phần kiêng ăn cầu nguyện, vì họ thiết tha tìm hiểu ý muốn của Chúa đối với mình. Họ đã mở lòng, mở tai để lắng nghe lời Chúa, là tạo cho Ngài một cơ hội phán dạy. Và Đức Thánh Linh đã phán dạy họ: “Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc Ta đã gọi làm”. Chúng ta ngày nay phải thiết tha tìm hiểu ý Chúa bằng sự kiêng ăn cầu nguyện. Chúa đang phán dạy, song chúng ta không sẵn lòng lắng nghe.

Sau đó, đại diện của Hội Thánh đặt tay trên Ba-na-ba và Sau-lơ, rồi để cho đi. Đó là lễ tấn phong chức vụ giáo sĩ. Dầu Phao-lô đã được Chúa biệt riêng từ trong lòng mẹ (Ga-la-ti 1:15), và lấy ân điển gọi ông là sứ đồ trên con đường Đa-mách, thì đó là việc của Chúa đối với ông. Song Hội Thánh phải đặt tay trên ông, là thừa lệnh Chúa công khai tuyên bố ông là sứ đồ, là giáo sĩ. Kể từ đó, Phao-lô và Ba-na-ba được gọi là sứ đồ (Công 14:4,14). Lễ tấn phong Mục sư ngày nay cũng giống như vậy.

Đặt tay phong chức và sai đi, tức là chịu trách nhiệm về tài chánh và mọi nhu cầu khác cho hai người như quần áo, vật dụng v.v… Ngày kia, một cụ già làm thợ đóng giày đến thăm một vị Mục sư vừa được cử đi làm giáo sĩ ngoại quốc. Cụ trịnh trọng thưa: “Xin giáo sĩ vui lòng cho tôi một đặc ân”. Vị tân giáo sĩ sửng sốt đáp: “Thưa cụ, tôi có chi mà dám cho cụ một đặc ân?” Cụ tiếp: “Tôi xin dâng cho giáo sĩ một đôi giày để ông mang, đó là ông cho tôi được dự phần với ông trong việc truyền giảng Tin Lành”.

Hội Thánh có trách nhiệm với người mình đặt tay phong chức và sai đi phục vụ. An ủi và khích lệ họ là mình dự phần vào chức vụ của họ.

II. ĐOÀN TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN RA ĐI (Công 13:4-43).

Đoàn truyền giáo gồm có ba người: Sau-lơ, Ba-na-ba và một người tùy tùng là Giăng cũng gọi là Mác. Từ đây tên Sau-lơ theo Do thái được gọi là Phao-lô theo La-mã (13:9). Vòng truyền giáo thứ nhất này được chép ở trong Công vụ 13:4-14:28. Phương tiện di chuyển của họ là thuyền buồm, đi bộ, hay ngựa, lừa, lạc đà.

1. Đoàn truyền giáo đến Ba phô, Chíp-rơ (4-12).

Sau khi từ giã Hội Thánh, đoàn truyền giáo đến hải cảng Sê-sa-rê rồi đáp thuyền qua đảo Chíp-rơ. Đây là nơi có nhiều người Do thái cũng là quê hương của Ba-na-ba. Đoàn đến thành phố Salamin giảng trong nhà hội Do thái, rồi đến thành phố Baphô. Tại đây họ gặp một tay phù thủy nổi tiếng là Ba Jêsus (tên Do thái) hay còn gọi là Êlyma (tên Hy-lạp). Phù thủy này được quan trấn thủ tin dùng, nên nuôi trong nhà như một vị cố vấn. Đó là cách các quan La-mã mê tín thường làm. Quan trấn thủ cho mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến để nghe đạo Đức Chúa Trời. Phù thủy Êlyma thấy vậy đâm ra hoảng sợ, vì nếu quan trấn thủ tin Chúa, ông sẽ không còn tin dùng anh ta nữa, anh ta sẽ thất nghiệp, thất thế, thất thời, thất vọng. Vậy Êlyma cố tìm mọi cách chống đối hai sứ đồ và làm cho quan trấn thủ không tin. Trong trường hợp đặc biệt này, Phao-lô được đầy dẫy Thánh Linh, ông buộc tội, nhìn thẳng vào mặt của Êlyma mà nói: “Hỡi người đầy mọi thứ gian trá và hung ác, con của ma quỉ, thù nghịch cùng cả sự công bình, ngươi cứ làm hư đường thẳng của Chúa không thôi sao?”

Xem đó chúng ta thấy con người của Êlyma nguy hiểm dường nào. Song công việc của sự tối tăm, của sự dối trá, của quỉ Sa-tan không thể đứng nổi trước công việc của Đức Chúa Trời. Phù thủy Si-môn tại Sa-ma-ri, phù thủy Êlyma tại Baphô và quỉ Phitôn tại Phi-líp khi phải đối diện với Tin Lành thì như bóng tối trước ánh sáng, như sương mù trước thái dương. Khi Phao-lô quở trách, Êlyma liền tạm bị đui mù và phải nhờ người dắt mình đi. Quan trấn thủ lấy làm kinh ngạc về đạo của Chúa và tin theo.

2. Đoàn truyền giáo tại An-ti-ốt xứ Bisiđi (13-43).

Đoàn truyền giáo từ giã đảo Chíp-rơ đáp thuyền vào đất liền đến thành phố Bẹt-găm, xứ Bămphily, rồi đến thành phố An-ti-ốt xứ Bisiđi. Tại đây Phao-lô vào nhà hội của người Do thái nhằm ngày Sabát và đọc Cựu Ước. Hai ông liền được mời giảng cho dân chúng.

Bài giảng của Phao-lô có hai phần: Phần lịch sử (16-25) và phần tiên tri (26-41).

Phao-lô trưng dẫn hai phần để chứng minh Chúa Jêsus là Cứu Chúa mà khuyên mời mọi người tin nhận. Kết quả là có nhiều người Do thái và ngoại bang tin Chúa. Họ mời Phi-e-rơ ngày Sabát sau đến giảng nữa.

III. ĐOÀN TRUYỀN GIÁO BỊ BẮT (Công 44-52).

Ngày Sabát sau gần hết cả thành đều họp lại nghe Phao-lô. Người Do thái thấy vậy sanh lòng ghen ghét, sợ mất thể diện, liền đứng lên chống đối và nhạo báng Phao-lô. Hai ông bèn trưng dẫn Ê-sai 49:6 mà tuyên bố rằng, sự cứu rỗi đã dành ưu tiên cho họ, song họ đã tỏ ra không xứng đáng, nên hai ông xây qua người ngoại bang. Người ngoại bang nghe vậy rất vui mừng tiếp nhận Chúa. Người Do thái càng thêm ghen ghét xúi giục nhiều người chống đối và xua đuổi đoàn truyền giáo ra khỏi bờ cõi mình. Dầu vậy, các tín hữu được đầy dẫy sự vui mừng và Đức Thánh Linh.

Càng bị chống đối thì Tin Lành càng được chiến thắng, càng bị bắt bớ thì càng được kết quả, càng bị người ta ngăn chặn thì càng được tràn ra. Dầu bị ghen ghét, nhạo báng, xua đuổi, nhưng đoàn truyền giáo không nản lòng mà cứ kiên tâm tiếp tục chức vụ tại những nơi khác. Hội Thánh ngày nay phải tiếp tục công tác của mình mà đem Tin Lành cho người nào, nơi nào chưa nghe.

CÂU HỎI

1. Ban hướng dẫn của Hội Thánh An-ti-ốt gồm những ai?

2. Ban hướng dẫn là người thế nào?

3. Sự thờ phượng của Hội Thánh gồm những phần nào?

4. Khi Hội Thánh kiêng ăn cầu nguyện thì họ được phước gì?

5. Sự đặt tay của Hội Thánh trên Ba-na-ba và Sau-lơ có nghĩa gì?

6. Đoàn truyền giáo đến Baphô thì gặp ai và kết quả thế nào?

7. Đoàn truyền giáo có kết quả gì ở An-ti-ốt xứ Bisiđi?

8. Tại sao đoàn truyền giáo bị xua đuổi?

9. Tại sao chúng ta biết sự bắt bớ không làm hại Hội Thánh?

10. Hội Thánh có trách nhiệm gì đối với người chưa nghe Tin Lành ở khắp đó đây?

BÀI 38. ĐỐI DIỆN VỚI LỜI HOAN HÔ VÀ SỰ BẮT BỚ

KINH THÁNH: Công vụ 14:1-28.

CÂU GỐC: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy” (Ma-thi-ơ 5:10).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên đứng vững và trung tín làm chứng cho Chúa, dầu bị nhạo báng hay bắt bớ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao lô tại Ycôni

(Công 14:1-7).

TH:

Phao lô tại Lít-trơ

(Công 14:8-18).

TB:

Phao-lô bị bắt

(Công 14:19-23).

TT:

Phao lô trở về An-ti-ốt

(Công 14:24-28).

TN:

Phao lô khuyên Ti-mô-thê

(I Ti-mô-thê 4:6-16).

TS:

Những nguy cơ và danh tiếng

(I Sa-mu-ên 15:10-23).

TB:

Cách chống lại điều ác

(Ê-phê-sô 6:10-18).

Đối với người theo Chúa và hầu việc Ngài thì lời hoan hô và sự bắt bớ thường đi đôi với nhau. Càng được hoan hô, càng bị bắt bớ. Song chúng ta phải thản nhiên trước cả hai, bởi vì chúng ta không có chi đáng được hoan hô, cũng không có chi đáng bị bắt bớ, cả hai chỉ vì Chúa mà thôi. Đó là nếp sống bình thường của Cơ Đốc Nhân.

Phao-lô và Ba-na-ba bị xua đuổi khỏi thành phố An-ti-ốt xứ Bisiđi, liền sang thành phố Ycôni. Tại đây hai ông giảng đầy quyền năng đến nỗi có nhiều người Do thái và người Hy-lạp tin theo Chúa. Càng bị bắt bớ thì càng được an ủi, càng bị sỉ nhục thì càng được tôn vinh, càng có nhiều giọt lệ khi gieo thì càng vui mừng khi gặt.

Vì vậy hai sứ đồ ở lại đây một thời gian khá lâu, tiếp tục giảng một cách dạn dĩ và làm nhiều phép lạ lớn lao, nhưng cũng lại gặp sự bắt bớ ngày càng mạnh hơn, nên hai ông liền bỏ đó mà đến thành phố Lít-trơ và Đẹt-bơ. Ma quỉ luôn luôn núp phía sau mỗi người và mỗi việc cốt làm cho Phao-lô và Ba-na-ba nản lòng bỏ chức vụ giảng Tin Lành. Song ma quỉ đã lầm to và chắc nó đã hối tiếc, vì Đức Chúa Trời tể trị mọi việc, khiến cho hai sứ đồ không lùi bước, không dừng bước, không tẻ bước mà cứ hăng say tiến bước trên đường chức vụ.

I. ĐƯỢC HOAN HÔ TẠI LÍT-TRƠ (8-18).

Tại Lít-trơ, giữa đám thính giả của Phao-lô, có một người què từ thuở sanh ra, người chăm chú nghe Phao-lô, Phao-lô cũng chăm chú nhìn người. Được Chúa cảm động, Phao-lô chỉ vào người què và nói lớn: “Hãy chờ dậy, đứng thẳng chân lên”. Người liền nhảy một cái rồi đi.

Phép lạ xảy ra đã làm cho dân chúng tại Lít-trơ vốn sùng bái các thần Giu-bi-tê và Mẹt-cu-rơ, tưởng rằng hai thần ấy lấy hình người hiện ra với họ mà chữa lành người què. Họ tôn Ba-na-ba là thần Giu-bi-tê, còn Phao-lô là thần Mẹt-cu-rơ. Rồi họ tổ chức một cuộc tế lễ bằng cách dâng cho hai thần ấy bò đực và tràng hoa.

Vì dân chúng nói với nhau bằng tiếng bản xứ, nên hai sứ đồ không hiểu chi. Nhưng khi đã hiểu được, hai sứ đồ liền xông vào giữa đám đông mà kêu lên rằng: “Hỡi các bạn,sao làm điều đó? Chúng ta chỉ là loài người, giống như các ngươi, chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Đức Chúa Trời…”. Phao-lô tiếp tục giảng cho họ một bài ngắn về Đức Chúa Trời là Đấng ban cho họ của ăn vật dùng. Kết quả, họ hủy bỏ việc dâng một tế lễ trọng thể cho hai sứ đồ.

Thế gian sẵn sàng khai thác và xui giục lòng mê tín của người khác để mình được lợi lộc. Ai thích thờ hình tượng, họ bảo thờ nhiều hơn đi, để họ bán hình tượng, ai thích cúng tế, họ bảo cúng tế nhiều hơn, để họ bán những vật cúng tế. Đó là cách buôn thần bán thánh. Nếu được ở trong trường hợp như Phao-lô và Ba-na-ba, họ chấp nhận ngay để cho ai nấy thờ lạy mình, rồi hưởng lộc. Vì vậy mà có câu: “Tôn giáo là á phiện của dân chúng”. Câu đó không đúng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời, vì Tin Lành không làm cho ai mê tín, song cứu người khỏi mê tín, đem ai nấy từ tối tăm qua sáng láng, từ tà giáo đến chánh giáo, từ nguy hiểm đến chân lý.

Đầy tớ của Chúa luôn luôn thành thật và khiêm nhu nhận biết mình không có chi và không ra chi. Mọi việc mình làm là Chúa làm cho, mọi điều mình có là Chúa ban cho, mình là người thế nào là do ân điển của Chúa.

II. BỊ BẮT BỚ TẠI LÍT-TRƠ (19-20).

Sự mê tín làm cho người mù quáng. Vì mù quáng mà người Lít-trơ muốn tôn thờ Ba-na-ba và Phao-lô, rồi cũng vì mù quáng mà họ ném đá hai ông. Mê tín là điều nguy hiểm.

Trong bài giảng của Phao-lô cho người Lít-trơ có câu: “Chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Đức Chúa Trời…” (c.15). Phao-lô muốn nói rằng thần Giu-bi-tê và Mẹt-cu-rơ là hư không, nên bỏ đi mà thờ Đức Chúa Trời. Lời chân thật ấy làm cho họ bực tức, rồi khi người Do thái từ An-ti-ốt đến Ycôni xui giục, thì họ chẳng khác nào lửa cháy chế thêm dầu, nên đang khi Phao-lô và Ba-na-ba giảng, họ ném đá vào hai ông. Chắc họ nhắm vào Phao-lô hơn là Ba-na-ba, nên Ba-na-ba chạy được và thoát nạn, còn Phao-lô bị thương nặng đến chết giấc. Dân chúng tưởng Phao-lô đã chết thật, bèn kéo ông ra ngoài thành phố và bỏ đó. Tình cảnh của hai đầy tớ Chúa thật đáng thương. Họ đến xứ lạ, ở giữa những người không quen biết, bị đối đãi cách tàn tệ, chỉ vì giảng Tin Lành để cứu tội nhân. Nếu không vì Chúa, một học giả lỗi lạc, một công dân La-mã như Phao-lô không bao giờ như thế. Sống vì Chúa và sống vì mình là hai lối sống khác nhau: Hy sinh và an nhàn.

Tín đồ tại Lít-trơ, dầu mới tiếp nhận Chúa, song rất quý mến đầy tớ Ngài, nên họ họp lại đứng quanh Phao-lô và chắc khóc than thương tiếc. Thình lình ông vùng dậy, đứng lên rồi vào thành phố. Việc này cũng là một phép lạ như người què đã được chữa lành. Đó là Chúa đã ban thưởng cho đức tin và tình thương của họ. Giữa cảnh bắt bớ như vậy, họ không hề sợ hãi mà chối bỏ Chúa, song dám công khai xưng nhận đức tin của mình trước mặt mọi người, nên Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của họ mà cho Phao-lô sống lại để ai nấy đầy dẫy sự vui mừng. Tín đồ là một người can đảm. Nhờ các việc trên đây mà tại Lít-trơ có một thanh niên tin Chúa, và trở nên thiết hữu của Phao-lô. Người đó tên là Ti-mô-thê (16:1-3).

Không phải chúng ta không quan tâm đến dư luận, song không thể sống bằng dư luận. Khi được hoan hô không đáng mừng, khi bị bắt bớ không đáng sợ. Cả hai đều do hành động mù quáng của người Lít-trơ. Chúng ta phải có con mắt thuộc linh để định giá trị của mọi việc.

III. ĐOÀN TỤ SAU CƠN BẮT BỚ (21-28).

Dầu đã hồi tỉnh, đứng lên, vào trong thành phố, chắc các vết thương cũng còn làm cho Phao-lô đau đớn lắm, song qua ngày sau, ông và Ba-na-ba từ Lít-trơ đến Đẹt-bơ.

Tại Đẹt-bơ, hai ông giảng Tin Lành và có nhiều người tin Chúa. Nơi nào bàn chân của hai ông đạp đến, thì nơi đó có kết quả, danh Chúa được tôn vinh. Rồi từ Đẹt-bơ hai ông trở về Lít-trơ, Ycôni và An-ti-ốt là những nơi mà hai ông bị xua đuổi, hà hiếp, ném đá. Hai ông thật can đảm. Họ trở lại với động cơ yêu thương, với mục đích giục giã lòng tín đồ vững vàng theo Chúa. Các tín đồ không ngờ hai ông trở lại, họ vui mừng khôn xiết và được an ủi biết bao! Sau khi đã chọn lựa các trưởng lão trong mỗi Hội Thánh để hướng dẫn Hội Thánh, thì hai sứ đồ kiêng ăn, cầu nguyện dâng họ cho Chúa.

Mọi sự xong xuôi, hai ông theo con đường đã đi mà trở về An-ti-ốt, là nơi họ đã được giao phó cho ân điển của Đức Chúa Trời để làm công việc Ngài. Chắc Hội Thánh nhà đã họp lại đông đảo hơn thường lệ để gặp lại hai sứ đồ mà họ đã đặt tay cầu nguyện và sai đi… Ai nấy say sưa nghe hai sứ đồ thuật lại cuộc hành trình truyền giảng, các phép lạ lớn lao được thực hiện, cơn bắt bớ liên tục và ngày càng khủng khiếp, song kết quả cũng càng ngày càng nhiều hơn, lập được nhiều Hội Thánh, danh Chúa được tôn vinh. Nghe Phao-lô làm chứng chắc mọi người cảm động lắm, cảm động nhất là thấy các vết tích, còn lại trên thân thể của ông. Ai cũng thỏa lòng cảm tạ Chúa vì đoàn truyền giáo đầu tiên đã thành công rực rỡ.

CÂU HỎI

1. Sau khi bị xua đuổi tại An-ti-ốt xứ Bisiđi, hai sứ đồ đi đâu? Có việc gì xảy ra tại đó?

2. Sau khi bỏ Ycôni, hai sứ đồ đi đâu?

3. Tại Lít-trơ có hai phép lạ nào xảy ra?

4. Tại sao người Lít-trơ muốn dâng cho hai sứ đồ một tế lễ?

5. Tại sao họ lại ném đá hai sứ đồ?

6. Người đời thường lợi dụng lòng mê tín của kẻ khác để làm gì?

7. Tín đồ tại Lít-trơ có điều gì đáng khen?

8. Sau khi bỏ Lít-trơ, hai sứ đồ đi đâu?

9. Hai sứ đồ trở lại Lít-trơ, Ycôni và An-ti-ốt xứ Bisiđi để làm gì?

10. Bạn nghĩ thế nào về thái độ của Hội Thánh An-ti-ốt Sy-ri khi nghe hai sứ đồ thuật lại các kết quả của đoàn truyền giáo?

BÀI 39. QUYẾT ĐỊNH QUAN TRỌNG CỦA HỘI THÁNH

KINH THÁNH: Công vụ 15:1-35.

CÂU GỐC: “Chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu cũng như người ngoại vậy” (Công vụ 15:11).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết sự cứu rỗi bởi đức tin được dành cho mọi người và mẫu mực về cách giải quyết những bất đồng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem

(Công 15:1-6).

TH:

Ý kiến của Phi-e-rơ

(Công 15:7-12).

TB:

Lời khuyên của Gia-cơ

(Công 15:13-21).

TT:

Quyết định của giáo hội nghị

(Công 15:22-29).

TN:

Sự vui mừng tại An-ti-ốt

(Công 15:30-34).

TS:

Tự do tôn giáo

(Ga-la-ti 5:1-15).

TB:

Hiệp một trong Chúa Jêsus

(Ê-phê-sô 2:11-22).

Vòng truyền giáo thứ nhất của Phao-lô và Ba-na-ba kết quả rất tốt đẹp, có nhiều người ngoại bang được cứu rỗi; nhiều Hội Thánh được thành lập tại các địa phương. Song khi Hội Thánh được tiến bộ vì kết quả thì đồng thời cũng có nhiều vấn đề lớn lao cần giải quyết và khi giải quyết ổn thỏa thì Hội Thánh càng tiến bộ và kết quả hơn. Bất luận Hội Thánh thuộc thời đại nào, phương trời nào đều phải đương đầu với những vấn đề. Nhưng Kinh Thánh đã dự liệu cho chúng ta phương pháp để giải quyết những vấn đề đó.

I. VẤN ĐỀ CẦN PHẢI QUYẾT ĐỊNH (15:1-5).

Khi Phao-lô và Ba-na-ba trở về Hội Thánh An-ti-ốt, thuật lại cho mọi người nghe các ơn phước Chúa ban trong vòng truyền giáo vừa qua, thì ai nấy đều rất vui mừng. Họ thấy Đức Chúa Trời không hề tây vị, Ngài ban sự cứu rỗi cho dân ngoại bang cũng như cho dân Do thái, miễn ai đó bằng lòng tin nhận Ngài.

Song khi tin tức thấu đến Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, thì tín đồ người Do thái thuộc phe Pha-ri-si liền đến An-ti-ốt. Họ bảo tín đồ ngoại bang rằng: “Nếu anh em không chịu lễ cắt bì theo luật pháp của Môi-se thì không được cứu rỗi”. Vì vậy, có sự tranh luận khá lớn giữa Ba-na-ba và Phao-lô với mấy người đó, song không ngã ngũ. Hội Thánh An-ti-ốt bèn đề nghị hai bên phải đến Giê-ru-sa-lem thỉnh ý các sứ đồ và trưởng lão về vấn đề này.

Chúng ta biết rằng người Do thái xem sự giữ luật pháp Môi-se, nhất là lễ cắt bì là một việc quan trọng lắm, không có không được. Họ hiểu luật pháp theo nghĩa đen mà không hiểu theo nghĩa bóng (Sáng 17:9-14; Lê 26:40-42; Giê-rê-mi 6:10; 9:26; Công 7:51). Họ chưa có kinh nghiệm trong chính bản thân về ý nghĩa của luật pháp. Trái lại, Phao-lô, Ba-na-ba cũng là người Do thái, song đã có kinh nghiệm bản thân do tai nghe, mắt thấy thể nào Đức Chúa Trời đã ban sự cứu rỗi cho người ngoại bang cũng như người Do thái mà không đòi hỏi họ chịu cắt bì hay bất luận một nghi thức nào khác theo luật pháp Môi-se. Về sau, Phao-lô đã giải thích nghĩa bóng của lễ cắt bì cho Hội Thánh (Ga-la-ti 2:3;5:2,3; Cô-lô-se 2:11).

