CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO CÁC THỜI ĐẠI

MỤC LỤC

CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO CÁC THỜI ĐẠI

CÁCH SỬ DỤNG BÀI HỌC.

(PHẦN DÀNH CHO GIÁO VIÊN).

1. Xin giáo viên đừng cầm bài học mà đọc từng chữ cho học viên nghe. Vì làm vậy họ sẽ chán. Giáo viên nên học bài học nhiều lần ở nhà riêng, làm dấu bằng bút mực hay bút chì màu những chỗ quan trọng, những câu Kinh Thánh phải trưng dẫn, nhất là bố cục của bài học để khi nhìn vào thì biết ngay mình phải nói gì. Giáo viên phải dùng lời riêng của mình mà diễn tả ý nghĩa của bài học, không cần phải dùng đúng mỗi lời trong đó. Cách nầy khiến cho giáo viên được tự do nhìn thẳng vào học viên và nói chuyện cùng họ, khiến họ chú ý, nhất là giữa giáo viên và học viên có sự cảm thông với nhau.

2. Sau mỗi bài học có một số câu hỏi. Đành rằng sau khi dạy xong, giáo viên cần ôn lại bằng những câu hỏi đó để xem học viên có lãnh hội được sự dạy dỗ hay không, tuy nhiên, nếu giáo viên vừa dạy vừa hỏi để học viên trả lời ngay thì không cần hỏi ôn cũng được, vì học viên đã trả lời hết rồi. Ngoài ra, cách học nầy làm cho lớp học hào hứng, hấp dẫn.

3. Sau khi dạy xong bài học, giáo viên xin mỗi học viên viết đại ý, viết sự dạy dỗ, sự cảm động của bài học đó rồi nộp cho giáo viên vào tuần tới. Cách nầy sẽ giúp học viên tiến bộ mau chóng, đồng thời làm nền cho sự khen thưởng của giáo viên mỗi tháng hay mỗi ba tháng.

4. Nếu học viên vô tình ngồi rải rác, giáo viên nên mời họ ngồi lại gần nhau thành một nhóm nhỏ, như vậy sẽ khiến mỗi học viên chú ý nghe, giáo viên không cần phải nói lớn, khỏi làm ồn lớp học bên cạnh.

5. Nếu có một buổi học vì mưa gió, hoặc vì một việc bất thường nào mà chỉ có rất ít học viên, xin giáo viên cũng cứ giữ lớp mình, đừng bao giờ sáp nhập với một lớp khác. Dầu có một người vẫn dạy một bài học rất hay như Chúa Jêsus đã dạy cho Ni-cô-đem, cho người đàn bà Sa-ma-ri.

CÁCH SOẠN BÀI DẠY.

Trước hết giáo viên phải dọn lòng mình. Hãy xin Chúa ba điều:

1. Xin Chúa dạy con bài học nầy để con có thể dạy cho học viên.

2. Xin Chúa cảm động con qua lời của Ngài để khi con dạy, học viên cũng chịu cảm động.

3. Xin Chúa cho con thấy được nhu cầu của học viên trong lớp của con và con có sự khôn ngoan để biết dùng lời Ngài mà đáp ứng nhu cầu ấy.

Kế đó, bạn soạn bài dạy. Hãy nhớ bài học tuần qua và xem đại ý bài học tuần tới, để biết bạn đang ở đâu, trong khung cảnh nào. Vì luôn có một cái mốc giữa bài học nầy với bài học kia mà bạn phải móc lại. Sau đó soạn bố cục chi tiết để nhờ đó bạn có cái khung hướng dẫn bạn dạy tốt hơn vì có thứ tự và không lạc đề. Trong mỗi bài học có một vài điểm thích hợp với nhu cầu lớp bạn, phải nhấn mạnh điểm đó. Có điểm nào không rõ ràng, học viên khó hiểu, bạn nên dùng một thí dụ, một tranh ảnh để soi sáng. Mỗi bài học đều có mục đích ghi sẵn phần đầu, bạn dạy thế nào để đạt mục đích đó.

Một bữa cơm ngon phải do đầu bếp khéo. Dầu đầu bếp khéo, cũng cần phải chuẩn bị sẵn sàng. Khi bạn đã chuẩn bị sẵn sàng, hãy cậy ân điển và quyền năng của Chúa mà thi hành trách nhiệm. Được vậy chắc bạn luôn luôn thành công. Dạy Kinh Thánh là một đặc ân Chúa dành cho bạn. Trong cõi đời đời bạn mới lường hết giá trị của nó. Vậy xin bạn hãy tận dụng khả năng thì giờ vào việc này. Bạn sẽ không bao giờ hối tiếc.

CÁCH HƯỚNG DẪN CHƯƠNG TRÌNH

CỦA TRƯỞNG BAN TRƯỜNG CHÚA NHẬT.

Vì thì giờ có hạn, xin Trưởng ban Trường Chúa nhật vui lòng hướng dẫn phần đầu của chương trình như sau:

– Hát Thánh ca.

– Cầu nguyện.

– Đọc đoạn Kinh Thánh có ghi trong bài học.

Về phần kết luận, xin dành cho giáo viên mỗi lớp.

Trước khi chấm dứt giờ Trường Chúa nhật, xin Trưởng ban đưa ra một số câu hỏi để kiểm tra các lớp, rồi mời thư ký đọc sổ tổng kết các lớp học hôm đó. Trưởng ban có vài lời khuyến khích và thông báo bài học tuần tới.

*********

BÀI 1. HỌC BIẾT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

KINH THÁNH: Thi Thiên 136:1-9.

CÂU GỐC: “Ta là Đức Chúa Trời và chẳng có Chúa nào khác, Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta, Ta đã rao sự cuối cùng trong buổi đầu tiên và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên” (Ê-sai 46:9,10).

MỤC ĐÍCH: Giúp tín hữu nhận thức rằng Đức Chúa Trời cao cả có một chương trình và họ cũng nằm trong chương trình của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

Chúa nhật

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ TỪ BAN ĐẦU

(Thi Thiên 90:1-12)

Thứ Hai

SỰ DỰNG NÊN VŨ TRỤ

(Thi Thiên 19:1-14).

Thứ Ba

TRỜI VÀ ĐẤT ĐƯỢC DỰNG NÊN

(Ê-sai 40:12-22).

Thứ Tư

LỜI CHÚA THẬT LẠ LÙNG

(Thi Thiên 119:17-24).

Thứ Năm

LỜI CHÚA THẬT KỲ DIỆU

(Thi Thiên 119:97-104).

Thứ Sáu

ĐỨC CHÚA TRỜI BIẾT TÔI

(Thi Thiên 139:1-18).

Thứ Bảy

ĐỨC CHÚA TRỜI CAO CẢ

(Thi Thiên 136:1-9).

Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu và Hằng Hữu. Ngài có từ trước vô cùng và còn cho đến sau vô tận. Ngài là đấng đời đời. Đời đời là không có lúc bắt đầu cũng không có chấm dứt.

Chúng ta có thể học biết chương trình của Đức Chúa Trời qua ba nguồn tài liệu chính xác là vũ trụ, Kinh Thánh và Chúa Jêsus.

Ba nguồn tài liệu trên như ba pho sách của một tác giả, nên lời lẽ và tư tưởng trong ba pho sách này không hề mâu thuẫn nhau mà bổ túc cho nhau. Chúng ta cũng có thể hiểu biết Đức Chúa Trời và không sợ sai lầm bằng cách dựa vào ba nguồn tài liệu đó.

Hôm nay chúng ta học về chương trình của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong vũ trụ và trong Kinh Thánh.

I. CHƯƠNG TRÌNH VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG VŨ TRỤ BAO LA:

Kinh Thánh chép “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng 1:1). Kinh Thánh quả quyết Đức Chúa Trời thực hữu và thực hữu từ ban đầu.

Ngài là Số Một (1), trước Ngài chỉ có số (0). Ngài đã dựng nên vũ trụ. Trong Thi Thiên 136:1-3, tác giả tôn xưng Chúa bằng ba danh hiệu “Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các thần, Chúa của muôn Chúa”.

(1) ĐỨC GIÊ-HÔ-VA – ĐỨC GIÊ-HÔ-VA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU (Xuất 3:15): Đức Giê-hô-va là Đấng dựng nên trời đất.

(2) ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA CÁC THẦN: Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá duy nhất. Mọi người, mọi vật, cả đến Thiên Sứ đều là loài thọ tạo của Ngài (Nê-hê-mi 9:6).

(3) CHÚA CỦA MUÔN CHÚA: Đây chỉ về quyền cai trị của Ba Ngôi Đức Chúa Trời trên muôn loài, muôn nước, muôn dân (Khải Huyền 19:16).

Tiếp theo, tác giả cảm tạ Chúa, ca ngợi Chúa, vì chỉ một mình Ngài làm nên các phép lạ lớn lao (câu 4). Công việc của Chúa thật kỳ diệu, lớn lao quá đến nỗi viễn vọng kính cũng không khám phá ra hết được, và nhỏ li ti đến nỗi kính hiển vi cũng không thấy rõ được.

Khi đứng dưới chân núi hay bên bờ đại dương, chúng ta cảm thấy mình chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong quả đất nhỏ nầy của vũ trụ. Kể ra quả đất của chúng ta cũng khá lớn, chẳng mấy ai trong chúng ta đã đi vòng quanh nó. Song mặt trời lớn hơn quả đất một triệu ba trăm ngàn lần. Dầu vậy, mặt trời so với các thiên thể khác chỉ là một hạt cát trong sa mạc. Trong ngân hà của chúng ta có 25 triệu mặt trời. Ngoài ra còn có các ngôi sao đường kính 240 triệu dặm và có đến hàng tỉ ngôi sao như thế, không thể nào đếm hết được. Lại từ ngôi sao nầy đến ngôi sao kia xa quá, nên người ta phải đo bằng tốc độ ánh sáng. Mỗi giây đồng hồ ánh sáng đi 300.000 cây số. Với tốc độ đó ánh sáng đi từ quả đất đến mặt trăng chỉ hơn 11 giây. Song ánh sáng phải đi mất nhiều năm mới từ quả đất đến giải ngân hà gần nhất, và còn bao nhiêu là ngân hà khác nữa. Thế thì vũ trụ bao la vô cùng!

Bây giờ chúng ta hãy nghe khoa học kể những sinh vật li ti của vũ trụ. Khi nói đến một vật nhỏ, chúng ta thường nói nhò như con kiến, song vi trùng còn nhỏ hơn mà mắt trần không thấy được. Thế mà nguyên tử còn nhỏ hơn nữa. Trong một giọt nước mà chúng ta thường uống có chừng một trăm triệu nguyên tử. Vậy nguyên tử nhỏ là dường nào!

Tóm lại, một giáo sư đại học đã viết: “Đối với một nhà thiên văn điều đáng chú ý hơn hết về vũ trụ không phải là sự bao la của nó, không phải là sự lâu dài của nó, cũng không phải sức mãnh liệt đang hành động trong nó. Điều làm cho nhà thiên văn cảm động và sợ hãi là cái yếu tố trật tự. Từ một vệ tinh nhỏ xíu của thái dương hệ đến những ngân hà mênh mông vượt quá sự hiểu biết của chúng ta thì không có một dấu vết nào của sự hỗn độn, chẳng hề có sự ngẫu nhiên hay bất thường. Trật tự của vũ trụ là sự khám phá tuyệt đỉnh của khoa học.”

Một giáo sư khác viết: “Vũ trụ không phải do kết quả của một định luật đui mù, nhưng là sự sắp đặt bởi một trí thông minh vĩ đại đó là Đấng Tạo Hoá, là Đức Chúa Trời”.

Chúa dựng nên vũ trụ là công việc vĩ đại, Chúa cứu chuộc loài người còn vĩ đại hơn biết bao! Từ chỗ hư vô, Chúa đã dùng lời phán của Ngài mà dựng nên vũ trụ bao la. Song để cứu chuộc loài người, Chúa phải giáng hạ trần gian, nếm trải trăm ngàn cay đắng, thậm chí phải chết trên cây thập tự và sống lại. Vậy, nếu chúng ta cảm tạ và ca ngợi Chúa về công việc của Ngài đã dựng nên vũ trụ thì chúng ta càng phải cảm tạ và ca ngợi Ngài muôn lần hơn về công việc vĩ đại của Ngài đã cứu chuộc chúng tôi. “Vì sự nhân từ Ngài, còn đến đời đời”.

II. CHƯƠNG TRÌNH KỲ DIỆU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG KINH THÁNH LẠ LÙNG:

Mục đích của Kinh Thánh không phải để dạy khoa học, song khi đề cập đến lĩnh vực khoa học, Kinh Thánh nói chính xác. Vì như trên đã tỏ: Vũ trụ và Kinh Thánh là hai pho sách của cùng một tác giả, hai nguồn khải thị của Đức Chúa Trời. Vũ trụ và Kinh Thánh không hề có sự mâu thuẫn. “Bị thử nghiệm bởi vũ trụ học, thiên văn học, địa chất học, động vật học, sinh lý học, cơ thể học, vật lý học… Kinh Thánh chứng minh sự tri thức, khôn ngoan siêu phàm của mình.

Vào thế kỷ 11, có hai nhà thiên văn tưởng có thể đếm hết các ngôi sao trên trời nên đã cho Kinh Thánh nói sai, vì Chúa phán với Áp-ra-ham: “Ngươi hãy ngó lên trời và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi!!! Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy” (Sáng 15:5). Ngày nay nhờ chế tạo được viễn vọng kính cực mạnh, thấy thật xa, các nhà thiên văn đã thú nhận không thể nào đếm hết các ngôi sao. Thế thì tại khoa học khám phá chưa tới chớ không phải là Kinh Thánh nói sai.

Trong khi các khoa học gia thuở xưa nghĩ rằng quả đất là một mặt phẳng thì Kinh Thánh đã chép: “Chúa trải bắc cực ra trên vùng trống, treo trái đất trong khoảng không” (Gióp 6:27), và Đức Chúa Trời là “Đấng ngự trên vòng trái đất nầy” (Ê-sai 40:22). Vậy, khoa học ngày càng tiếng bộ càng chứng minh Kinh Thánh nói đúng.

Sự khải thị của Đức Chúa Trời trong vũ trụ vật chất và sự khải thị của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là hai phương diện của một sự khải thị. Sự khải thị của Đức Chúa Trời trong thiên nhiên không hề mâu thuẫn với sự khải thị của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Thỉnh thoảng có điều dường như mâu thuẫn giữa khoa học là phương pháp giải thích thiên nhiên, với thần học là phương pháp giải thích Kinh Thánh, là vì một trong hai phương pháp giải thích đó sai lầm. Vấn đề căn bản của sự xung đột giữa Cơ Đốc giáo và khoa học nằm trong địa hạt giải thích. Mới đây, một nhà khoa học về không gian đã nói: “Càng đi xa hơn trong việc thăm dò không gian, đức tin của tôi càng sâu nhiệm”.

Kinh Thánh không những lạ lùng về sự chân xác, nhưng còn lạ lùng về nhiều phương diện khác:

– Nội dung hiệp nhất của Kinh Thánh: Đức Chúa Trời đã dùng gần bốn chục trước giả, sống trong khoảng thời gian 1500 năm ở Châu Âu, Á và Phi để viết 66 quyển trong Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh không hề có sự mâu thuẫn mà cả nội dung hiệp nhất trên thế giới.

– Sự ứng nghiệm các lời tiên tri: Kinh Thánh chứa đựng hàng ngàn lời tiên tri, các lời tiên tri của Kinh Thánh được tuyên bố rỏ ràng và chi tiết. Hầu hết các lời tiên tri của Kinh Thánh – ngoại trừ các lời tiên tri về cõi lai thế sẽ xảy ra mai sau – đều đã và đang được ứng nghiệm. Lạ lùng nhất vẫn là lời tiên tri về Đấng Cứu Thế Giê-xu đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

– Quyền năng biến cải lòng người của Kinh Thánh: Kinh Thánh có quyền năng biến cải con người cách lạ lùng. Một vị tù trưởng nổi tiếng man dã của Phi Châu đã nói với một người Anh khi người nầy chê bai ông đọc Kinh Thánh: “Thưa ông, nếu không nhờ quyển Kinh Thánh mà ông chê là cổ xưa và không giá trị đó thì bây giờ ông đã ở trong bụng tôi rồi”.

– Kinh Thánh một quyển sách lạ lùng về chương trình cứu rỗi nhân loại: Ngay khi con người đầu tiên phạm tội thì Đức Chúa Trời đã hoạch định chương trình cứu rỗi nhân loại qua Con Ngài là Chúa Jêsus và được chép trong Kinh Thánh. Cảm tạ Chúa về chương trình kỳ diệu của Ngài.

Đức Chúa Trời có một chương trình là bày tỏ chính mình Ngài cho chúng ta biết. Qua vũ trụ và Kinh Thánh, không những chúng ta biết Chúa là Đấng Hằng Hữu, quyền năng, vinh hiển, thánh khiết, hơn nữa, chúng ta còn biết Ngài rất mực yêu thương chúng ta. Vậy, chúng ta hãy dâng mình cho Ngài, để dự vào chương trình của Ngài là đem tình thương cho kẻ khác. (Hãy kêu gọi mọi học viên cầu nguyện dâng minh cho Chúa ngay bây giờ).

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời Hằng Hữu có nghĩa gì?

2. Đức Chúa Trời được bày tỏ cho chúng ta qua ba nguồn nào?

3. Tại soa chúng ta dám quả quyết rằng vũ trụ và Kinh Thánh không hề mâu thuẫn nhau?

4. Hãy nhắc lại một điều chứng minh vũ trụ thật bao la?

5. Điều gì trong vũ trụ làm cho các nhà thiên văn phải cảm động và sợ hãi?

6. Tại sao chúng ta biết Kinh Thánh viết không ai có thể đếm được các ngôi sao là đúng?

7. Ở chổ nào trong Kinh Thánh chép quả đất tròn?

8. Xin cho biết về nội dung hiệp nhất của Kinh Thánh?

9. Điều chứng tỏ tính cách hợp thời của Kinh Thánh?

10. Chúng ta phải làm gì để dự phần vào chương trình của Chúa?

BÀI 2. VỊ KIẾN TRÚC SƯ THIÊN THƯỢNG

KINH THÁNH: Thi Thiên 139:1-12.

CÂU GỐC: “Hầu cho các ngươi được biết và tin Ta, và hiểu Ta là Chúa! Chẳng có Đức Chúa Trời nào tạo thành trước Ta và cũng chẳng có sau Ta nữa” (Ê-sai 43:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy về đặc tính của Ba Ngôi Đức Chúa Trời và sự thờ phượng Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HÀNG NGÀY

CN:

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ MỘT KHÔNG HAI

(Phục 6:4; Ê-sai 44:6-8, ICôr 8:4-6; ITi 2:5).

TH:

ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI

(Mat 3:16-17; 28:19; ICôr 12:3-6; Ê-phê-sô 4:4-6, IICôr 13:13).

TB:

ĐỨC CHÚA TRỜI BIẾT MỌI ĐIỀU

(Thi 139:1-6; Ê-sai 48:5-8).

TT:

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM ĐƯỢC MỌI SỰ

(Thi 107:25-29; 139:14-18).