Đến Giê-ru-sa-lem, Ba-na-ba và Phao-lô được các sứ đồ và trưởng lão tiếp đón tử tế. Hai ông thuật lại cho mọi người nghe kết quả cuộc truyền giảng vừa qua, thể nào Chúa đã cứu dân ngoại cũng như đã cứu dân Do thái. Song trong số người nghe cũng có tín hữu vốn thuộc phe Pha-ri-si, họ đứng lên nói rằng phải dạy dỗ tín đồ ngoại bang chịu cắt bì và giữ luập pháp Môi-se. Rấc tiếc, họ có biết đâu những lễ nghi trong luật pháp Môi-se đã được ứng nghiệm trọn vẹn trong Chúa Jêsus, mà bây giờ chúng ta chỉ tin nhận Ngài là đủ cả.

II. THẢO LUẬN TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH (15:6-21).

Bấy giờ các sứ đồ và trưởng lão mở giáo hội nghị để công khai bàn cãi vấn đề nêu trên. Đây là giáo hội nghị thứ nhất.

1. Phi-e-rơ lên tiếng (6-11).

Sau khi đã bàn cãi khá lâu mà chưa ngã ngũ, Phi-e-rơ đứng dậy nhắc lại thể nào Chúa kêu gọi ông đến gia đình Cọt-nây là người La-mã để truyền giảng Tin Lành. Cả gia đình Cọt-nây và bạn hữu ông ấy đều tin, nên nhận được sự đầy dẫy Đức Thánh Linh trước khi chịu báp têm mà cũng không cần có sự đặt tay của Phi-e-rơ. Việc này ông đã thuật lại cho Hội Thánh Giê-ru-sa-lem và ai nấy đều nghe biết (Công 10-11). Phi-e-rơ giải thích rằng Đức Chúa Trời không phân biệt người ngoại bang và người Do thái đâu. Mọi dân tộc đều được cứu bởi tin đến Chúa Jêsus. Rồi ông nêu lên một câu hỏi. “Vậy, bây giờ cớ sao anh em thử Đức Chúa Trời, gán cho môn đồ một cái ách mà tổ phụ chúng ta hoặc chính chúng ta cũng chưa từng mang nổi?”

2. Ba-na-ba và Phao-lô lên tiếng (12).

Cả hội nghị đều lắng nghe Ba-na-ba và Phao-lô làm chứng về các dấu kỳ phép lạ Chúa đã thực hiện cho người ngoại bang qua chức vụ của hai ông trong cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên. Ai nấy đều cảm động sâu xa, nhận biết ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với người ngoại bang là thể nào.

3. Gia-cơ kết luận (13-21).

Đây không phải là sứ đồ Gia-cơ, em của Giăng, vì ông ấy đã chết (Công 12:1,2). Gia-cơ này là em của Chúa Jêsus theo phần xác, ông là chủ tọa của Giáo hội nghị. Gia-cơ đứng lên trưng dẫn lời tiên tri trong A-mốt 9:11-12 để chứng minh cho lời Phi-e-rơ, Ba-na-ba và Phao-lô là phù hợp với chương trình của Chúa. Cuối cùng, ông khuyên Hội nghị không nên quấy rối tín đồ ngoại bang trở về cùng Chúa mà bảo họ phải giữ luập pháp Môi-se. Song để dung hòa hai ý kiến bất đồng giữa dân Do thái và dân ngoại đều là tín đồ trong lúc giao thời ấy, Gia-cơ bảo nên viết một lá thơ dặn dò tín đồ dân ngoại về sự ô uế của thần tượng, sự gian dâm, thú vật chết ngột và huyết. Cả hội nghị đều đồng ý.

III. NỘI DUNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI THÁNH (15:23-35).

Giáo hội nghị viết thư cho Hội Thánh An-ti-ốt và nhờ Phao-lô, Ba-na-ba, Giu-đe và Si-la mang đến. Lời lẽ trong thư rất ôn tồn và thân mật nhận rằng có một vài tín đồ tại Giê-ru-sa-lem đến An-ti-ốt đã tự ý gieo rắc sự rối loạn vào lòng anh em, nên họ ủy thác bốn người này đến giải thích cho anh em chỉ cần kiêng cử của cúng thần tượng, huyết, thú chết ngột và tà dâm.

Chúng ta biết rằng sự giải quyết đó tạm yên, đem lại cho Hội Thánh An-ti-ốt sự an ủi khích lệ rất nhiều, tuy nhiên các tín đồ người Do thái tại Giê-ru-sa-lem không ngớt quấy rối các tín đồ người ngoại bang tại các Hội Thánh Cô-rinh-tô, Ga-la-ti, Ê-phê-sô, Cô-lô-se… Song đến năm 70, khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, ảnh hưởng của Hội Thánh tại đó không còn trên các Hội Thánh dân ngoại nữa nên vấn đề đã được giải quyết. Về bốn khoản của Giáo hội nghị thì trong các thơ tín của Phao-lô chỉ xác nhận hai là kiêng cử của cúng thần tượng và tà dâm mà thôi (ICôr 10). Huyết và thú vật chết ngột không hề đề cập đến.

Giáo hội nghị thứ nhất này để lại cho chúng ta một bài học.

1. Dầu có những ý kiến bất đồng, mà Phao-lô và Ba-na-ba biết mình là đúng, hai ông đã không nói: “Chúng tôi không thèm đến dự Giáo hội nghị, chúng tôi không đồng ý với họ, chúng tôi cứ hoạt động trong phạm vi của chúng tôi”.

2. Khi đến Giê-ru-sa-lem dự Giáo hội nghị, Phao-lô và Ba-na-ba không buông lời ngăm dọa mà nói rằng: “Chúng tôi sẽ vạch cho họ thấy óc hẹp hòi, bảo thủ, chủ quan của họ, và làm xấu hổ cho họ biết tay”.

3. Hai ông cũng không có định kiến mà nói rằng: “Nếu không ai chịu đứng chung với chúng ta thì chúng ta cứ mặc kệ họ, ai đi đường nấy”.

4. Các sứ đồ và trưởng lão lãnh đạo Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã không nói: “Chúng ta buộc Phao-lô và Ba-na-ba phải phục tùng chúng ta, bằng không chúng ta khai trừ họ”.

5. Các sứ đồ và trưởng lão cũng không thiên vị tín đồ người Do thái thuộc phe Pha-ri-si mà nói rằng: “Chúng ta có quyền, nhất định tín đồ dân ngoại bang phải phục tùng tín đồ Do thái vì Hội Thánh Giê-ru-sa-lem là mẫu hội”.

Tất cả đại biểu dự Giáo hội nghị không hề có ý nghĩ như vậy. Ai nấy nói ra cảm tưởng của mình, rồi cùng nhau tìm hiểu ý muốn của Chúa là thể nào trong vấn đề đó. Họ giải quyết trong tình thương để giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh (Ê-phê-sô 4:1-3). Ngày nay mỗi khi có sự bất đồng ý kiến trong Hội Thánh, chúng ta nên đem kinh nghiệm của Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem ra áp dụng, chắc chúng ta sẽ giải quyết được mọi vấn đề trong hòa khí.

CÂU HỎI

1. Mỗi khi Hội Thánh tiến bộ và kết quả thì có gì xảy ra?

2. Tại sao có Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem?

3. Kinh nghiệm của Phi-e-rơ về vấn đề đó là gì?

4. Kinh nghiệm của Phao-lô và Ba-na-ba là gì?

5. Gia-cơ căn cứ vào đâu mà nói lời làm chứng của Phi-e-rơ, Phao-lô và Ba-na-ba là đúng?

6. Gia-cơ khuyên hội nghị thế nào?

7. Kết quả của giáo hội nghị đã đem đến cho Hội Thánh dân ngoại tại An-ti-ốt những gì?

8. Giáo hội nghị đã để lại cho chúng ta những bài học gì?

9. Ngày nay mỗi khi có vấn đề trong Hội Thánh, chúng ta phải làm gì?

Bài 40. CHUYẾN TRUYỀN GIÁO THỨ HAI

KINH THÁNH: Công vụ 15:26-16:13.

CÂU GỐC: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi đường phải đi. Mắt Ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi” (Thi thiên 32:8).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Đức Chúa Trời có nhiều cách hướng dẫn những người tin cậy Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Những ý kiến bất đồng

(Công 15:36-41).

TH:

Được hướng dẫn tùy theo hoàn cảnh

(Công 16.1-15).

TB:

Nhu cầu được hướng dẫn

(Giêr 10).

TT:

Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn

(Thi 32:8; Châm 3:5-6).

TN:

Được người khác chỉ dẫn

(Công 8:31; 9:9-16).

TS:

Lời Chúa là hướng dẫn viên chắc chắn

(Giô 1:8).

TB:

Lời Chúa là hướng dẫn viên chắc chắn

(Thi 119:97-105).

Năm năm sau vòng truyền giáo thứ nhất, Phao-lô đề nghị với Ba-na-ba mở vòng truyền giáo thứ hai để thăm các nơi đã lập được Hội Thánh và tiếp tục mở mang thêm, Ba-na-ba rất đồng ý.

Sự suy nghĩ của hai ông đúng quá. Các tín đồ mới cần được thăm viếng, khích lệ và dạy dỗ. Người đã nghe mà chưa tin cần được giải thích thêm cho đến khi họ quyết định dứt khoát. Chúng ta phải ý thức nhu cầu của người khác như Phao-lô và Ba-na-ba và sẵn sàng cung ứng nhu cầu của họ. Hội Thánh nào có ban chứng đạo cho người chưa tin, có ban chăm sóc tín đồ mới thì chắc chắn có kết quả lớn lao.

I. BA-NA-BA VÀ MÁC TRUYỀN GIẢNG TẠI CHÍP-RƠ (15:30-39).

Lần này Ba-na-ba muốn đem Giăng cũng gọi là Mác cùng đi, song Phao-lô không đồng ý, vì lần trước Mác bỏ cuộc dọc đường (Công vụ 13:5-13). Phao-lô nghiêm khắc đối với người khác cũng như đối với chính mình, song Ba-na-ba dễ dãi hơn đối với người trẻ tuổi. Cả hai đều có ý kiến tốt mà cũng là bạn chí thân, song không chịu dung hòa với nhau, đến nỗi chia tay nhau, Ba-na-ba và Mác qua Chíp-rơ, còn Phao-lô và Si-la đi thăm các Hội Thánh khác.

Chúng ta không dám phê bình ai đúng, ai sai, nhưng hai ông cũng chỉ là người nên ai nấy cũng có chỗ bất toàn vì thái quá. Điều này ghi lại để làm một bài học cho chúng ta cũng như bài học về Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem trước đây. Khi gặp một trường hợp như thế, chúng ta phải cầu nguyện nhiều và sẵn sàng tìm hiểu quan điểm của anh em mình để giải quyết vấn đề.

Tuy nhiên kết quả của việc đó không phải là xấu, vì về sau Mác vẫn còn hầu việc Chúa, nhất là cộng tác với Phao-lô tại Rô-ma (Cô-lô-se 4:10; II Ti-mô-thê 4:11; Phi-lê-môn 24). Những lời Phao-lô nói về Mác tỏ ra rất chân tình. Thiết tưởng, Mác đã nhận biết lỗi lầm của mình gây ra tình trạng không vui giữa Ba-na-ba và Phao-lô, nên ông đã ăn năn và được Chúa trọng dụng. Thường là vì lỗi lầm của một người mà gây khó khăn cho nhiều người khác.

II. PHAO LÔ VÀ SI-LA ĐI THĂM CÁC HỘI THÁNH (15:40-16:5).

Phao-lô chọn Si-la là người rất tốt, đã được Hội Thánh Giê-ru-sa-lem phái đến An-ti-ốt (15:22), làm bạn đồng hành với mình. Sau khi nhờ Hội Thánh cầu nguyện, hai ông đến đâu đều làm cho Hội Thánh được vững vàng. Đến Đẹt-bơ và Lít-trơ, Phao-lô gặp chàng trai trẻ Ti-mô-thê là người được Hội Thánh tại đó làm chứng tốt, nên hai ông đem Ti-mô-thê theo để tập sự hầu việc Chúa. Về sau Ti-mô-thê trở thành con cái yêu dấu của Phao-lô, một Mục sư của Hội Thánh Ê-phê-sô. Như vậy, Phao-lô cũng có tinh thần nâng đỡ người trẻ tuổi như Ba-na-ba.

Cuộc thăm viếng của Phao-lô đã đạt mục đích là Hội Thánh được vững vàng, số người tin Chúa ngày càng thêm lên. Bước chân của Phao-lô đến đâu cũng đào sâu một con sông để dòng nước ân điển của Chúa tuôn tràn đến đó. Đúng như câu: “Bàn chân của kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao”.

Mỗi chúng ta đều phải có tâm chí và ân tứ như Phao-lô, nếu không, chúng ta chỉ là kẻ phá hoại, đi đến đâu gieo rắc nghi ngờ, sợ hãi đến đó, đi đến đâu cũng đầu độc linh hồn người khác để làm hư mất đến đó. Hành động như vậy là đổi phước thành họa.

III. PHAO-LÔ VÀ SI-LA QUA ÂU CHÂU (16:6-13).

Phao-lô tiếp tục truyền giáo trong các xứ thuộc Á châu, song hai lần Kinh Thánh chép rằng Đức Thánh Linh cấm và không cho phép ông làm việc đó. Chúng ta không rõ cách nào Phao-lô biết Chúa cấm mình như vậy. Dầu cách nào thì chính Đức Thánh Linh ở trong Phao-lô cho ông biết rõ là Ngài không cho phép. Vì vậy, Phao-lô dừng lại chờ đợi ý Chúa. Chúng ta thấy rõ Chúa đang điều khiển công tác truyền giáo cũng như công tác gây dựng Hội Thánh. Mặc dầu Chúa truyền lịnh ra đi, song phải đi nơi nào, phải đi lúc nào Ngài chỉ định, tức là phải tuyệt đối phục tùng sự hướng dẫn của Ngài.

Chúng ta thường bị cám dỗ mà nghĩ rằng miễn là mình có tinh thần phục vụ Chúa rồi muốn làm bất luận việc gì, lúc nào, cách nào cũng được, thậm chí có người đã nói: “Làm cách nào cũng được, miễn là Hội Thánh có tiền”. Đó là một sai lầm lớn vì không đúng với tinh thần của một tôi tớ. Tôi tớ chỉ làm việc chủ bảo, đi nơi nào và đi lúc nào chủ sai. Tôi tớ lúc nào cũng túc trực đợi lịnh chủ và làm việc dưới quyền của chủ để làm đẹp lòng chủ. Chúng ta phải phục vụ Chúa mình như vậy.

Chắc Phao-lô, Si-la, Ti-mô-thê và Lu-ca đã dùng nhiều thì giờ cầu nguyện thiết tha với Chúa. Đêm đó, Phao-lô thấy dị tượng, một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt ông, xin rằng: “Xin qua Ma-xê-đoan giúp đỡ chúng tôi”. Qua dị tượng đó, ai nấy biết rằng Chúa muốn họ qua Ma-xê-đoan thuộc Âu Châu để truyền giáo, nên họ vui vẻ đi ngay và thành công tốt đẹp.

Chúng ta phải có con mắt và lỗ tai thuộc linh sẵn sàng mở ra để thấy rõ đường lối của Chúa, nghe rõ tiếng phán của Ngài. Mặc dầu ngày nay, Chúa không còn dùng dị tượng để bày tỏ cho chúng ta mọi sự đó, song lời của Ngài trong Kinh Thánh, Linh của Ngài ngự trong lòng sẽ chỉ dẫn chúng ta con đường phải đi. Mỗi khi đứng trước một ngã ba, không biết nên qua bên hữu hay bên tả, hoặc đứng trước một lối bí, một cái cửa bị đóng, chúng ta phải bình tĩnh cầu nguyện, mở Kinh Thánh ra đọc, để tìm hiểu ý Chúa dạy thế nào về vấn đề này hay cũng trong một trường hợp đó, người xưa đã hành động ra sao. Chúa hứa: “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng trên các đường cái và nhìn xem, tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: Hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng từ đàng sau mình rằng: Này là đường đây, hãy noi theo!” (Giê 6:16; Ê-sai 30:21). Trái lại, khi đứng trước một trở lực, một nan đề, chúng ta bối rối, bực tức, có nhiều tính toán, lo âu nên không nghe được tiếng Chúa, không thấy được ý Ngài, nhất là khi chúng ta có một định kiến sai lầm.

Theo Dân số ký 22:24; tiên tri Ba-la-am bị vua của xứ Mô-áp là Ba-lác mua chuộc để rủa sả dân Y-sơ-ra-ên. Ba-la-am biết rõ là tiên tri của Đức Chúa Trời thì phải chúc phước cho dân Ngài, chớ làm sao lại rủa sả họ. Thế mà ông xin các sứ thần của Ba-lác ở lại nhà ông, chờ ông cầu nguyện xin Chúa cho phép ông rủa sả dân Y-sơ-ra-ên. Ban đầu Ba-la-am còn từ chối ý kiến của Ba-lác, song khi thấy lễ vật của Ba-lác nhiều quá, Ba-la-am cứ nài xin Chúa cho ông làm việc ấy. Vì tham lam nên mắt tâm linh lẫn mắt xác thịt của Ba-la-am bị mù, vì thế, con lừa của Ba-la-am cỡi thấy thiên sứ cầm gươm chặn đường nó mà Ba-la-am không thấy. Con lừa sợ, đi tẻ qua một bên, Ba-la-am đánh nó. Thiên sứ bảo: “Vả, con lừa cái có thấy ta, đi tẻ trước mặt ta ba lần, nếu nó không đi tẻ trước mặt ta, chắc ta đã giết ngươi rồi và để nó sống”. Thế là một con lừa cái đáng sống hơn là một tiên tri tham lam. Vì vậy, có nhiều lời cảnh cáo chúng ta về đường lối của Ba-la-am (II Phi-e-rơ 2:15; Giu-đe 11; Khải 2:14).

Đi con đường của Chúa dẫn dắt, đoàn truyền giáo đã qua Âu Châu. Ngày nay chúng ta cũng đi con đường của Chúa dẫn dắt để đem Tin Lành cho mọi người thuộc phạm vi trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhận biết Ngài đang điều khiển mọi công tác của chúng ta.

CÂU HỎI

1. Mục đích của Phao-lô và Ba-na-ba mở vòng truyền giáo thứ hai là gì?

2. Tại sao hai ông chia rẽ nhau ra hai đoàn truyền giáo?

3. Kết quả cuối cùng của việc đó là thế nào?

4. Khi Phao-lô và Si-la đến nơi thì Hội Thánh tại đó ra sao?

5. Tại sao Phao-lô biết Chúa cấm ông truyền giáo tại ÁChâu?

6. Đoàn truyền giáo của Phao-lô làm gì khi bị Chúa cấm như vậy?

7. Làm sao họ biết Chúa muốn họ qua Ma-xê-đoan để truyền giáo?

8. Ngày nay chúng ta làm sao để biết ý muốn Chúa đối với mình trong mọi việc?

9. Tại sao tiên tri Ba-la-am đã đi sai đường?

10. Ai đang điều khiển mọi công tác của Hội Thánh?

BÀI 41. THÁI ĐỘ TRƯỚC SỰ BẮT BỚ

KINH THÁNH: Công vụ 16:14-40.

CÂU GỐC: “Trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rô-ma 8:37).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ chúng ta có thể giúp đỡ hoặc ngăn trở người ta đến với Chúa bằng thái độ của chúng ta trước sự bắt bớ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Người tin Chúa đầu tiên tại Âu châu

(Công 16:14-15).

TH:

Phao lô và Si-la gặp rắc rối

(Công 16:16-24).

TB:

Niềm vui khi thắng hơn hoạn nạn

(Công 16:25-29).

TT:

Làm chứng đạo trong hoạn nạn

(Công 16:30-40).

TN:

Không nao núng khi gặp hoạn nạn

(Phi-líp 1:25-30).

TS:

Kế hoạch của Chúa khi chúng ta gặp hoạn nạn

(Phi-líp 1:12-19).

TB:

Bí quyết để vui khi gặp hoạn nạn

(Phi-líp 4:4-13).

Theo Công vụ 16:14-15, khi Phao-lô và các bạn ông vâng lời Chúa qua Âu Châu thì Ngài ban cho họ một phần thưởng rất lớn, đó là một phụ nữ Do thái tin Chúa, làm trái đầu mùa của Hội Thánh tại Âu Châu.

Nơi có ít người Do thái cư trú, không đủ sức xây nhà hội, họ thường họp ở bờ sông để thờ phượng Đức Chúa Trời (Thi 137:1). Phao-lô nhân cơ hội đó đến giảng cho họ về Chúa Jêsus. Có một nữ thương gia giàu có tên là Lyđi tin Chúa. Kế sau, cả nhà bà đều tin và chịu báp têm. Bà tha thiết mời đoàn truyền giáo đến ở trong nhà bà.

Công vụ 16:16-18 chép rằng, mỗi ngày Phao-lô và các bạn ông từ nhà bà Lyđi đi ra làm chứng cho những người trong thành Phi-líp. Tại đó có một nữ nô lệ bị quỉ Phitôn ám, có tài bói khoa đem lại nhiều lợi ích cho chủ nó. Chữ “các chủ” cho chúng ta biết rằng có một tổ chức của nhiều người và họ làm ăn rất thịnh vượng.

Đã nhiều ngày, quỉ Phitôn cứ đi sau đoàn truyền giáo mà kêu lên rằng: “Những người đó là đầy tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi”. Ma quỉ giới thiệu rất đúng, nó tỏ ra muốn hiệp tác với đoàn truyền giáo để làm chứng cho mọi người, và chắc chắn sẽ có kết quả! Nếu Phao-lô chấp thuận sự hiệp tác của ma quỉ để có nhiều người tin Chúa, lập được Hội Thánh tại Phi-líp, thì khi Phao-lô đi khỏi đó, Hội Thánh Phi-líp là Hội Thánh của quỉ Phitôn, chớ không phải là Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Ma quỉ lúc nào cũng muốn thâm nhập vào Hội Thánh bằng nhiều người và nhiều cách để phá hoại Hội Thánh ngay từ bên trong, khiến cho không còn là Hội Thánh của Đức Chúa Trời mà là Hội Thánh của quỉ Sa-tan.

Biết rõ đường lối nguy hiểm đó, Phao-lô đã xây lại nhìn thẳng vào mặt quỉ Phitôn mà dõng dạc nói rằng: “Ta nhơn danh Chúa Jêsus Christ mà truyền mày ra khỏi người đàn bà này”. Chính giờ đó quỉ liền ra khỏi. Phao-lô đi đúng đường lối Chúa, vì Ngài không bao giờ nhờ sự hiệp tác của ma quỉ (Mác 3:11-12). Lời chứng tốt còn phải do động cơ tốt, nếu động cơ xấu sẽ phá hoại Hội Thánh. Chúng ta phải có thái độ cứng rắn như Phao-lô, đừng chấp nhận ma quỉ trá hình vào làm việc của nó trong Hội Thánh. Hãy nhớ rằng thuật sĩ Si-môn đã làm hại Hội Thánh thời xưa nhiều lắm (Công 8:9-24).

Giải thoát một người bị quỉ ám là cứu người đó khỏi chết cả xác lẫn hồn và người trở nên con cái Chúa. Song đó là lý do gây nên sự bắt bớ dữ dội, và chúng ta học hỏi thái độ của Phao-lô, Si-la trước sự bắt bớ.

I. VUI VẺ TRONG CƠN BẮT BỚ (19-25).

Đuổi quỉ để giúp đỡ người khác, không những đoàn truyền giáo chẳng được hoan nghinh, trái lại còn bị oán ghét thậm tệ vì làm thiệt hại quyền lợi dơ bẩn của một số người. Số người đó không dám nói ra việc làm bỉ ổi của họ, song vu khống để tố cáo Phao-lô và Si-la về mặt chính trị, nói rằng hai ông là người Do thái, còn họ là người La-mã, hai ông đến đó để làm rối loạn thành phố của họ, tuyên truyền những lề thói mà họ không cho phép nhận lấy hoặc vâng theo. Họ dùng bạo lực kéo hai ông đến thượng quan, dân chúng cũng hùa theo công kích kịch liệt. Các thượng quan không cần xem xét để biết thực hư, cứ ra lịnh lột áo hai sứ đồ và đánh đòn. Sau khi đánh nhiều đòn rồi thì bỏ hai ông vào khám, tra chơn vào cùm, dặn dò đề lao phải coi giữ cẩn thận. Họ cố làm khổ hai đầy tớ của Chúa cả xác lẫn hồn, cầm bằng hai ông là những tên đại ác.

Trong khám tù, Phao-lô và Si-la mình mẩy rướm máu, ruột đói như cào, nằm ngồi chẳng yên, nhưng lòng vui khôn xiết. Lối nửa đêm, hai ông cầu nguyện và ca hát tôn ngợi Đức Chúa Trời. Bỏ vào ngục tối, tra chơn vào cùm cũng không cắt đứt được mối tương giao mật thiết của họ với Chúa. Đánh đập tàn nhẫn, sỉ nhục thậm tệ, cũng không cướp được sự bình an, vui vẻ của họ. Có Chúa, thì trong khám tù cũng được tự do, họ không làm nô lệ cho hoàn cảnh mà khắc phục hoàn cảnh. Con cái của Chúa ca hát ngay trong tù, trong bệnh viện, trên gường chết.

Tất cả tù phạm đều lắng nghe. Tại sao họ không kêu la phản đối vì phá giấc ngủ của họ, mà lại lắng nghe? Vì việc đó lạ lùng quá chừng. Thường thì những người bị đánh đập, bị bỏ tù, luôn luôn rên siết, la lối, chửi rủa, chớ có ai vui mừng ca hát đâu. Thái độ phi thường của hai ông trước sự bắt bớ làm cho tất cả tù phạm ngạc nhiên. Thái độ đó có tác dụng mạnh, ấn tượng sâu trong đời sống của họ.

Hãy nhớ lại ta đã phản ứng thế nào khi bị chống đối? Ta đã hành động ra sao khi bị ngăn trở? Ta đã có thái độ nào trước những cơn bắt bớ, dầu không bằng cơn bắt bớ đổ trên Phao-lô và Si-la? Mọi sự đó có ảnh hưởng xấu hoặc tốt trên người lân cận của chúng ta, ngăn trở hoặc giúp đỡ họ đến với Chúa?

II. LÀM CHỨNG ĐẠO TRONG CƠN BẮT BỚ (26-34).

Liền khi đó, một cơn động đất thình lình xảy ra làm rung chuyển nền ngục, khiến xiềng tù phạm tháo cả, cửa ngục mở toang. Song ai nấy sững sờ ngồi yên như tượng gỗ. Thật là một phép lạ mà Chúa đã làm qua đời sống đầu phục của con cái Ngài. Nếu trong khám tù Phao-lô và Si-la cũng lằm bằm, than thở như ai, thì không bao giờ có như vậy. Chúa quyền năng vô hạn sẽ thi hành phép lạ lớn lao khi con cái của Ngài dám tin cậy, vâng lời mà sống đẹp lòng Ngài. Hiện thời có biết bao tội nhân đang ở trong xiềng xích tội lỗi, trong khám tù ma quỉ, họ cần được giải thoát bằng phép lạ. Song không thể có phép lạ nếu không có thái độ và hành động như Phao-lô và Si-la trước cơn bắt bớ.

Người đề lao rút gươm toan tự tử vì tưởng tù phạm đã trốn hết. Nhưng Phao-lô vội vã kêu lớn lên: “Chớ làm hại mình, chúng ta đều còn cả đây”. Mặc dầu chiều hôm đó, chắc người đề lao đã dự phần làm khổ Phao-lô, song ông không muốn người đề lao phải chết mà cần được cứu. Đề lao chạy lại, run rẩy, phủ phục trước Phao-lô và Si-la mà thưa rằng: “Tôi phải làm chi để được cứu?” Hai ông đáp: “Hãy tin Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi”. Rồi hai ông tiếp tục làm chứng cho cả nhà người đề lao tin Chúa. Người đề lao đưa hai ông ra rửa các thương tích, băng bó lại, kế đó cả nhà đều chịu báp têm và mở tiệc ăn mừng. Vậy, vì cớ tội lỗi, nhân loại đã bớt bạn thêm thù, song nhờ Tin Lành, chúng ta bớt thù thêm bạn, tức là biến kẻ thù trở nên bạn hữu.

Sáng hôm sau, nhà cầm quyền nghe thuật lại mọi việc đã xảy ra, biết Phao-lô và Si-la vô tội, nên họ truyền lệnh trả tự do cho hai ông. Phao-lô không đồng ý bảo rằng: “Chúng ta là công dân La-mã, khi chưa định tội họ đã đánh đòn chúng ta giữa thiên hạ và bỏ vào ngục, nay họ lại tha lén chúng ta ư?” Phao-lô muốn nhà cầm quyền phải công khai nhận sự sai lầm của họ vì đã làm việc phi pháp. Chắc ông nghĩ về Hội Thánh sẽ được thành lập tại đó, cần được nhà cầm quyền nể nang, bảo vệ.

Từ đó, Hội Thánh Phi-líp họp lại tại nhà bà Lyđi gồm có cả gia đình là người Do thái, một phụ nữ Hy-lạp và cả nhà người đề lao là người La-mã. Đọc thư của Phao-lô gởi cho Hội Thánh Phi-líp, chúng ta thấy Hội Thánh ấy kính mến, biết ơn Phao-lô là dường nào!

Lấy làm vô ích nếu chúng ta giảng Tin Lành quyền năng mà không để quyền năng của Tin Lành hành động trong đời mình, nghĩa là khi gặp sỉ nhục, bắt bớ, vu oan vì danh Chúa thì chúng ta cũng phàn nàn, oán hận như ai. Nên biết rằng ân điển và quyền năng của Tin Lành có thể cho chúng ta vui mừng hớn hở mà làm chứng cho mọi người ngay trong lúc hoạn nạn.

CÂU HỎI

1. Kết quả thứ nhất khi đoàn truyền giáo đến Âu Châu là gì?

2. Tại sao Phao-lô không đồng ý để quỉ Phitôn hiệp tác với ông mà làm chứng?

3. Tại sao Phao-lô nhơn danh Chúa đuổi quỉ mà lại bị bắt bớ?

4. Trong khám tù, Phao-lô và Si-la đã làm gì?

5. Có gì xảy ra trong đêm đó?

6. Người đề lao hỏi Phao-lô và Si-la điều gì và hai ông trả lời thế nào?

7. Tin Lành đã làm gì cho kẻ thù?

8. Khi Phao-lô ra đi khỏi thành phố Phi-líp thì Hội Thánh bắt đầu họp tại đâu với bao nhiêu người?

9. Về sau, Hội Thánh Phi-líp đối với Phao-lô thế nào?

10. Tin Lành có quyền làm gì cho chúng ta?

BÀI 42. THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI NGHE ĐẠO

KINH THÁNH: Công vụ 17:1-34.

CÂU GỐC: “Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa” (Thi thiên 119:18).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục mỗi học viên nghiên cứu và sống theo lời Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Một số người được nghe Lời Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca

(Công 17:1-9).

TH:

nhiều người được nghe Lời Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca

(ITê 2:1-14).

TB:

Nhiều người được nghe đạo tại Bê-rê

(Công 17:10-14).

TT:

Nhiều người được nghe đạo tại A-thên

(Công 17:15-21).

TN:

Bài giảng mà người A-thên được nghe

(Công 17:22-31).

TS:

Chúa kết án những người nghe đạo rồi bỏ qua

(Mat 13:13-23).

TB:

Cách sử dụng Lời Chúa

(I I Ti-mô-thê 2:15; 3:14-17).

Phao-lô tiếp tục vòng truyền giáo thứ hai. Sau khi rời thành phố Phi-líp, ông đến ba thành phố Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê và A-thên. Mỗi thành phố đều có người nghe, người tin, ít hoặc nhiều tùy theo thái độ chống cự, chăm chú, hay tò mò của dân thành phố đó. Trong các người nghe đạo thường có ba hạng như thế.

I. NGƯỜI TÊ-SA-LÔ-NI-CA: CHỐNG CỰ (17:1-9).

Khi đến Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô theo thói quen vào nhà hội của người Do thái luôn ba ngày Sabát để giảng. Vì chỉ có ngày Sabát là người Do thái họp tại nhà hội đông hơn hết. Ông dùng Kinh Thánh Cựu Ước, từ Ngũ Kinh Môi-se cho đến các sách lịch sữ, Thi thiên và tiên tri mà dẫn giải về Đấng Mê-si phải chịu khổ, chịu chết, rồi sống lại. Kế đó, ông minh chứng Chúa Jêsus là Đấng Mê-si đó. Nội dung sự giảng dạy của Phao-lô thường là như vậy, đáng làm mẫu mực cho chúng ta hôm nay.

Kết quả là có mấy người Do thái tin Chúa, và cũng có rất nhiều người Hy-lạp tin theo Ngài nữa, phần đông là các bà quyền quý. Người Hy-lạp thường khoe khoang về mặt văn học và triết học của họ, song qua nhiều năm, họ cũng mệt mỏi, chán chường, bởi không thấy phước hạnh gì, nên vẫn khát khao ơn cứu rỗi của Chúa. Chúa đã dựng nên loài người và đặt trong lòng họ một khao khát tâm linh mà chỉ có Ngài mới làm thỏa mãn được.

Song các người Do thái vô tín vì lòng ghen tị, xui giục lũ côn đồ ở đầu đường xó chợ gây náo loạn trong thành phố. Họ xông vào nhà Giasôn là nơi mà Phao-lô và Si-la trú ngụ để bắt hai người, nhưng không gặp. Họ liền bắt Giasôn là một tín đồ và các anh em khác đưa đến các quan trưởng của thành phố mà tố cáo hai điều: Những người này đã làm đảo lộn thiên hạ và chống lại Sêsa (Hoàng Đế La-mã).

Họ xuyên tạc, đổi vấn đề tôn giáo ra vấn đề chính trị, vì nếu chỉ là vấn đề tôn giáo, thì đó là quyền tự do tín ngưỡng của con người, làm sao họ bắt bớ được. Trong hai điều họ tố cáo, điều 1 có đúng một phương diện. Hễ nơi nào Tin Lành quyền năng được giảng đến thì làm đảo lộn thế lực của ma quỉ, khiến tội nhân từ bỏ hình tượng giả dối mà trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật (IITê 1:9), giải phóng tội nhân khỏi nơi tối tăm qua nơi sáng láng, khỏi quyền lực của Sa-tan mà đến với Đức Chúa Trời (Công 26:17,18). Điều 2 hoàn toàn sai, vì Phao-lô chẳng hề giảng chống lại chính quyền La-mã. Ông giảng Chúa Jêsus là Vua, song vương quốc của Ngài khác xa nước La-mã, vì một bên thuộc về trời, một bên thuộc về đất, một bên vĩnh viễn, một bên tạm thời, một bên gồm muôn dân, một bên gồm chỉ một thiểu số.

Các quan trưởng rất sáng suốt, hiểu được sự thật, nên sau khi Giasôn và các anh em làm giấy cam kết giữ gìn an ninh trật tự thì được trả tự do ngay.

Dầu có sự chống đối, Phao-lô đã lập Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca và Hội Thánh đó rất tốt (IITê 1:2-10).

II. NGƯỜI BÊ-RÊ: CHĂM CHÚ (17:10-15).

Phao-lô không thể lưu lại Tê-sa-lô-ni-ca lâu hơn, vì sẽ gây khó khăn cho anh em mới tin Chúa, nên ông và Si-la được họ đưa đi Bê-rê để tạm thời lánh mặt, hầu làm nguôi lòng ghen tị của người Do thái. Thành Bê-rê nhỏ hơn thành Tê-sa-lô-ni-ca.

Tại đây Phao-lô cũng vào nhà hội của người Do thái mà giảng dạy như đã làm tại Tê-sa-lô-ni-ca, song người Do thái tại Bê-rê có thái độ cao thượng, có tấm lòng sẵn sàng nhận lấy đạo và hằng ngày kê cứu Kinh Thánh để biết điều mình nghe có đúng hay không. Vì thế chẳng những người Do thái mà khá đông người Hy-lạp sang trọng, cả đàn ông lẫn đàn bà cũng đều tin Chúa.

Sau khi nghe giảng, chúng ta hãy lấy Kinh Thánh làm nền tảng cho cuộc thảo luận để phân biệt phải trái, chánh tà. Kinh Thánh là khuôn vàng thước ngọc, là đá thử vàng. Lắm người quá nông nổi, hễ ai nói giỏi, có ý mới lạ thì hoan nghinh mà không biết căn cứ vào đâu để phán đoán người đó nói đúng hay sai. Chúa đã cảnh cáo: “Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa, Đấng Christ ở đây, hay là: Ở đó, thì đừng tin. Vì có nhiều Christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn” (Mat 24:23-24).

Chăm chú nghe giảng, tin nhận Cứu Chúa, hằng ngày đọc Kinh Thánh sẽ làm cho đức tin của chúng ta vững vàng, sự sống thuộc linh của chúng ta lớn mạnh đến bậc trưởng thành. Cám ơn Chúa, ngày nay một số tân tín hữu do lòng khao khát Chúa đã hành động như vậy nên họ đang trên đà phát triển vượt mức.

Số người Do thái đầy lòng ghen tị đã gây rối cho Phao-lô tại Tê-sa-lô-ni-ca cũng đến gây rối cho ông tại Bê-rê nữa. Thành kiến tự cao tự đại đến độ tự thị tự mãn đã làm cho người Do thái đui mù không thấy trực trạng của đời mình là khốn khó, nghèo ngặt, lõa lồ. Vì thế đang khi đáng phải hết lòng ăn năn tội lỗi của mình, họ lại tiếp tục bắt bớ, làm cho tội chồng trên tội. Nếu không cẩn thận xét mình trước ánh sáng của lời Chúa, chúng ta rất có thể thắc mắc cùng một bệnh với người Do thái mà không biết.

Tóm lại, nơi nào cũng có sự bắt bớ, song nơi nào cũng có kết quả. Phước cho người chăm chú nghe lời Chúa, nguy cho kẻ chống cự Ngài. Tại Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô dạy chúng ta cách nào phải giảng, còn tại Bê-rê, người Bê-rê dạy chúng ta cách nào phải nghe giảng.

III. NGƯỜI A-THÊN: TÒ MÒ (17:16-34).

Phao-lô đến A-thên, ông không bị thu hút bởi sự đẹp đẽ, kiêu sa của thành phố như công trình kiến trúc vĩ đại, mỹ thuật và lộng lẫy của đền đài, di tích… ngược lại, ông tức giận vì thành phố đó có tiếng là văn minh mà lại rất mê tín. Ông bắt đầu giảng cho người Do thái trong nhà hội và làm chứng cho người Hy-lạp ngoài đường phố về Chúa Jêsus chịu chết và sống lại. Dân chúng nói: Người già mép này nói gì đó? Hắn tuyên truyền các thần ngoại quốc phải không? Rồi họ kéo người đến một hội trường trên đồi A-rê-ô-ba là nơi các cuộc diễn thuyết lớn được tổ chức.

1. Phao-lô chỉ ra sự thờ phượng sai lầm của họ (22-29).

Trước hết ông khen lòng sùng bái của họ vì thờ rất nhiều thần, nhất là có bàn thờ đề rằng: THẦN KHÔNG BIẾT. Ông giải thích “Đấng các ông thờ mà không biết đó là Đấng Tạo Hoá của vũ trụ mà tôi đang giảng”.

a. Ngài không ngự trong đền thờ do tay người làm ra.

b. Ngài ban cho loài người mọi sự chớ không nhờ đến ai.

c. Ngài dựng nên mọi người và điều khiển mọi việc.

d. Nhân loại rất khao khát muốn gặp Ngài.

e. Ngài không như hình tượng do người ta làm ra.

2. Ông kêu gọi họ ăn năn (c.30).

3. Ông cảnh cáo họ nếu không ăn năn sẽ bị xét đoán (c.31).

KẾT QUẢ: Họ nghe đạo chỉ vì tò mò, nên kẻ thì nhạo cười, người thì mỉa mai, song cũng có mấy người tin nhận Chúa như quan tòa Đêni và một bà tên là Đamari. Thật là an ủi! Không có bài giảng nào đã nhân danh Chúa giảng ra mà không có kết quả.

CÂU HỎI

1. Tại sao mỗi khi đến một thành phố, Phao-lô thường vào nhà hội Do thái nhằm ngày Sabát để giảng?

2. Người Do thái tại Tê-sa-lô-ni-ca có thái độ nào khi nghe giảng?

3. Kết quả của chức vụ của Phao-lô tại Tê-sa-lô-ni-ca là gì?

4. Người Do thái tại Bê-rê có thái độ nào khi nghe giảng?

5. Sự bắt bớ tại Bê-rê do ai gây ra?

6. Tại Bê-rê có kết quả nào?

7. Người Hy-lạp tại thành A-thên có thái độ nào khi nghe giảng?

8. Tại A-thên có kết quả gì?

9. Chúng ta nên nghe giảng với thái độ nào?

10. Muốn đức tin vững vàng, sự sống thuộc linh vững mạnh, chúng ta phải làm gì?

BÀI 43. NHỮNG HOÀN CẢNH PHẢI ĐỐI DIỆN

KINH THÁNH: Công vụ 18:1-22.

CÂU GỐC: “Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh, Ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu” (Công vụ 18:9,10).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên làm chứng về Chúa cho mọi người và Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ họ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao-lô xây khỏi người Do thái

(Công 18:1-11).

TH:

Tình thương của Phao-lô dành cho người Do thái

(Rô-ma 9:1-5).

TB:

Hy vọng của Phao-lô đối với người Do thái

(Rô-ma 11:25-36).

TT:

Người Hy lạp bảo vệ Phao-lô

(Công 18:11-17).

TN:

Điều Phao-lô giảng dạy tại Cô-rinh-tô

(ICôr 2:1-16).

TS:

Đời sống của Phao-lô tại Cô-rinh-tô

(ICôr 9:16-27).

TB:

Phao-lô từ giã Cô-rinh-tô

(Công 18:18-22).

Đọc lịch sử ba vòng truyền giáo của Phao-lô, chúng ta vui mừng về kết quả lớn lao đã đạt được. Song chúng ta có thể không quan tâm đến những nỗi nguy nan, cô độc, thất vọng mà Phao-lô đã phải đương đầu.

Hôm nay, chúng ta học về những hoàn cảnh mà Phao-lô gặp phải giữa một thành phố đông người là Cô-rinh-tô để cảm thông với ông và với những người đang theo gót ông. Song đây chỉ là một vài khía cạnh nhỏ nhặt trong kinh nghiệm của Phao-lô mà thôi.

I. NỖI CÔ ĐƠN (18:1-4).

Sau khi từ giã A-thên, Phao-lô đến Cô-rinh-tô một mình, vì bấy giờ Si-la và Ti-mô-thê còn ở lại Bê-rê, chưa đến kịp. Cô-rinh-tô là thủ đô của Hy-lạp với số dân 800.000 người. Đó là một thành phố chính trị và thương mại quốc tế. Tại đó người Ảrập bán nhựa thơm, người Ai-cập bán vỏ cây làm giấy, người Phê-ni-xi bán trái chà là và hàng sắc tía, người Lybi bán ngà voi, người Ba-by-lôn bán thảm, người Silisi bán lông dê, người Lycaoni bán lông chiên và người Phirigi bán nô lệ.

A-thên là một thành phố đầy hình tượng, còn Cô-rinh-tô là một thành phố đầy nhục dục. Người Cô-rinh-tô hoang dâm, phóng đãng, trái luân thường, phản đạo đức. Để mô tả một người ăn ở bại hoại, người ta hay nói: “Hắn sống theo lối người Cô-rinh-tô”. Người Cô-rinh-tô thờ thần Vệ nữ tức là thần ái tình của người La-mã và người Hy-lạp. Tại đó có một đền thờ với 7.000 nữ tế sư và đồng thời cũng là kỵ nữ.

Chúng ta hãy tưởng tượng nỗi cô đơn của Phao-lô khi một mình bước chân đến Cô-rinh-tô truyền giảng. Ông chưa hề quen biết ai vì mới đến đây lần thứ nhất. Cách ăn ở của dân trong thành phố chống lại với cách ăn ở của ông, Phao-lô lạc lõng, bơ vơ giữa đám đông người. May là tiếng Hy-lạp bấy giờ rất phổ thông cho cả thế giới, nên ông nói chuyện với họ. Tuy nhiên, một mình phải giảng cho một thành phố như vậy là việc bất năng đối với sức người.

Nhưng khi bắt đầu tiếp xúc, ông gặp được cặp vợ chồng Do thái là Aquila và Bêrítsin. Họ đồng nghề may trại với nhau. Hễ đến ngày thứ bảy tức ngày Sabát, Phao-lô giảng dạy trong nhà hội cho người Do thái và người Hy-lạp. Nhờ đó Aquila và Bêrítsin đã tin Chúa, và họ trở nên nguồn an ủi của Phao-lô. Mặc dầu ông là giáo sĩ được Hội Thánh An-ti-ốt đặt tay cầu nguyện và cử đi, song sự cung cấp không được bao nhiêu nên ông phải sống nghề may trại.

II. SỰ THẤT VỌNG (18:5-7).

Trước khi nói về sự thất vọng của Phao-lô, chúng ta nói về sự an ủi của ông khi Si-la và Ti-mô-thê đến. Khi hai ông chưa đến, Phao-lô phải làm việc suốt tuần, chỉ thứ bảy mới giảng mà thôi. Bấy giờ hai ông đã đến, thì Phao-lô hết lòng chuyên lo về sự giảng dạy, làm chứng. Tại sao? Chắc hai ông đã mang theo quà của Hội Thánh gởi dâng, lại có thêm người cộng tác nên Phao-lô không cần phải may trại nữa, mà lấy hết thì giờ chuyên tâm giảng dạy (Công 6:2,4).