TN:

ĐỨC CHÚA TRỜI Ở KHẮP MỌI NƠI

(Thi 139:7-12; Giê-rê-mi 23:23-24; Công vụ 17:23-28).

TS:

ĐỨC CHÚA TRỜI YÊU THƯƠNG LẠ LÙNG

(IGiăng 4:8-16).

TB:

CHỈ THỜ PHƯỢNG MỘT MÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI

(Ê-sai 6:1-8)

(xin học viên đọc các khúc Kinh Thánh trên đây để hiểu được bài học).

Nầy anh nói sao? Không có Đức Chúa Trời à? Chắc anh cho một chiếc đồng hồ tự nhiên mà có, không cần ai chế tạo? Hay một toà nhà không cần kiến trúc sư mà tự nhiên được xây lên? Hoặc một khu vườn trù phú mà chẳng cần bàn tay siêng năng của người chủ? – Thưa anh, không hề có như vậy được. Trái lại, muốn có một chiếc đồng hồ phải có người thợ chế tạo, muốn có một toà nhà phải có một kiến trúc sư xây nên, muốn có một khu vườn trù phú thì phải có bàn tay siêng năng của người chủ. Đó là những việc nhỏ, việc thường, phương chi trời đất bao la mà không có Đấng Tạo Hoá làm nên? Chắc chắn phải có Đấng Tạo Hoá là kiến trúc sư Thiên Thượng, là Đức Chúa Trời. “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng có vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3).

Có người hỏi vị tù trưởng của bộ lạc du mục ở sa mạc rằng: Làm sao ông có thể tin Đức Chúa Trời thực hữu trong khi ông chưa bao giờ thấy Ngài? Ông đáp: “Sáng nay, khi ra khỏi lều, tôi thấy dấu chân của con lạc đà in trên cát. Tôi không thấy con lạc đà, nhưng chắc chắn là đã có một con lạc đà đi qua. Cũng vậy, khi xem muôn vật đã được dựng nên tôi tin rằng phải có Đấng Tạo Hoá”.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng vị kiến trúc sư thiên thượng đã dựng nên trời đất là Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Khi làm nên loài người, Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình chúng ta và theo ảnh tượng chúng ta” (Sáng 1:26). Sau khi loài người phạm tội, Đức Chúa Trời phán: “Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta” (Sáng 3:22). Khi loài người quyết định xây tháp BA-bên, Đức Chúa Trời phán: “Thôi chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó” (Sáng 11:7). Chữ “chúng ta” có nghĩa là từ hai người trở lên. Nếu chúng ta tham khảo các chỗ khác trong Kinh Thánh thì biết rằng Đức Chúa Trời có Ba Ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.

Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiện diện khi Chúa Jêsus chịu báp têm (Ma-thi-ơ 3:16-17). Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiện diện mỗi khi có tín đồ chịu báp têm (Ma-thi-ơ 28:19). Ba Ngôi Đức Chúa Trời đồng công gây dựng Hội Thánh (ICôr 12:3-6; Ê-phê-sô 4:4-6; IICôr 13:13). Ba Ngôi Đức Chúa Trời đồng công cứu rỗi tội nhân (IPhi-e-rơ 1:2; Giu-đe 20,21).

Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời (Giăng 6:27; IPhi-e-rơ 1:2), Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1; Tít 2:13; Hê-bơ-rơ 1:8). Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời (Công vụ 5:3,4; ICôr 6:19). Ba Ngôi hiệp một song không hề lẫn lộn, Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Con, Đức Chúa Con không phải là Đức Thánh Linh, Đức Thánh Linh không phải là Đức Chúa Cha. Không phải có 3 Đức Chúa Trời song cả Ba Ngôi là Đức Chúa Trời có một không hai, bình đẳng về thời gian, quyền năng, địa vị.v.v…

Lẽ đạo Ba Ngôi Đức Chúa Trời rất mầu nhiệm, chúng ta không hiểu thấu được. Kinh Thánh không giải thích là vì ngôn ngữ của loài người không đủ và trí óc của loài người không tiếp thu nổi. Ví dụ, trẻ con cũng hưởng được lợi ích của điện như ánh sáng đèn, phòng lạnh, tủ lạnh máy thu thanh, máy truyền hình, nhưng chúng không hiểu được làm thế nào có như vậy. Nếu một kỹ sư điện muốn giải thích cho chúng hiểu cũng không được, cho đến chừng nào chúng lớn và học về điện. Bây giờ chúng ta cứ tin để được phước rồi ngày nào đó, chúng ta sẽ gặp Chúa mặt đối mặt, chừng đó chúng ta sẽ hiểu về Đức Chúa Trời Ba Ngôi và nhiều lẽ mầu nhiệm khác nữa.

II. ĐẶC TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Kinh Thánh tỏ cho chúng ta biết vị Kiến Trúc Thiên Thượng có những đặc tánh kỳ diệu đáng cho chúng ta kính mến, tôn thờ trọn đời mình.

1. Đức Chúa Trời là Thần (Giăng 4:24): Chúa Jêsus đã giải thích “Thần thì không có thịt xương” (Lu-ca 24:39). Vì vậy, chúng ta không thể thấy được Đức Chúa Trời bằng mắt xác thịt, song có thể thấy Ngài bằng mắt tâm linh, mắt đức tin. Phi-e-rơ viết: “Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến, dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển” (IPhi-e-rơ 1:8).

2. Đức Chúa Trời Vô Hạn Lượng (Thi Thiên 145:3): Con người thì hữu hạn và tùy thuộc thời gian và không gian, bị công lệ thiên nhiên chi phối. Song Đức Chúa Trời vô hạn lượng, vì Ngài đã dựng nên vũ trụ và điều khiển vũ trụ. Ngài thực hữu trước vũ trụ, ngoài vũ trụ và hằng hữu sau khi vũ trụ qua đi. Vì vậy, vũ trụ không thể chứa được Ngài, trời là ngôi của Ngài, đất là bệ chơn của Ngài (ICác 8:27; Ê-sai 66:1).

3. Đức Chúa Trời Không Hề Thay Đổi (Hê-bơ-rơ 13:8): Con người luôn luôn thay đổi hoặc xấu hơn hay tốt hơn, hoặc thoái hoá hay tiến bộ, song Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi, vì Ngài toàn thiện, không cần phải lo thất vọng. Chúa phán “Ta là Đức Giê-hô-va, Ta không hề thay đổi” (Ma-la-chi 3:6).

4. Đức Chúa Trời Toàn Tri (Thi Thiên 139:1-6): Trước khi sáng thế, Chúa đã biết ngày tận thế, vì Ngài là căn nguyên của vũ trụ. Không có việc gì xảy ra là ngẫu nhiên cho Chúa cả. Đối với Chúa, không có việc gì là kín đáo, song mọi việc đều tỏ tường. Ngài biết tất cả tư tưởng trong lòng chúng ta ngay khi chúng ta chưa nói ra một lời nào. Có hàng tỉ tỉ ngôi sao không ai đếm được, song “Ngài đếm số các vì sao, gọi từng tên hết thảy các vì sao ấy… sự thông sáng của Ngài vô cùng, vô tận” (Thi Thiên 147:4-5).

5. Đức Chúa Trời Toàn Tại (Thi Thiên 139:7-12): Cùng một lúc Chúa hiện diện ở khắp mọi nơi. Dầu trên trời hay dưới đất, chẳng có nơi nào không có Chúa. Con người không thể trốn ở đâu cho khỏi sự hiện diện của Ngài. Song con cái Chúa thật là sung sướng vì vô luận họ ở đâu, nếu là trong thánh ý của Chúa, thì tại đó tay Ngài dẫn dắt, gìn giữ họ luôn.

6. Đức Chúa Trời Toàn Năng (Ma-thi-ơ 19:26): Chúa phán: “Ta là Đức Chúa Trời toàn năng” (Sáng 17:1). “Ôi hỡi Đức Giê-hô-va! Chính Ngài đã dùng quyền phép lớn lao và cánh tay giơ ra mà làm nên trời và đất, chẳng có sự gì khó quá cho Ngài cả” (Giê-rê-mi 32:17). Vì vậy Ngài có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin và suy tưởng.

7. Đức Chúa Trời Yêu Thương Lạ Lùng (Giăng 3:16): Chúa giàu lòng thương xót cho đến nỗi không tiếc chính Con độc sanh của Ngài, nên nhờ đó chúng ta được cứu rỗi. Sau khi được cứu rỗi, Chúa còn thương yêu chúng ta nhiều hơn. Dầu Ngài yêu thương cả thế gian, song yêu thương con cái Ngài cách đặc biệt hơn mẹ thương con (Ê-sai 49:15).

Chúng ta có lấy làm hãnh diện về Cha của chúng ta là vị Kiến Trúc sư Thiên Thượng không? Bây giờ chúng ta phải làm gì? Chúa Jêsus phán: “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi. Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (Ma-thi-ơ 4:10; 22:37). Chúng ta hãy xem đời sống mình để chứng minh cho thế gian biết về Cha của chúng ta cũng như vũ trụ, Kinh Thánh và Chúa Jêsus đã chứng minh vậy (Ma-thi-ơ 5:16).

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta tin rằng đã có Đấng Tạo Hoá dựng nên vũ trụ?

2. Đức Chúa Trời có mấy ngôi? Những ngôi đó là ai?

3. Những câu Kinh Thánh nào chép về Đức Chúa Trời Ba Ngôi?

4. Tại sao chúng ta không hiểu thấu lẽ đạo Đức Chúa Trời Ba Ngôi?

5. Đức Chúa Trời vô hạn lượng có nghĩa gì?

6. Thế nào là Đức Chúa Trời không hề thay đổi?

7. Đức Chúa Trời toàn tri là gì?

8. Đặc tính toàn tại của Đức Chúa Trời đã khích lệ bạn như thế nào?

9. Bạn phải sống với người khác như thế nào để xứng đáng với Đức Chúa Trời yêu thương đang ở trong bạn?

10. Chúng ta phải làm gì đối với Chúa chúng ta?

BÀI 3. KINH THÁNH BÀY TỎ CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: I Cô-rinh-tô 2:9-15.

CÂU GỐC: “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (IIPhi-e-rơ 1:21).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng chương trình của Đức Chúa Trời qua các thời đại chỉ được bày tỏ trong Kinh Thánh mà thôi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

CHƯƠNG TRÌNH VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi Thiên 95:1-5).

TH:

CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA CHO DÂN SỰ NGÀI

(Giô-suê 1:7-9).

TB:

CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA CHO CƠ ĐỐC NHÂN

(Cô-lô-se 3:14-17).

TT:

ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGÀI QUA ĐỨC THÁNH LINH

(I Cô-rinh-tô 2:9-15).

TN:

ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGÀI QUA ĐỨC CHÚA JÊSUS

(Giăng 1:1-4,14).

TS:

LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC SOI DẪN

(Giăng 7:14-17; II Ti 3:16).

TB:

LUẬT PHÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ TOÀN HẢO

(Thi Thiên 19:7-11).

Như chúng ta đã học, Kinh Thánh là một trong ba nguồn khải thị của Đức Chúa Trời. Qua cõi thiên nhiên chúng ta chỉ có thể biết Đức Chúa Trời là Đấng quyền năng vô cùng, khôn khéo lạ lùng, thông minh tuyệt đối. Song nhờ Kinh Thánh, chúng ta mới biết Ngài cũng là Đấng nhân ái, thánh khiết, thành tín, không hề thay đổi, hằng sống đời đời và nhất là không muốn một ai hư mất mà muốn mọi người được cứu rỗi. Vì Đức Chúa Trời đã bày tỏ chương trình của Ngài trong Kinh Thánh, nên chúng ta phải biết Kinh Thánh như thế nào?

I. KINH THÁNH CHÂN THẬT.

“Sự tổng cộng Lời của Chúa là chân thật, các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời” (Thi Thiên 119:160). Kinh Thánh không bao giờ sai lầm, chẳng hề thay đổi, đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho đời sống đức tin của chúng ta.

Toàn bọ Kinh Thánh là một thư viện có 66 quyển, được trước thuật bởi 40 trước giả trong khoảng thời gian 1500 năm. Quyển cuối cùng được viết khoảng năm 80 sau Chúa giáng sinh. Các trước giả sống trong những thời đại khác nhau, làm những chức vụ khác nhau, thuộc những giai tầng xã hội khác nhau, nói những thứ tiếng khác nhau. Họ gồm có vua, quan, thầy tế lễ, thầy thông giáo, kẻ chăn chiên, văn sĩ, sử gia, luật gia, y sĩ, thâu thuế, ngư phủ,..v..v.. Dầu vậy, tư tưởng của Kinh Thánh từ trang nhất đến trang cuối cùng đều hòa hợp nhau trọn vẹn, vì thật ra chỉ có một tác giả soi dẫn và điều khiển là Đức Thánh Linh.

Cả Kinh Thánh từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền có một sứ điệp duy nhất là sự giáng sinh, sự giảng dạy, sự chết, sự sống lại và về trời của Cứu Chúa Jêsus Christ để cứu vớt tội nhân. Tất cả sự việc xảy ra đều xoay quanh cái trục vĩ đại đó. Chúa Jêsus đã phán với người Do-thái: “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời, ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy” (Giăng 5:39). Với hai môn đồ tại Em-ma-út “Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kể đến mọi Đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong Kinh Thánh” (Lu-ca 24:27). Với các sứ đồ, Ngài phán: “Ấy đó là điều mà khi Ta còn ở với các ngươi, Ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về Ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghi” (Lu-ca 24:44).

Tất cả mọi người đều có tội, nên cũng chỉ được cứu rỗi bằng một phương pháp duy nhất là tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của riêng mình. Về sự cứu rỗi, không hề có thời đại này khác thời đại kia, phương trời này khác phương trời nọ. “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời và chỉ có một Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người. Ngài đã phó chính mình làm giá chuộc cho mọi người” (ITi 2:5-6).

II. KINH THÁNH ĐƯỢC SOI DẪN.

Câu gốc của bài học này dạy rằng: “Ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời”. Phao-lô quả quyết: “Cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn…” (IITi 3:16). Vậy, Đức Thánh Linh soi sáng, dẫn dắt để các trước giả viết cách chính xác, không sai lầm sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho họ, hầu truyền lại cho loài người.

Trong Cựu Ước có đến 3800 lần những chữ “Đức Giê-hô-va phán” hoặc “Đức Chúa Trời phán”. Chỉ trong sách Lê-vi Ký đã có đến 50 lần lặp lại những chữ “Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se”. Đa-vít nói: “Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng Ta mà phán, và lời của Ngài ở nơi lưỡi Ta” (I Sa-mu-ên 23:2). Các tiên tri từ Ê-sai đến Ma-la-chi, các sứ đồ Phao-lô, Phi-e-rơ, Giăng đều quả quyết rằng Đức Chúa Trời đã phán cho họ.

Một trong những bằng cớ chính xác minh chứng Kinh Thánh được soi dẫn là các lời tiên tri. Các lời tiên tri trong Cựu Ước về Chúa Jêsus đã được ứng nghiệm trọn vẹn trong Tân Ước. Nhất là bốn sách Tin Lành và sách Công Vụ Các Sứ Đồ luôn luôn lặp lại những chữ “để được ứng nghiệm lời tiên tri”. Chúa giáng sinh bởi một nữ đồng trinh (Ma-thi-ơ 1:22-23), tại thành phố Bết-lê-hem nước Do-thái (Ma-thi-ơ 2:1-6), lánh nạn qua Ê-díp-tô (Ma-thi-ơ 2:13-15), con trẻ tại Bết-lê-hem bị giết (Ma-thi-ơ 2:16-18), Chúa về Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:23), Giăng Báp-tít dọn đường Chúa Ngài (Ma-thi-ơ 3:1-3), Chúa bắt đầu chức vụ (Ma-thi-ơ 4:12-16), chữa lành mọi tật bệnh (Ma-thi-ơ 8:17), giảng dạy một cách có quyền (Ma-thi-ơ 12:17-21; 13:14-15,35; 15:7-8), vào thành Giê-ru-sa-lem (Ma-thi-ơ 12:4-5), Chúa bị phản bội (Giăng 13:18), bị bán với giá 30 miếng bạc (Ma-thi-ơ 27:9-10), chịu chết (Giăng 13:18,36-37), sống lại (Công Vụ 2:24-28), thăng thiên (Công Vụ 2:32-35)…

Nhưng bằng chứng thiết thực và hiển nhiên hơn hết là kinh nghiệm của tín đồ trải qua mọi thời đại còn đến ngày nay. Hễ ai vâng theo lời Kinh Thánh mà ăn năn tội, tin nhận Chúa Jêsus thì được tha thứ, được tái tạo, được sự sống mới, có một đời mới. Suốt cuộc đời theo Chúa họ sống bằng lời Kinh Thánh như: Đọc, suy gẫm và cẩn thận làm theo. Mọi lời hứa của Chúa trong Kinh Thánh đều ứng nghiệm trọn vẹn cho họ, khiến ai nấy giống “như cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo” (Thi Thiên 1:2-3) hay giống “như cây trồng nơi bờ suối, đâm rể theo dòng nước chảy, ngộ khi trời nắng chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì mà cứ ra trái không dứt” (Giê-rê-mi 17:7-9).

III. KINH THÁNH BÀY TỎ.

Từ khi con người sa vào tội lỗi, con người đã trở nên dốt nát, không biết được bản chất và số phận của mình. Con người từ đâu mà đến? Con người hiện hữu với mục đích gì? Tại sao con người phải đau khổ, phải chết? Cuối cùng con người phải đi đâu? con người không thể trả lời các câu hỏi đó.

Chỉ có Kinh Thánh là Lời của Đấng Tạo Hoá, nên Kinh Thánh đã giải toả tất cả các câu hỏi nêu trên. Kinh Thánh là một bức ảnh chụp chung, nên ai nấy có thể nhìn thấy hình ảnh của mình trong đó. Kinh Thánh là một gương soi kỳ diệu, nên mọi người có thể thấy lòng mình phản chiếu vào đó. Đấng đã viết Kinh Thánh cũng là Đấng dựng nên con người, nên Ngài biết hết những gì trong con người. Vì vậy Kinh Thánh đã chỉ cho chúng ta con đường cứu rỗi duy nhất. Chúa phán: “Ấy chính Ta là Đấng đã rao truyền, đã giải cứu và đã chỉ bảo…” (Ê-sai 43:12).

Nếu Đức Chúa Trời không khải thị, loài người chẳng biết chi về chương trình của Ngài. Nếu không nhờ Kinh Thánh thì ai có thể biết được nguồn gốc của trời, đất, muôn vật và loài người? Ai có thể biết được tại sao loài người phải đau khổ mà chết? Ai có thể biết được loài người sanh ra để làm gì rồi chết sẽ đi về đâu? nếu không nhờ Kinh Thánh thì ai có thể biết được “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời?” Nếu không nhờ Kinh Thánh thì ai có thể biết cách nào để sống một đời sống thánh khiết, một nếp sống hạnh phúc mỗi ngày? Qua Kinh Thánh chúng ta còn có thể biết nhiều điều khác tương quan đến quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta. Vì tất cả chương trình của Đức Chúa Trời đối với nhân loại đều chép trong Kinh Thánh.

Thế thì chúng ta phải có thái độ nào với lời Chúa? “Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi.” “Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi. Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy” (Thi Thiên 119:105; 103:97).

CÂU HỎI

1. Cõi thiên nhiên cho chúng ta biết gì về Chúa? Kinh Thánh cho biết gì về Chúa nữa?

2. Kinh Thánh có bao nhiêu quyển? Các quyển đo do bao nhiêu người khác trước thuật?

3. Những người trước thuật Kinh Thánh có điều gì khác nhau?

4. Tại sao Kinh Thánh do nhiều người, ở nhiều nơi, thuộc nhiều thời đại đã trước thuật mà không hề có sự trái nhau?

5. Sứ điệp duy nhất của Kinh Thánh là gì?

6. Điều gì tỏ ra Kinh Thánh được Đức Thánh Linh soi dẫn?

7. Nhờ đâu mà chúng ta biết được nguồn gốc của vũ trụ?

8. Phương pháp duy nhất để cứu rỗi toàn thể con người là gì?

9. Người vâng theo lời Kinh Thánh sẽ được gì?

10. Thái độ của chúng ta đối với lời Chúa là gì?

BÀI 4: THIÊN SỨ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 1:1-14.

CÂU GỐC: “Hỡi hết thảy những thiên sứ Ngài, hãy ngợi khen Ngài… cả thảy khá khen ngợi Đức Giê-hô-va, vì Ngài ra lệnh, thảy bèn được dựng nên” (Thi Thiên 148:2-5).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta biết nhiệm vụ của thiên sứ trong chương trình của Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

THIÊN SỨ THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI

(Nê-hê-mi 9:6; Phi-líp 2:11; Hêb 1:1-6).

TH:

THIÊN SỨ LÀ NHỮNG THẦN LINH HẦU VIỆC

(Công 12:7-11; 27:23,24; Hêb 1:7-14).

TB:

THIÊN SỨ RAO TRUYỀN Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Đa-ni-ên 2:15-17; 9:20-23; 12:1-7).

TT:

THIÊN SỨ THI HÀNH Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Dân 22:21-35; Ma-thi-ơ 13:39-42).

TN:

THIÊN SỨ HẦU VIỆC CHÚA JÊSUS CHRIST

(Mat 4:11; Lu-ca 22:39-45).

TS:

THIÊN SỨ LÀ TÔI TỚ CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST

(Ê-phê-sô 1:20,22; Cô-lô-se 1:15-17; 2:10).

TB:

THIÊN SỨ SẼ ĐI THEO CHÚA JÊSUS KHI NGÀI TÁI LÂM

(Ma-thi-ơ 16:27,25,31; Mác 8:38).

Chúng ta ít biết về thiên sứ, nên có người ước ao được như thiên sứ. Có sự khác nhau giữa chúng ta và thiên sứ. Thiên sứ không phải là nam, cũng không phải là nữ, nên giữa vòng họ không có hôn nhân.

Khi chúng ta từ kẻ chết sống lại, hay được biến hoá khi Chúa tái lâm, chúng ta sẽ có cuộc sống như thiên sứ, là không cần hôn nhân nữa (Ma-thi-ơ 22:30). Đức Chúa Trời dựng nên loài người kém hơn thiên sứ về quyền năng và vinh hiển, song thiên sứ được dựng nên để phục vụ như một đầy tớ, còn loài người được dựng nên để tương giao với Ngài như con cái. Thế thì loài người quý trọng hơn thiên sứ, nhất là các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian và thiên sứ (ICôr 6:23).

I. QUYỀN NĂNG VÀ ĐẶC TÁNH CỦA THIÊN SỨ.

1. Quyền Năng Của Thiên Sứ (IITê 1:7; IIPhi-e-rơ 2:11): Hai câu Kinh Thánh nầy nói rằng thiên sứ có quyền năng và sức mạnh. Thật vậy, một thiên sứ chỉ trong một đêm có thể giết chết 185.000 quân A-si-ri có đầy đủ vũ khí và sẵn sàng chiến đấu (IICác 19:35). Ban đêm, một thiên sứ đã mở cửa khám cho các sứ đồ ra khỏi đó. Sáng hôm sau, người ta thấy khám đóng kỹ và lính canh đang đứng trước cửa (Công Vụ 5:19). Một thiên sứ tháo xiềng, mở ngục cho Phi-e-rơ ra khỏi, dầu ông đang ngủ giữa hai tên lính, bên ngoài vẫn canh phòng cẩn mật (Công 12:7). Một thiên sứ đã đánh chết vua Hê-rốt, vì ông nầy không nhường sự vinh hiển cho Chúa (Công 12:23). Còn nhiều việc khác như vậy bày tỏ quyền năng của thiên sứ.

2. Vinh Hiển Của Thiên Sứ: Khi Chúa Jêsus giáng sanh, một thiên sứ đến báo tin cho các mục đồng, vì vinh hiển của thiên sứ chói lòa nên các mục đồng rất sợ hãi (Lu-ca 2:9). Khi Chúa sống lại, một thiên sứ hiện ra tại phần mộ, với hình dung sáng như chớp, áo trắng như tuyết, làm bọn lính canh ngã lăn ra như người chết (Mat 28:2,3). Khi Chúa Jêsus tái lâm sẽ có các thiên sứ đến cùng với Ngài trong sự vinh hiển (Lu-ca 9:26). Đó là vài điểm nói lên sự vinh hiển của thiên sứ.

3. Phẩm Trật Của Thiên Sứ: Các thiên sứ ở trên trời (Mat 23:30). Song mỗi vị có các thứ bậc riêng (Giu-đe 6). Thiên sứ trưởng là Mi-chên cũng gọi là Micaên đã chôn xác Môi-se (Giu-đe 9; Khải 12:7). Gápriên là thiên sứ quan trọng đã báo tin Giăng Báp-tít ra đời và Chúa Jêsus giáng sinh (Lu-ca 1:19,26). Khi có những thiên sứ bỏ phẩm trật, tức là phá kỷ luật, sống vô trật tự, thì đã bị đuổi xuống khỏi trời và trở thành ma quỷ

4. Số Lượng Thiên Sứ: Đức Chúa Trời đã dựng nên vô số thiên sứ, không sao đếm hết được (Hêb 12:22; Khải 5:11). Thiết tưởng mọi con cái Chúa có ít nhất là một thiên sứ bảo vệ (Mat 18:10) và có thể có nhiều hơn nữa (Thi Thiên 34:7).

5. Cách Chúng Ta Đối Với Các Thiên Sứ: Các thiên sứ dầu là thuộc giới thần linh, song có nhiều lúc họ hiện ra mà loài người thấy được. Có nhiều người đã nói chuyện với thiên sứ như Áp-ra-ham, Lót, Xa-cha-ri, Ma-ri, Ma-đơ-len (Giăng 20:11,12).

a. Không nên thờ lạy thiên sứ: Thờ lạy thiên sứ là một sai lầm lớn (Cô-lô-se 2:18). Thiên sứ không bao giờ dám nhận sự thờ lạy của ai. Qua dị tượng Giăng thấy tại cù lao Bát-mô, đã hai lần ông muốn thờ lạy thiên sứ, song bị từ chối hẳn (Khải 19:10; 22:8,9). Các thiên sứ đều thờ lạy Chúa (Hê-bơ-rơ 1:6).

b. Phải thờ lạy thiên sứ của Đức Giê-hô-va: Trong Cựu Ước chỗ nào chép “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va” hoặc “Thiên sứ của Đức Chúa Trời” thì đó không phải là thiên sứ thường, mà là Chúa Jêsus trước khi giáng sinh. Vì vậy, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã nhận sự thờ lạy của loài người. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với Aga, nên bà gọi Ngài là Đức Giê-hô-va (Sáng 16:7-13). Thiên sứ của Đức Chúa Trời hiện ra với Aga khi bà và con trai bị đuổi khỏi nhà (Sáng 21:17-19) thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với Môi-se trong bụi gai cháy, Ngài tự xưng là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Xuất 3:2-14). Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với Ghê-đê-ôn và ông dâng của lễ cho Ngài (Quan Xét 6:11-24). Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông bà Ma-nô-a và họ thờ lạy Ngài (Quan Xét 13:6-23). Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với Đa-vít và ông dâng cho Ngài một của lễ thiêu (IISa-mu-ên 24:15-25).

II. CHỨC VỤ CỦA THIÊN SỨ.

Thiên sứ là sứ giả của Chúa, lúc nào cũng sẵn sàng đi, làm, nói theo chỉ thị của Ngài. Song thiên sứ đôi khi chỉ về người nữa, như thiên sứ của các Hội Thánh chép trong sách Khải Huyền (1:20; 2:1,8,12,18; 3:1,7,14). Chức vụ của các thiên sứ như sau:

1. Ca Ngợi Đức Chúa Trời Ba Ngôi: Bởi Thánh Linh cảm động, Đa-vít kêu gọi các thiên sứ và cả cơ binh của Chúa hãy ca tụng Ngài (Thi Thiên 103:20-21). Thiên sứ đã hiện ra với vô vàng thiên binh ca ngợi Chúa bằng một bài ca kỳ diệu khi Ngài giáng sinh (Lu-ca 2:13-14). Sứ đồ Giăng thấy trên trời có vô số thiên sứ ca ngợi Chúa rằng: “Chiên Con đã bị giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quý, vinh hiển và ngợi khen”. Rồi họ hiệp với muôn vật trong vũ trụ mà nói: “Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con, được ngợi khen, tôn quý, vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời” (Khải 5:11-13). Các thiên sứ không phạm tội, không kinh nghiệm ơn cứu rỗi mà còn ca ngợi Chúa như vậy, phương chi là chúng ta. Vậy hễ ngày nào còn sống, chúng ta hãy ca ngợi, cảm tạ, tôn vinh, tôn thờ Chúa, không những bằng lời nói mà bằng cả tư tưởng và hành vi của chúng ta.

2. Phục Vụ Chúa Jêsus: Sau khi Chúa đánh bại Sa-tan tại đồng vắng thì có thiên sứ đến phục vụ Ngài (Mat 4:11). Trong vườn Ghết-sê-ma-nê, khi Chúa chiến đấu trong sự cầu nguyện đến nỗi mồ hôi tuôn ra như giọt máu lớn rơi xuống đất thì có một thiên sứ đến thêm sức Chúa Ngài (Lu-ca 22:43). Khi Chúa tái lâm thì sẽ có một đoàn thiên sứ thanh đi cùng với Ngài (Ma-thi-ơ 16:27).

3. Phục Vụ Con Cái Chúa (Hê-bơ-rơ 1:13,14): Thiên sứ đã đến với Lót để giải cứu ông và gia đình khỏi Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Khi họ lần lữa thì hai thiên sứ nắm tay mà kéo họ ra ngoài (Sáng 19:16). Khi Ê-li-sê và đầy tớ ông bị quân Sy-ri bao vây thì có một đạo thiên sứ như xe và ngựa lửa bảo vệ thầy trò ông (IICác 6:15-17). Kinh Thánh chép rằng Chúa sẽ ban mạng lịnh cho thiên sứ gìn giữ đường lối chúng ta, nâng đỡ chúng ta để chân chúng ta không vấp ngã (Thi Thiên 91:11-12). Thiên sứ của Đức Giê-hô-va sẽ đóng trại xung quanh những kẻ kính sợ Ngài và giải cứu họ (Thi Thiên 347). Thiên sứ đã hai lần giải cứu Phi-e-rơ khỏi khám tù, thiên sứ đã an ủi Phao-lô trong cơn nguy nan hơn hết (Công Vụ 27:19,20). Thiên sứ đã hướng dẫn Ma-ri và Giô-sép lánh nạn tại Ê-díp-tô và trở về Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:13,19,20). Thiên sứ đã hướng dẫn Phi-líp đi gặp hoạn quan Ê-thi-ô-pi (Công Vụ 8:26-40). Thiên sứ đã hướng dẫn Phi-e-rơ đến nhà Cọt-nây (Công Vụ 10:1-48). Thiên sứ tiếp rước linh hồn con cái Ngài vào nơi an nghỉ khi họ qua đời (Lu-ca 16:22). Thiên sứ thổi kèn để triệu tập con cái Chúa khi Ngài tái lâm (Ma-thi-ơ 24:31).

4. Thi Hành Sự Đoán Phạt: Khi Chúa tái lâm, chính các thiên sứ thi hành sự đoán phạt đối với tín đồ giả hình trong Hội Thánh như chia rẽ cỏ lùng khỏi lúa, cá xấu khỏi cá tốt (Ma-thi-ơ 13:36-42; 47:47-50).

Chúng ta rất vui mừng vì có thiên sứ phục vụ. Song thiên sứ cũng rất vui mừng khi có tội nhân ăn năn (Lu-ca 15:10). Chúng ta phải sẵn sàng ca ngợi và phục vụ Chúa như thiên sứ.

CÂU HỎI

1. Tại sao thiên sứ không có hôn nhân?

2. Tại sao khi chúng ta sống lại và lên trời cũng không cần hôn nhân?

3. Xin kể ra một vài việc quyền năng của thiên sứ?

4. Xin kể ra vài việc bày tỏ vinh hiển của thiên sứ?

5. Xin cho biết phẩm trật của thiên sứ?

6. Số lượng của thiên sứ là bao nhiêu?

7. Thiên sứ nào con người không nên thờ lạy và thiên sứ nào phải thờ lạy?

8. tại sao phải thờ lạy thiên sứ của Đức Giê-hô-va?

9. Chức vụ của thiên sứ là gì?

10. Xin cho biết thiên sứ làm gì cho tín đồ?

BÀI 5. SA-TAN

KINH THÁNH: Ê-sai 14:12-20.

CÂU GỐC: “Chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời” (IICôr 4:4).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta biết về ma quỷ và cách nào để chiến thắng nó.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

NHỮNG TÊN GỌI CỦA SA-TAN

(Mat 9:34; Giăng 12-31; IICôr 4:4; Ê-phê-sô 2:2).

TH:

NHỮNG BỘ MẶT GẢI HIỆU CỦA SA-TAN

(IICôr 2:11; 11:13,14; Gia-cơ 4:7).

TB:

NGÀY TÀN CỦA SA-TAN

(Ê-sai 14:12-20).

TT:

NHỮNG THIÊN THẦN GIAN ÁC BỊ HÌNH PHẠT

(Giu-đe 5:10).

TN:

TÌNH TRẠNG CỦA NHÂN LOẠI

(Giăng 3:8-10).

TS:

BỘ ÁO GIÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Ê-phê-sô 6:10-17).

TB:

SA-TAN BỊ ĐOÁN PHẠT ĐỜI ĐỜI

(Khải 20:1-10).

Nhân loại ít biết về Sa-tan, tức là ma quỷ. Ma quỷ hoạt động ngày đêm không ngừng nghỉ, nhưng nó không muốn ai thấy nó, biết nó, thậm chí có người nói không có ma quỷ. Nó thích nghe người ta nói như vậy để nó dễ dàng hoạt động.

Kinh Thánh cho chúng ta biết ma quỷ có thật: “Khi người nào nghe đạo nước thiên đàng mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp điều đã gieo trong lòng người”. “Kẻ thù nghịch giao cỏ lùng vào ruộng lúa là ma quỷ” (Ma-thi-ơ 13:19,39). “Đương bữa ăn tối, ma quỷ đã để mưu phản vào lòng Giu-đa Íchcariốt. Liền khi Giu-đa đã lấy miếng bánh thì Sa-tan vào lòng người” (Giăng 13:2,27). “Hỡi A-na-nia, sao quỷ Sa-tan đầy lòng ngươi” (Công Vụ 5:3). “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ” (Ê-phê-sô 6:11). “Hãy tiết độ và tỉnh thức, kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ, như sư tử rống” (IPhi-e-rơ 5:8).

Những câu Kinh Thánh trên đây cho chúng ta biết chắc rằng ma quỷ có thật và nó hoạt động chống lại Chúa như ngăn trở, phá hoại, cám dỗ, rình mò tín đồ…

I. DANH HIỆU CỦA SA-TAN.

Sa-tan có nhiều danh hiệu như: Bá chủ của thế gian (Giăng 12:31; 14:30; 16:11), thần của đời nầy (ICôr 4:4), vua cầm quyền chốn không trung (Ê-phê-sô 2:2), vua của các quỷ (Ma-thi-ơ 9:34). Dưới tay nó còn có nhiều quỷ sẵn sàng vâng lệnh nó.

Vì vậy, ma quỷ có một quyền lực lớn lao, đến nỗi cả thế gian tội ác nằm trong tay nó (Công Vụ 26:18; IGiăng 5:19). Không một người nào đủ sức đương đầu với ma quỷ. Người ta không biết quyền lực của ma quỷ, vì chưa bao giờ đương đầu với quyền lực ấy, cũng như người cả đời thả trôi theo dòng nước chảy, theo luồng gió thổi thì chẳng bao giờ biết sức mạnh của nước và gió.

II. CÔNG VIỆC CỦA SA-TAN.

Sa-tan có rất nhiều công việc, song tất cả đều tập trung về một mục đích là chống lại Chúa, nên nó được gọi là kẻ thù của Hội Thánh (IPhi-e-rơ 5:9). Nó là một tay chuyên nghiệp, lão luyện, không phải mấy chục năm, mà mấy ngàn năm. Công việc của Sa-tan và bè lũ của nó là:

1. Cám Dỗ (Ma-thi-ơ 4:3; ITê 3:5): Nó xúi giục người ta làm theo điều mình ưa thích, mặc dầu biết rằng điều đó chống lại mạng lịnh của Chúa, như nó cám dỗ A-đam, Ê-va bất tuân mạng lịnh của Chúa mà ăn trái cấm. Nó cũng cám dỗ Chúa Jêsus như vậy, song nó thất bại. Phao-lô lo ngại cho tín đồ cũng bị nó cám dỗ mà mất đơn thuần và thánh khiết đối với Chúa, làm cho công lao thành ra vô ích.

2. Lừa Dối (IICôr 11:14; IIGiăng 7): Không những xúi giục người ta làm điều ác, Sa-tan còn lừa dối một cách tinh tế là giả làm thiên sứ sáng láng. Nó giả nhân giả nghĩa, giả hình, giả dạng như chó sói mang lốt chiên con, dối trá từ đầu chí chân. Sứ đồ Giăng cho biết trong thế gian có nhiều kẻ lừa dối, là kẻ chống lại Chúa Jêsus. Chính mình Chúa đã mô tả ma quỷ là kẻ không bao giờ biết nói thật, vì không có lẽ thật trong nó, song nó chỉ biết nói dối và là cha của sự nói dối (Giăng 8:44). Vì vậy Chúa bảo rằng, hãy coi chừng kẻo bị cám dỗ, vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ngài mà đến (Lu-ca 21:8). Phao-lô cảnh cáo chúng ta đừng để mắc bẫy ma quỷ (IITi 3:7). Vì đã có nhiều người bị lừa dối mà sa vào cạm bẫy của ma quỷ, bị nó bắt phải làm theo ý nó (IITi 26).