Đây là bài học cho Hội Thánh trải qua các đời, nhất là Hội Thánh hiện nay. Nếu các tín đồ bỏ mặc cho chủ tọa sống tự túc mà mình không có trách nhiệm cung cấp nhu cầu cho ông, thì chủ tọa chỉ giảng một lần vào Chúa nhật, còn suốt tuần phải “may trại”, như Phao-lô. Nếu vậy thì Hội Thánh dở sống, dở chết, dở tiến, dở thoái, có xác không hồn. Song nếu mỗi tín đồ trong Hội Thánh dám tin cậy Chúa, nhận lấy trách nhiệm cung cấp nhu cầu cho chủ tọa, để ông dùng trọn thì giờ vào việc giảng dạy, thăm viếng an ủi, thì chắc chắn Hội Thánh sẽ sống vui, sống mạnh, sống vững vàng, sống hạnh phúc. Đó là đường lối của Chúa (ICôr 9:7-14).

Điều buồn cho Phao-lô là vô luận đến đâu, thì ông vào nhà hội giảng cho người Do thái trước nhất, song hầu hết các nơi đó, người Do thái chống đối ông hơn bất cứ dân tộc nào khác. Tại Cô-rinh-tô cũng vậy, người Do thái chống cự và khinh dể ông nên ông giũ áo mà nói với họ: “Ước gì máu các ngươi đổ lại trên đầu các ngươi! Còn ta thì tinh sạch; từ đây, ta sẽ đi đến cùng người ngoại bang”. Giũ áo là dấu hiệu tỏ ra sự từ bỏ, không còn giao thiệp với nhau nữa (Nê-hê-mi 5:13). Chắc Phao-lô đã nói với tấm lòng đau đớn xót xa vì ông rất thương yêu đồng bào mình.

Có thương yêu đồng bào mình như Phao-lô (Rô-ma 9:3;10:1), chúng ta mới cảm thông nỗi buồn ngập lòng của ông. Cho nên dầu Phao-lô đã nói vậy, ông cũng không từ bỏ đồng bào của mình. Chúng ta phải cầu nguyện. “Chúa ơi, xin ban cho chúng con lòng thương yêu đồng bào mình như Môi-se và Phao-lô đã thương yêu đồng bào của họ, chỉ có tình thương, tình thương đến độ quên mình mới chinh phục được đồng bào của chúng con và đem họ về với Ngài”.

III. CHÚA BẢO VỆ TRONG MỌI HOÀN CẢNH (18:8-17).

Chúa yêu thương Phao-lô trong cảnh cô đơn, thất vọng, nên Ngài đã dùng đủ cách để an ủi ông. Khi vừa bước chân đến Cô-rinh-tô, Chúa đã sắp xếp cho Phao-lô gặp Aquila và Bêrítsin. Đối với Phao-lô là ngẫu nhiên, song đối với Chúa là tiền định theo sự biết trước của Ngài. Bấy giờ, khi ra khỏi nhà hội Do thái, Cơrítbu với gia đình tin Chúa và cùng nhiều người Cô-rinh-tô chịu báp têm. Thế thì, đâu đâu cũng có người chống đối, nhưng bên cạnh những người chống đối luôn luôn có người bằng lòng nghe và tin. Thêm vào đó, Chúa còn hiện ra với Phao-lô mà khích lệ ông: “Đừng sợ chi, song hãy nói và chớ làm thinh; Ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì Ta có nhiều người trong thành này”(câu 9-10).

Vì lời tuyên bố từ bỏ của Phao-lô (c.6), cho nên người Do thái lấy làm căm tức và dụng tâm ám hại Phao-lô. Phao-lô biết điều đó, nên Chúa bảo.

1. “ĐỪNG SỢ CHI”. Vì ông đã cảm thấy cô đơn, thất vọng, bây giờ còn bị đe dọa, nên ông sợ.

2. “HÃY NÓI, CHỚ LÀM THINH”. Ông nghĩ là hết cơ hội để giảng dạy và làm chứng tại đây, chỉ còn lặng lẽ ra đi.

3. “VÌ TA Ở CÙNG NGƯƠI, CHẲNG AI ĐẶT TAY TRÊN NGƯƠI ĐỂ LÀM HẠI ĐÂU”. Đành rằng có nhiều người muốn hại ông, song Chúa không cho phép nên chẳng ai đụng đến ông được.

4. “BỞI TA CÓ NHIỀU NGƯỜI TRONG THÀNH”. Phao-lô tưởng như không còn ai muốn nghe đạo, không còn ai muốn tin Chúa, song không phải vậy, trái lại có nhiều người đang chờ đợi ông.

Ý tưởng của Phao-lô không phải là ý tưởng của Chúa, Phao-lô sợ nên nghĩ rằng nếu tiếp tục giảng dạy chắc sẽ mang họa vào mình chứ chẳng kết quả chi. Trái lại, Chúa bảo ông cứ giảng dạy, không ai có thể làm hại ông được mà có thêm nhiều người tin Chúa. Qua lời dạy dỗ đó, Phao-lô lấy lại can đảm, tiếp tục giảng dạy 18 tháng nữa mà lập được Hội Thánh tại Cô-rinh-tô.

Có phải chúng ta đang có cùng một tâm trạng như Phao-lô trước đó không? Chúng ta sợ hãi, không dám giảng dạy hoặc làm chứng. Chúng ta khoanh tay bó gối, im lặng cúi đầu. Bây giờ Chúa cũng muốn phán với chúng ta như Ngài đã phán với Phao-lô. Mỗi chúng ta hãy nhận lấy sứ mạng này cho chính mình và luôn nhớ rằng: “Ta có nhiều người trong thành này”, tức là nơi chúng ta đang ở.

Quả thật người Do thái có hiệp ý kéo Phao-lô đến trước tòa án và tố cáo ông, song quan trấn thủ là Galiôn không chịu xét xử mà đuổi họ về. Phao-lô được bình an ở lại ít lâu nữa với anh em tại Cô-rinh-tô. Sau đó, ông đáp thuyền trở về Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt.

Cô đơn, thất vọng có Chúa an ủi, nguy nan có Chúa ở cùng, bảo vệ thì tuyệt vời rồi.

CÂU HỎI

1. Cô-rinh-tô là thành phố thế nào?

2. Người Cô-rinh-tô ăn ở ra sao?

3. Trong cảnh cô đơn tại Cô-rinh-tô, Phao-lô gặp ai?

4. Khi Si-la và Ti-mô-thê chưa đến, Phao-lô làm gì?

5. Khi hai ông ấy đến, Phao-lô làm gì? Tại sao?

6. Sự thay đổi đó dạy Hội Thánh ngày nay phải làm gì?

7. Phao-lô thất vọng về việc gì?

8. Tại sao Chúa hiện ra với Phao-lô?

9. Sau khi gặp được Chúa, Phao-lô đã tiếp tục làm gì?

10. Phao-lô ở lại Cô-rinh-tô bao lâu nữa và kết quả thế nào?

11. Chúa đã bảo vệ Phao-lô ra sao?

BÀI 44. TỪNG TRẢI TẠI Ê-PHÊ-SÔ

KINH THÁNH: Công vụ 18:23-19:41.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng nó rằng: “Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên dâng đời mình cho Chúa cai trị kiểm soát.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Thánh Linh làm việc tại Ê-phê-sô

(Công 19:1-12).

TH:

Điều ác bị tiêu diệt tại Ê-phê-sô

(Công 19:13-20).

TB:

Biểu tình tại Ê-phê-sô

(Công 19:21-41).

TT:

Cầu nguyện cho Hội Thánh Ê-phê-sô

(Ê-phê-sô 1:13-23).

TN:

Sự tăng trưởng của Hội Thánh Ê-phê-sô

(Ê-phê-sô 2:10-22).

TS:

Lời Phao-lô khuyên Hội Thánh Ê-phê-sô

(Ê-phê-sô 6:1-24).

TB:

Sứ điệp của Chúa cho Hội Thánh Ê-phê-sô

(Khải 2:1-7).

Khi Phao-lô trở về An-ti-ốt là chấm dứt vòng truyền giáo thứ hai. Ông chỉ ở lại Hội Thánh ít lâu rồi bắt đầu vòng truyền giáo thứ ba. Ông lo cho mình rất ít, mà lo cho người khác rất nhiều. Ông trở lại thăm các Hội Thánh mới được thành lập qua hai vòng truyền giáo trước và làm cho họ vững vàng. Ông đi đến đâu cũng đem phước đến đó. Bây giờ Phao-lô đến Ê-phê-sô và có những từng trải mới.

I. TÍN ĐỒ Ê-PHÊ-SÔ ĐƯỢC NHẬN THÁNH LINH (18:24-19:12).

A-bô-lô đã đến Ê-phê-sô giảng đạo Chúa một cách sốt sắng. Ông là một nhà tri thức, có tài hùng biện, song còn trẻ tuổi nên thiếu kinh nghiệm, kém hiểu biết thuộc linh. Bêrítsin và Aquila nghe ông giảng xong thì mời về nhà và giúp đỡ thêm. Bậc lão thành như hai ông bà này thật đáng nêu gương, chàng thanh niên như A-bô-lô thật đáng nối gót. Một bên vì tình thương sẵn sàng dạy dỗ, một bên vì khiêm nhường sẵn sàng học tập. Vì thế khi A-bô-lô qua Cô-rinh-tô, ông được trọng dụng tại đó, vì được anh em ở Ê-phê-sô giới thiệu.

Khi A-bô-lô ra đi thì Phao-lô đến Ê-phê-sô. Phao-lô bắt đầu tiếp xúc với một số tín đồ do A-bô-lô hướng dẫn tin Chúa. Trong khi tiếp xúc, ông nhận biết họ còn thiếu thốn một điều gì. Phao-lô hỏi họ: “Từ khi anh em tin, có lãnh được Đức Thánh Linh chăng?” Đáp: “Chúng tôi cũng chưa nghe có Đức Thánh Linh nào”. Phao-lô bèn giải thích rõ ràng và làm báp têm cho họ. Tất cả mười hai người đều nhận được Thánh Linh.

Ê-phê-sô là một thành phố lớn, có rất dông người Hy-lạp lẫn người Do thái sống ở đó. Ban đầu Phi-e-rơ đã dùng ba tháng giảng trong nhà hội. Song vì người Do thái tỏ ra vô tín nên ông nhóm riêng các tín đồ trong một trường học, hằng ngày dạy dỗ họ suốt 2 năm và kết quả là cả thành phố và một vùng rộng lớn của cõi Asi đều nghe đạo. Nhờ đó, Hội Thánh Ê-phê-sô đã được thành lập, trở nên một trong 7 Hội Thánh mà sách Khải huyền nhắc đến. Đọc thư tín mà Phao-lô gửi cho Hội Thánh Ê-phê-sô, chúng ta biết Hội Thánh đó có một trình độ thuộc linh sâu nhiệm là dường nào!

II. CÁC THẦY PHÙ THỦY TẠI Ê-PHÊ-SÔ TIN CHÚA (19:13-20).

Khi thấy Phao-lô nhờ danh Chúa mà trừ quỉ, thì các thầy phù thủy tại Ê-phê-sô cũng bắt chước. Họ đi nơi này, nơi khác nhân danh Chúa Jêsus như Phao-lô để trừ quỉ. Song xưa nay quỉ gạt người chứ người đâu có gạt quỉ được. Nên quỉ đã không sợ mà còn rượt đuổi bảy thầy trừ quỉ giả dối đó, làm cho họ phải chạy trối chết. Nhờ vậy các thầy phù thủy đã nhận thấy sai trái của mình và lấy làm xấu hổ. Lắm thầy phù thủy đã đem sách vở và dụng cụ hành nghề của mình ra đốt trước mặt thiên hạ, người ta tính ra có đến 50.000 đồng bạc. Thật lòng tin Chúa, đã được cứu rỗi, họ không tiếc những gì không chính đáng, mặc dầu đã đem lại cho họ nhiều lợi lộc. Bấy giờ danh Chúa càng được tôn vinh, Đạo Chúa càng được đồn ra và ngày càng đắc thắng.

Là con cái Chúa, chúng ta nên biết Kinh Thánh dạy gì về bùa chú, bói khoa, đồng cốt, tử vi, chiêm tinh học, khoa học huyền bí, chiêu hồn thuật v.v… Đời xưa các phù thủy Ai-cập đã hóa gậy thành rắn được (Xuất 7:11,12), các dân tộc A-si-ri, Canh-đê, Ba-by-lôn, Ca-na-an có rất nhiều phù thủy (Đa-ni-ên 1:20; 2:2). Đức Chúa Trời cấm với án chết nếu dân Y-sơ-ra-ên bắt chước các dân ấy (IICác 17:17; Ê-sai 7:12,13; Lê-vi ký 19:26;20:6; Xuất 22:18; Phục 18:9-14; Ê-sai 8:19). Trong Tân Ước, Chúa Jêsus và các sứ đồ cũng đã khuyên răn như vậy (Ma-thi-ơ 24:24; Ga-la-ti 5:20; IITê 2:9,10; Khải 13;13-17; 20:15).

Trước đây một thế kỷ, tại Chicago có Mục sư Moody. Ông nổi tiếng trên cả thế giới, và hiện nay còn một thần học viện và một nhà xuất bản mang tên ông. Gần đây, một bà thuộc giới chiêu hồn thuật viết thư cho một Mục sư tại Chicago và nói rằng, Mục sư Moody đã hiện hồn về nói với bà: “Khi nhỏ tôi đã nghe lời cha mẹ học Kinh Thánh và giảng đạo. Bây giờ tôi biết là sai, phải theo chiêu hồn thuật mới đúng…” Mục sư này nhớ tiểu sử của Moody và biết ông mồ côi cha rất sớm, nên liền trả lời bà ấy: “Bà nói dối”.

III. CUỘC NỔI LOẠN TẠI Ê-PHÊ-SÔ (19:21-41).

Vô luận nơi nào, hễ số người tin Chúa càng ngày càng nhiều, thì sự thờ hình tượng ngày càng bớt đi. Về sau, một viên trấn thủ đã gửi báo cáo về cho Trajan là Hoàng Đế La-mã như sau: “Các miễu thờ thần thì ngày càng ít người lui tới, thịt bán ngoài chợ ngày càng ít người mua vì sợ lầm của cúng, song đang khi đó thì Tin Lành ngày càng phát triển”.

Tại Ê-phê-sô có một đền thờ của nữ thần Đianh, là một trong bảy kỳ quan của thế giới vì được kiến trúc rất vĩ đại. Đền thờ dài 129m54, rộng 67m05, cao 18m28, có 127 cây trụ bằng cẩm thạch, trong đó có 36 cây mạ vàng và khảm xà cừ lóng lánh. Tượng của nữ thần bằng bạc mà dân chúng cho rằng từ trời rơi xuống. Vì vậy thành phố Ê-phê-sô trở nên một nơi hành hương cho các dân tộc trên thế giới lúc bấy giờ. Tại đó có một xí nghiệp lớn làm tượng nữ thần Đianh để bán cho khách bốn phương. Xí nghiệp đã đem lại một món lợi to cho chủ là Đêmêtriu.

Nhưng từ khi Phao-lô đến giảng thì khách hàng ngày một thưa thớt, hàng bán rẻ mà vẫn ế ẩm như thường. Đêmêtriu sợ cho một ngày không xa, xí nghiệp của mình phải bị đóng cửa, nên ông triệu tập một phiên họp của các công nhân và dùng lời lẽ khéo léo gây lòng họ căm thù đối với Phao-lô. Ông vu cáo Phao-lô đã xúc phạm nữ thần Đianh và kêu gọi lòng kính thờ của họ, rồi xúi giục họ nổi lên biểu tình để chống đối (c. 25-27).

Thế là hỗn loạn xảy ra, nhiều người la hét vì bị kích động bởi số đông, cứ làm mà không biết tại sao mình làm. Họ tìm bắt Phao-lô mà không gặp, liền bắt hai tín đồ là Gaiút và Aritạc. Khi Alécxanđơ muốn đứng ra biện minh trước dân chúng thì họ la rập lên suốt hai tiếng đồng hồ: “Lớn thay là Nữ Thần Đianh của người Ê-phê-sô”. Rất may, viên thư ký của thành phố đã dùng lời khôn ngoan, êm dịu, vừa khuyên lơn, vừa cảnh cáo dân chúng, làm cho họ yên lặng trở về nhà.

Một cuộc biểu tình không đem kết quả chi, chỉ làm mất trật tự, mất thì giờ, gây phá phách. Chúng ta là Cơ Đốc Nhân nên sống trong kỷ luật, trong trật tự, đừng làm điều gì, đừng nói lời nào gây rối loạn. Chúng ta học nơi viên thư ký thành phố Ê-phê-sô là con người sáng suốt, nhận định phải trái, và hướng dẫn dân chúng trong trật tự và an ninh.

Sự giảng Tin Lành đã làm đảo lộn thế giới, tức là đảo lộn nếp sống mê tín, bất lương để lập lại nếp sống chính đáng, công bằng. Song nơi nào cũng có hai hạng người: Chấp nhận và chống đối. “Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng… Nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng…” (Giăng 3:20-21).

CÂU HỎI

1. Tại sao Bêrítsin, Aquila và A-bô-lô là những con người đáng noi gương?

2. Tại sao Phao-lô biết nhu cầu của tín đồ Ê-phê-sô mà A-bô-lô không biết?

3. Phao-lô ở tại Ê-phê-sô bao lâu? Để làm gì?

4. Tại sao các phù thủy đốt sách?

5. Chúa dạy chúng ta thế nào về dị đoan mê tín?

6. Tại sao có cuộc biểu tình tại Ê-phê-sô?

7. Mục đích của cuộc biểu tình là gì?

8. Kết quả của công cuộc biểu tình là gì?

9. Tại sao chúng ta không nên làm gì để gây rối?

10. Tại sao người thời bấy giờ tố cáo Tin Lành làm đảo lộn thế giới?

BÀI 45. HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ GIÊ-RU-SA-LEM

KINH THÁNH: Công vụ 20:1-38.

CÂU GỐC: “Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho Đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh” (Công vụ 20:32).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên giữ nếp sống Cơ Đốc một cách trọn lành để làm chứng và làm gương cho kẻ khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Buổi từ giã tại Trô-ách

(Công 20:1-12).

TH:

Buổi từ giã tại Milê

(Công 20:13-27).

TB:

Thánh Phao lô không hề xấu hổ

(Công 20:28-38).

TT:

Phao-lô nêu gương thế nào

(I ITê 2:1-12).

TN:

Chúng ta có thể nêu gương ra sao

(I Tim 4:1-16).

TS:

Phao lô vui vẻ chạy xong cuộc đua

(I I Tim 4:1-8).

TB:

Cuộc đua vĩ đại của đời sống

(Hêb 12:1-5).

Sau khi từ giã Ê-phê-sô, Phao-lô xuống thuyền đi vòng trở lại các nơi ông đã trải qua và lập được Hội Thánh. Tại vô luận nơi nào, ông cũng khuyên lơn, khích lệ tín đồ, làm cho họ càng thêm vững vàng trên đường theo Chúa (20:1-6).

I. BUỔI TỪ GIÃ TẠI TRÔ-ÁCH (20:7-12).

Tối Chúa nhật cuối cùng tại Trô-ách, Phao-lô họp tín đồ lại trên một tầng lầu ba. Ông dự tiệc thánh với anh em và sau đó nói chuyện với họ cho đến nửa đêm.

Trong phòng nóng bức vì đông người, lại có nhiều đèn, nên không khí ngột ngạt, làm cho nhiều người mệt mỏi. Một thanh niên tên Ơ-tích lên ngồi trên cửa sổ để dễ thở mà cửa sổ thì không có chấn song, nên anh ngủ gục và té xuống đất. Chắc ai nấy bối rối lắm. Song khi Phao-lô ôm Ơ-tích thì thấy anh ta còn sống và sau đó được bình phục. Phao-lô lại tiếp tục giảng cho đến sáng rồi mới đi.

Thật là một buổi từ giã khó quên, vì một bài giảng quá dài, một phép lạ quá lớn đã ghi sâu vào tâm trí của mọi người. Nhớ đến phép lạ là nhớ đến bài giảng, vì vừa nghe mà cũng vừa thấy, nên mọi người đều được an ủi lắm.

II. BUỔI TỪ GIÃ TẠI MI-LÊ (20:13-38).

Vì phải đến Giê-ru-sa-lem cho kịp ngày Lễ Ngũ Tuần, nên Phao-lô rất vội vả. Tuy nhiên, ông không bỏ qua cơ hội cuối cùng là từ giã các Hội Thánh. Vì ông không đủ thì giờ đến tại Ê-phê-sô, nên ông cho người mời các trưởng lão của Hội Thánh Ê-phê-sô đến gặp ông tại Milê. Trong buổi từ giã đó, Phao-lô có nói đến mấy điều;

1. Về chức vụ của ông trong quá khứ (c. 17-21).

Trước khi khuyên Hội Thánh, ông nhắc lại cách ăn ở của ông giữa họ trong thời gian 3 năm (19:8-10; 20:31).

a. Tôi đã hầu việc Chúa cách khiêm nhường với nhiều nước mắt (c.18,19).

Anh em đã thấy, đã biết rõ ông phục vụ như một đầy tớ không có chi và không ra chi, không đòi hỏi, không chối từ, không trách móc mà sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách gian lao.

b. Tôi đã không trễ nãi nói ra mọi điều ích lợi cho anh em (c.20).

Anh em cũng thấy và biết ông không lùi lại hoặc thoái thác chức vụ truyền ra mạng lịnh của Chúa giữa công chúng và từng nhà một. Ông siêng năng, sốt sắng nói cách ngay thẳng, rõ ràng và nói hết ý muốn của Đức Chúa Trời cho anh em.

c. Tôi giảng cho người Do thái cũng như người Hy-lạp (c.21).

Anh em cũng thấy và biết Phao-lô giảng Tin Lành cho mọi người như nợ phải trả (Rô-ma 1:14). Ông giảng chân lý căn bản và muôn đời của sự cứu rỗi là ăn năn tội, tin nhận Chúa Jêsus mà trở lại cùng Đức Chúa Trời.

Biết bao nhiêu người không dám nhìn lại quá khứ của mình, vì nó đầy dẫy những vết bỉ ổi, muốn quên đi thì hơn. Về phần Phao-lô, không những nhớ mà còn dám nhắc lại cho mọi người cuộc sống quá khứ của mình, không phải để khoe khoang, song để chứng minh ân điển và quyền năng của Chúa trong chức vụ của mình để khích lệ họ.

2. Nói về chức vụ của ông trong tương lai (c. 22,24).

Sau khi đã nói về quá khứ của mình, Phao-lô nói về tương lai của ông. Tương lai đó không do ông định đoạt, ông chỉ tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa.

a. Xiềng xích và hoạn nạn đang đợi tôi (c.22,23).