3. Ngăn Trở (ITê 2:18): Ma quỷ sử dụng trăm phương ngàn kế để ngăn trở sự phát triển của Hội Thánh. Đã hai lần Phao-lô muốn đến thăm Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca, song đều bị ma quỷ ngăn trở. Chúa Jêsus cũng phán rằng khi chúng ta giảng đạo, ma quỷ cướp lấy lời thính giả đã nghe khỏi lòng họ, để họ không tin.

Ngoài ra nó còn tìm cách pha sự dối trá vào lẽ thật, đem kẻ giả dối vào trong Hội Thánh như gieo cỏ lùng vào trong ruộng lúa (Ma-thi-ơ 13:19,39). Ma quỷ muốn làm bất cứ cách nào để gây trở ngại từ bên trong lẫn bên ngoài, hầu chận đứng sự phát triển của Hội Thánh.

4. Vào Lòng Người Ta (Giăng 13:2,27; Công Vụ 5:3,4): Thiết tưởng đây là một hành động nguy hiểm nhất của Sa-tan đối với Hội Thánh. Để có thể ám hại Chúa Jêsus, ma quỷ đã để mưu phản vào lòng Giu-đa Íchcariốt là một trong mười hai sứ đồ, vì nó nghĩ rằng mua chuộc được một sứ đồ, sử dụng người đó như một công cụ trong tay nó, thì cầm chắc sự thành công. Từ chổ để mưu phản vào lòng Giu-đa đến chổ nó hoàn toàn chiếm hữu chẳng bao xa, và thật vậy, nó đã thành công tạm thời.

Sau ngày Đức Thánh Linh giáng lâm, Hội Thánh đã được khai sinh, lớn lên và lan tràn một cách mau chóng, mặc dù bị đe doạ, đánh đòn, bỏ tù. Ma quỷ bèn dùng một chiến thuật mới là không những tấn công từ bên ngoài mà cũng xâm nhập từ bên trong Hội Thánh. Nó đã cám dỗ cũng như sử dụng được A-na-nia và Sa-phi-ra để nói và làm điều dối trá. Nếu họ thành công thì tội lỗi là sự dối trá và kẻ dối trá đã xâm nhập vào Hội Thánh và phá Hội Thánh ngay từ bên trong. Nhưng Đức Chúa Trời toàn tri, toàn năng là Chủ của Hội Thánh, Ngài đã cảm động Phi-e-rơ quở trách A-na-nia: “Sao quỷ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối Đức Thánh Linh. Ấy chẳng phải ngươi nói dối loài người bèn là nói dối Đức Chúa Trời”. Ma quỷ hoàn toàn thất bại, vì A-na-nia và Sa-phi-ra không tìm được một chổ đứng trong Hội Thánh.

III. SỐ PHẬN CỦA SA-TAN.

Số phận của Sa-tan đã bị định từ lâu:

1. Bị Rủa Sả (Sáng 3:14): Từ khi ma quỷ nhập vào con rắn cám dỗ Ê-va phạm tội, con rắn bị rủa sả nặng, từ đời nầy qua đời kia nó phải bò bằng bụng và ăn bụi đất (Ê-sai 65:25). Con rắn là hình ảnh của ma quỷ, kẻ bị Chúa rủa sả.

2. Sẽ Bị Giày Đạp Dưới Chân (Rô-ma 16:20): Đức Chúa Trời sẽ giày đạp Sa-tan dưới chân Ngài, nghiền nát đầu nó như một bàn chân sắt nghiền nát đầu con rắn. Việc đó chỉ chờ giờ thi hành mà thôi.

3. Sẽ Bị Hình Phạt Đời Đời Trong Hoả Ngục: Chúa Jêsus phán: “Lửa đời đời sẽ sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó” (Ma-thi-ơ 5:41). Hoả ngục là số phận dành cho ma quỷ và bè lũ của nó. Họ sẽ phải chịu khổ tại đó cả ngày và đêm cho đến đời đời (Khải 20:10). Ma quỷ là kẻ giết người, là kẻ nói dối (Giăng 8:44). Phần của kẻ giết người, kẻ nói dối ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng (Khải 21:8).

IV. CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI SA-TAN.

1. Ma Quỷ Là Kẻ Chiến Bại: Chúng ta nên biết rằng khi Chúa Jêsus chịu chết vì nhân loại và sống lại, là vì Ngài đã giày đạp Sa-tan dưới chân Ngài và phá hủy công việc của nó (IGiăng 3:8b). trước khi chịu chết, Chúa đã phán: “Hiện bây giờ có sự phán xét thế gian này và hiện nay, vua Chúa của thế gian này phải bị xua đuổi” (Giăng 12:31; 16:11). Kể từ đó, ma quỷ không còn một chổ đứng nào trên trời để ngày đêm kiện cáo chúng ta nữa, mà phải bị quăng xuống đất (Khải 12:8-10).

2. Hãy Chống Cự Ma Quỷ (Gia-cơ 4:7; IPhi-e-rơ 5:8-9): Dầu ma quỷ được hình dung như sư tử rống, song là sư tử bị xiềng, nên nó có thể hoạt động trong một phạm vi rất hẹp, là rình mò để tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được, tức là những người như Giu-đa, A-na-nia và Sa-phi-ra..v…v… Vì thế chúng ta hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự ma quỷ thì nó sẽ chạy trốn. Hãy nhờ sức toàn năng của Chúa, mang lấy mọi khí giới của Ngài, chúng ta sẽ đắc thắng, sẽ vững vàng và tôn vinh Chúa luôn (Ê-phê-sô 6:11-17).

Chúa chúng ta đã phán: “Các ngươi sẽ có hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, Ta đã đắc thắng thế gian rồi” (Giăng 16:33).

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết chắc ma quỷ có thật?

2. Ma quỷ có tên gì và quyền lực như thế nào?

3. Hãy kể các công việc của ma quỷ?

4. Trong các công việc đó, việc nào nguy hiểm hơn hết cho ta?

5. Số phận của ma quỷ?

6. Tại sao chúng ta không cần sợ ma quỷ?

7. Ma quỷ được hình dung như là gì?

8. Tại sao ma quỷ cứ gầm thét và rình mò?

9. chúng ta phải làm gì để ma quỷ phải chạy trốn?

10. Bài học này đã giúp cho học viên có ý thức mới nào đối với ma quỷ?

BÀI 6. DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT

KINH THÁNH: Sáng thế ký 1:1-19.

CÂU GỐC: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng 1:1).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời dựng nên mọi vật theo chương trình của Ngài và Ngài có một chương trình cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT

(Sáng 1:18).

TH:

ĐẤT KHÔ VÀ CÁC TỪNG TRỜI

(Sáng 1:9-19).

TB:

ĐẤNG CHRIST DỰNG NÊN MUÔN VẬT

(Giăng 1:1-14).

TT:

VŨ TRỤ BÀY TỎ QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi 104:1-9).

TN:

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ MỘT CHƯƠNG TRÌNH CHO MUÔN VẬT

(Thi 104:10-18).

TS:

SỰ KHÔN NGOAN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi 104:19-24).

TB:

PHẢI THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi 104:25-35).

Khi đứng trước một hòn núi hay bên bờ đại dương, chúng ta thấy mình nhỏ bé quá còn quả đất to lớn qua, song quả đất chỉ là một hành tinh nhỏ bé trong vũ trụ bao la gần như vô tận nầy. Thử hỏi: Ai đã dựng nên vũ trụ?

Có người cho rằng vũ trụ tự nhiên mà có do một sự tình cờ.

Chúng ta không thể chấp nhận một lý thuyết như vậy, vì xung quanh chúng ta có muôn loài vạn vật, song không có loài nào, vật gì tự nhiên mà có được, phải do bàn tay khéo léo làm ra. Phải có thợ gốm mới có đồ gốm. Không thể có chiếc đồng hồ mà không có ông thợ làm nên, thì cũng không có chiếc đồng hồ vĩ đại là vũ trụ bao la này lại không có Đấng tạo ra nó.

Con người cho rằng vũ trụ và muôn vật chỉ là hậu quả của sự tiến hoá.

Chúng ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết này, vì từ khi có loài người trên mặt đất, chúng ta chưa hề nghe thấy loài nào tiến hoá thành loài khác. Loài người sinh ra loài người, loài vật sinh ra loài vật, loài nào sinh ra loài nấy, chứ không có loài nầy sinh ra hay tiến hoá đến loài kia. Đó là luật bất di bất dịch từ xưa đến nay. Loài vật không hề tiến hoá, chỉ có loài người tiến hoá, song sự tiến hoá của loài người cũng không làm cho mình trở thành một loài khác được.

Vậy, ai đã dựng nên trời đất? Câu gốc trong bài này trả lời:

I. ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT.

Khi nhìn xem trời đất, người ta cố gắng dùng sức tưởng tượng để giải thích nguồn gốc của nó. Nhưng lời giải thích ức đoán đó không đáng tin cậy. Đức Chúa Trời không ức đoán, song ký thuật cách rành mạch cho chúng ta hiểu nguồn gốc của trời đất.

Ông thợ gốm phải lớn hơn đồ gốm. Đấng Tạo Hoá phải lớn hơn loài thọ tạo. Chỉ có Đức Chúa Trời toàn tại, toàn năng, chí tôn, chí thánh, mới dựng nên vũ trụ vừa bao la, vừa đẹp đẽ, có trật tự hẳn hòi, có định luật không bao giờ thay đổi.

Người thợ mộc phải có sẵn gỗ mới đóng được chiếc bàn, ông kỹ sư phải có sẵn nguyên liệu mới đóng được phi cơ hay vệ tinh không gian. Song chỉ có một Đức Chúa Trời mới từ cỏi hư vô đã dựng nên vũ trụ vật chất. “Các từng trời được làm nên bởi hơi thở của miệng Ngài mà có… vì Ngài phán thì việc liền có, Ngài biểu, thì vật bèn đứng vững bền. Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã được làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời” (Thi 33:6-9; Hê-bơ-rơ 11:3).

Từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã dựng nên muôn loài, vạn vật và truyền lệnh chúng phải sinh sản tuỳ theo loại. Trong sáng thế ký đoạn 11-25 có đến mười lần lặp lại những chữ “tuỳ theo loại”. Cây cỏ sinh ra tuỳ theo loại (11,12), súc vật dưới nước, chim bay trên trời tuỳ theo loại (21), súc vật, côn trùng, thú rừng trên đất sinh ra tuỳ theo loại (24,25). Sau đó, Ngài cũng dựng nên loài người và bảo rằng: “Hãy sinh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất”.

Vậy, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất từ ban đầu. Chúng ta không biết từ ban đầu là lúc nào “Các từng trời thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Chúa; Chúa sáng lập thế gian và mọi vật nó chứa” (thi 89:11).

II. THỨ TỰ ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT (Sáng 1:2-19).

Chúa đã dựng nên trời đất theo thứ tự sau đây:

Ngày thứ nhất (1:3-5): Đức Chúa Trời đã dùng lời của Ngài mà dựng nên sự sáng và Ngài thấy nó là tốt đẹp. Ngài liền chia ra sáng và tối, ngày và đêm. Ánh sáng là nhu cầu thiết yếu nhất cho sự sống của muôn loài, phải được dựng nên trước hết. Nó cũng là vẻ đẹp của vũ trụ.

Khi Chúa cứu chúng ta, cũng có nghĩ là tái tạo chúng ta, thì Ngài đem chúng ta từ tối tăm qua sáng láng, khiến chúng ta có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng (Công Vụ 26:18; Cô-lô-se 1:12-13). Không có gì vui sướng cho bằng sống trong sự sáng láng cũng như không có gì buồn khổ bằng sống trong sự tối tăm. Chúng ta phải cảm tạ Chúa về ơn tạo hoá và nhất là ơn cứu rỗi.

Ngày thứ hai (1:6-8): Đức Chúa Trời đã dựng nên khoảng không gọi là trời để phân rẽ nước dưới khoảng không và nước trên khoảng không. Nước trên khoảng không là mây, trông mây luôn luôn có hàng ngàn tấn nước.

Đây là một câu hỏi: “Ông có biết mây cân bình sao chăng? Có hiểu công việc diệu kỳ của Đấng có trí tuệ trọn vẹn sao chăng?” (Gióp 37:16). Trong đời Nô-ê, khi ông và gia đình cùng mọi loài vật được chỉ định đã vào tàu, Chúa liền cắt thế quân bình của mây làm cho “Các đập trên trời mở xuống, mưa sa trên mặt đất trọn 40 ngày và 40 đêm” (Sáng 7:11-12). Đó là trận đại hồng thủy kinh hoàng nhất xưa nay.

Trong tương lai, cơn giận của Đức Chúa Trời như “Lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch… Vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hủy diệt” (Hê-bơ-rơ 10:27; 12:29).

Ngày thứ ba (1:9-13): Ngày thứ nhất Chúa làm nên ánh sáng, vì cần cho sự sống của thực vật và động vật. Ngày thứ hai Chúa làm nên khoảng không để ánh sáng hoạt động, tức là chiếu vào. Ngày thứ ba Chúa làm nên cây cỏ.

Sau khi phân ra biển và đất, Chúa bảo đất phải sanh cỏ, rau, cây như chúng ta thấy ngày nay. Trong các loài đó có hột giống trong chúng để sanh sản ngày một nhiều, và tuỳ theo loại. Trong phần nầy có ba lần “tuỳ theo loại”. Không có trường hợp cây ổi sanh ra trái xoài hay trồng khoai mà gặt lúa được. Trên trái đất hiện có khoảng 250.000 các loại tảo mộc khác nhau. Có những cây thật cao lớn, cũng có những cành hoa, ngọn cỏ thật nhỏ nhắn, song hết thảy đều đẹp đẽ, khéo léo, lạ lùng và ích lợi vô cùng.

Ngày thứ tư (1:14-19): Đức Chúa Trời dựng nên mặt trời, mặt trăng và ngôi sao để phân định ngày giờ, năm tháng và thời tiết. Trái đất đã lớn, mặt trời còn lớn hơn một triệu ba trăm ngàn lần. Mặt trời đã lớn, có ngôi sao còn lớn hơn hàng triệu lần. Mặt trăng ở xa trái đất 93 triệu dặm, song Thổ tinh còn ở xa trái đất một tỷ bảy trăm triệu dặm. Thế mà còn vô số ngôi sao ở xa hơn nữa.

Chúa đặt mọi vật vào vị trí xứng hiệp để làm ích lợi cho mọi sinh vật. Nếu mặt trời ở gần trái đất hơn thì nóng quá, không sinh vật nào sống được. Nếu mặt trời ở xa trái đất hơn thì lạnh quá cũng không sinh vật nào sống được.

Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã từ cõi hư vô mà dựng nên vũ trụ, thì có gì lớn và khó cho Ngài đâu. Chúa Jêsus đã thách thức Na-tha-na-ên “Ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó” (Giăng 1:50).

Nếu Đức Chúa Trời đã điều khiển vũ trụ mà suốt mấy tỉ năm vẫn y nguyên thì Ngài há không thể điều khiển đời sống chúng ta trong bình an, hạnh phúc giữa mọi hoàn cảnh hay sao?

Nếu Đức Chúa Trời quyền năng và giàu có dường ấy thì nỗi nguy nan hơn hết của chúng ta là nhỏ mọn quá so với Ngài. Một lời phán của Chúa là đủ quá cho chúng ta rồi (Ma-thi-ơ 8:8).

Nếu Đức Chúa Trời đã bảo tồn vũ trụ và chăm sóc mọi loài thì chúng ta là loài linh quý hơn hết, chắc chắn sẽ được Ngài bảo tồn và chăm sóc luôn (Thi Thiên 145:15-16).

Nếu Đức Chúa Trời toàn năng, toàn ái, toàn trí, toàn tri là Chúa của chúng ta như chúng ta thường cầu nguyện “Lạy Cha chúng ta ở trên trời”, thì chúng ta còn phải sợ gì?

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết rằng vũ trụ không phải tự nhiên mà có?

2. Tại sao chúng ta biết rằng vũ trụ không do tiến hoá mà nên?

3. Ai đã làm nên vũ trụ và Ngài lấy gì làm nên vũ trụ?

4. Đức Chúa Trời đã dựng nên vũ trụ từ lúc nào?

5. Ngày thứ nhất Chúa dựng nên gì?

6. Ngày thứ hai Chúa dựng nên gì?

7. Ngày thứ ba Chúa dựng nên gì?

8. Ngày thứ tư Chúa dựng nên gì?

9. Bạn được khích lệ như thế nào khi biết Đức Chúa Trời đã bảo tồn vũ trụ và chăm sóc mọi loài?

10. Bạn nghĩ thế nào khi biết Đức Chúa Trời là Cha chúng ta?

BÀI 7. DỰNG NÊN CÁC SINH VẬT

KINH THÁNH: Sáng thế ký 1:20-31.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời dựng nên loài người giống như hình Ngài, Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời, Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sáng 1:27).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên các sinh vật. Ngài dựng nên loài người để thông công với Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỨC CHÚA TRỜI TẠO RA SỰ SỐNG

(Sáng 1:20-31).

TH:

VƯỜN ÊĐEN

(Sáng 2:1-17).

TB:

ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN Ê-VA

(Sáng 2:18-25).

TT:

ĐỊA VỊ CỦA LOÀI NGƯỜI

(Thi 8:1-9).

TN:

LOÀI NGƯỜI PHẢI CA NGỢI ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi 139:14-18).

TS:

ĐỊA VỊ CỦA LOÀI NGƯỜI TRONG ĐẤNG CHRIST

(Ê-phê-sô 1:15-23).

TB:

THIÊN ĐÀNG CỦA LOÀI NGƯỜI TRONG TƯƠNG LAI

(Khải 22:1-5).

Trước khi học bài mới, chúng ta ôn lại bài cũ. Tuần trước, chúng ta đã học về Đức Chúa Trời dựng nên trời đất trong 4 ngày đầu. Hôm nay chúng ta học về Đức Chúa Trời dựng nên các sinh vật trong 2 ngày kế tiếp, rồi khi mọi việc xong xuôi, Ngài nghỉ vào ngày thứ bảy.

Công việc của Chúa thật lạ lùng, nên khi nhìn xem, chúng ta phải rùng mình kinh sợ. Ôi thật lạ lùng biết bao! Ngài được xưng là Đấng Lạ Lùng (Ê-sai 9:5).

I. THỨ TỰ DỰNG NÊN CÁC SINH VẬT.

1. Ngày thứ năm (Sáng 1:20-23):

Ngày nầy Chúa dựng nên loài chim và cá.

Để chúng bay trên không, Chúa dựng nên loài chim có bộ xương rỗng lại chứa đầy không khí ở trong như một chiếc bong bóng được bơm hơi vào. Nhờ đó, loài chim bay nhảy một cách nhẹ nhàng, dễ dàng. Có rất nhiều chim lớn nhỏ khác nhau, màu sắc khác nhau, hình dạng khác nhau, song hết thảy đều đẹp đẽ. Chúa cũng dựng nên loài cá, từ nhỏ xíu cho đến loại khổng lồ như cá voi. Cá voi là loài cá lớn nhất mà người ta được biết. Động mạch chính của cá voi (ống dẫn máu) có thể chứa cả một người to lớn.

2. Ngày thứ sáu (Sáng 1:24-31):

Công việc quan trọng của ngày thứ sáu rất quan trọng.

a. Chúa dựng nên súc vật, côn trùng và thú rừng (24,25).

Trong 2 câu nầy có 5 lần lặp lại những chữ “tuỳ theo loại”. Thú rừng tuỳ theo loại, súc vật tuỳ theo loại, côn trùng tuỳ theo loại. Chúa thấy mọi vật đều tốt lành, vì đem lại lợi ích lớn cho con người.

b. Chúa dựng nên loài người (26,27).

Sau khi mọi vật đã được dựng nên xong xuôi, Chúa bắt đầu dựng nên loài người, Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã họp hội nghị và long trọng tuyên bố: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình Ta và theo tượng Ta… Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh”.

Loài người được dựng nên giống như hình Đức Chúa Trời, không phải về thân thể vì Chúa là Đấng vô hình, song là về tâm linh, con người giống như Chúa về sự thánh khiết và công nghĩa (Ê-phê-sô 4:24; Cô-lô-se 3:10). Nhờ được Chúa hà hơi vào lỗ mũi mà loài người hưởng được sự sống của Ngài. Trong sự sống đó con người có trí tuệ, ý chí, lương tâm và khả năng phân biệt thiện ác và lựa chọn con đường cho mình. Vì vậy loài người là tuyệt điểm và vương miện trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời.

II. MỤC ĐÍCH DỰNG NÊN CON NGƯỜI.

1. Loài người được dựng nên để thông công với Đức Chúa Trời. Dầu Chúa đã dựng nên vô số loài chim bay trên trời, loài cá lội dưới nước, loài thú đi trên đất, song không có loài nào được thông công với Ngài, vì chúng không có sự sống của Ngài mà chỉ loài người có. Chúa dựng nên loài người để thông công với họ.

2. Loài người được dựng nên để quản trị muôn vật trên khắp đất (26b và 27b). Câu nầy lặp lại hai lần để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Loài người dầu có thân hình nhỏ hơn con vật, song loài người có thể quản trị con trâu, con voi, kể cả thú dữ như cọp, beo, sư tử..v.v… Muôn vật được dựng nên để phục vụ loài người. Mặt trời cung ánh sáng và sức nóng cho loài người, loài vật và cây cối để mọi loài vui sống. Đất đai sanh hoa cỏ, ngũ cốc làm thức ăn cho loài người và loài vật. Sông ngòi cung cấp cho loài người phương tiện di chuyển, nước uống, tưới cây. Rừng rậm, núi non, biển cả cung ứng cho loài người nguyên liệu quí giá, làm ên những thức ăn và vật dụng cần thiết.

Con người được như vậy là vì Đức Chúa Trời dựng nên con người có thân thể, linh hồn và tinh thần, mà không một loài vật nào có được. Thế mà khi loài người sa ngã, đã tự sỉ nhục, cúi đầu, sấp mình thờ lạy mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, núi non, sông, biển, điểu thú, côn trùng, gỗ, đá, bạc, vàng (Thi Thiên 106:20; Ê-xê-chi-ên 8:10,11; Rô-ma 1:23; Công Vụ 17:29).

3. Loài người được dựng nên để sinh sản thêm nhiều (28).

Để đạt mục đích đó, Đức Chúa Trời đã dựng nên người nam, rồi lấy một xương sườn của người nam mà dựng nên người nữ. Vì Chúa phán rằng: “Người nam ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó”. Dầu xung quanh Adam có vô số loài vật, thì ông không tìm được ai để giúp đỡ mình, mà phải có Ê-va.

Hôn nhân được Đức Chúa Trời thiết lập. Tình yêu của vợ chồng là tình yêu thánh khiết đến nỗi Chúa đã mượn tình yêu đó để so sánh với tình yêu của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên đời xưa và Hội Thánh ngày nay. Không có ai giúp đỡ và an ủi nhau bằng vợ chồng. A-đam có cả một cơ nghiệp vĩ đại của Chúa cho, song không thể thiếu Ê-va (Châm Ngôn 18:22; 19:14).

Vậy, ai dám cho hôn nhân là bất khiết? “Mọi người phải kính trọngsự hôn nhân” (Hê-bơ-rơ 13:4). Cấm cưới gả và bảo kiêng các thức ăn là giáo lý của ma quỷ (ITi 4:1-5).

III. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA:

Cảm ơn Chúa, Ngài không dựng nên chúng ta như một bộ máy hay một con vất. Nếu vậy, chúng ta hoàn toàn nô lệ, không có giá trị, cũng không có trách nhiệm. Song Ngài đã dựng nên chúng ta giống như Ngài để được thông công với Ngài. Dầu khi chúng ta phạm tội làm mất sự thông công với Chúa, Ngài đã tái lập mối thông công đó bằng sự chết của Con Ngài trên thập tự giá để đem chúng ta về với Ngài. Vì thế, Chúa Jêsus đã tự xưng là con đường duy nhất từ đất lên trời (Giăng 14:6).

Chúa đã dựng nên chúng ta cao quý, vinh hiển như vậy để quản trị muôn vật chớ không phải để thờ lạy chúng. Vì vậy, Chúa cấm quỳ lạy trước các hình tượng, vô luận là hình tượng nào, cũng không được thờ phượng bất cứ một ai ngoài ra chính mình Ngài (Xuất 30:3-5). Vì vậy ba thanh niên Hê-bơ-rơ thà bị quăng vào lò lửa hực chớ không chịu thờ hình tượng, Đa-ni-ên thà bị quăng vào hang sư tử chứ không chịu bỏ sự cầu nguyện với Chúa “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

Hôn nhân nằm trong chương trình của Chúa đối với loài người. Ngoại trừ đôi trường hợp đặc biệt mà có người ở độc thân, kỳ dư nam nữ có gia đình là tốt. Vì nhờ có gia đình mà khả năng thiên phú của họ được phát triển, tức là khả năng làm chồng, làm cha, làm vợ, làm mẹ. Trên hết mọi sự, vợ chồng là bạn trăm năm để giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày. Vì Chúa không muốn ai cô độc.

Chúa đã dựng nên muôn vật và loài người với mục đích bày tỏ quyền năng, yêu thương của Ngài. Loài người cao quý hơn hết, có trách nhiệm phải tôn vinh Chúa trong nếp sống hằng ngày của mình. Muốn vậy, chúng ta phải giữ luôn mối thông công mật thiết với Chúa.

CÂU HỎI

1. Ngày thứ năm Chúa dựng nên loài nào?

2. Tại sao con chim bay được dễ dàng?

3. Ngày thứ sau Chúa dựng nên các loài nào?

4. Cách Chúa dựng nên loài người với loài vật khác nhau thế nào?

5. Loài người được dựng nên giống như hình Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa gì?

6. Những điểm khác nhau giữa loài người và loài vật?

7. Chúa dựng nên loài người với ba mục đích gì?

8. Tại sao loài Ngài được thôg công với Chúa, mà loài vật thì không được?

9. Tại sao chúng ta không nên thờ muôn vật?

10. Điều kiện để tôn vinh Chúa trong nếp sống hằng ngày của mình là gì?

BÀI 8. TỘI LỖI

KINH THÁNH: Sáng thế ký 3:1-24.

CÂU GỐC: “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội” (Rô-ma 5:12).

MỤC ĐÍCH: Cho biết tội lỗi đã đến trong thế gian cách nào và làm sao chúng ta được tha tội.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

BÀ Ê-VA BỊ CÁM DỖ

(Sáng thế ký 3:1-7)

TH:

TỘI LỖI PHẢI BỊ TRỪNG PHẠT

(Sáng 3:8-19)

TB:

HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI

(Sáng 3:20-24)

TT:

MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐÃ PHẠM TỘI

(Rô-ma 5:12-19)

TN:

TỘI LỖI CỦA LOÀI NGƯỜI

(Rô-ma 3:10-23)

TS:

ĐẤNG CHRIST CHẾT VÌ TỘI CHÚNG TA

(Rô-ma 5:1-11)

TB:

ĐẤNG CHRIST THA TỘI CHÚNG TA

(IGiăng 1:1-10)

Trong đời người, không có gì đáng ưa chuộng bằng sự thánh khiết, ngược lại, không có gì đáng ghê tởm bằng tội lỗi. Tội lỗi cướp mất mọi sự, hậu quả của nó thật khủng khiếp, không ai có thể đo lường hết được.

I. TỘI LỖI VÀO TRONG THẾ GIAN (3:1-6).

A-đam và Ê-va đã được Đức Chúa Trời dựng nên. Họ đẹp đẽ và vô tội trọn vẹn. Vô tội trọn vẹn không phải là không có khả năng phạm tội. Chúa dựng nên ông bà khác hơn cỏ cây và cầm thú, vì ông bà có ý chí tự do. Với ý chí tự do, ông bà có khả năng phục tùng Chúa để ăn ở thánh khiết, hoặc chống lại Ngài để phạm tội.

Đức Chúa Trời đặt ông bà trong vườn E-đen là chổ tốt nhất tại trần gian, với lời dặn dò cẩn thận. Song khi ma quỷ nhập vào con rắn, đến cám dỗ, thì Ê-va đã nghe lời nó mà bỏ lời của Ngài. Câu hỏi của (3:1) là để gieo sự nghi ngờ vào lòng Ê-va, nghi ngờ tình thương của Chúa, nghi ngờ mạng lịnh của Ngài. Vì nghi ngờ tình thương của Chúa, nên về trái cấm, Chúa bảo “đừng ăn đến” thì bà lại thêm cũng đừng đụng đến. Vì nghi ngờ mạng lịnh của Chúa, nên Chúa bảo ngày nào ngươi ăn thì sẽ chết, bà lại bớt đi ý nghĩa của nó là e rằng phải chết chăng. Từ ban đầu ma quỷ đã là kẻ giết người, kẻ nói dối, là cha của sự nói dối, nó dám nói trắng trợn rằng “Hai ngươi chẳng chết đâu, nhưng Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác”. Phạm tội để được phước, chống lại Đức Chúa Trời để được như Ngài, đó là lý luận của ma quỷ.

Bà Ê-va cứ nhìn vào trái cấm, thấy nó ngon, đẹp, lại quý để trở nên khôn ngoan. Chân bà bước tới, tay bà đưa ra, ban đầu còn ngần ngại, lần hồi lòng tham muốn đã lên đến cực độ, bà quyết định hái ăn và trao cho chồng ăn nữa. Thế là bà đã khuất phục sự cám dỗ mà phạm tội cùng Chúa.

Có những câu hỏi của ma quỷ đã hỏi bà Ê-va. Có những lý luận không cần nghe như lý luận của ma quỷ nói với Ê-va. Có những vật không cần xem, không cần nghĩ đến như trái cấm trong vườn Ê-đen.

Kinh Thánh giải thích sự cám dỗ đã biến thành tội lỗi như sau: “Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn lòng tư dục cưu mang sanh ra tội ác, tội ác đã trọn, sanh ra sự chết” (Gia-cơ 1:14-15). Sự ham muốn theo ý riêng lôi cuốn mình vào sự cám dỗ, nếu không lìa bỏ lập tức và dứt khoát mà cưu mang nó trong lòng thì từ tư tưởng cho đến hành động sẽ không bao xa. Vậy hãy coi chừng sự ham muốn của xác thịt, sự ham muốn của mắt và sự kiêu ngạo của đời nầy, vì chúng đều từ thế gian hư hoại mà ra.

II. TỘI LỖI LÀ GÌ?

Kinh Thánh đã trả lời:

1. Tội lỗi là sự vi phạm luật pháp (IGiăng 3:4)

2. Tội lỗi là mọi sự bất công (IGiăng 5:17).

3. Tội lỗi không chịu làm điều lành (Gia-cơ 4:17).

4. Tội lỗi là không làm bởi đức tin (Rô-ma 14:23).

5. Tội lỗi là không tin Chúa Jêsus (Giăng 16:9).

6. Tội lỗi là tư tưởng ngu dại (Châm ngôn 24:9).

7. Tội lỗi là tự cao, kiêu ngạo, gian ác (Châm ngôn 21:4).

Tất cả tư tưởng và hành động của Ê-va được mô tả bằng những câu Kinh Thánh trên đây. Đó là tư tưởng và hành động của nhân loại, là dòng dõi của bà. Người đã phạm tội và chuyên nghề phạm tội, tưởng mình rất khôn ngoan, song kỳ thật rất ngu dại. Tư tưởng tội lỗi đưa đến hành động bất công, bất nghĩa, vô tín, kiêu căng. Tội lỗi và Sa-tan được tập trung vào con rắn là rất đúng. Con rắn có một làn da rất đẹp, song rất dễ sợ, sau làn da đó là nọc độc giết người.

III. HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI (3:7-24).

Ngay sau khi phạm tội, mắt hai người mở ra, không thấy gì tốt đẹp hơn, mà chỉ thấy mình khốn nạn hơn bao giờ hết, là loã lồ, hổ thẹn, vì mất cả vinh quang của Chúa rồi. Cach khôn ngoan nhất mà ông bà có thể làm được làm một chiếc áo bằng lá vả để che thân. Tiếp theo đó là sự sợ hãi khi nghe Chúa đến thăm, không còn vui vẻ, hồn nhiên đón mừng Ngài như trước, mà chạy trốn trong bụi cây. Khi Chúa thẩm vấn thì ông đỗ lỗi cho bà, đồng thời cũng gián tiếp đỗ lỗi cho Chúa “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi, cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi”. Bà đổ lỗi cho con rắn đã cám dỗ bà.

Dầu đổ lỗi cho kẻ khác, ông bà cũng không khỏi tội được. Bà bị đau đớn, ông bị cực khổ. Cả hai bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen. Thật là một tình trạng thê thảm! Đúng như mạng lịnh của Chúa, ông bà đãchết ngay sau khi phạm tội, là mất sự thông công với Chúa. “Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy”. Gieo xác thịt gặt sự hư nát, gieo tội lỗi gặt sự hình phạt. Thế mà nhân loại vẫn bị ma quỷ lừa dối, tưởng rằng phạm tội sẽ có kết quả tốt.

Tội lỗi của A-đam và Ê-va thâm nhiểm vào dòng họ, phát triển một cách khủng khiếp và hậu quả thật đáng sợ.

1. Tội lỗi làm cho con người xa cách Đức Chúa Trời (Ê-sai 59:1-2) và trở nên thù nghịch cùng Ngài (Cô-lô-se 1:21). Khi con người đã xa cách Đức Chúa Trời, họ cũng xa cách nhau. Khi họ đã thù nghịch cùng Ngài, họ cũng thù nghịch nhau. Vì vậy, Ca-in đã giết em mình là A-bên, rồi bắt đầu từ đó, con người cứ tiếp tục giết nhau ngày càng nhiều cho đến ngày nay.

2. Tội lỗi làm cho con người bại hoại, xấu xa, gian ác (Sáng 6:5,11,12; Giê-rê-mi 17:9). Mắt tuộc linh của con người đã bị đuôi mù (II Cô-rinh-tô 4:4), trí khôn trở nên tối tăm (Ê-phê-sô 4:18), lòng đã bị ô uế (Tít 1:15)(, không làm được điều lành, không tránh được điều dữ (Rô-ma 7:17,18). Vì vậy, về phần đạo đức, con người ngày càng thoái hoá, truỵ lạc.

3. Tội lỗi đưa con người đến cỏi chết (Rô-ma 5:12; 6:23). Có 3 sư chết: (1) Chết thuộc thể (Sáng 3:19). (2) Chết thuộc linh (Sáng thế ký 2:17; Ê-phê-sô 2:1). (3) Chết đời đời (Khải huyền 14:11; 20:10).

Chết thuộc thể là thân thể bị tuyệt giao với mọi người, mọi vật xung quanh; chết thuộc linh là linh hồn bị tuyệt giao với Đức Chúa Trời và bị quăng vào hồ lửa đời đời (Khải huyền 20:15).

Hãy lắng nghe tiếng kêu la của một người vô tín ở trong hỏa ngục “Hỡi Áp-ra-ham, tổ tôi ơi, xin thương xót tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi, vì tôi bị khổ trong lửa này quá đỗi… Tổ tôi ơi, vậy thì xin La-xa-rơ đến nàh cha tôi, vì tôi có năm anh em, đặng làm chứng cho họ những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng” (Lu-ca 16:24,27,28).

Ngay khi loài người phạm tội, Đức Chúa Trời đã hứa ban Cứu Chúa chịu chết đền tội cho họ. Cứu Chúa sẽ ra từ dòng dõi người nữ và khi Ngài chịu chết và sống lại, Ngài sẽ giày đạp đầu con rắn là Sa-tan. Chiếc áo bằng lá vả của A-đam và Ê-va đã được thay thế bởi chiếc áo dài bằng da thú. Như vậy, đã có một con chiên bị giết và con chiên đó chỉ về Chúa Jêsus (Giăng 1:29; Khải 13:89).

Ngày nay, mỗi lời hứa đó đã được ứng nghiệm trọn vẹn. Nhờ Chúa Jêsus, chúng ta được Đức Thánh Linh ban cho một đời sống mới, giống như Đức Chúa Trời trog sự thánh khiết và công nghĩa, để vượtkhỏi sự chết mà đến sự sống thuộc linh, sự sống đời đời, ngay sự chết thuộc thể cũng không còn nọc độc đối với chúng ta, nên Phaolo gọi đó là một giấc ngủ để đưc mình về cùng Đức Chúa Trời (ITê 4:14,15; Phi-líp 1:21,23).

Tội lỗi làm buồn Đức Chúa Trời (Sáng 6:5,6), làm hại cho người và cho mình, song ân điển của Chúa đem lại sự vui mừng như khi con trai phá của trở về cùng cha (Lu-ca 15:23-32).

CÂU HỎI

1. Sự vô tội trọn vẹn của A-đam, Ê-va khi mới dựng nên có nghĩa gì?

2. Tại sao A-đam và Ê-va đã phạm tội?

3. Muốn thắng được cám dỗ phải làm sao?

4. Tội lỗi là gì?

5. hậu quả của tội lỗi đã đem ngay đến cho A-đam và Ê-va điều gì?

6. Hậu quả của tội lỗi đã đem gì đến cho nhân loại là dòng dõi của họ?

7. Có mấy sự chết?

8. Người đã xuống hỏa ngục còn biết gì, còn nhớ gì, và đã xin gì?

9. Sau khi loài người phạm tội, Đức Chúa Trời đã hứa gì?

10. Kết quả của tội lỗi và ân điển khác nhau như thế nào?

BÀI 9. HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI

KINH THÁNH: Sáng thế ký 4-6.

CÂU GỐC: “Tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sư ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta biết rằng tội lỗi đưa đến sự chết, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một phương pháp cứu rỗi cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TỘI LỖI CỦA LOÀI NGƯỜI

(Sáng 6:1-7).

TH:

ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Sáng 6:8; 7:1; Rô-ma 5:20).

TB:

LỜI CẢNH CÁO

(Lu-ca 17:22-37).

TT:

LOÀI NGƯỜI CẦN MỘT CỦA LỄ SỐNG

(Hê-bơ-rơ 9:16-28).