Trên mỗi đoạn đường mà Phao-lô sẽ đi theo sự dẫn dắt của Chúa, thì không phải là an nhàn, dễ chịu mà là tù đày, đau đớn. Đó là điều Chúa đã nói ngay khi ông mới gặp Ngài trên đường đi Đa-mách (Công 9:15,16).

b. Tôi cứ đi cho đến đích (c.24).

Xiềng xích và hoạn nạn không làm cho ông sợ hãi mà thoái bước hay chùn bước hoặc tẻ bước, song cứ tiến bước để chạy cho xong cuộc đua, để hoàn thành chức vụ Chúa giao.

c. Tôi chẳng kể sự sống mình là quý.

Điều đó không có nghĩa là ông xem thường nó đâu. Trái lại, ông không bao giờ phung phí sự sống mình cho một việc vô ích đê hèn, song sẵn sàng tận hiến cho công cuộc truyền giảng Tin Lành. Một ông chấp sự đến nhà một bà giàu có để quyên tiền cho Hội Thánh. Khi vừa tới cửa, ông nghe tiếng trong nhà vọng ra: “Chị bếp, sao chị phí của quá vậy? Phải dùng đến hai diêm quẹt mới đốt được chiếc đèn sao?” Nghe vậy ông chấp sự ngã lòng, tự nghĩ bà này keo kiệt như thế thì làm sao dám dâng tiền cho Chúa? Lỡ phải bước vào, và sau khi giải thích nhu cầu của Hội Thánh, ông chấp sự đưa sổ ra để bà tự ghi số tiền vào đó. Khi được trả sổ lại, ông hết sức ngạc nhiên vì bà đã ghi một số tiền rất lớn. Thấy ông chấp sự ngạc nhiên, bà giải thích. “Tôi tiếc từng cây diêm quẹt, song không tiếc chi với Chúa cả”.

Nhiều người không dám nhìn về tương lai của mình, vì nó đen tối quá. Có người đã tự tử vì sợ tương lai. Song Phao-lô lấy làm hãnh diện khi nhìn về tương lai của ông, vì tương lai đó nằm trong tay Chúa.

3. Nói về chức vụ của ông trong hiện tại (c. 25-27).

Đến đây, ông trở về với hiện tại, nói thẳng với mọi người.

a. Chẳng ai còn thấy mặt tôi nữa (c.25).

Ông nói như thế không phải để kêu gọi lòng thương xót của anh em, mà để mở đàng cho một việc quan trọng ông sắp nói đến.

b. Tôi tinh sạch về huyết của mọi người (c. 26,27).

Ông khẳng định rằng mình đã làm trọn trách nhiệm trước mặt Chúa đối với anh em là không trễ nãi, không thoái thác mà nói cho mọi người biết hết thảy ý muốn của Ngài. Nếu có người nào trong vòng anh em phải bị hư mất thì ông trong sạch, tức là vô tội về huyết của họ. Chắc ông ngụ ý nói đến lời Chúa trong Ê-xê-chi-ên 3:16-19.

Chỉ có kẻ tận tâm, tận hiến mới có thể nói được lời đó. Cho đến bao giờ chúng ta mới có thể nói là mình trong sạch về huyết của đồng bào Việt Nam? Mong rằng trong phạm vi mỗi chi hội, người chăn bầy của Chúa đều có thể nói được như Phao-lô vậy.

4. Chỉ thị của Phao-lô cho các trưởng lão (c.28-35).

Sau khi nói về trách nhiệm của mình xong, ông nói đến trách nhiệm của các trưởng lão. Bấy giờ chưa có Mục sư lãnh đạo Hội Thánh mà chỉ có các trưởng lão do Phao-lô chọn và lập (Công 14:23; Tít 1:5).

a. Hãy lo chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời (c. 28-32).

Hội Thánh là của Đức Chúa Trời, bởi Ngài đã mua bằng chính huyết mình. Giá trị của Hội Thánh là hơn cả vũ trụ. Vì thế trách nhiệm quan trọng của các trưởng lão là phải giữ mình và giữ bầy của Chúa. Tại sao phải giữ?

Vì muông sói dữ tợn lúc nào cũng chực sẵn xen vào trong bầy để hủy diệt. Đó là sứ đồ giả (IICôr 11:13-15), tiên tri giả và giáo sư giả (II Phi 2:1). Chính Phao-lô đã đương đầu với các kẻ đó mà ngày đêm ông phải khóc để răn bảo mọi người. Bây giờ ông đi, nhưng Đức Chúa Trời ở với anh em nên ông phó họ cho Ngài là Đấng có thể giữ gìn và gây dựng họ.

b. Đừng lo gì cho ông cả (c. 33-35).

Chắc có người muốn tặng quà cho ông nhân dịp này, nên ông nói: “Tôi không ham bạc vàng hay quần áo của ai hết”. Trong những năm hầu việc Chúa tại Ê-phê-sô, Phao-lô và các bạn ông đã may trại kiếm tiền độ nhật. Ông vừa nêu gương, vừa dạy bảo đúng như lời Chúa phán: “Ban cho thì có phước hơn nhận lãnh”.

Con người của Phao-lô thật là vĩ đại, cao đẹp. Đó là một Cơ Đốc Nhân chân chính, một đầy tớ của Đức Chúa Trời chí thánh.

5. Phao-lô từ giã (c. 36-38).

Trên bãi cát vàng, bên bờ nước xanh, dưới vòm trời bao la, các vị thánh ấy quỳ xuống cầu nguyện cho nhau. Kẻ tiễn đưa, người từ giã. Cuộc tiễn đưa này không có yến ẩm linh đình, không có quà tặng quý giá, không có diễn văn ca ngợi, không có vô luận một hình thức thông thường nào, song có rất nhiều nước mắt đổ ra từ lòng yêu thương. Đó là một cuộc tiễn đưa đặc biệt, là cảnh trí của thiên đàng tại trần gian.

CÂU HỎI

1. Tại sao Ơ-tích té và được bình phục?

2. Những đặc sắc của cuộc từ giã tại Trô-ách là gì?

3. Tại Mi-lê, Phao-lô nói gì với Hội Thánh Ê-phê-sô về quá khứ của ông?

4. Phao-lô nói gì về tương lai của ông?

5. Phao-lô nói gì về hiện tại của ông?

6. Tại sao không có người dám nhìn về quá khứ cũng không dám nhìn về tương lai?

7. Phao-lô khuyên các trưởng lão hai điều gì?

8. Tại sao phải giữ mình và giữ Hội Thánh?

9. Tại sao Phao-lô bảo đừng lo chi cho ông?

10. Phao-lô là con người thế nào?

11. Đặc sắc của cuộc từ giã tại Milê là gì?

BÀI 46. PHAO LÔ VỀ ĐẾN GIÊ-RU-SA-LEM.

KINH THÁNH: Công vụ 21:1-40.

CÂU GỐC: “Ngài nhơn Đấng Christ, ban cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì Ngài nữa” (Phi-líp 1:29).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ các học viên can đảm sống cho Chúa dầu phải bị bắt bớ, chống đối, vu oan.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Tình bạn giữa Cơ Đốc Nhân

(Công 21:1-14).

TH:

Sự chỉ trích hằn hộc

(Công 21:15-26).

TB:

Sự chỉ trích biến thành thù ghét

(Công 21:27-40).

TT:

Đấng Christ từng bị đối xử bất công

(I Phi 2:19-25).

TN:

Được an toàn giữa cơn bắt bớ

(Thi 37:1-13).

TS:

Được bảo vệ giữa cơn bắt bớ

(Thi 37:14-28).

TB:

Phần thưởng của người chịu bắt bớ

(Thi 37:29-40).

Qua sách Công Vụ Các Sứ Đồ, chúng ta có dịp theo dõi đời sống của Phao-lô. Ông vốn là một người bắt bớ Hội Thánh cách dữ tợn, song Chúa đã cứu ông, biến ông trở nên một Cơ Đốc nhân chân chính, một sứ đồ tận tụy. Ông đã thực hiện ba vòng truyền giáo cho thế giới. Hôm nay chúng ta học về giai đoạn cuối cùng trong vòng truyền giáo thứ 3 của ông.

Tuy được kêu gọi là sứ đồ cho dân ngoại, Phao-lô luôn luôn dành ưu tiên cho đồng bào ông là dân Do thái, mặc dầu họ chống đối và bắt bớ ông hơn bất cứ dân nào khác, vì ông rất thương họ. Bây giờ ông quyết định trở lại Giê-ru-sa-lem lần nữa để trả nợ yêu thương cho đồng bào mình, mà trên con đường đó, Chúa đã báo trước là xiềng xích và hoạn nạn đang đợi ông.

I. PHAO-LÔ TẠI TY-RƠ (21:1-6).

Trên đường về, ông ghé qua thành phố Ty-rơ của xứ Phê-ni-xi để an ủi, khích lệ tín đồ và từ giã họ. Ông ở lại đó với họ bảy ngày. Các tín đồ chịu Thánh Linh cảm động khuyên Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem. Song ông quyết định đi, nên họ ra tận bờ sông, có cả đàn bà và con trẻ, để tiễn đưa ông. Họ quỳ xuống mà cầu nguyện cho ông, như ông cầu nguyện cho họ. Ai nấy bùi ngùi, đau xót khi nhìn Phao-lô xuống tàu, vì không hy vọng gặp lại ông nữa.

Chúng ta không thể lên án Phao-lô là ngoan cố, bướng bỉnh, không chịu nghe lời anh em can gián, vì trước đó, ông đã nghe Thánh Linh bảo ông trở về Giê-ru-sa-lem. Bấy giờ, Đức Thánh Linh cho anh em tại Ty-rơ biết những nỗi hiểm nguy mà ông sẽ gặp khi trở về đó, để họ cầu nguyện cho ông chớ không phải để ngăn trở ông. Phi-e-rơ đã xin Chúa Jêsus đừng lên thập tự giá, song Ngài đã từ chối và quở trách ông. Chúng ta phải biết chắc Chúa có đường lối nào đối với mình để không bị lay chuyển khi đối diện với khó khăn hay tình cảnh.

II. PHAO-LÔ TẠI SÊ-SA-RÊ (21:7-14).

Bấy giờ đã đến địa phận quê hương mình là thành phố Sê-sa-rê thuộc Do thái, Phao-lô gặp lại Phi-líp vốn là chấp sự của Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, sau trở thành nhà truyền đạo Tin Lành. Trong khi trò chuyện, chắc Phi-líp nhắc lại 20 năm trước Phao-lô bắt bớ Hội Thánh, Phi-líp qua Sa-ma-ri lánh nạn và giảng Tin Lành tại đó. Ôn lại cuộc đời theo Chúa, họ nức lòng tạ ơn Ngài.

Lúc ấy có một tiên tri tên là Agabút từ Giu-đê xuống, lấy dây lưng của Phao-lô trói tay chân mình lại rồi nói rằng: “Nầy là lời Đức Thánh Linh phán: Tại thành Giê-ru-sa-lem, dân Giu-đa sẽ trói người có dây lưng này như vậy, mà nộp trong tay người ngoại đạo”. Nghe vậy, ai nấy đều khóc lóc, nài xin Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem. Song Phao-lô từ chối và khuyên anh em đừng khóc mà tan nát lòng ông, vì ông không những sẵn sàng chịu trói mà cũng sẵn sàng chịu chết vì danh Chúa Jêsus nữa. Vì thế, ai nấy đồng nói: “Xin ý muốn của Chúa được nên”.

Chúng ta ghi nhận rằng Đức Thánh Linh cho biết tại Giê-ru-sa-lem, Phao-lô sẽ bị trói, song Ngài không bảo Phao-lô đừng lên đó, mà chỉ anh em tín đồ nài xin ông như vậy thôi. Nhờ các việc này xảy ra, chúng ta thấy tín đồ khắp nơi yêu thương ông một cách chân thành, nồng hậu. Bất cứ đi đâu, Phao-lô cũng đem phước hạnh đến cho mọi người, nên khi trở lại vô luận nơi nào, ông cũng được anh em trong Chúa vui mừng đón rước, khóc lóc tiễn đưa. Phao-lô thật được an ủi và khích lệ biết bao! Giá trị của con người không phải những gì mình có hoặc nhận được, mà là những gì mình đã cho. Phao-lô đã cho anh em không những Tin Lành của Đức Chúa Trời, song cả đến sự sống của mình nữa (ITê 2:8). Sự giàu có của con người không phải đếm bằng bạc, vàng hay của cải, mà đếm bằng tình thương chân chính của Cơ Đốc nhân. Không có tình thương nào có thể so sánh được với tình thương giữa các anh em, chị em trong Chúa với nhau. Tình thương đó ngọt hơn mật, thơm hơn dầu, nóng hơn lửa, không phôi pha và chẳng hề dứt.

III. PHAO LÔ TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (21:15-40).

Sau khi trải qua con đường rất dài, mất nhiều ngày, Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem là thủ đô của Do thái. Chắc ông rất vui vẻ được đặt chân lên nơi có vô số kỷ niệm từ đời tổ phụ ông là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

1. Ông được đón rước (c.15-26).

Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem hết sức vui mừng gặp lại Phao-lô sau những ngày xa cách, nên ai nấy hân hoan đón rước ông trong tình thương của Chúa. Kế đó, ông đến chào thăm riêng các nhà lãnh đạo như Gia-cơ, người đã chủ tọa giáo hội nghị thứ nhất (Công 15) và các trưởng lão. Ông lần lượt thuật lại cho họ mọi sự Chúa đã làm giữa các dân ngoại bang qua chức vụ của ông, nào là Chúa chữa các tật bịnh và đuổi quỉ, dùng cơn động đất tại nhà ngục Phi-líp để cứu cả nhà người đề lao, Ơ-tích đã té từ lầu ba xuống đất mà Chúa cho được sống, nào là các dân ngoại bang bỏ hình tượng mà trở về cùng Chúa, nên nhiều Hội Thánh được thành lập khắp đó đây, trong đó có cả người Do thái, nào là tín đồ lớn lên, mạnh mẽ trong đức tin và sự hiểu biết Chúa; nào là những sự bắt bớ dữ tợn xảy ra, song được Chúa giải cứu hết, nào là Chúa hiện ra chỉ dạy ông con đường phải đi, công việc phải làm, khích lệ ông trong mọi cảnh ngộ khó khăn, đưa dẫn ông trên mọi bước đường v.v… Ai nấy nghe thuật lại đều vui mừng cảm tạ, ca ngợi Chúa.

Kế đó, các nhà lãnh đạo Hội Thánh cũng thuật lại cho Phao-lô về mấy vạn người Do thái đã tin Chúa Jêsus mà vẫn sốt sắng giữ luật pháp của Môi-se. Vì thế, khi họ nghe Phao-lô đến đâu cũng giảng cho người Do thái từ bỏ các nghi lễ như cắt bì và mọi thói tục thì họ tức giận, trông gặp Phao-lô để chất vấn.

Chúng ta thấy có hai hạng người Do thái tin Chúa.

a. Hạng hoàn toàn nhận Chúa Jêsus là Cứu Chúa duy nhất của mình thì rất dễ yêu mến Phao-lô.

b. Hạng tin nhận Chúa Jêsus mà còn khư khư giữ các lễ nghi, sự thờ phượng theo luật pháp thì luôn luôn bắt bớ Phao-lô. Họ không biết rằng mọi sự đó đã được ứng nghiệm trong Chúa Jêsus. Ngày nay trong Hội Thánh cũng vậy, luôn luôn có kẻ yếu đuối, hiểu lầm, hay buông lời chỉ trích vô trách nhiệm, thiếu suy xét, đã gây nhiều trở ngại cho những người hầu việc Chúa. Không phải người ngoài Hội Thánh bắt bớ chúng ta thôi đâu, song ngay những người trong Hội Thánh cũng bắt bớ và bắt bớ một cách dữ tợn nữa là khác. Dầu vậy, chúng ta phải can đảm, đứng vững vàng với Chúa cho đến cuối cùng.

2. Phao-lô bị bắt (c.27-40).

Khi Phao-lô vào đền thờ để làm trọn các nghi lễ theo luật pháp thì người Do thái tưởng ông đem người ngoại bang vào bên trong đền thờ là chỗ chỉ dành cho người Do thái mà thôi. Họ không cần tra xét thực hư, cứ la lên để tố cáo Phao-lô làm ô uế đền thờ mà bắt ông và toan giết đi. Song nhờ có nhà cầm quyền La-mã đã kịp thời can thiệp, nên mạng sống của Phao-lô được an toàn, mặc dầu phải bị đánh đập rất nhiều. Đó là những điều Chúa đã báo trước cho ông.

Muốn sống cho Chúa, chúng ta phải sẵn sàng trả giá. Giá đó không những là đi nhà thờ, học Kinh Thánh, cầu nguyện, dâng tiền, chứng đạo… mà còn phải sẵn sàng chịu bắt bớ, mắng nhiếc, vu oan (Ma-thi-ơ 5:11,12). Theo câu gốc của bài học này, Chúa đã ban ơn cho chúng ta, không những tin Ngài mà thôi, lại cũng phải chịu khổ vì Ngài nữa.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết Phao-lô rất yêu thương đồng bào của ông?

2. Tại Ty-rơ, các môn đồ đã khuyên Phao-lô thế nào?

3. Tại sao chúng ta biết Phao-lô không phải là ngoan cố vì không chịu nghe theo lời khuyên?

4. Tại Sê-sa-rê, tiên tri Agabút đã nói gì về Phao-lô?

5. Khi các anh em nài xin Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem thì ông trả lời thế nào?

6. Tại sao anh em tín đồ tại đâu cũng thương Phao-lô một cách nhiệt thành như vậy?

7. Con người có giá trị và hạnh phúc là vì đâu?

8. Khi Phao-lô về Giê-ru-sa-lem thì Hội Thánh đối với ông thế nào?

9. Phao-lô nói gì với các nhà lãnh đạo Hội Thánh?

10. Tại sao một số người Do thái đã tin Chúa mà lại bắt bớ Phao-lô?

11. Muốn theo Chúa, sống cho Ngài, chúng ta phải trả giá gì?

BÀI 47. CHÚA THÀNH TÍN VỚI PHAO-LÔ.

KINH THÁNH: Công vụ 22 và 23.

CÂU GỐC: “Vì anh sẽ làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người, về những việc anh đã thấy và nghe” (Công vụ 22:15).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng khi Đức Chúa Trời đã truyền lịnh thì chỉ có sự không vâng lời và không thành tín của chúng ta mới cản trở việc thi hành mạng lịnh ấy mà thôi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự ăn năn tin Chúa của Phao lô

(Công 22:1-10).

TH:

Sứ mạng ủy thác cho Phao lô

(Công 22:11-21).

TB:

Phao lô kêu nài

(Công 22:22-30).

TT:

Phao lô gây chia rẽ giữa tòa công luận

(Công 23:1-11).

TN:

Phao-lô được người cháu cứu mạng

(Công 23:12-22).

TS:

Phao lô được giải giao an toàn đến Phê-lít

(Công 23:23-35).

TB:

Được an ủi trong cơn bắt bớ

(Math 10:16-33).

Hai đoạn Kinh Thánh khá dài này đã được ghi chép để chứng minh sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với người thuộc về Ngài. Nếu chúng ta tận trung theo Chúa, thì không có quyền lực nào trên trời hoặc dưới đất có thể ngăn trở Đức Chúa Trời thi hành mạng lịnh của Ngài qua chúng ta. Song nếu có sự ngăn trở thì chỉ vì lòng phản bội của chúng ta mà thôi.

Khi Đức Chúa Trời kêu gọi Phao-lô, Ngài có một chương trình đối với ông. Suốt đời ông theo Chúa, thì Ngài đã thực hiện chương trình của Ngài, không có ai ngăn trở được.

I. CHÚA HƯỚNG DẪN PHAO-LÔ TỰ BIỆN HỘ.

Nhà cầm quyền La-mã không hiểu tại sao người Do thái bắt bớ Phao-lô, tưởng rằng ông là lãnh tụ của bọn người gian ác, song khi nhận ra rằng không phải vậy, thì quan quản cơ cho phép Phao-lô tự biện hộ.

1. Trước mặt người Do thái (22:1-29).

Dầu vừa bị đánh đập đau đớn lắm, hai tay mang xiềng, đứng trên thềm nhà ngục, ở trước một đám người hung bạo chờ giết ông cho kỳ được, thì không có gì hứng thú để nói, song Phao-lô vẫn dõng dạc nói lên để tự biện hộ. Ông nhận rằng đây là một cơ hội để làm chứng cho Chúa. Ông thật là một con người can đảm!

a. Phao-lô nói với họ bằng tiếng Hê-bơ-rơ là tiếng mẹ đẻ của người Do thái và gọi là anh, là cha, nên họ im lặng nghe ông.

b. Phao-lô nói về mình là đồng bào của họ.

Ông là người Do thái, mặc dầu sinh ở nước ngoài, nhưng lớn lên và học hành tại Giê-ru-sa-lem dưới chân giáo sư nổi tiếng là Ga-ma-li-ên. Ông đã muốn trở nên một người Do thái đúng mẫu mực của luật pháp cũng như bao nhiêu người Do thái đang đứng trước mặt ông.

c. Phao-lô là người bắt bớ Hội Thánh.

Vì lòng sốt sắng đối với Đức Chúa Trời, ông đã thẳng tay trừng trị đàn ông, đàn bà thuộc phe Jêsus. Điều nầy các trưởng lão và thầy tế lễ thượng phẩm biết rõ và họ đã cấp cho ông giấy phép qua Đa-mách để bắt trói những người thuộc phe Jêsus ở đó nữa. Ai nấy vẫn nghe ông vì thấy ông nói đúng.

d. Phao-lô gặp Chúa trên con đường Đa-mách.

Ông thuật lại mọi sự đã xảy ra cho ông đúng như Công vụ 9:1-19 đã chép, chỉ thêm một vài chi tiết. Họ vẫn nghe ông.

e. Phao-lô trở về Giê-ru-sa-lem với định tâm làm chứng cho đồng bào mình song Chúa bảo ông ra khỏi đó mà đi đến cùng dân ngoại bang.

Nghe đến đây, dân chúng kêu lên: “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian! Nó chẳng đáng sống đâu!” Tại sao dân chúng phản ứng như vậy? Vì họ có thành kiến khinh dể dân ngoại bang mà Phao-lô nói Chúa bảo ông bỏ dân Do thái, đến với dân ngoại bang. Dầu Phao-lô biết rằng nói tất cả sự thật tương quan đến đồng bào đang đứng trước mặt mình là nguy hiểm lắm, song ông cứ can đảm mà nói. Rốt lại quan quản cơ phải ra lịnh đem Phao-lô vào đồn.

2. Trước toà công luận Do thái (23:1-10).

Quan quản cơ người La-mã cũng chưa hiểu đúng nguyên nhân nào người Do thái muốn giết Phao-lô, nên hôm sau ông cho phép Phao-lô một lần nữa được tự biện hộ, song không phải trước dân chúng mà trước tòa công luận.