TN:

ĐẤNG CHRIST ĐỖ HUYẾT LÀM CỦA LỄ CHUỘC TỘI

(Hê-bơ-rơ 10:11-15).

TS:

SỰ BẤT NGHĨA CỦA LOÀI NGƯỜI

(Rô-ma 3:9-20; IPhi-e-rơ 1:18-19).

TB:

SỰ CÔNG NGHĨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 4:3-7; 5:15-21).

Hậu quả của tội lỗi là hình phạtxảy ra ngay sau khi loài người phạm tội. Hậu quả của tội lỗi thật lớn lao, lâu dài và khủng khiếp quá sức tưởng tượng của loài người. Chúng ta phải run sợ khi nghĩ đến hậu quả của tội lỗi.

Nếu mọi người trên thế gian đều đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học có trường, đau có thuốc, thì ai nấy sẽ sống ngay lành chăng? Không đâu! Hãy xem A-đam và Ê-va trong cảnh vườn Ê-đen. Họ có thiếu chi không? Song họ ham muốn những điều Chúa cấm, tưởng được nhiều hơn. Hậu quả họ không được nhiều hơn mà mất hết, tức là bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen và phải chịu đau đớn, nhọc nhằn cho đến chết. Sau khi phạm tội, A-đam và Ê-va biết phân biệt điều thiện và điều ác, song họ không thể làm điều thiện tránh điều ác, mà chỉ làm điều ác. Loài người là dòng dõi của ông bà cũng vậy.

I. LOÀI NGƯỜI SỐNG THEO Ý RIÊNG.

Khi A-đam và Ê-va đã theo ý riêng mà ăn trái cấm, con của ông bà là Ca-in cũng hành động như vậy. Chúa đã dạy ông bà, rồi ông bà dạy lại hai con, song chỉ 1 người vâng lời.

Khi phải dâng tế lễ lên Chúa, A-bên dâng con chiên đầu lòng và mỡ nó song Ca-in dâng thổ sản. Nào có lạ gì khi Đức Chúa Trời đoái xem A-bên và nhậm của lễ của ông mà không đoái xem Ca-in và của lễ của o. vì một bên vâng lời, còn một bên k. vâng lời là tin Đấng Cứu Thế. “Bởi đức tin, A-bên đã dâng chho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy” (Hê-bơ-rơ 11:4). Tại sao Chúa nhậm tế lễ của A-bên? –“Vì mạng sống của xác thịt ở trong huyết, ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình, vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được” (Lê-viký 17:11).

Toàn thể nhân loại hôm nay cũng được chia làm hai hạng, đi hai con đường và đưa đến hai kết quả như Ca-in và A-bên. Tội lỗi đã làm cho con người tự thị, tự mãn, tự kiêu, tự phụ, lấy chính mình làm trung tâm và không chịu phục ai cả. Pha-ra-ôn của Ai-cập đã nói: “Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết” (Xuất 5:2). Kẻ gian ác nói với Đức Chúa Trời: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài” “Đấng toàn năng là chi mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng ta cầu khẩn Ngài thì được ích gì?” (Gióp 2:14,15).

Đức Chúa Trời không nhậ tế lễ của Ca-in, nhưng Ca-in vẫn ngoan cố, không chịu ăn năn lòng vô tín của mình mà còn giận lắm. Tội lỗi của Ca-in đáng làm cho Chúa giận ông, song ông lại giận Chúa. Dầu vậy, Ngài dịu dàng páhn hỏi Ca-in: “Cớ sao ngươi giận và cớ sao nét mặt ngươi gầm xuống? Nếu ngươi làm lành há chẳng ngước mặt lên sao? Còn ngươi chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó” (Sáng 4:6,7).

Chúa muốn nói với Ca-in rằng, có gì mà phải giận, nếu ông có thiện chí muốn Ngài đẹp lòng nhận lấy, thì nên dâng lên Ngài một tế lễ khác bằng chiên con, nếu trái lại ông không ăn năn việc sai lầm của mình, thì đây là một lời cảnh cáo: Tội lỗi như một ác thú chực sẵn một bên để tấn công ông bất cứ lúc nào thuận tiện, nên ông phải chiến thắng nó. Than ôi! Ca-in chẳng hề đáp lại tiếng gọi nhân từ của Chúa, mà cứ giữ một thái độ im lìm đáng sợ của một người đang giận lắm mà gầm nét mặt. Lòng Ca-in lúc nầy như một hỏa diệm sơn sắp phun lửa. Đó là hậu quả của tội lỗi!

Nhân loại đã và đang đi con đường của Ca-in, là không tin cậy, là không vâng lời Chúa mà còn thù người, hận trời, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

II. LOÀI NGƯỜI TRỞ THÀNH GIAN ÁC.

Ca-in thật gian ác, lòng căm giận, mặt gầm xuống, nhưng cố giấu A-bên và chuyện trò như không có gì cả. Rồi thình lình, Ca-in xông vào em mình và giết đi. Hành động của Ca-in là để hả giận với A-bên và đồng thời trả thù Đức Chúa Trời.

Tại sao Ca-in ghét A-bên? – “Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em mình là công bình” (IGiăng 3:12). Xưa nay kẻ gian ác giết người công bình là chuyện thường. Tội lỗi đã ăn sâu vào đời sống con người và phát triển hết sức mau lẹ. Một khi con người đã thù nghịch cùng Chúa thì đồng thời cũng thù nghịch với nhau.

Ca-in sanh Hê-nóc, Hê-nóc sanh Yrát, Yrát sanh Mêhudaên, Mêhudaên sanh Mêtusaên, Mêtusaên sanh Lê-méc. Ca-in giết người sanh con cũng giết người. Lê-méc là cháu năm đời của Ca-in biết rèn đủ khí giới bằng đồng, bằng sắt. Bài ca của Lê-méc là bài ca giết người, khoe khoang lòng gian ác và chí căm thù của mình đối với hai vợ (Sáng 4:23,24). Vì vậy, không lạ gì hôm nay con người lúc nào cũng khoe khoang khi giới giết người và khả năng giết người của mình. Nhân loại đã vô tình tôn thờ Ca-in và dòng dõi của ông ấy. Đó là hậu quả của tội lỗi.

III. CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CỨU CON NGƯỜI RA KHỎI HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI.

Dầu A-bên đã bị giết, Đức Chúa Trời vẫn dự bị một dòng dõi kính sợ Ngài do Sết mà ra. “Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va” (Sáng 4:26). Sết sanh Ênót, Ênót sanh Kênan, Kênan sanh Mahalahe, Mahalahe sanh Giêrệt, Giêrệt sanh Hê-nóc, Hê-nóc sanh Mêtusêla, Mêtusêla sanh Lê-méc, Lê-méc sanh Nô-ê. “Hê-nóc đòng đi cùng Đức Chúa Trời rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi… Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời” (Sáng 5:24; 6:9). Từ dòng dõi nầy Đấng Cứu Thế ra đời như Chiên Con của Đức Chúa Trời để cất tội lỗi của thế gian đi. Suốt dòng lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời hoạt động không ngừng để đưa Đấng Cứu Thế vào đời. Công tác trọng đại nhất của Đức Chúa Trời không phải là dựng nên vũ trụ mà là cứu tội nhân khỏi tội lỗi, khỏi trầm luân.

Mỗi chúng ta phải biết thực sự nầy, chúng ta là dòng dõi của A-đam và Ê-va, ai nấy đều phạm tội y như ông bà ấy và mang lấy hậu quả là sự chết (Rô-ma 5:12; 6:23). Khi ông bà đưa tay hái trái cấm mà ăn thì chúng ta cũng làm là như ông bà vậy, vì lúc đó chúng ta đang ở trong dòng máu của ông bà. Toàn thể người nam là A-đam con, còn người nữ là Ê-va con. Bản chất của A-đam và Ê-va cũng là bản chất của chúng ta. Từ ông bà sanh hai dòng dõi: Dữ và lành, thuộc về Ca-in và thuộc về A-bên hay Sết. Lành không có nghĩa là hoàn toàn thánh thiện mà chỉ nhận biết tội mình, cầu khẩn Đức Chúa Trời tin nhận Cứu Chúa đã chết đền tội cho mình, đồng đi cùng Đức Chúa Trời như Hê-nóc và Nô-ê.

Các bạn thuộc dòng dõi nào? Các bạn có nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, tin Chúa Jêsus mà được tha tội, được xưng công bình, được tái sanh làm con trai, con gái của Ngài chưa? Lòng các bạn có bình an, thanh thản như lòng của A-bên dầu phải chết không? Hay lòng các bạn đang căm giận, mặt các bạn đang gầm xuống, chực giết người như Ca-in? Dòng dõi các bạn sẽ giống như dòng dõi của Ca-in hay giống như dòng dõi Sết? Các bạn hãy quyết định ngay bây giờ cho đời mình, cho dòng dõi mình, cho số phận tương lai vô tận của mình. Tôi nhân danh Chúa tha thiết khuyên nài các bạn hãy hết lòng ăn năn, dâng lên Chúa một tế lễ như A-bên, tức là tin nhận Cứu Chúa chịu chết vì mình như chiên con chịu giết, để nhờ đó bạn được cứu rỗi. Bằng không, tôi cũng nhân danh Chúa cảnh cáo các bạn qua lời Chúa: “Còn như ngươi chẳng làm lành thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó” (Sáng 4:7). Tội lỗi như một ác thú ham mồi, như sư tử rống rình mò xung quanh, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó (IPhi-e-rơ 5:8).

CÂU HỎI

1. Tại sao Ca-in dâng một tế lễ khác hơn tế lễ của A-bên?

2. Tại sao Chúa đoái xem và nhận tế lễ của A-bên mà từ chối tế lễ của Ca-in?

3. Ca-in có thái độ nào khi ông không được Chúa đoái xem và nhận tế lễ?

4. Ca-in có thái độ nào khi Chúa nhân từ kêu gọi ông ăn năn?

5. Vì không ăn năn Ca-in đã phạm thêm tội gì?

6. Dòng dõi Ca-in ra soa? Họ khoe khoang về điều gì?

7. Chúa dự bị cho nhân loại dòng dõi của ai?

8. Do dong dõi của Sết, có ai ra đời để cứu nhân loại?

9. Công tác trọng đại nhất của Đức Chúa Trời trãi qua các đời là gì?

10. Chúng ta thuộc dòng dõi của ai?

BÀI 10. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐOÁN PHẠT LOÀI NGƯỜI BẰNG NƯỚC LỤT

KINH THÁNH: Sáng thế ký 7:17-24; 9:8-17.

CÂU GỐC: “Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình…” (IIPhi-e-rơ 2:5).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời đoán phạt tội nhân và ban thưởng cho những kẻ vâng phục Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TỘI LỖI

(IGiăng 3:1-11)

TH:

LỜI CẢNH CÁO CỦA CHÚA JÊSUS

(Lu-ca 17:22-37).

TB:

CHIẾC TÀU CỦA NÔ-Ê

(Sáng thế ký 7:1-8,19).

TT:

BÀN THỜ CỦA NÔ-Ê LẬP

(Sáng thế ký 8:20-22).

TN:

GIAO ƯỚC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Sáng thế ký 9:9-17).

TS:

GIAO ƯỚC MỚI

(Hê-bơ-rơ 8:6-13).

TB:

SỰ ĐOÁN PHẠT BẰNG LỬA

(IIPhi-e-rơ 3:3-13).

Chúng ta thấy hậu quả của tội lỗi lớn lao và kinh khiếp là dường nào! Ban đầu chỉ có hai người phạm tội, bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen, phải chịu nhọc nhằn, đau đớn cho đến chết. Con trai của ông bà ấy còn phạm tội ghê gớm hơn, là giết anh em mình, bị rủa sả, phải lưu lạc khổ sở. Dòng dõi của ông bà ngày càng đông đúc, thì tội lỗi cũng ngày càng phát triển đến mức Đức Chúa Trời phải quyết định giết cả loài người lẫn loài vật. Thật không lạ gì mà Chúa phải hành động như thế, vì các con trai của Đức Chúa Trời là dòng dõi Sết đã lấy các con gái của loài người là dòng dõi Ca-in, làm cho loài người không còn bản chất thuộc linh mà chỉ là xác thịt. Sự hung ác của họ rất nhiều và ý tưởng của họ đều xấu luôn (Sáng thế ký 6:1-7).

Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời rất yêu thương, Ngài đã dựng nên loài người và muôn vật. Nhưng bởi thánh khiết, Ngài đoán phạt loài người phạm tội. Không ai được phép khinh dể sự dư dật của lòng nhân từ, nhịn nhục, khoan dung của Chúa, song nên biết rằng mọi sự đó cốt để đem tội nhân đến sự ăn năn. Nếu ai không ăn năn thì tự chứa cho mình sự thạnh nộ của ngày thạnh nộ như một cơn nước lụt.

I. LỜI CẢNH CÁO VỀ SỰ ĐOÁN PHẠT BẰNG NƯỚC LỤT.

Dầu nhân loại thời bấy giờ rất bại hoại nhưng còn có gia đình Nô-ê gồm tám người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. Vì thế, khi Nô-ê được 480 tuổi, Chúa bảo ông đóng một chiếc tàu để cứu cá nhân mình và các loài súc vật. Suốt 120 năm, gia đình Nô-ê chỉ làm một việc là vừa đóng tàu vừa giảng đạo. “Còn 120 năm nữa, Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt thế gian bằng nước lụt”. Nhưng chẳng ai tin lời Nô-ê. Họ có tài chăn nuôi, trồng tỉa, đánh đàn, thổi sáo, chế tạo khí giới. Họ mạnh dạn và nổi danh (4:20-22; 6:4). Họ tưởng mình có tài năng tự vệ, không gì có thể làm hại mình được. Vả lại, chưa hề có một dấu hiệu nào tỏ ra sẽ có nước lụt.

Thay vì ăn năn, chắc ai nấy đã không tiếc lời chế nhạo Nô-ê, vì không có sự điên dại nào bằng dành bao nhiêu công phu và thì giờ đóng một chiếc tàu lớn trên đất khô. Song Nô-ê và gia đình ông nhất quyết làm xong công việc Chúa giao. Nếp sống của gia đình Nô-ê không giống như những người đồng thời với họ. Khi mỗi người xung quanh lo ăn uống, cưới, gả, vui chơi như thường, thì gia đình ông “thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình” (Hê-bơ-rơ 11:7). Kinh Thánh gọi Nô-ê là thầy giảng đạo công bình (IIPhi-e-rơ 2:5). Đó là hành động của con người có đức tin.

Ngày nay, chúng ta phải sống như Nô-ê, “hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không tì, không vít, không chổ trách được, lại giữa dòng dõi đó giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:15).

II. PHƯƠNG PHÁP THOÁT KHỎI SỰ ĐOÁN PHẠT BẰNG NƯỚC LỤT.

Chiếc tàu Nô-ê đóng không hoàn toàn giống như một chiếc tàu bình thường. Thật ra nó là một cái thùng khổng lồ, có thể nổi lềnh bềnh trên mặt nước vì được trét chai cả trong lẫn ngoài. Kích thước của nó rất lớn: bề dài 137m, bề ngang 23m, bề cao 14m, có một cửa sổ và một cửa ra vào. Tàu có ba tầng gồm nhiều phòng dành cho người và súc vật.

Sau khi chiếc tàu đã đóng xong, Đức Chúa Trời bảo Nô-ê, cả gia đình ông, các loài vật thanh sạch mỗi loài 7 cặp, các loài vật không thanh sạch mỗi loài 1 cặp, đực và cái, trống và mái vào tàu. Mọi việc ấy phải hoàn tất trong 7 ngày. Thời gian 7 ngày đó như một đặc ân cuối cùng dành cho tội nhân. Đang khi ai nấy nhìn xem công việc của Nô-ê, họ có đủ thì giờ vào với ông. song than ôi, chẳng ai buồn nghĩ đến nên cuối cùng bị nước cuốn đi hết thảy! Nhân loại trong đời Nô-ê hư mất không phải tại nước lụt mà tại lòng hờ hững và vô tín của họ. Vì dầu nước lụt, song đã sẳn tàu. Nhân loại hôm nay hư mất đời đời trong hỏa ngục không phải tại vì tội lỗi của họ lớn lao, nặng nề mà tại lòng hững hờ, vô tín của họ. Tội lỗi của họ đã có Chúa Jêsus chết thế rồi.

Bảy ngày trôi qua, nhằn năm Nô-ê 600 tuổi, mọi sự đã xong, Đức Chúa Trời đóng cửa tàu lại. Trời bắt đầu mưa như cầm chĩnh mà đổ trọn 40 ngày 40 đêm, đồng thời các nguồn vực lớn nổ ra, các đập trên trời mở xuống. Nhân loại bấy giờ không ngờ chi hết, kẻ leo lên mái nhà, kẻ trèo lên cây, người chạy lên đồi, lên núi, cuối cùng các đỉnh núi cao nhất đều ngập và ngập suốt 150 ngày. Song nước càng dâng lên bao nhiêu, càng nâng hỏng chiếc tàu bấy nhiêu. Tất cả các loài có hơi thở đều chết, chỉ có gia đình Nô-ê và các loài vật ở với ông trong tàu đều được sống.

Trong tàu Nô-ê, con chuột cũng được cứu như con voi, ngoài tàu Nô-ê con voi cũng chết như con chuột. Được cứu hay phải chết không phải tại lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, mà tại ở trong tàu hay ngoài tàu. Nhân loại ngày nay cũng vậy, được cứu rỗi hay bị hư mất không phải tại lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, tốt hay xấu, mà tại ở trong Chúa Jêsus hay ngoài Chúa Jêsus. Trong Chúa Jêsus, người nghèo cũng được cứu rỗi như người giàu, ngoài Chúa Jêsus, người giàu cũng bị hư mất như người nghèo.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA KHÔNG ĐOÁN PHẠT BẰNG NƯỚC LỤT NỮA.

Sau khi nước hạ, mặt đất khô, Nô-ê và gia đình được chỉ thị của Đức Chúa Trời ra khỏi tàu cùng với các loài súc vật. Với tấm lòng tràn ngập vui mừng vì biết ơn sâu xa, Nô-ê liền lập một bàn thờ, bắt các loài vật thanh sạch làm của lễ thiêu dâng lên Đức Chúa Trời để tôn vinh và cảm tạ Ngài. Chúng ta được cứu rỗi trong Chúa Jêsus, được thoát khỏi hình phạt đời đời mà bước vào hạnh phúc đời đời, nên ai nấy phải tỏ lòng biết ơn Chúa mà dâng chính mình làm của lễ sống và thánh trên bàn thờ của Ngài (Rô-ma 12:1).

Khi ra khỏi tàu, nhìn những di tích rùng rợn, hoang tàn của nước lụt, con người cảm thấy sợ hãi lắm. Ai nấy tự hỏi, chùng nào sẽ có một cơn nước lụt như vậy nữa? Động lòng thương xót, Chúa đã trấn an và bảo đảm với họ: “Ta sẽ lập giao ước cùng các ngươi và các loài xác thịt, chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoại đất nữa” (9:11). Để chứng minh giao ước của Chúa là chắc chắn, không bao giờ thay đổi, Ngài cho một dấu hiệu là chiếc mống (cầu vồng) đặt trên các từng mây, nói lên rằng Ngài sẽ giữ lời cam kết với họ. Từ đó đến nay, không còn có cơn nước lụt nào như đã có trong đời Nô-ê, mặc dù trong đời nầy không tốt hơn trong đời Nô-ê. Vậy khi mây đến giang bủa khắp nơi, bầu trời tối mịt, mưa tuôn xối xả, chúng ta cũng không cần sợ hãi, vì chiếc mống còn đó, Chúa sẽ chẳng bao giờ hủy diệt loài người bằng nước lụt nữa. Về phương diện thuộc linh, thập tự giá là dấu hiện của sự giao ước mới giữa Chúa và Hội Thánh, nên đôi khi dầu có giông tố phủ phàng, ba đào nổi dậy, chúng ta chỉ cần nhìn xem thập tự giá, vì nó bảo đảm cho chúng ta lời hứa của Chúa (Rô-ma 8:1,31-39).

IV. BÀI HỌC CỦA CHÚNG TA.

1. Nô-ê làm y như lời Chúa phán dặn (Sáng 6:22; 7:5).

2. Nô-ê vừa đóng tàu vừa giảng đạo, đó là lời giảng hùng hồn như sấm sét.

3. Đức Chúa Trời bảo vệ Nô-ê: “Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu” (7:1). Các bạn có đem cả gia đình mình vào tàu cứu rỗi của Chúa Jêsus chưa? Hãy làm ngay bây giờ đi!

4. Đức Chúa Trời đứng phía sau cõi thiên nhiên, bàn tay Ngài điều khiển mọi sự. Nếu Chúa chẳng cho phép thì chẳng có gì xảy ra. Dầu khi Chúa cho nước lụt xảy ra thì đồng thời Ngài cũng dự bị chiếc tàu cho những kẻ thuộc về Ngài. “Bởi cớ ấy, phàm người nhân đức đều cầu nguyện cùng Chúa trong khi có thể gặp Ngài, quả thật trong lúc có nước lụt lan ra, thì sẽ chẳng lan đến ngươi” (Thi 32:6).

5. Thế gian đời xưa để dành cho nước, thế gian đời nầy để dành cho lửa (Ha-ba-cúc 2:13; IIPhi-e-rơ 3:10-12).

CÂU HỎI

1. Hãy kể những bước phát triển của tội lỗi từ A-đam đến Nô-ê?

2. Đức Chúa Trời đã dùng Nô-ê cảnh cáo thế gian trong bao lâu về tai nạn nước lụt?

3. Suốt thời gian đó gia đình Nô-ê làm gì?

4. Thái độ của người thế gian đối với gia đình Nô-ê như thế nào?

5. Nhân loại lúc bấy giờ có thể thoát khỏi cơn đoán phạt bằng cách nào?

6. Cơ hội cuối cùng cho nhân loại là bao lâu?

7. Ai bị nước lụt cuốn đi và ai được cứu?

8. Tại sao Đức Chúa Trời lập giao ước với loài người?

9. Thế gian nầy để danh cho gì?

10. Bài học hôm nay dạy chúng ta phải làm gì?

BÀI 11. KHI CON NGƯỜI TỰ CAI QUẢN

KINH THÁNH: Sáng thế ký 11:1-9.

CÂU GỐC: “Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va. Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.” (Châm ngôn 16:5).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thất rằng khi con người tự cai quản và đặt Đức Chúa Trời ra ngoài đời sống mình thì những hậu quả nào sẽ xảy ra.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

MỘT CHÍNH QUYỀN MỚI

(Sáng 9:1-6).

TH:

SỰ THẤT BẠI CỦA LOÀI NGƯỜI

(Sáng 11:19).

TB:

LÀM TÔI MỌI CHO TỘI LỖI

(Rô-ma 6:14-23).

TT:

MỘT SỐ NGƯỜI KHÔNG BIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 1:18-23).

TN:

CÁC NHÀ CẦM QUYỀN PHẢI TÔN KÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI

(E-xơ-ra 7:25-28).

TS:

CẦU NGUYỆN CHO CÁC NHÀ CẦM QUYỀN

(ITi 2:1-4).

TB:

NHÀ CẦM QUYỀN GIAN ÁC SẼ BỊ PHẠT

(Thi thiên 2:1-12).

Có người cho rằng nhân loại sẽ tiến bộ mỗi ngày một cách không ngừng cho đến chừng lên tận các ngôi sao. Ngược lại, chúng ta thấy từ khi sa ngã, nhân loại ngày càng bại hoại một cách đáng sợ. Quỷ Sa-tan đã quả quyết: “Ta sẽ lên trời, ta sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao của Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc, ta sẽ lên trên cao những đám mây, ta sẽ làm ra mình bằng Đấng rất cao”. Nhưng kết quả, nó phải xuống nơi âm phủ, sa vào mọi vự thẩm (Ê-sai 14:12-15). Dầu ngày nay, nhân loại đã tiến bộ vượt bực về tri thức nhưng đạo đức thì ngày càng tệ hại hơn. Vì vậy, số phận đời đời của nhân loại sẽ là “bị ném xuống hồ lửa” (Khải huyền 20:15) nếu không kịp thời ăn năn.

Sau cơn đoán phạt bằng nước lụt, nhân loại vẫn muốn tự cai quản chứ không muốn phục tùng Chúa. Đây, hãy xem hậu quả.

I. MỤC ĐÍCH CỦA CON NGƯỜI KHI HỌ TỰ QUẢN (Sáng 11:1-7).

Sách Sáng thế ký chép về nguồn gốc của vũ trụ, của sự sống, của con người, của tội lỗi, của các thứ tiếng và của các chủng tộc. Nhiều thứ tiếng đã gây nhiều trở ngại cho sự thông công giữa người với người. Đó cũng là hậu quả của tội lỗi.

Từ con nước lụt cho đến chừng 100 năm sau, gia đình của Nô-ê đã thêm lên khoảng 30.000 người. “Cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng”. Nhờ vậy, ai nấy hiệp nhất với nhau thành một sức mạnh đáng kể. Điều này rất tốt mà cũng rất xấu. Dùng sức mạnh để làm việc lành là rất tốt, song dùng sức mạnh để làm dữ thì rất xấu.

Nhân loại đã đua nhau đến một đồng bằng rộng rãi và phì nhiêu tại xứ Si-nê-a. Dọ dùng sức mạnh, sự khôn ngoan và tài nguyên sẳn có mà quyết định xây dựng một thành phố lớn, dựng cái tháp giữa thành phố với 3 mục đích: (1) Tháp cao tận trời (2) Để được rạng danh (3) Để khỏi tản lạc khắp nơi. Chương trình của nhân loại luôn luôn là ích kỷ, kiêu căng và phản loạn. Song sự cố gắng tối đa của họ cũng như của tổ phụ họ: một chiếc áo choàng bằng lá vả với một cái tháp dở dang, cả hai chỉ là công dã tràng xe cát!

Họ là những người mạnh mẽ, can đảm, có nhiều tham vọng, song chỉ tham vọng ích kỷ, kiêu căng, gian ác. Họ nói với nhau: “Hè! Chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa… Nào! Chúng ta hãy lo làm cho rạng danh”. Họ đã hô hào, cổ vũ để thống nhất ý chí, tập trung nổ lực vào một công tác mà thôi. Họ quyết định khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi trở lực cho đến chừng đạt được mục đích. Không có đá, lấy gạch thế cho đá, không có hồ lấy chai thế cho hồ. Nếu mục đích của họ là tôn vinh Chúa, phục vụ Ngài thì phước biết bao! Song mục đích của họ là tự tôn vinh và chống lại Ngài.

1. Tháp cao tận trời: Không thể nào xây được một cái tháp chóp cao tận trời, song lòng kiêu căng của họ đã lên đến tận trời, đến nỗi Đức Chúa Trời phải xuống để xem xét công việc của họ. Ngày nay, lòng kiêu căng của nhân loại cũng như vậy và còn hơn nữa.

2. Làm cho rạng danh: Họ không nghĩ đến danh Chúa, mà chỉ nghĩ đến danh mình. Họ muốn lưu lại cho muôn đời sau một kỷ niệm về công trình vĩ đại của họ, tỏ ra họ là những anh hùng, con cháu của anh hùng Nim-rốt (Sáng 10:8,9).

3. Để khỏi bị tản lạc khắp nơi: Chúa bảo họ: “Hãy sanh sản thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất” (Sáng 9:1). Hành động của họ là chốgn lại mạng lịnh của Chúa. Từ khi sa ngã, con người thích chống đối, nhất là chốgn đối Đức Chúa Trời, hậm chí khinh dễ Ngài để tỏ ra ta đây là mạnh mẽ. Song “Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Ga-la-ti 6:7).

II. HẬU QUẢ KHI CON NGƯỜI TỰ QUẢN.

1. Con người có nhiều thứ tiếng: Đức Chúa Trời phải can thiệp để phá hủy chương trình và mục đích của nhân loại Ngài phán: “Bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi! Chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của người nầy với người kia”.

Không ai biết rõ bởi cách nào và ngay lập tức hay từ từ mà nhân loại bắt đầu đổi giọng nói và thứ tiếng, làm cho họ không còn hiểu nhau được nữa. Chúa đã dựng nên con người, Ngài chỉ cần sửa lại một chút thôi là có sự thay đổi. Chúa đã khiến con lừa của Ba-la-am nói được tiếng người, đã làm cho Nê-bu-cát-nết-sa mất trí mình là một con bò, cũng dễ dàng như vậy.

Nhân loại đã quyết định, nên Đức Chúa Trời không có phương pháp nào tốt hơn là phải làm lộn xộn tiếng nói của họ, để ai nấy không hiểu nhau, không thể đồng công cộng tác và họ nản lòng mà bỏ việc. Một số người, một giọng nói, một ý chí, một quyết tâm, một mục đích, tất cả thành một lực lượng vô địch như không ai phá hủy nổi, không ai ngăn chặn được. Song với Đức Chúa Trời thì dễ quá. ngày nay có khác hơn xưa, nhân số đông đúc, nguyên liệu dồi dào, kho học kỹ thuật cao, thì Đức Chúa Trời vẫn phán: Kìa các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, và kể như một mảy bụi rơi trên cân. Này, Ngài giở các cù lao lên như đồ vật nhỏ… Mỗi dân tộc ở trước mặt Đức Giê-hô-va đều như không, Ngài xem như trống không và hư vô vậy” (Ê-sai 40:15,17).

2. Con người tản lạc khắp nơi (11:8,9). Con người không những rất bực tức vì không thể tiếp tục công tác, nhưng họ còn phải tản ra khắp trên mặt đất, đúng như chương trình Chúa đã định cho họ. Chúa đã hành động như vậy là vì tình yêu thương nhân loại, muốn cứu họ khỏi phí thì giờ, sức khoẻ để làm một việc vô ích, chỉ vì kiêu căng, khoe khoang.

Dầu vậy, tinh thần ích kỷ, kiêu căng, phản loạn của nhân loại vẫn còn cho đến ngày nay, nên ai nấy lo xây tháp BA-bên cho mình. Kinh Thánh chép gì về chương trình của nhân loại ngày nay? “Khốn thay cho kẻ lấy huyết dựng ấp, và lấy sự gia ác xây thành! Phải, ấy há chẳng phải bởi Đức Giê-hô-va vạn quân mà các dân làm việc cho lửa và các nước nhọc nhằn cho sự hư không hay sao?” (Ha-ba-cúc 2:12,13). “Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tan, đất và mọi công trình trên đất đều sẽ bị đốt cháy cả” (IIPhi-e-rơ 3:10).

Ngày nay người ta còn tìm thấy di tích của Tháp Ba-bên tại Ba-by-lôn, trên bờ sông Ơ-phơ-rát. Nó nói lên cho ai nấy biết rằng đó là công trình vĩ đại của người xưa, là nguồn gốc sinh ra nhiều thứ tiếng, nói chung là hậu quả của tội lỗi.

III. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA.

Đồng tâm hiệp lực, thống nhất ý chí, san bằng trở ngại để phục vụ Chúa là phước, để chống đối Ngài là nguy.

A-đam không vâng lời Đức Chúa Trời, làm cho dòng dõi ông bị hư mất, Chúa Jêsus vâng lời Đức Chúa Trời làm cho dòng dõi Ngài được cứu rỗi. Vì vậy, Chúa Jêsus là Cứu Chúa của những kẻ vâng lời Ngài (Hê-bơ-rơ 5:9).

Kẻ gian ác tự tôn vinh, người công bình tôn vinh Chúa (Khải 7:9,10).

Kẻ gian ác kiêu căng, người công bình khiêm nhường. “Đức Giê-hô-va biết đường người công bình, song đường kẻ ác rồi bị diệt vong” (Thi thiên 1:6).

Dầu con người gian ác, Chúa vẫn thương yêu. “Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45).

CÂU HỎI

1. Khi con người tự cai quản, thì họ đã làm điều tốt hay xấu?

2. Ban đầu con người có mấy thứ tiếng và mấy giọng nói?

3. Chương trình và mục đích của con người lúc bấy giờ là gì?

4. Họ dùng vật liệu gì để xây thành và tháp?

5. Họ không xây tháp cao tận trời, nhưng cái gì đã lên đến tận trời?

6. Họ làm vậy để chống lại mạng lịnh nào của Chúa?

7. Chúa đã làm gì để phá hủy chương trình của con người?

8. Vì sao Chúa phá hủy chương trình của con người?

9. Chương trình của con người ngày nay để dành cho gì?

10. Bài học cho chúng ta là gì?

BÀI 12. ÁP-RA-HAM, TỔ PHỤ CỦA DÂN DO THÁI

KINH THÁNH: Sáng thế ký 12:1-9.

CÂU GỐC: “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho ngươi cùng làm nổi danh ngươi và ngươi sẽ thành một nguồn phước” (Sáng 12:2).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy việc Đức Chúa Trời lựa chọn một dân tộc để làm nguồn phước cho cả thế gian.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỨC CHÚA TRỜI LỰA CHỌN MỘT NGƯỜI

(Sáng 12:1-9).

TH:

GIAO ƯỚC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VỚI ÁP-RA-HAM

(Sáng 15:18; 17:1-8).

TB:

NƠI ĐỨC CHÚA TRỜI BAN PHƯỚC

(Sáng 13:14-18; 26:1-3).

TT:

ĐỨC CHÚA TRỜI BAN THƯỞNG CHO ĐỨC TIN CỦA ÁP-RA-HAM

(Rô-ma 4:1-8; 5:13-22).

TN:

ĐỨC CHÚA TRỜI GIAO TRÁCH NHIỆM

(Hê-bơ-rơ 11:23-29).

TS:

ƠN PHƯỚC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TUỲ THUỘC VÀO SỰ VÂNG LỜI

(Lê-vi ký 26:1-13).

TB:

ƠN PHƯỚC CHÚA BAN TRONG CƠN NGUY KHỐN

(Sáng 39:1-9).

Sau cơn nước lụt thời Nô-ê, Đức Chúa Trời đã quyết định không hủy diệt nhân loại nữa, mặc dầu họ vẫn tiếp tục sống cuộc đời gian ác, nhưng Ngài chia ra kẻ gian ác với người công bình, biệt riêng người công bình khỏi kẻ gian ác, để từ đó Ngài sẽ có một dân và qua dân đó, Đấng Cứu Thế giáng trần. Hội Thánh cũng là một dân mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn từ giữa thế gian, để riêng ra làm dân thuộc về Ngài (IPhi-e-rơ 2:9,10). Để lựa chọn một dân tộc, trước mắt Chúa lựa chọn một người, để từ đó một dân tộc được khai sinh.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI LỰA CHỌN ÁP-RA-HAM.

Người Đức Chúa Trời lựa chọn là Áp-ram, về sau đổi tên là Áp-ra-ham (Sáng 17:5). Ông vốn sinh trưởng tại thành U-rơ, xứ Canh-đê, là một trung tâm văn hoá và tôn giáo của thế giới thời bấy giờ. Song tôn giáo chỉ thờ phượng thần tượng chứ không thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật. Chúa biết lòng của Áp-ra-ham và vợ ông là Sa-rai, về sau đổi tên là Sa-ra (Sáng 17:15).

Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham khi ông còn ở tại quê hương trong vòng bà con và nàh cha ông mà bảo rằng: “Ngươi hãy ra khỏi… mà đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho” (Sáng 12:1; Công vụ 7:2,3). Ông đáp ứng lời kêu gọi cho 3 bước sau:

1. ra khỏi quê hương: Con người ai cũng yêu mến quê hương của mình. Vả lại, quê hương của Áp-ra-ham vừa giàu có vừa văn minh, nên ra khỏi quê hương là một hy sinh không nhỏ cho o.

2. Ra khỏi vòng bà con: Dầu Áp-ra-ham chỉ có hai em trai, song nếu kể bà con nội ngoại thì rất đông, vì bấy giờ người ta sống rất lâu, sinh nhiều con trai, con gái. Ra khỏi vòng bà con mà đi đếm một nơi xa lạ là điều không phải dễ.

3. Ra khỏi nhà cha: Nhà cha là tổ ấm, tại trần gian không có nơi nào được an ủi bằng nhà cha mình. Ra khỏi nhà cha, cũng như ra khỏi quê hương và vòng bà con, Áp-ra-ham mất rất nhiều tài sản và quyền lợi.

4. “Đi đến xứ mà Ta sẽ chỉ cho”: Áp-ra-ham biết tên của xứ đó là Ca-na-an (Sáng thế ký 11:31), song ông không biết xứ đó ở đâu và ra sao (Hê-bơ-rơ 11:8). Đời sống theo Chúa là đời sống đức tin, đời sống theo Chúa là đời sống hy sinh. Song tin nơi Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ thất vọng, hy sinh theo Chúa sẽ không bao giờ hối tiếc. Phần thưởng của đức tin là sẽ thấy điều mình đã tin. Hy sinh vì Chúa rất ít, nhận lãnh noi Chúa rất nhiều.

Có đức tin lớn, Áp-ra-ham mới dám vâng lời Chúa àm ra đi. Người như thế mới được lựa chọn làm tổ phụ của một dân tộc, gọi là dân tộc có đức tin. Nếu muốn được Chúa lựa chọn và trọng dụng, chúng ta phải học hỏi đức tin của Áp-ra-ham.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA BAN PHƯỚC CHO ÁP-RA-HAM (Sáng 12:1-3).

Ai dám tin cậy Chúa và vâng lời Ngài thì nhận được lời hứa của Ngài. Lời hứa của Chúa là quý báu, lớn lao và lâu dìa. Có 7 điều mà Chúa hứa với Áp-ra-ham so với một điều mà Chúa đòi hỏi ở ông:

1. “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn”: Chữ “lớn” ở đây có hai nghĩa.

(a) Là ngày càng lớn. Khi lời này phán ra thì Áp-ra-ham chưa có con, song kể từ đó, số dân Y-sơ-ra-ên mỗi ngày một nhiều. (b) Là cao thượng, vĩ đại. Lịch sữ chứng minh dân Y-sơ-ra-ên rất khôn ngoan, mạnh mẽ, xứng đáng với danh “một dân lớn”.