Tại đây, Phao-lô vừa nói câu mở đường thì bị thầy tế lễ thượng phẩm bảo người ta vả miệng ông, vì ông cho mình là vô tội. Phao-lô phản ứng bằng sự rủa sả thầy tế lễ thượng phẩm, vì ông ấy đã hành động sai lầm, vượt quá quyền hạn.

Phao-lô biết trong tòa công luận chia ra hai phe: Phe Sađusê và phe Pha-ri-si. Hai phe đó quan niệm khác nhau về sự sống lại của kẻ chết: Phe Pha-ri-si tin, còn phe Sađusê không tin. Vì thế, Phao-lô nói: “Hỡi anh em, tôi là người Pha-ri-si, con của dòng Pha-ri-si. Ấy là vì sự trông cậy của chúng ta và sự sống lại của những kẻ chết mà tôi phải chịu xử đoán”.

Bấy giờ có sự tranh biện nổi lên giữa hai phe. Phe này công kích Phao-lô, phe kia bênh vực ông. Vì sợ Phao-lô bị phân thây giữa hai phe, nên quản cơ ra lịnh đem Phao-lô vào đồn.

Phao-lô vốn là người có học thức, giàu có, thế lực. Nếu ông muốn sống cuộc đời an nhàn, sung túc thì có đủ điều kiện. Hoặc giả ông im lặng trong lúc này, hay là nói những lời xu phụ đồng bào mình thì ông đã khỏi khổ. Song sự đam mê hơn hết của Phao-lô là truyền giảng Tin Lành cho mọi người, trong mọi trường hợp, dầu thuận hay nghịch, gặp thời hay không. Đó là lòng tận trung của ông đối với Đấng kêu gọi ông vào chức vụ.

II. CHÚA AN ỦI VÀ GIẢI CỨU PHAO-LÔ (23:12-15).

Sáng hôm sau, hơn 40 người Do thái họp nhau và thề rằng chẳng ăn chẳng uống cho đến chừng giết được Phao-lô. Họ tin chắc nội trong ngày đó, Phao-lô sẽ chết về tay họ. Âm mưu của họ là xin giới thẩm quyền Do thái yêu cầu nhà cầm quyền La-mã cho Phao-lô đến hầu trước tòa công luận một lần nữa để được xét xử kỹ càng hơn, còn họ thì phục sẵn trên đường để giết Phao-lô trước khi đến đó.

Thật là một sự thử thách lớn lao cho lòng đạo đức của Phao-lô. Ông thương đồng bào bao nhiêu, họ ghét ông bấy nhiêu, ông muốn cho họ được cứu, họ muốn giết ông tức thì.

Âm mưu của người Do thái thật sâu độc, lòng họ thật gian ác, nhưng Chúa đã biết hết mọi sự và Ngài đã chuẩn bị cách đối phó để an ủi và giải cứu đầy tớ Ngài.

1. Chúa an ủi Phao-lô (23:11).

Ngay trong đêm đó, Chúa đã hiện ra với ông và phán rằng: “Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lem thế nào, thì cũng phải làm chứng cho Ta tại thành Rô-ma thể ấy”. Quyền quyết định tối hậu đối với mạng sống của con cái Chúa không nằm trong tay của kẻ thù nghịch họ mà nằm trong tay của chính mình Ngài. Giờ qua đời của Phao-lô chưa đến, công tác của ông chưa xong thì không ai có quyền cất mạng sống của ông hoặc ngăn trở ông đến Rô-ma. Đa-vít nói: “Kỳ mạng tôi ở trong tay Chúa” (Thi 31:15).

Chắc Phao-lô được an ủi lắm vì biết mình đang đi đúng đường, đang ở trong tay Chúa, kẻ thù chẳng làm chi ông được, dầu họ có gian ác đến đâu, mưu mô sâu độc, xảo quyệt đến chừng nào cũng vậy!

2. Chúa giải cứu Phao-lô (23:16-35).

Một cậu trai là con của chị Phao-lô biết được âm mưu của người Do thái, nên đã vào đồn thuật lại cho cậu mình, Phao-lô yêu cầu đội trưởng dẫn cậu trai đó đến quản cơ, và cậu ta nói cho quản cơ biết rõ âm mưu của hơn 40 người Do thái để giết Phao-lô. Đây là một thanh niên can đảm theo gương cậu mình, dám đi vào đồn, gặp quan quản cơ để tiết lộ bí mật của kẻ thù. Chúa đã dùng sự can đảm của cậu ta để bảo tồn mạng sống của Phao-lô.

Ngay trong đêm đó, quan quản cơ cho 470 lính đưa Phao-lô đến tổng đốc Phê-lít tại Sê-sa-rê. Thế là Phao-lô được an toàn tại đó. Không biết hơn 40 người Do thái nói trên có tiếp tục ăn và uống không?

Đa-vít cầu nguyện: “Tôi đã nghe lời phao vu của nhiều kẻ, tứ phía có sự kinh khủng. Đương khi chúng nó bàn nhau nghịch tôi, bèn toan cất mạng sống của tôi. Nhưng, Đức Giê-hô-va ôi! Tôi tin cậy nơi Ngài; tôi nói: Ngài là Đức Chúa Trời tôi, kỳ mạng tôi ở trong tay Chúa” (Thi 31:13-15).

Đa-vít làm chứng: “Kẻ ác lập mưu nghịch người công bình, và nghiến răng cùng người. Chúa sẽ chê cười nó, vì thấy ngày phạt nó hầu đến. Kẻ ác đã rút gươm và giương cung mình… đặng giết người đi theo sự ngay thẳng. Gươm chúng nó sẽ đâm vào lòng chúng nó, và cung chúng nó sẽ bị gãy” (Thi 37:12-15).

CÂU HỎI

1. Ai là người có thể ngăn trở mạng lịnh của Chúa? Vì sao?

2. Dân Do thái đang giận dữ, song Phao-lô nói gì và nói thế nào mà họ bằng lòng nghe?

3. Cuối cùng ông nói gì mà họ đòi giết ông? Tại sao?

4. Trong tòa công luận có hai phe khác nhau thế nào?

5. Phao-lô nói gì để gây chia rẽ giữa hai phe đó?

6. Âm mưu của hơn 40 người Do thái định giết Phao-lô là gì?

7. Cháu của Phao-lô đã làm gì khi biết được âm mưu trên?

8. Chúa an ủi Phao-lô thế nào?

9. Chúa giải cứu Phao-lô thế nào?

10. Lời Chúa dạy thế nào về cách đối phó với âm mưu của kẻ ác?

Bài 48. LƯƠNG TÂM ĐƯỢC BÀY TỎ

KINH THÁNH: Công vụ 24 và 25.

CÂU GỐC: “Cũng vì cớ ấy, nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người” (Công vụ 24:16).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ học viên hết lòng sống cho Chúa, để trước mặt mọi người, họ cũng có một đời sống không trách móc được.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Lời tố cáo của người Do thái

(Công 24:1-9).

TH:

Lời biện hộ của Phao lô

(Công 24:10-21).

TB:

Phê-lít đàn áp tiếng nói của lương tâm

(Công 24:22-27).

TT:

Phao lô kêu nài đến Sêsa

(Công 25:1-12).

TN:

Phê-tu làm chứng là Phao-lô vô tội

(Công 25:13-22).

TS:

Phê-tu làm chứng là Phao-lô vô tội

(Công vụ 25:23-27).

TB:

Lòng tin quyết của Phao-lô khi bị xét xử

(I I Tim 2:1-13).

Câu gốc của bài học hôm nay nói về Phao-lô gắng sức cho có lương tâm không trách móc được trước mặt Chúa và người ta.

Đức Chúa Trời dựng nên con người có tâm hồn để thông công với Ngài, có trí khôn để hiểu biết công việc Ngài, có lương tâm để phân biệt điều lành, điều dữ và có ý chí tự do lựa chọn.

Và Đức Chúa Trời phán với con người qua cõi thiên nhiên, qua lương tâm, qua Kinh Thánh và qua Chúa Jêsus.

Như vậy, lương tâm là một phần hệ trọng trong con người, nên trong bài học này chúng ta tìm thấy lương tâm của mỗi người qua cách mỗi người cư xử với nó.

I. TIẾNG NÓI CỦA LƯƠNG TÂM BỊ ĐÀN ÁP.

Lương tâm nói cho con người biết điều lành, điều dữ, nó khen thưởng khi con người làm điều lành, nó cắn rứt khi con người làm điều dữ. Tuy nhiên, con người có thể đàn áp tiếng nói của lương tâm, tức không chịu nghe nó.

1. Dân Do thái (24:1-9).

Khi Phao-lô đã bị giải từ Giê-ru-sa-lem xuống Sê-sa-rê cho quan tổng đốc Phê-lít, thì năm ngày sau, thầy tế lễ thượng phẩm A-na-nia với mấy trưởng lão xuống đó trình đơn, tố cáo Phao-lô. Cũng có Tẹttulu là một nhà hùng biện, đại điện để phát ngôn và một số đông người Do thái hiện diện. Họ xem Phao-lô là ôn dịch và tố cáo ông ba điều:

a. Cổ động dân chúng nổi loại chống chính quyền.

b. Làm lãnh tụ giáo phái người Na-xa-rét.

c. Làm ô uế đền thờ.

Phao-lô lên tiếng tự biện hộ (câu 10-21), cho rằng thầy tế lễ thượng phẩm, các trưởng lão và dân Do thái đã biết trong lương tâm của họ là những điều họ tố cáo chỉ là bịa đặt để vu khống. Song vì thù hằn và ganh tị, họ đã đàn áp tiếng nói của lương tâm mà hành động như vậy.

Nếu chúng ta ghen tức ai học giỏi hơn mình, giàu có hơn mình, thành công hơn mình thì chúng ta sẽ không tiếc lời bôi nhọ hoặc bịa chuyện vu khống người đó. Dầu lương tâm kêu la cho chúng ta biết làm như vậy là sai, là ác, song chúng ta cứ làm và làm mạnh hơn để đàp áp nó.

2. Tổng đốc Phê-lít (24:22-27).

Phê-lít cũng đàn áp tiếng nói của lương tâm mình. Ông biết Phao-lô vô tội song không chịu trả tự do cho người, không phải vì thù hằn và ghen tị mà vì lòng tham lam và tây vị. Hai điều này có lợi cho ông. Vì tham lam ông chờ Phao-lô hối lộ cho mình, còn tây vị là để mua chuộc lòng người Do thái hầu củng cố chức tổng đốc của ông, nên cứ giam Phao-lô hai năm trong ngục. Thỉnh thoảng ông gọi Phao-lô đến để giảng cho ông nghe. Khi “Phao-lô nói về sự công bình, sự tiết độ và sự phán xét ngày sau, thì Phê-lít run sợ, nói rằng: Bây giờ ngươi hãy lui; đợi khi nào ta rãnh sẽ gọi lại” (24:25). Rõ ràng Phê-lít là con người đàn áp lương tâm.

II. LƯƠNG TÂM CHẾT (25:1-27).

Khi Phê-lít đổi đi thì Phê-tu được cử đến thay thế làm tổng đốc tại Sê-sa-rê. Phê-tu từ Sê-sa-rê lên Giê-ru-sa-lem. Nhân dịp này, dân Do thái lại tố cáo Phao-lô, nhưng với một thành phần đại diện khác là thầy tế lễ cả và các bậc trưởng thượng. Họ yêu cầu Phê-tu giải Phao-lô trở vể Giê-ru-sa-lem để chịu xét xử. Dầu Phê-tu không biết âm mưu của họ, song ông từ chối và bảo họ phải xuống Sê-sa-rê.

Khi Phê-tu trở về Sê-sa-rê, thì qua hôm sau, ông đòi Phao-lô ra hầu. Người Do thái từ Giê-ru-sa-lem xuống, tố cáo Phao-lô nhiều tội rất nặng, song không có gì làm bằng cả. Phao-lô phủ nhận hết các điều họ tố cáo. Thế mà, để được vui lòng người Do thái, Phê-tu hỏi Phao-lô: “Ngươi có muốn lên thành Giê-ru-sa-lem chịu xử tại đó về những việc này trước mặt ta chăng?” Trong những câu trả lời, Phao-lô kết thúc: “Nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sêsa” (25:9-11).

Phao-lô phản đối đề nghị của Phê-tu.

Phê-tu biết rõ Phao-lô vô tội, vì hai lần ông đã nói: “Các người tiên cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng… Phần tôi, đã xét nó chẳng có làm điều gì đáng tội chết” (25:18,25). Vậy mà ông muốn nộp Phao-lô cho người Do thái dầu biết chắc chắn rằng họ sẽ giết Phao-lô ngay. Phê-tu hành động theo một lương tâm đã chết, ông là con người tham quyền cố vị và háo danh.

Có những người đã hành động như Phê-tu. Dầu họ biết Chúa Jêsus là Cứu Chúa của họ, song họ cũng sẵn sàng chối bỏ Ngài, công khai sỉ nhục Ngài, đóng đinh Ngài một lần nữa để được danh vọng hão huyền, lợi lộc tạm thời và quyền thế mong manh.

III. LƯƠNG TÂM BÉN NHẠY.

Phao-lô là người có lương tâm bén nhạy, tức là lương tâm dễ cảm, trong sạch, không chai lì và không bị đàn áp. Ông sống với một lương tâm đẹp lòng Đức Chúa Trời mà cũng không làm hại ai, không gây cớ cho ai vấp phạm. Dầu người Do thái thù hằn, ghen tị với ông, song họ không thể tố cáo ông một điều gì. Ông nói trước mặt họ: “Người ta chẳng từng gặp tôi, hoặc trong đền thờ, hoặc trong nhà hội, hoặc trong thành phố, cãi lẫy cùng ai hay xui dân làm loạn bao giờ. Bây giờ, họ cũng chẳng biết lấy chi mà làm chứng cớ về điều họ kiện tôi đó. Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp của người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sêsa” (24:12,13; 25:8).

Không những trước mặt người chưa tin Chúa mà Phao-lô đã nói như vậy, song trước mặt tín đồ ông cũng nói như thế: “Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết” (Công 20:33). “Tôi sẽ chẳng làm lụy cho anh em đâu, vì không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là tìm chính anh em vậy” (IICôr 12:14).

Cựu ước đôi khi cũng dùng từ “lương tâm” và chữ “lòng” cùng một ý nghĩa. Khi Đa-vít cắt vạt áo tơi của vua Sau-lơ thì Kinh Thánh chép: “Đoạn, lòng người tự trách về điều mình đã cắt vạt áo tơi của vua. Người nói cùng các kẻ theo mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta, là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va” (I Sam 24:6-7). Kinh Thánh cũng chép: “Sau khi tu bộ dân sự rồi, Đa-vít bị lương tâm cắn rứt, bèn cầu Đức Giê-hô-va rằng: Tôi làm như vậy thật là đã phạm tội rất nặng…” (II Sam 24:10).

Nếu ta có làm việc gì mà bị lương tâm cắn rứt, thì nên ăn năn như Đa-vít. Đừng cố che đậy, đừng cố biện minh lỗi lầm của mình bằng những lý luận không đâu. Vì làm như vậy là đàn áp lương tâm, làm cho lương tâm chai lì (I Tim 4:2), và cuối cùng là giết chết lương tâm. Supergeon đã thí dụ: Đêm kia trời tối tăm, mưa to gió lớn, con chó của một nhà triệu phú nọ chạy quanh nhà và sủa không ngớt. Ông chủ càng la bảo im, con chó càng sủa to hơn, nó muốn báo cho chủ biết có một bọn cướp đang vây nhà. Vì không ngủ được, ông chủ tức giận lấy súng ra bắn một phát, con chó ngã lăn ra chết. Ông chủ nói thầm: Thế là yên! Nhưng nào có yên đâu, ngay sau đó, bọn cướp tức thì xông vào nhà giết ông và đoạt của.

Để có một lương tâm tốt chúng ta hãy dâng đời mình cho Chúa chiếm hữu, ngự trị, hướng dẫn, kiểm soát, sử dụng.

CÂU HỎI

1. Chúa dựng nên con người có lương tâm để làm gì?

2. Làm sao chúng ta biết dân Do thái đã đàp áp tiếng nói của lương tâm?

3. Làm sao chúng ta biết Phêtít cũng đàn áp tiếng nói của lương tâm?

4. Làm sao chúng ta biết Phê-tu đã giết chết lương tâm?

5. Ông Phao-lô có lương tâm thế nào?

6. Trước mặt người Do thái, Phao-lô nói gì về lương tâm của ông?

7. Trước mặt tín đồ, Phao-lô nói gì về lương tâm của ông?

8. Làm sao chúng ta biết Phao-lô có lương tâm xứng đáng trước mặt Chúa?

9. Đa-vít đã làm gì khi bị lương tâm cắn rứt?

10. Muốn có một lương tâm không trách móc được, chúng ta phải làm sao?

BÀI 49. PHAO-LÔ LÀM CHỨNG CHO VUA

KINH THÁNH: Công vụ 26:1-32.

CÂU GỐC: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Phi-líp 1:21).

MỤC ĐÍCH: Khuyên giục học viên hoàn toàn đầu phục Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao lô lại tự biện hộ

(Công 26:1-11).

TH:

Phao lô làm chứng

(Công 26:12-18).

TB:

Phao lô giảng về Đấng Christ

(Công 26:19-23).

TT:

Cơ hội bị bỏ lỡ

(Công 26:24-32).

TN:

Vâng phục các nhà cầm quyền

(Tít 3:1-8).

TS:

Quyền hành của nhà cầm quyền

(Rô-ma 13:1-7).

TB:

Nhiệm vụ của nhà cầm quyền

(Thi 82:1-8).

Dầu phải chịu đau đớn lắm, song Chúa cho Phao-lô có cơ hội đứng trước dân chúng, các quan, các vua để giảng cho họ về sự cứu rỗi. Hôm nay chúng ta học về Phao-lô trước mặt vua Ạc-ríp-ba của Do thái.

I. CƠ HỘI ĐỂ LÀM CHỨNG: XỬ LẠI VỤ KIỆN (26:1-8).

Phê-tu đến thay Phê-lít làm tổng đốc tại thành phố Sêrarê. Vua Ạc-ríp-ba của Do thái đến chào thăm Phê-tu. Phê-tu thuật cho Ạrípba về tên Phao-lô bị dân Do thái tố cáo. Ạc-ríp-ba rất mừng, vì bấy lâu đã nghe về Phao-lô mà chưa có dịp gặp, bây giờ ông muốn gặp Phao-lô.

Hôm sau, có một buổi họp trọng thể dưới quyền chủ tọa của Acrípba, có sự hiện diện của bà Bê-rênít, Phê-tu và nhiều bậc tôn trưởng trong thành phố. Phao-lô được dẫn đến và Ạc-ríp-ba ra lệnh: “Ngươi được phép nói để chữa mình”.

Phao-lô tỏ ra rất vui mừng vì được tự biện hộ trước mặt vua Ạc-ríp-ba là người Do thái. Ông muốn nói rằng Phêtít cũng như Phê-tu là người La-mã, không hiểu thói tục và sự tranh biện của người Do thái, còn Ạc-ríp-ba là người Do thái nên hiểu được. Rồi ông bắt đầu kể lại cuộc đời của ông từ nhỏ đã sống giữa đồng bào mình, trung thành giữ đạo, tin cậy lời hứa của Đức Chúa Trời, nên ngày đêm trông đợi lời hứa được ứng nghiệm. Ông nhấn mạnh: Quí vị không thể tin rằng Đức Chúa Trời khiến kẻ chết sống lại sao? Tôi đã tin và đó là lý do người Do thái kiện cáo tôi.

Vua Ạc-ríp-ba thấy rằng những điều người Do thái kiện cáo ông là hoàn toàn vô căn cứ. Chúng ta thiết nghĩ luật pháp của người La-mã sao so bằng luật pháp của Đức Chúa Trời ban cho người Do thái. Song khi đem ra áp dụng, người La-mã đã áp dụng luật pháp của họ cách công bằng hơn người Do thái áp dụng luật pháp của mình.

Vì người Do thái quyết định phải giết Phao-lô, mặc dầu những điều tố cáo là vô căn cứ, còn người La-mã bênh vực Phao-lô, vì cho rằng không đủ yếu tố buộc tội. Lòng ghen tị, ngoan cố của người Do thái đã làm cho họ hèn kém, đáng hổ thẹn.

II. NỘI DUNG LỜI LÀM CHỨNG (26:9-23).

Để tiếp tục, Phao-lô nhắc lại thể nào ông đã bắt bớ Hội Thánh và thể nào ông đã gặp Chúa Jêsus để làm chứng cho Ạc-ríp-ba và Phê-tu.

1. Bắt bớ Hội Thánh (c. 9-11).

Phao-lô đã quyết định bằng bất cứ cách nào miễn là có thể tiêu diệt những kẻ tin theo Chúa Jêsus. Ông bắt bớ họ tại Giê-ru-sa-lem, trong các nhà hội khắp nơi, cho đến các thành phố ngoại quốc. Vì giận dữ, ông bỏ tù và giết chết họ. Ông cầm chắc trong tay, không kíp thì chày, danh Jêsus không còn được ai nhắc đến nữa.

2. Gặp Chúa Jêsus (c. 12-23).

Đây là lần thứ ba Phao-lô thuật lại thể nào ông gặp Chúa. Lần này ông có thêm mấy chi tiết quan trọng.

a. Chúa phán: “Ngươi đá vào ghim nhọn là khó chịu cho ngươi”.

Người ta thường dùng mũi nhọn để thúc đẩy trâu bò đi mau trong khi kéo xe, kéo cày. Nếu con vật nào cứng cổ, đá vào mũi nhọn đó thì làm cho nó đau đớn hơn mà thôi. Cũng vậy, Chúa đã cảm động Phao-lô, làm cho ông đau đớn về tội lỗi mình để ăn năn, song ông càng chống trả thì càng bị đau đớn.

b. Chúa phán: “Ta sẽ bảo hộ ngươi khỏi dân này và dân ngoại là nơi Ta sai ngươi đến, đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời, và cho họ bởi đức tin nơi Ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ” (26:17-18).

Chúa kêu gọi ông đến một chức vụ có phạm vi rộng rãi hơn vua trong một nước, vì bao gồm nhiều dân, có một tính chất quan trọng hơn bất cứ một nhà giải phóng của một dân tộc nào vì đem nhiều dân từ tối tăm qua sáng láng, từ ma quỉ đến Đức Chúa Trời, từ tội nhân đến thánh nhân, để được cơ nghiệp đời đời.

c. “Từ đó tôi chẳng dám chống cự với sự hiện thấy trên trời”.

Ông không còn đá vào mũi nhọn như trước nữa mà bắt đầu khuyên mọi người ở Đa-mách, Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, các dân ngoại bang, ăn năn trở lại cùng Đức Chúa Trời. Ông không nói chi hơn ngoài ra điều Môi-se và các tiên tri đã nói, tức là Đấng Christ phải chịu thương khó và được sống lại. Dầu người Do thái nhiều lần toan giết ông, song Đức Chúa Trời đã bảo vệ ông.

III. LỜI LÀM CHỨNG BỊ CHỐI TỪ (26:24-32).

Phao-lô nhận biết là dịp tiện cuối cùng để làm chứng cho nhà cầm quyền Do thái nên ông nói rất hăng say và đầy đủ, mong chinh phục được thính giả mà đem họ về cùng Chúa. Nhưng rất tiếc là họ đã từ chối.

1. Phê-tu phản đối (c.24-25).

Phê-tu là con người xác thịt, không hiểu nổi sự thuộc linh. Khi nghe Phao-lô thuật về cuộc đối thoại giữa Chúa Jêsus với ông thì Phê-tu lùng bùng lỗ tai. Làm sao một người như Phao-lô lại có một chức vụ rộng rãi hơn vua Ạc-ríp-ba, quan trọng hơn hoàng đế La-mã là người đã giải phóng các dân tộc dã man, bán khai, đem họ đến sự văn minh. Làm sao mà Phao-lô nói rằng dân Do thái toan giết ông và Đức Chúa Trời đã bảo vệ ông. Đáng lẽ đã nói Phê-lít, Phê-tu tức là chính phủ La-mã đã bảo vệ ông mới đúng chứ! Hơn nữa, Phao-lô còn kêu gọi mọi người ăn năn. Vì vậy, Phê-tu tức giận la lên: “Phao-lô ơi, ngươi điên, được học rộng quá đến nỗi điên rồi”.

Xưa nay, người thế gian như Phê-tu vẫn xem Cơ Đốc nhân là ngươi mộng ảo, tên điên cuồng, vì họ không hiểu nổi. Nhờ đâu Cơ Đốc nhân có một niềm tin chắc chắn, có một niềm vui lạ lùng, có một hy vọng vững vàng, có một nếp sống cao thượng? Nếu cho họ là người vô học thì không đúng, nên Phê-tu phải nói Phao-lô học rộng quá đến nỗi điên rồi. Dầu phải nói vậy, kỳ thật Phê-tu thấy Phao-lô không hề có dấu hiệu gì là điên cả.

2. Ạc-ríp-ba mỉa mai (c. 26-32).

Phê-tu không hiểu nổi điều Phao-lô nói, song Ạc-ríp-ba hiểu được. Vì thế sau khi trả lời vắn tắt cho Phê-tu, Phao-lô xây qua Ạc-ríp-ba, nhấn mạnh rằng: Vua hiểu hết mọi việc ông vừa mới nói đó vì đã xảy ra cách công khai, làm ứng nghiệm các lời tiên tri, mà Phao-lô biết vua tin các tiên tri. Ạc-ríp-ba trả lời cách mỉa mai: “Ngươi khuyên một ít đó mà tưởng khiến ta trở nên Cơ Đốc đồ được ư? (Bản nhuận chánh). Ông muốn nói rằng: “Ngươi khuyên ta sớm quá, chưa đủ cho ta tin, ta không dễ dàng chấp nhận như ngươi tưởng đâu”.

Chắc Ạc-ríp-ba chịu cảm động khi nghe Phao-lô giảng, song ông vẫn kiêu căng, ngoan cố mà xem lời giảng của Phao-lô chưa đủ tin. Vì vậy, ông đã bỏ mất cơ hội quí hơn vàng mà suốt cõi đời đời ông không bao giờ tìm lại được.

Cuối cùng Phao-lô đã nói một câu bất hủ: “Cầu xin Đức Chúa Trời chẳng kíp thì chày không những một mình vua, nhưng hết thảy mọi người nghe tôi hôm nay đều trở nên như tôi, chỉ trừ ra xiềng này mà thôi.” Vì Ạc-ríp-ba cho là sớm quá, nên Phao-lô ước ao không sớm thì muộn, mọi người đều tin Chúa. Tại sao ông nói: “Chỉ trừ ra xiềng này mà thôi”? Xiềng xích đang trói buộc Phao-lô là vật vô tri, vô giác, nên nó không cần trở thành Cơ Đốc nhân, vì nó không có sự sống, không có linh hồn, không có trách nhiệm, không có thưởng phạt tương lai, nhưng vua Ạc-ríp-ba và tất cả mọi người đang nghe Phao-lô thì khác, nên họ cần phải trở thành Cơ Đốc nhân như ông.

Phao-lô mang xiềng đứng trước mặt Acrípba và Phê-tu như một tội nhân, song chúng ta thấy ông không hành động như một tội nhân. Còn Ạc-ríp-ba và Phê-tu cũng không hành động như các quan tòa, trái lại, Phao-lô hành động như một vị quan tòa kêu gọi hai ông và mọi người sớm phải ăn năn để trở thành Cơ Đốc nhân như Phao-lô, chứ không phải Phao-lô trở nên như họ.

Nếu dâng mình cho Chúa và hoàn toàn đầu phục Ngài, chúng ta sẽ được trọng dụng trong những công tác vĩ đại mà chúng ta chẳng bao giờ ngờ và kết quả lâu dài mà chúng ta chẳng bao giờ tưởng.

CÂU HỎI

1. Tại sao Phao-lô lại đứng trước mặt Ạc-ríp-ba?

2. Phao-lô nói cho Ạc-ríp-ba điều gì người Do thái đã kiện cáo ông?

3. Khi nhắc lại việc gặp Chúa, Phao-lô có nêu lên mấy điểm quan trọng nào?

4. Mỗi điểm có sự dạy dỗ gì cho chúng ta hôm nay?

5. Khi nghe Phao-lô giảng thì Phê-tu có phản ứng thế nào?

6. Tại sao ông nói như vậy?

7. Người thế gian nghĩ gì về chúng ta hôm nay?

8. Ạc-ríp-ba nói gì khi nghe Phao-lô giảng?

9. Tại sao ông nói vậy?

10. Tại sao Phao-lô ước ao mọi người đều tin Chúa trừ ra xiềng này?

11. Nếu chúng ta dâng mình cho Chúa trọn vẹn thì kết quả sẽ ra sao?

BÀI 50. PHAO-LÔ ĐI RÔ-MA

KINH THÁNH: Công vụ 27:1-44.

CÂU GỐC: “Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Đức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy” (Công vụ 27:25).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ học viên giao phó cho Đức Chúa Trời mọi bối rối, hoạn nạn của đời sống, hầu đem phước hạnh đến cho người chung quanh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao lô đáp tàu đi Rô-ma

(Công 27:1-8).

TH:

Chuyến đi đầy nguy hiểm

(Công 27:9-20).

TB:

Lòng tin quyết của Phao-lô

(Công 27:21-26).

TT:

Phao-lô an ủi các bạn đồng hành

(Công 27:27-36).

TN:

Bị đắm tàu và được thoát nạn

(Công 27:37-44).

TS:

Những nguy cơ, khổ nạn của Phao-lô

(IICôr 11:22-33).

TB:

Chúa tể của sóng gió

(Thi 107:23-32).

Phao-lô đi Rô-ma (người Việt phiên âm là Rô-ma, người Hoa phiên âm là La-mã). Rô-ma vốn là kinh đô của nước Ý, là trung tâm của thế giới bấy giờ. Phao-lô đã làm chứng cho Chúa tại nhiều thành phố, ông ước ao cũng sẽ làm chứng cho Ngài tại Rô-ma. Đây không phải là chương trình của riêng ông mà là chương trình của Chúa đối với ông. Phao-lô nói: “Ta… cũng phải thăm thành Rô-ma nữa” (Công 19:21). Chúa phán: “Ngươi đã làm chứng cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy” (23:11). “Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sêsa” (27:24).

I. BÌNH AN TRONG CƠN BÃO TỐ (27:1-38).

Vì phương tiện không hoàn bị, nên ngày xưa vượt biển nguy hiểm hơn ngày nay gấp nhiều lần. Xưa nay, biển cả đã giết chết không biết bao nhiêu người, nên trời mới đất mới biển không còn nữa (Khải 21:1). Phao-lô đi tàu buồm từ thành phố Sê-sa-rê của Do thái tới Rô-ma phải mất 6 tháng. Trong khi đi còn phải tùy thuộc vào thời tiết, vì mùa đông không đi được.

Trong chuyến đi này có Lu-ca là y sĩ riêng của Phao-lô và Aritạc là bạn, tình nguyện cùng đi với ông. Về sau, Aritạc là bạn đồng tù với Phao-lô (Cô-lô-se 4:10). Trên tàu có các tù phạm, quân lính, thủy thủ đoàn, hết thảy là 276 người. Viên đội trưởng đối đãi với Phao-lô một cách tử tế, mặc dầu ông đã bị liệt vào hàng tù phạm. Tàu đi rất chậm chạp và khó khăn. Phao-lô báo trước cho họ sự nguy hiểm sẽ xảy ra và khuyên họ đậu lại. Song họ không nghe theo, nên cứ đi. Chẳng bao lâu, họ bị một cơn gió trốt làm bạt tàu đi, và họ phải mặc cho tàu trôi theo chiều gió. Dầu thủy thủ đã cố gắng làm đủ mọi cách, dùng dây đỏi ràng quanh tàu, hạ buồm, quăng hàng hóa xuống biển làm cho nhẹ bớt, nhưng bão càng ngày càng nổi lên mạnh hơn, chiếc tàu bị sóng dập gió dồi giữa biển. Ban ngày không thấy mặt trời, ban đêm không thấy ngôi sao, mây đen che phủ làm cho tối tăm, mù mịt trải qua nhiều ngày. Ai nấy tuyệt vọng chỉ chờ chết mà thôi!

Bấy giờ Phao-lô xuất hiện giữa mọi người như ngọn đèn trong bóng tối, như ngôi sao trên vòm trời đêm, như vị cứu tinh của đoàn người trôi lạc. Ông dõng dạc trách họ rằng: “Các ông ơi, chớ chi các ông đã nghe lời tôi mà không lìa đảo Cơrết, thì đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại này”. Trong một chuyến đi như vậy, rất may có sứ giả của Chúa cùng đi mà họ không biết. Thật, đáng tiếc! Tuy nhiên, Đức Chúa Trời rất nhân từ, thương xót nên Phao-lô tiếp: “Nhưng bây giờ, tôi khuyên các ông hãy vững lòng, trong các ông sẽ chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi. Vì đêm nay, một thiên sứ của Đức Chúa Trời là Đấng tôi thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng tôi mà phán rằng: Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết, ngươi phải ứng hầu trước mặt Sêsa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi. Vậy hỡi các ông, hãy vững lòng vì tôi có lòng tin cậy Đức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán”.

Thật là kỳ diệu! Giữa cảnh bối rối đến tuyệt vọng, ai nấy nghe Phao-lô hai lần bảo họ: “Hãy vững lòng!” Không những nghe, mà họ còn thấy được nét mặt vui tươi và tràn đầy hy vọng của ông. Phao-lô đã giải thích rõ ràng, ông là đầy tớ của Đức Chúa Trời, ông đã cầu nguyện và được Ngài nhậm lời, nên sai thiên sứ đến bảo ông như vậy. Ông đã kinh nghiệm sự thành tín của Chúa, nên tin rằng Ngài sẽ làm như Ngài đã hứa.

Chắc sau đó, có nhiều người đến nói với Phao-lô: Nghe ông nói, chúng tôi được an ủi lắm, song Phao-lô ơi, tình trạng tuyệt vọng chưa có gì thay đổi, nó không sáng sủa hơn mà còn tệ hại hơn. Kìa trời vẫn tối đen, biển thét ầm ầm, gió rít từng cơn, bọn thủy thủ tìm phương thoát nạn, bỏ chúng ta. Bây giờ phải làm chi?” Để giải đáp thắc mắc và làm vững lòng họ, Phao-lô khuyên mọi người hãy ăn. Vì đã 14 ngày rồi, ai nấy tuyệt vọng chờ chết, nên chẳng màng ăn uống gì cả. Ông quả quyết rằng chẳng ai trong vòng họ sẽ mất một sợi tóc trên đầu, và bảo họ hãy ăn và bày tỏ lòng tin cậy Đức Chúa Trời. Vừa nói xong, ông lấy bánh, đứng trước mặt mọi người mà tạ ơn Đức Chúa Trời rồi ăn một cách tự nhiên. Bấy giờ ai nấy đều vững lòng và cùng ăn.

Chúng ta thấy lời nói, thái độ và hành động của Phao-lô thật là nhịp nhàng, hợp nhất, tạo nên một sức mạnh có thể lôi cuốn mọi người theo ông. Bất cứ nơi nào, Phao-lô cũng đều làm chủ tình hình vì Đức Chúa Trời làm chủ ông. Ông hướng dẫn mọi người vì Đức Chúa Trời hướng dẫn ông. Hãy xem, tại khám tù Phi-líp, trước mặt Phêtít, Phê-tu và Acrípba, rồi bây giờ ở đây cũng vậy, ông là người hướng dẫn 275 người kia, kể cả thủy thủ đoàn, quân lính và đội trưởng. Thử hỏi: Chúng ta đang sống thế nào trong lúc này? Chúng ta có vững lòng để làm cho người khác vững lòng không? Chúng ta có vui vẻ để làm cho ai nấy vui vẻ không? Chúng ta có hy vọng để làm cho ai nấy hy vọng không? Hay là chúng ta ngã lòng, buồn bã, thất vọng, để làm tan nát lòng mọi người? Chúng ta làm chủ hoàn cảnh hay làm nô lệ cho nó? Chúng ta có tôn vinh Đức Chúa Trời hay sỉ nhục Ngài? Chính Ngài đã phán gì với chúng ta? Nguyện Chúa cho chúng ta được nghe tiếng Ngài để ai nấy có lời nói, thái độ và hành động như Phao-lô.

II. NƯƠNG CẬY CHÚA THÌ SẼ ĐƯỢC GIẢI CỨU (27:39-44).

Sáng hôm sau, tàu đến một chỗ gần bờ, song có nước xoáy, tàu không thể tiến hay lùi được, và bị sóng đánh dữ dội nên vỡ tan tành. Bấy giờ, quân lính định giết hết tội phạm. Có lẽ đó là luật của chính quyền La-mã, hễ quân lính giữ tù phạm mà để tù phạm trốn đi thì phải bị tử hình như trường hợp người đề lao tại Phi-líp đã toan tự tử khi tưởng Phao-lô, Si-la và tù phạm đều trốn hết rồi. Tạ ơn Chúa, Ngài đã can thiệp, khiến cho viên đội trưởng không cho phép làm như vậy để cứu Phao-lô. Cho đến bước cuối cùng, ma quỉ vẫn chực sẵn để giết Phao-lô, song mạng sống của ông nằm trong tay Chúa, Ngài bảo vệ.

Vì vậy, viên đội trưởng ra lịnh cho ai biết lội thì lội vào bờ trước, còn ai không biết lội thì cỡi trên ván hay là một vật gì trong tàu mà vào bờ sau. Thế là mọi người đều thoát nạn, đúng như lời của Phao-lô nhân danh Chúa mà nói. Ai nấy thở ra nhẹ nhàng như bay bổng, và không đủ lời tạ ơn Đức Chúa Trời của Phao-lô. Cơn tuyệt vọng của loài người là dịp tiện của Đức Chúa Trời. Ngài đã dựng nên trời, đất, biển, muôn vật, nên Ngài có quyền cai trị chúng. “Ngài ngừng bão tố, đổi nó ra bình tịnh, và sóng êm lặng” (Thi 107:29). Chúa Jêsus đã quở gió và biển thì liền yên lặng như tờ (Ma-thi-ơ 8:20). Ngài cũng đi bộ trên biển trong đêm tối (Ma-thi-ơ 14:24-33).

Ngày nọ, một vị giáo sư hội họa bảo các học trò của ông vẽ một bức tranh mô tả sự bình an thật. Có người vẽ một cảnh thật đẹp, nền trời không một áng mây, bầy trâu đang yên lặng trầm mình dưới nước, cậu bé mục đồng nằm ngủ, và mấy bà nhà quê đang trò chuyện dưới bóng mát một cội cây. Nhưng vị giáo sư nói: “Đó chưa phải là sự bình an, chỉ là sự vắng lặng mà thôi”.

Có người khác vẽ một cảnh bão tố, những đám mây đen che phủ, sấm nổ vang, chớp lóe sáng, cây cối ngã nghiêng vì gió mạnh. Nhưng trong bộng cây cổ thụ, một chim mẹ đang nằm ấp con. Giáo sư nói: “Đúng lắm, đó là sự bình an thật”.

Sống trong Chúa, biến mất trong Ngài là Vầng Đá muôn đời, Phao-lô nếm trải sự bình an thật giữa những cơn giông tố phũ phàng. Ngày nay, chúng ta cũng cần nếm trải sự bình an thật như Phao-lô miễn là chúng ta cũng phó mình cho Chúa, để trong mọi cảnh ngộ chúng ta đều được phước và chia xẻ ơn phước cho người khác.

CÂU HỎI

1. Làm sao chúng ta biết Phao-lô đi Rô-ma là theo ý Chúa?

2. Khi Phao lô bị giải đi Rô-ma, có ai tình nguyện đi theo? Để làm gì?

3. Chiếc tàu buồm đưa Phao-lô đi đã gặp gì?

4. Trong khi mọi người tuyệt vọng chờ chết thì Phao-lô nói gì?

5. Không những nói, Phao-lô còn làm gì nữa?

6. Trong mọi hoàn cảnh, Phao-lô đều hướng dẫn mọi người như thế nào?

7. Kết quả chiếc tàu thế nào và số người đi ra sao?

8. Chúa đã làm cách nào để cứu Phao-lô và đoàn tù phạm không bị quân lính giết?

9. Sự bình an mà Phao-lô được giống như bức tranh nào?

10. Muốn nếm trải sự bình an thật, chúng ta phải làm gì?

BÀI 51. PHƯỚC HẠNH CỦA SỰ VÂNG PHỤC

KINH THÁNH: Công vụ 28:1-15.

CÂU GỐC: “Vả chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô-ma 8:28).

MỤC ĐÍCH: Giúp các học viên biết là Đức Chúa Trời dùng cả những hoạn nạn để khiến chúng ta trở thành những chứng nhân nếu chúng ta vâng phục Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao-lô được Đức Chúa Trời bảo vệ

(Công 28:1-6).

TH:

Đức Chúa Trời làm một phép lạ

(Công 28:7-10).

TB:

Phao lô đến Rô-ma

(Công 28:11-15).

TT:

Thư phao lô gửi cho Hội Thánh Rô-ma

(Rô-ma 1:1-12).

TN:

Phao lô là sứ đồ cho dân ngoại

(Rôm ma 15:8-21).

TS:

Tin Phao lô đến Rô-ma được báo trước

(Rô-ma 15:22-23).

TB:

Phao lô chào thăm người Rô-ma

(Rô-ma 16:16-27).

Sau những ngày vất vả dưới tàu, ở giữa biển khơi, bị sóng gió dập dồi, bây giờ được lên bờ, đoàn người thoát nạn mới nhận biết đảo đó là cù lao Man-tơ.

I. VÂNG LỜI CHÚA NÊN ĐƯỢC NGÀI BẢO VỆ (28:1-10).

Thổ dân trên đảo có lòng tử tế khác hẳn với một số người Do thái và nhà cầm quyền của họ. Một số người Do thái và nhà cầm quyền của họ đã quyết tâm giết chết Phao-lô, mặc dầu ông không có tội đáng chết, còn người dân tại đảo Man-tơ tiếp đón Phao-lô và các bạn đồng hành của ông hết sức tử tế. Chắc họ đã ra tận bờ biển mà kéo từng người gần kiệt sức lên khỏi nước. Vì trời lạnh lại mưa, quần áo nạn nhân bị ướt hết, nên người Man-tơ đốt lửa lên để ai nấy được sưởi ấm thể xác và được an ủi linh hồn.

Dầu mệt nhọc lắm, Phao-lô không ngồi một chỗ để cho người khác giúp mình, song ông cũng chịu khó đi lượm một bó củi khô quăng vào đống lửa. Nào ngờ có một con rắn độc bị nóng, bò ra đeo cứng trên tay Phao-lô. Thấy vậy, người Man-tơ kinh hoàng nói với nhau: “Người này là kẻ sát nhân, nên dầu đã thoát nạn, song luật công bình cũng chẳng dung cho nó sống.” Phao-lô bèn rảy con rắn độc vào lửa. Người Man-tơ chắc rằng Phao-lô sẽ ngã ra chết lập tức hoặc bị sưng lên. Đã đợi lâu mà không thấy có gì xảy ra, họ liền đổi ý mà nói: “Người là một vị thần”. Chính nhờ sự vâng lời Chúa mà Phao-lô được Ngài bảo toàn sự sống. Dầu chưa nghe Tin Lành, người Man-tơ đã nhận biết tội lỗi là có thật và hậu quả ghê gớm của nó. Sự nhận biết đó là nhờ có lương tâm mà Chúa đã đặt trong mỗi người.

Mặt khác chúng ta thấy ma quỉ bắt bớ Phao-lô bằng đủ cách, thua trận này, nó gầy trận khác. Song càng bắt bớ, Phao-lô càng nổi bật, càng đắc thắng.

Ông tù trưởng đảo Man-tơ là người La-mã, có tính hiếu khách, nên đã tiếp đãi đoàn người thoát nạn luôn 3 ngày. Lòng tốt của ông không bị thiệt thòi. Số là thân phụ của ông đang đau sốt rét và kiết lỵ. Nghe tin ấy, Phao-lô đến thăm và đặt tay cầu nguyện, nên ông cụ được lành. Nhân đó, những người đau yếu khác trong đảo cũng đến và được chữa lành cả. Trước khi đặt tay cầu nguyện, chắc Phao-lô đã nói cho họ về Chúa Jêsus. Ba tháng ở tại Man-tơ, Phao-lô đã có cơ hội thăm viếng và truyền giảng Tin Lành cho người địa phương. Truyền khẩu nói rằng từ đó tại đảo Man-tơ đã có một Hội Thánh. Người Man-tơ tỏ lòng biết ơn và tôn trọng Phao-lô, nên khi ông lên đường, họ cung cấp mọi vật cần dùng cho ông. Vô luận của ít hay nhiều, lòng tốt của họ thật là đáng giá: “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Chúa”.

II. VÂNG LỜI CHÚA ĐƯỢC PHƯỚC LỚN (28:11-15).

Sau ba tháng nghỉ ngơi, Phao-lô và mọi người xuống tàu tiếp tục đi Buxôlơ. Tại đây, một số tín hữu đã chờ sẵn để đón mời Phao-lô và ông ở lại với họ bảy ngày, thời gian rất quí báu cho anh em cũng như cho Phao-lô, vì ai nấy đều được an ủi, gây dựng. Phao-lô thật là sung sướng! Đành rằng trên đường theo Chúa, lúc nào xiềng xích và hoạn nạn cũng chờ đợi ông, nhưng không lúc nào và nơi nào ông bị cô đơn. Đi đến đâu ông đều được anh em vui mừng đón tiếp, mặc dầu ông mới đến đó lần đầu, và có người chưa từng gặp ông. Mỗi Cơ Đốc nhân là một thành phần của Hội Thánh chung trong cả thế giới, chúng ta đến đâu cũng có anh em. Trong Chúa, anh em chưa gặp nhau thì đã yêu thương nhau.

Từ Bu-xô-lơ họ đi đến Rô-ma. Đây là một đại lộ rất quan trọng. Vì mỗi lần đoàn quân chiến thắng của La-mã trở về thì diễn hành trên đại lộ này để được chính phủ và dân chúng hoan nghinh. Bây giờ, Phao-lô đi trên đại lộ đó. Dầu không có chính phủ La-mã và dân chúng hoan nghinh thì có một số tín hữu đã đi một đoạn đường rất xa để nhiệt liệt hoan nghinh Phao-lô là sứ giả của Chúa. Hơn nữa, Phao-lô còn được vô số các bậc anh hùng đức tin trải qua các đời đang ở trên trời “vây lấy như đám mây rất lớn” (Hê-bơ-rơ 12:1).

Phao-lô đã viết thư cho Hội Thánh Rô-ma ba năm trước, nên có rất nhiều người ước ao được gặp ông. Bây giờ cơ hội đã đến với họ. Tin tức từ Bu-xô-lơ truyền vào thủ đô mau chóng lắm. Tín hữu chia làm hai nhóm, đón tại hai chặng đường. Một nhóm tại Ba quán cách Rô-ma 50 cây số, một nhóm tại Phô-rum Áp-bi-u xa hơn, cách Rô-ma trên 60 cây số.

Phao-lô đã bị ném đá, đánh đập, bị ngồi tù, bị chìm tàu, thiếu ăn, mất ngủ, lạnh lẽo. Bây giờ lại phải đi bộ đường xa để đến Rô-ma ngồi tù nữa, nên thân hình ông tiều tụy, tay chân bải hoải, tâm trí nặng nề. Trong IICôr 11:23-29, Phao-lô đã kể lại biết bao khổ đau của mình. Chúa Jêsus có thân thể như chúng ta, Ngài từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, nên đã cảm thương đầy tớ của Ngài. Vì vậy, Ngài đã dùng tín hữu tại Rô-ma an ủi Phao-lô. Kinh Thánh chép: “Phao-lô thấy anh em thì cảm tạ Đức Chúa Trời và vững chí”.

Anh em tín đồ tại Rô-ma đã làm một việc hết sức tốt đẹp, có tác dụng mạnh mẽ, có kết quả lớn lao mà họ không bao giờ tưởng. Họ là những con trai, con gái của sự yên ủi (Công vụ 4:36), họ đã an ủi đầy tớ của Chúa là người nếm trải cơn thử thách đến nỗi sức cùng lực tận. Chúng ta thường nghĩ rằng Phao-lô là con người đặc biệt, có thân hình vạm vỡ, đẫy đà, đủ sức chịu đựng mọi gian lao. Thật ra, không phải thế. Chúng ta lại nghĩ rằng Phao-lô an ủi mọi người chứ không cần ai an ủi cả. Ngược lại, Phao-lô đã được rất nhiều người an ủi. Đọc Công Vụ Các Sứ Đồ, nhất là các thư tín của Phao-lô, chúng ta thấy hàng loạt người đã an ủi ông bằng đủ cách. Trong ba vòng truyền giáo, Phao-lô có Ba-na-ba, Si-la, Ti-mô-thê, Lu-ca, A-ri-tạc cùng đi. Tại Rô-ma, ông được nhiều người giúp đỡ như chấp sự Phê-bê, Bê-rít-sin và A-qui-la… (Rô-ma 16:1-15). Tại Cô-rinh-tô, ông được vui mừng vì có A-bô-lô, Sê-pha-na, Phô-tu-na, A-chai-cơ, Sốt-then… (ICôr 1:1;16:12-20). Tại Phi-líp, ông được cả Hội Thánh nâng đỡ, lo liệu đến nỗi ông phải nói: “Mỗi khi tôi nhớ đến anh em thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi” (Phi-líp 1:3). Tại Ê-phê-sô, ông được Ô-nê-si-phô-rơ an ủi rất nhiều (II Tim 1:16-18). Thật không kể xiết từng người từng việc.

Đành rằng Mục sư phải an ủi tín đồ, song tín đồ cũng cần an ủi Mục sư. Chúng ta phải an ủi lẫn nhau (Ma-thi-ơ 10:40-42).

Một tín đồ Trung Hoa được hỏi: “Khi vào thiên đàng ông muốn gặp ai trước hết?

– Tôi muốn gặp Chúa Jêsus là Đấng đã xả thân cứu tôi.

– Kế đó ông muốn gặp ai nữa?

– Tôi muốn gặp người đã đem Tin Lành đến giảng cho tôi.

– Sau hết ông còn muốn gặp ai?

– Tôi còn muốn gặp người đã dâng tiền bạc để Tin Lành có thể đến với tôi. Tôi muốn cám ơn tất cả.

Thiết tưởng, không những chúng ta phải cảm ơn những người có công khó đối với mình, song chúng ta phải sống thế nào để có nhiều người cũng cảm ơn về công khó của chúng ta đối với họ.

CÂU HỎI

1. Dân đảo Man-tơ đối xử với đoàn người vừa thoát nạn thế nào? Họ đã làm gì?

2. Dân Man-tơ và Do thái đối xử với Phao-lô khác nhau thế nào?

3. Điều gì tỏ ra Phao-lô không bao giờ biếng nhác mà ỷ lại vào người khác?

4. Điều gì tỏ ra ma quỉ cứ tiếp tục bắt bớ Phao-lô?

5. Ba tháng ở tại đảo Man-tơ, Phao-lô đã làm gì?

6. Khi Phao-lô tới Buxôlơ thì có điều gì xảy ra?

7. Tại Phôrum Áp-bi-u và Ba-quán, tín đồ Rô-ma đến rước Phao-lô thế nào?

8. Kết quả việc đó là gì?

9. Hãy liệt kê những người đã an ủi Phao-lô?

10. Tại sao chúng ta cần an ủi nhau?

BÀI 52. TIN LÀNH ĐẮC THẮNG

KINH THÁNH: Công vụ 28:16-31.

CÂU GỐC: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô-ma 1:16).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích học viên dâng mình cho Chúa để phục vụ Ngài một cách đắc thắng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Tin Lành đắc thắng tại Giê-ru-sa-lem

(Công 2:37-47).

TH:

Tin Lành đắc thắng tại Sa-ma-ri

(Công 8:5-25).

TB:

Tin Lành đắc thắng tại các miền xa xăm

(Công 11:19-26).

TT:

Tin lành đắc thắng tại Phi-líp

(Phil 1:1-11).

TN:

Tin lành đắc thắng tại Cô-lô-se

(Côl 1:1-14).

TS:

Tin lành đắc thắng trong chính Phao-lô

(Công 20:8-38).

TB:

Tin lành đắc thắng nhờ Chúa Jêsus

(Rô-ma 8:31-39).

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ chép lịch sử Hội Thánh ban đầu, từ ngày Đức Thánh Linh giáng lâm tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi Phao-lô ngồi tù tại Rô-ma. Hôm nay, chúng ta học về phần chót của sách đó.

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại giai đoạn lịch sử gay cấn nhất mà người đọc lần đầu không khỏi hồi hộp từng giờ, từng phút. Song mãi cho đến phần chót, dầu Phao-lô ngồi tù, ai nấy đều thấy rằng, Tin Lành vẫn đắc thắng.

I. ĐẮC THẮNG TRONG KHÁM TÙ (28:16-31).

Khi đến Rô-ma, Phao-lô được phép ở riêng với người lính canh giữ tại một nhà trọ, song lúc nào tay cũng mang xiềng. Ông bắt đầu tiếp xúc với người Do thái để biện minh về trường hợp của ông và giảng Tin Lành cho họ từ sáng đến tối. Giữa vòng người Do thái có người đã tin theo (28:23-24). Suốt thời gian hai năm tại nhà trọ, Phao-lô luôn luôn làm chứng và dạy dỗ một cách dạn dĩ và tự do, mọi người đến thăm ông, kể cả tín hữu lẫn người chưa tin. Công vụ 28:30-31 là lời tuyên bố đắc thắng của Tin Lành. Vì vậy, khi từ Rô-ma gửi thư cho Hội Thánh Phi-líp, Phao-lô viết: “Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin Lành, đến nỗi chốn công đường và các nơi khác đều rõ tôi vì Đấng Christ… dám truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì hết” (Phi-líp 1:12-14). Vì thế, ngay trong đám gia nhân của hoàng đế La-mã, cũng có người tin Chúa (Phi-lê-môn 4:22). Khi ngồi tù tại Rô-ma, Phao-lô đã dẫn dắt một bạn đồng tù là Ônêsim về với Chúa, và Ônêsim là nô lệ của tín hữu Phi-lê-môn (Phi-lê-môn 1:8-12). Ngoài ra hằng ngày tiếp xúc để làm chứng cho người chưa tin, dạy dỗ người đã tin, Phao-lô còn viết bốn thư tín, ba thư gửi cho Hội Thánh Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và một thư gửi cho bạn hữu là Phi-lê-môn. Các thư tín đó còn trong Tân Ước cho đến ngày nay, trình bày những lẽ đạo căn bản vô cùng quí báu. Chúng ta cảm tạ Chúa đã cho Phao-lô ngồi tù tại Rô-ma hai năm, vì nếu ông không ngồi tù đã chẳng có bốn thư tín nói trên và Hội Thánh bị thiệt thòi rất nhiều. Đúng như Phao-lô đã nói: “Vì Tin Lành đó mà Ta chịu khổ, rất đỗi bị trói, như người phạm tội, nhưng đạo Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu” (II Tim 2;9). Đó là sự đắc thắng của Tin Lành, đắc thắng ngay trong khám tù.

II. ĐẮC THẮNG TRONG HỘI THÁNH BAN ĐẦU.

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ chép về 30 năm Tin Lành được truyền giảng, bắt đầu tại Giê-ru-sa-lem và chấm dứt tại Rô-ma. Sách này không chép về đời sống Phao-lô, nên không đề cập đến ông đã chết cách nào và lúc nào. Song sách chép về công việc của Đức Thánh Linh đã làm qua con cái Ngài. Vì vậy, sách không có lời kết thúc, để tỏ ra rằng công việc của Chúa vẫn làm qua con cái Ngài cho đến ngày nay và sẽ còn làm cho đến ngày Chúa Jêsus tái lâm. Trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ, chúng ta thấy Tin Lành đắc thắng qua mỗi giai đoạn.

Phi-e-rơ giảng một bài có 3.000 người được cứu rỗi. Kế đó, ông nhân danh Chúa khiến người què đi được, rồi làm chứng thì số tín đồ lên đến 5.000. Dầu có sự chống đối mãnh liệt của giới cầm quyền Do thái, cũng như bị đe dọa, cấm đoán, đánh đòn, bỏ tù, song không ngăn chặn được sự phát triển của Tin Lành.

Ê-tiên đầy dẫy Thánh Linh và đức tin, có ân điển và quyền năng trong sự giảng dạy và chữa bệnh, cuối cùng ông bị ném đá chết, nhưng danh Chúa thật được vinh hiển.

Sau-lơ quyết tâm tiêu diệt Hội Thánh, nhưng chỉ làm cho Hội Thánh lan tràn từ Giê-ru-sa-lem đến Giu-đê, Sa-ma-ri, Sy-ri, rốt lại ông cũng tin Chúa.

Gia-cơ bị chém đầu, Phi-e-rơ bị bỏ tù và được giải thoát khiến cho đạo Đức Chúa Trời tiến tới rất nhiều và càng ngày càng thêm lên. Ấy vậy, nhờ quyền của Chúa, đạo bèn đồn ra, càng ngày càng được thắng (Công vụ 12:24; 19:20).

Chức vụ của Phi-e-rơ là sứ đồ dân Do thái, còn chức vụ của Phao-lô là sứ đồ cho dân ngoại. Vì thế Chúa kêu gọi Phao-lô giảng cho các dân ngoại từ miền Tiểu Á đến Âu Châu. Sự bắt bớ lúc nào cũng có, nơi nào cũng có, song Tin Lành lúc nào cũng đắc thắng, nên nơi nào Tin Lành truyền đến đều có kết quả là nhiều người tin và lập được nhiều Hội Thánh.

Khi được cứu rỗi, Phao-lô đã thưa: “Lạy Chúa, tôi phải làm chi?” (Công vụ 20:10). Khi thi hành chức vụ, Phao-lô đã tuyên bố: “Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời” (Công vụ 20:24). Khi sắp qua đời, ông viết: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin” (II Tim 4:7). Điều đó chứng minh Tin Lành là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Khi Phao-lô hoàn toàn phục tùng Chúa, Ngài làm công việc của Ngài qua ông để bày tỏ sự vinh hiển của ân điển Ngài và thực hiện chương trình của Ngài (Công 1:8;15:16).

III. ĐẮC THẮNG SUỐT DÒNG LỊCH SỬ.

Công tác của Chúa Jêsus vẫn chưa kết thúc với sách Công Vụ Các Sứ Đồ, và cái chết của Phao-lô. Sự bắt bớ Hội Thánh cũng chưa chấm dứt tại đó. Sau khi Phao-lô chết, nhiều người đã đứng lên tiếp tục chức vụ truyền giảng Tin Lành trong một hoàn cảnh hết sức nguy nan. Vô số người đã sống vì Chúa và đã chết vì Chúa bằng đủ cách như bị thiêu sống, bị chém đầu, bị thú dữ xé thây, bị đóng đinh trên thập tự giá. Đó là chưa kể những người bị tịch biên gia sản, bị ngồi tù, bị lưu đày ra các hoang đảo, hoặc sống rày đây mai đó, trên núi, trong rừng, trong các hầm mộ. Họ vui mừng cảm tạ và ca hát khi sống và chết như vậy. Nếu bản liệt kê danh sách các bậc anh hùng của đức tin của đời Cựu Ước trong Hê-bơ-rơ 11:1-40 chưa chấm dứt tại đó thì lịch sử của Hội Thánh cũng chưa chấm dứt trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ 28:1-31.

Qua lịch sử Hội Thánh, thì từ khi Phao-lô qua đời, vô số người đã noi theo mà chép thêm những trang sử đắc thắng không ngừng của sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Nhờ đó mà Tin Lành mới được truyền giảng cho người Việt nam, rồi các dân tộc ít người ở miền rừng rậm, núi cao. Tin Lành đã đắc thắng tại Việt Nam, lập được nhiều Hội Thánh tại nhiều địa phương, cứu được rất nhiều người.

Bây giờ, đã đến phiên chúng ta phải viết tiếp các trang còn lại về lịch sử của Hội Thánh trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Chúng ta có trách nhiệm như các bậc tiền nhân của chúng ta. Vậy, chúng ta phải làm gì để Tin Lành sẽ cứ đắc thắng? Chúng ta hãy dâng mình cho Chúa, hãy trang bị tư tưởng mình bằng sự đau khổ, sẵn sàng bước theo dấu chân nhuộm huyết của Chúa Jêsus như những người đã đi trước trên con đường hẹp, gập ghềnh, sỏi đá. Có sẵn sàng đi trên con đường như vậy, chúng ta mới đem Tin Lành quyền năng cho vô số người như những con chiên lạc khắp nơi. Chúa phán:

“Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng. Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao, những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.

Vậy nên, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va: Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật như Ta hằng sống, vì tại không có kẻ chăn, nên những chiên Ta đã làm mồi, và đã trở nên đồ ăn của mọi loài thú ngoài đồng, những kẻ chăn của Ta cũng không tìm kiếm chiên Ta, nhưng chúng nó chỉ nuôi mình mà không chăn nuôi chiên Ta, vì cớ đó, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, Ta nghịch cùng những kẻ chăn đó; Ta sẽ đòi lại chiên của Ta nơi tay chúng nó, Ta không để cho chúng nó chăn chiên của Ta nữa, và chúng nó cũng không thể tự chăn nuôi lấy mình nữa, nhưng Ta sẽ móc chiên Ta ra khỏi miệng chúng nó, hầu cho chiên ta không làm đồ ăn cho chúng nó” (Ê-xê-chi-ên 34:5-10).

CÂU HỎI

1. Sách Công Vụ Các Sứ Đồ chép về gì?

2. Trong khám tù tại La-mã, Phao-lô đã làm gì?

3. Tại sao chúng ta biết Phao-lô ngồi tù tại La-mã là theo ý Chúa?

4. Hãy kể lại các bước đắc thắng của Hội Thánh ban đầu?

5. Hãy thuật lại 3 câu nói của Phao-lô khi tin, khi thi hành chức vụ và khi sắp qua đời?

6. Khi Phao-lô qua đời, có ai tiếp tục giảng Tin Lành?

7. Các người đó giảng Tin Lành trong hoàn cảnh nào?

8. Bằng cớ nào cho chúng ta là người Việt Nam thấy rằng Tin Lành vẫn đắc thắng cho tới ngày nay?

9. Bây giờ đến phiên chúng ta phải làm gì?

10. Chúa nói thế nào với chúng ta về bầy chiên của Ngài?

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN QUYẾT ĐỊNH TIẾP NHẬN ĐẤNG CHRIST.

I. ĐIỀU KIỆN.

1. BẠN PHẢI ĐỂ THÁNH LINH HƯỚNG DẪN.

Công tác chuẩn bị quan trọng nhất để bạn được Chúa dùng dẫn dắt hồn người đến chỗ sinh lại là vâng theo lời Kinh Thánh: “Hãy đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Vì đây là công việc của Đức Thánh Linh đem hồn người vào cuộc sống mới trong Đấng Christ, nên bạn phải được Ngài kiểm soát.

a. Đấng Christ tuyên bố rõ ràng rằng đó là bước chuẩn bị cần thiết trong công tác chinh phục hồn người. “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi nhận lấy quyền phép và làm chứng về Ta” (Công 1:8a).

b. Bạn cần phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh vì Ngài là Đấng dẫn dắt bạn vào mọi lẽ thật (Giăng 16:13), dạy bạn phải nói cách nào (Lu-ca 12:12), giúp bạn nhớ lời Đấng Christ (Giăng 14:26), và giúp bạn nói một cách có năng lực và quyền phép (Công vụ 4:33).

c. Đến khi các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh, họ mới bắt đầu chức vụ chinh phục hồn người. Ngay cả Chúa Jêsus chúng ta cũng được Đức Thánh Linh xức dầu lúc khởi sự thi hành chức vụ. Chúng ta sẽ thành công chăng, nếu thiếu điều ấy?

2. BẠN PHẢI BIẾT RÕ HỌC VIÊN.

Bước chuẩn bị quan trọng thứ hai của giáo viên là phải tìm hiểu học viên. Thiếu sự hiểu biết đó cũng như một y sĩ biết thuốc nhưng không biết bệnh trạng nên không dám cho thuốc. Bạn có một phương thuốc, nhưng bạn đã biết gì về học viên chưa?

3. BẠN PHẢI CẦU NGUYỆN CHO MỖI HỌC VIÊN.

Bước chuẩn bị thứ ba là cầu nguyện đặc biệt cho mỗi học viên. Nếu bạn không có một danh sách học viên để cầu nguyện, hãy làm ngay. Đó là điều bắt buộc đối với giáo viên. Trong khi bạn cầu nguyện cho học viên, sự dạy dỗ của bạn sẽ thêm sâu sắc và ấm áp. Làm sao bạn có thể nói về Đức Chúa Trời cho học viên khi bạn chưa nói về học viên với Đức Chúa Trời?

Khi bạn đã sẵn sàng như vậy rồi, bạn có thể đến lớp, mong đợi Đức Thánh Linh thuyết phục qua lời Kinh Thánh. Khi thấy dấu hiệu Ngài hành động, bạn sẽ không nản chí.

II. CÁC BƯỚC TIẾP NHẬN ĐẤNG CHRIST.

1. ĐIỀU TÔI CẦN: Rô-ma 3:23; Giê-rê-mi 17:9.

2. PHẦN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI: Giăng 3:16; Ê-sai 53:6.

3. PHẦN CỦA ĐẤNG CHRIST: I Phi-e-rơ 2:24.

4. PHẦN CỦA TÔI.

– Ăn năn tội” (Công vụ 3:19; Ê-sai 55:7; Châm ngôn 28:13).

– Bởi đức tin tiếp nhận điều Đức Chúa Trời đã dự bị và Đấng Christ đã mua bằng chính huyết Ngài (Giăng 1:12; Công vụ 16:31; Ê-phê-sô 2:8).

Thật Chúa đã dùng bạn nhiều cách để chinh phục học viên cho Ngài. Đây là trách nhiệm chính yếu của bạn, nhưng nó không phải hạn chế trong phòng học. Dầu rằng không có một giáo viên nào phải dựa vào người khác để chinh phục hồn người, nhưng bạn vẫn phải hiệp tác, cầu nguyện cho mọi nỗ lực truyền Tin Lành của Hội Thánh, bạn phải tìm mọi cách khuyến khích học viên tham dự. Bạn phải tự hy sinh. Phao-lô phải trở nên mọi cách cho mọi người hầu có thể cứu một vài người trong họ (ICôr 9:22).

III. NHỮNG CHỈ DẪN CHO GIÁO VIÊN CHINH PHỤC HỒN NGƯỜI.

1. Phải dẫn dắt từng học viên một. Sự cứu rỗi là vấn đề căn bản.

2. Luôn luôn dùng Kinh Thánh. Người chinh phục hồn người phải biết Kinh Thánh và lựa chọn những câu nào thích hợp hoàn cảnh của từng cá nhân.

3. Đừng sử dụng phương pháp tầm thường. Hãy nương theo ý tưởng của bài học và chiều hướng của câu chuyện mà nói với học viên.

4. Nhấn mạnh vào thân vị và sự cứu rỗi của Chúa. Cứu rỗi không phải là nhận một “cái gì” mà là nhận một “NGƯỜI”.

5. Hãy cẩn thận khi nói câu: “Bây giờ bạn đã được cứu”. Việc bảo đảm sự cứu rỗi là việc của Đức Thánh Linh. Chỉ cho học viên những câu Kinh Thánh bảo đảm (IGiăng 5:13-15; Rô-ma 10:13, Giăng 3:36, Giăng 6:37), rồi hỏi Đấng Christ đã làm gì cho họ?

6. Dự bị cơ hội xưng nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa bằng những cách này.

a. Trước những kẻ có mặt lúc đó.

b. Trước Mục sư.

c. Trước lớp học. Đừng quấy rầy hay bắt buộc, nhưng dành cho học viên một cơ hội làm chứng.

d. Trước Hội Thánh: Dầu việc đi tới phía trước hội chúng để cầu nguyện không phải là một công đức, nhưng người tín đồ mới sinh cần xưng nhận niềm tin của mình trước Hội Thánh để được mạnh mẽ hơn.

e. Trước thế gian: Sự xưng nhận trước thế gian có nhiều cách, nhưng trách nhiệm của bạn là khuyến khích học viên theo gương Chúa chịu báp-têm bằng nước để chứng tỏ họ đã được chôn với Đấng Christ và sống lại để bước đi trong cuộc sống mới. Lễ báp-têm cũng đi đôi với mệnh lệnh dạy dỗ: “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm báp têm cho họ” (Ma-thi-ơ 28:19).

Lên đầu trang