2. “Ta sẽ ban phước cho ngươi”: Lời hứa này đã được thực hiện ngay trong đời Áp-ra-ham. Ê-li-ê-sê làm chứng “Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chủ tôi bội phần, trở nên thạnh vượng, Ngài ban cho chủ tôi chiên, bò, bạc, vàng, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa” (Sáng 24:35). Dầu Áp-ra-ham có nhiều lỗi lầm, song Chúa thành tín và nhân từ vẫn ban phước cho ông cả thuộc thể lẫn thuộc linh.

3. “Ta sẽ… làm nổi danh ngươi”: Chưa từng có ai nổi danh như Áp-ra-ham, và cũng chưa có ai được trọng vọng bằng ông. những tín đồ Hồi giáo, Do thái giáo và Cơ Đốc giáo đều coi ông là tổ phụ đức tin của họ. Ngay trong đời ông, người ta đã tôn ông làm quan trưởng của Đức Chúa Trời (Sáng 23:6). Chính Đức Chúa Trời đã gọi ông là một tiên tri, một bạn hữu, một tôi tớ (sáng 20:7; II Sử 20:7; Gia-cơ 2:23; Thi thiên 105:5,6) Ngài không giấu điều chi với ông (Sáng 18:17).

4. “Ngươi sẽ thành một nguồn phước”: Chúa sẽ làm cho ông như lời Ngài đã hứa, song chính ông có trách nhiệm trong nếp sống hằng ngày của mình là phải sống thế nào để kẻ khác nhờ đó mà được phước, vì họ đã tin Chúa như ông (Ga-la-ti 5:8,9).

5. “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi”: Chúa xem Áp-ra-ham là một nhân vật rất quan trọng, không những được Ngài ban phước mà bất cứ kẻ nào chúc phước ông cũng được Ngài ban phước. Làm lành cho tiên tri, cho bạn hữu, cho đầy tớ của Chúa được kể như làm lành cho chính mình Ngài (Ma-thi-ơ 25:40).

6. “Ta sẽ… rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi”: ngược lại ai rủa sả Áp-ra-ham thì Chúa cầm bằng rủa sả ngày, và người đó chắc chắn bị rủa sả. Y-sác lập lại lời đó khi chúc phước cho Gia-cốp (Sáng 27:29). Không những đối với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông mà đối với con cái Chúa trải qua các đời cũng vậy, ai rủa sả họ sẽ bị Chúa rủa sả.

7. “Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”: lời hứa nầy thực hiện qua Chúa Cứu Thế Giê-xu ra từ dòng dõi Áp-ra-ham. Lời hứa nầy rất quan trọng, nên được nhắc lại nhiều lần (Sáng 18:18; 22:18; 26:4; 28:14). Tân Ước cũng xác nhận Đấng Cứu Thế là dòng dõi của Áp-ra-ham (Ma-thi-ơ 1:2).

Những lời mà Chúa đã hứa với Áp-ra-ham thật lớn lao, đến nỗi phải mất hơn 2000 năm Ngài mới thực hiện hết. Những phước mà Chúa ban cho Áp-ra-ham thật rất nhiều, đến nỗi qua ông và dòng dõi ông, cả nhân loại cũng được phước. Áp-ra-ham đã tin cậy và vâng lời Chúa, nên Ngài đã dùng ông thực hiện những chương trình vĩ đại của Ngài. Chúa còn có những chương trình khác, nên Ngài cũng muốn dùng chúng ta để thực hiện, miễn là chúng ta cũng tin cậy và vâng lời Ngài. Chúng ta há không khao khát một đời sống phước hạnh như Áp-ra-ham sao?

III. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT ÁP-RA-HAM (SÁNG 12:4-9).

“Rồi Áp-ra-ham đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy”. Chúa kêu gọi, Chúa hứa cho, Chúa dẫn dắt, còn ông phải tin cậy và vâng lời. Trên đây là một câu ngắn ngủi song đầy đủ, mô tả đời sống đức tin của Áp-ra-ham. Ông mạnh dạn lên đường, công khai chứng tỏ mình hết lòng theo Chúa. Tin cậy và vâng lời Chúa là tạo một cơ hội thuận tiện để Ngài thực hiện lời hứa của Ngài. Chúng ta hãy bước theo sự dẫn dắt của Chúa.

Mục tiêu cuộc hành trình của Áp-ra-ham là xứ Ca-na-an. Vì cậy, ông đã thu thập tài sản từ người chỉ vật, có vợ là Sa-ra và cháu là Lót cũng đi. Ông đã đi chặn đường thứ nhất từ U-rơ đến Cha-ran là 430 dặm. Sau đó, ông đi đoạn đường thứ hai từ Cha-ran đến Si-chem, thuộc xứ Ca-na-an là 300 dặm. Chắc Áp-ra-ham và gia đình đã mệt nhọc nhiều, song chắc chắn cũng vui thỏa lắm trên đường theo Chúa.

IV. “ĐỨC GIÊ-HÔ-VA HIỆN RA CÙNG ÁP-RA-HAM”.

Đó là phần thưởng rất lớn cho Áp-ra-ham, vì tỏ ra Chúa đẹp lòng mà hoan nghinh ông đã tin cậy và vâng lời Ngài. Được Chúa hiện ra trò chuyện với mình là một đặc ân vô giá. Những nỗi gian lao của Áp-ra-ham được Chúa bù đắp một cách xứng đáng. Phước cho ai được Chúa thăm viếng như vậy.

Chúa phán: “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi xứ này”. Trước kia Chúa bảo ông đến xứ Ca-na-an, bây giờ đã đến, Chúa hứa ban xứ đó cho cả dòng dõi ông. Sự ban cho của Chúa dồi dào quá, tình thương của Ngài bao la là dường nào!

Để bày tỏ lòng biết ơn xâu xa, Áp-ra-ham lập một bàn thờ và dâng một của lễ thiêu lên Chúa, rồi ông tiếp tục con đường đến Bê-tên. Tại đó ông lập một bàn thờ và cầu khẩn danh Ngài. Cầu khẩn danh Chúa có nghĩa là ông công khai làm chứng về Chúa cho mọi người xung quanh. Cuộc đời của Áp-ra-ham thật là đẹp, nên không lạ gì khi thấy Chúa đã thực hiện trọn vẹn mọi lời hứa của Chúa dành cho ông. Dầu đôi khi Áp-ra-ham đã bị cám dỗ mà phạm tội, thì sau đó, ông đã ăn năn và tiếp tục tin cậy, vâng lời Chúa, nên Ngài vẫn tiếp tục ban phước cho ông.

CÂU HỎI

1. Sau cơn nước lụt, Chúa không còn hủy diệt loài người gian ác mà Ngài đã làm gì?

2. Chúa chọn ai làm tổ phụ của dân tộc Y-sơ-ra-ên?

3. Để theo Chúa, Áp-ra-ham phải chấp nhận điều kiện gì?

4. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham 7 phước nào?

5. Trong các phước ấy, phước nào quan trọng hơn cả và có tương quan đến cả nhân loại?

6. Để đến chỗ Chúa chỉ cho, Áp-ra-ham phải đi con đường bao xa?

7. Khi đến nơi, Chúa ban cho Áp-ra-ham một phần thưởng gì?

8. Để tỏ lòng biết ơn Chúa, Áp-ra-ham đã làm chi?

9. Áp-ra-ham cầu khẩn danh Chúa có nghĩa gì?

10. Muốn được phước như Áp-ra-ham, chúng ta phải sống như thế nào?

BÀI 13. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN LUẬT PHÁP

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 20:1-17.

CÂU GỐC: “Vì chẳng người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.” (Rô-ma 3:20).

MỤC ĐÍCH: cho chúng ta thấy rằng luật pháp của Đức Chúa Trời cho con người biết tội lỗi và sự bất lực con người trước tội lỗi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỜI SỐNG TÔI MỌI

(Xuất Ê-díp-tô ký 1:5-14).

TH:

CUỘC ĐỜI TÔI MỌI ĐƯỢC GIẢI PHÓNG

(Xuất Edíptô ký 14:13-28).

TB:

DÂN SỰ HỨA VÂNG GIỮ LUẬT PHÁP

(Xuất Ê-díp-tô ký 19:3-8).

TT:

LUẬT PHÁP

(Xuất Ê-díp-tô ký 20:1-26).

TN:

MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT PHÁP

(Ga-la-ti 3:19-24).

TS:

ĐẤNG CHRIST GIỮ LUẬT PHÁP

(Rô-ma 10:4-10).

TB:

BÌNH AN ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 5:1-11).

Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham và Sa-ra một con trai là Y-sác trong lúc họ đã già nua. Y-sác cưới Rê-bê-ca, sanh Ê-sau và Gia-cốp. Gia-cốp có 12 con trai và khi xứ Ca-na-an có đói kém, ông đem cả gia đình 70 người xuống Ê-díp-tô. Sau 400 năm tại Ê-díp-tô, dòng dõi của Gia-cốp sinh sản thêm nhiều, kể cả nam phụ lão ấu vào khoảng hơn một triệu người. Dân tộc Y-sơ-ra-ên đã thành hình. Bấy giờ, Pha-ra-ôn là hoàng đế Ê-díp-tô không còn tử tế với dòng dõi Gia-cốp như lúc mới xuống đó, mà ngược đãi, hành hạ như những tên nô lệ với ý đồ tiêu diệt họ.

Đức Chúa Trời đã can thiệp, buộc Pha-ra-ôn phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Được phóng thích, dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ, vào đồng vắng đến núi Si-na-i. Tại đây, Đức Chúa Trời ban luật pháp cho họ.

I. MỤC ĐÍCH ĐỨC CHÚA TRỜI BAN LUẬT PHÁP.

Bất cứ một dân tộc nào cũng có luật pháp để bảo vệ an ninh trật tự, làm căn bản cho quyền lợi và nếp sống của con người. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã kêu gọi Môi-se lên núi Si-na-i và Ngài ban luật pháp để ông truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên. Luật pháp đó được chép trong Ngũ Kinh Môi-se, nhưng cũng bao hàm các sách Thi thiên và tiên tri (Giăng 12:34; ICôr 14:24; Giăng 10:34; 15:25; Lu-ca 24:44). Luật pháp có hai phần: luật đạo đức và luật lễ nghi, cũng gọi là luật thờ phượng. Luật đạo đức như 10 điều răn thì không thay đổi mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, còn luật lễ nghi như đền tạm tại đồng vắng, đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, các con sinh, thầy tế lễ chỉ có ý nghĩa tượng trưng nên đều bị thay đổi.

Luật pháp của Chúa là trọn vẹn (Thi 19:7), song con người bất toàn nên không ai giữ trọn. Vì vậy, luật pháp đã ban ra không phải để cứu người, song để cho con người biết mình có tội. Luật pháp như chiếc gương soi để nhờ đó ai nấy biết mặt mình bẩn, song nó không thể làm cho mặt mình sạch được! Muốn sạch chúng ta phải nhờ nước. Ân điển như nước. Vì vậy, sau phần luật đạo đức, có phần luật lễ nghi, luật đó chỉ cho con người cách nào để được tha thứ tội lỗi, hầu có đủ tư cách mà đến gần Đức Chúa Trời. Tất cả luật lễ nghi được ứng nghiệm trọn vẹn trong Đức Chúa Jêsus: Ngài là Đền Thờ, là Con Sinh, là Thầy Tế Lễ (Cô-lô-se 2:16,17; Hê-bơ-rơ 8:5). Sự chết và sự sống lại của Ngài để đền tội chúng tôi là ân điển của Đức Chúa Trời, nhờ đó chúng ta được tha thứ (Giăng 1:17).

II. PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT CỦA LUẬT PHÁP (XUẤT 20:1-17).

Chúa Jêsus đã tóm tắt phần quan trọng nhất của luật pháp là: Yêu Chúa và Yêu Người (Ma-thi-ơ 22:37-40).

1. Yêu Chúa (1-11).

a. Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác (1-3): Chúa nhắc cho họ nhớ rằng Ngài là Đấng đã giải phóng họ khỏi cảnh nô lệ tại Ê-díp-tô bằng 10 tai vạ giáng trên Pha-ra-ôn. Ngài đã rẽ Biển Đỏ cho họ đi qua, dẫn dắt họ bằng trụ mây và trụ lửa, nuôi họ bằng nước trong hòn đá. Vì vậy, họ không có phép thờ bất cứ thần nào khác ngoài Ngài. Về sau, mỗi lần sa ngã, dân Y-sơ-ra-ên thờ các thần khác thì bị Chúa sửa trị bằng nhiều tai vạ như đói kém, dịch lệ, gươm đao, lần nặng nề hơn hết là Ngài đã lưu đày họ 70 năm tại Ba-by-lôn. Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, họ không còn thờ thần nào khác nữa.

Chúng ta cũng đã làm nô lệ cho ma quỷ trong nước tối tăm, mà đã được giải phóng bằng sự chết đền tội và sự sống lại của Chúa Jêsus, nên chúng ta không được phép thờ một thần nào khác ngoài Chúa. Nhưng chúng ta thường bị cám dỗ mà thờ thần Mamôn (Ma-thi-ơ 6:24), và nhiều thần khác (Cô-lô-se 3:5; Ê-phê-sô 5:5). Nếu chúng ta yêu mến bất cứ người nào, một điều gì hơn yêu Chúa thì những điều đó đã trở thành những thần của chúng ta rồi (Ma-thi-ơ 10:37) (IGiăng 2:15-17). Chúa Jêsus phán “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

b. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình (4:6): Điều răn thứ nhất là thờ một mình Đức Chúa Trời, điều răn thứ hai là cách thờ Ngài. Đừng vẽ một hình nào, đừng đúc một tượng nào gọi là hình tượng của Đức Chúa Trời để thờ. Làm như vậy là không tôn vinh Ngài mà sỉ nhục Ngài vì xem Ngài như vậy vô tri, làm như vậy là không yêu Ngài, mà là ghét Ngài. Hậu quả của việc đó là bị Chúa phạt từ tổ phụ đến con cháu trải ba bốn đời, song Ngài làm ơn ngàn đời cho kẻ yêu mến Ngài và giữ điều răn của Ngài.

Kinh Thánh chép: “vậy thì các ngươi có thể ví Đức Chúa Trời với ai, lấy ảnh tượng nào mà so sánh với Ngài được? Vậy, bởi chúng ta là dòng dõi của Đức Chúa Trời thì chớ nên ngờ rằng Chúa giống như vàng bạc hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên” (Ê-sai 40:18; Công vụ 17:29). Kinh Thánh nhiều lần lặp lại Đức Chúa Trời nghiêm cấm và lên án sự thờ hình tượng (Xuất 23:24, Ê-sai 44:12-20; Thi 115:4-8; Ê-sai 2:20; Khải 21:8; 22:15). Lời khuyên tha thiết của Giăng là “hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng” (IGiăng 5:21). Phao-lô cũng khuyên chúng ta nữa (I Cô-rinh-tô 10:14).

c. Ngươi chớ lấy danh Chúa làm chơi (câu 7): Thời Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên chỉ được phép nhân danh Chúa mà thề trong việc quan trọng, nhưng không ai thề dối. Tân Ước, Chúa Jêsus khuyên đừng thề chi cả, phải thì nói phải, không thì nói không (Ma-thi-ơ 5:33-37). Gia-cơ cũng lặp lại lời ấy (Gia-cơ 5:12). Không nên kêu danh Chúa để đùa giỡn.

d. Ngươi hãy nhớ ngày yên nghỉ đặng làm nên ngày thánh (8-11): Làm cho ngày đó trở nên ngày thánh là nghỉ tất cả các công việc xác thịt tại đồng áng, chợ búa, xí nghiệp, công sở, mà làm công việc thuộc linh. Họp lại ca hát, cầu nguyện, nghe giảng, làm chứng, chăm sóc, để cho tâm hồn và thể xác được yên nghỉ, được bồi dưỡng.

Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên khi vào xứ Ca-na-an thì cứ 7 năm cho đất nghỉ một năm (Xuất 23:10,11; Lê-vi 25:1-7, 20-22). Song họ không vâng lời, nên sau 490 năm, Đức Chúa Trời cho dân ấy bị lưu đày 70 năm, hầu cho đất được nghỉ – như lời Chúa đã phán (II Sử ký 36:20,21). Hội Thánh đầu tiên nghỉ ngày thứ nhất trong tuần lễ tức là Chúa nhật, vì Chúa Jêsus đã sống lại ngày ấy (Ma-thi-ơ 28:1; Giăng 20:19,26). Đức Thánh Linh cũng giáng lâm vào ngày thứ nhất (Công vụ 2:1).

2. Yêu Người (12-17).

a. Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi (12): Chúa Jêsus đã quở trách người Pha-ri-si bỏ điều răn nầy mà theo lời truyền khẩu (Ma-thi-ơ 15:1-9; Mác 7:8-13). Ngài còn nêu gương hiếu kính cha mẹ (Lu-ca 2:51; Giăng 19:26,27). Không ai sống đẹp lòng Chúa nếu không hiếu kính cha mẹ. Ai yêu mến Chúa cũng yêu mến cha mẹ.

b.Ngươi chớ giết người (13): Chúa Jêsus kể kẻ giận hoặc mắng anh em mình cũng đáng tội như kẻ giết người (Ma-thi-ơ 5:21,22). Giăng lên án kẻ ghét anh em mình là kẻ giết người (IGiăng 3:15). Không ai được tự sát như Giu-đa (I Cô-rinh-tô 6:15-18).

c. Ngươi chớ tà dâm (14): Chúa Jêsus kể kẻ ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm (Ma-thi-ơ 5:27,28). Phao-lô lên án tội tà dâm là tội rất nặng, vì quan hệ đến thân thể là Đền thờ của Chúa (I Cô-rinh-tô 6:15-18).

d. Ngươi chớ trọm cắp (15): Chẳng những không trộm cắp mà còn chịu khó làm việc để giúp kẻ thiếu thốn (Ê-phê-sô 4:28).

e. Ngươi chớ làm chứng dối (16): Ma quỷ là cha của sự nói dối (Giăng 8:44). Ai nói dối là tự nhận mình là con cái của ma quỷ và đồng số phận với nó trong hồ lửa (Khải 21:8). Hãy nói thật với kẻ lân cận (Ê-phê-sô 4:25).

f. Ngươi chớ tham lam (17): Tham lam của cải, tiền bạc, vợ của người là tội nặng như thờ hình tượng. A-can tham của cải (Giô-suê 7:10-26), Ghê-ha-xi tham vàng bạc (IICác 5:19-27), Đa-vít tham vợ người (IISa-mu-ên 11 và 12) đều bị hình phạt.

Giao ước cũ, luật pháp chép trên bản đá, giao ước mới, luật pháp chép trên bảng thịt, trong lòng (Giê-rê-mi 31:31-33); Ê-xê-chi-ên 36:26-27). Xin Thánh linh chép luật pháp của Ngài trong chúng ta để nó trở thành sự sống, bản tinh của chúng ta, hầu ai nấy vâng giữ và làm theo.

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời ban luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên tại đâu? Lúc nào? Qua ai?

2. Phần quan trọng nhất của luật pháp là gì?

3. Đức Chúa Trời ban luật pháp với mục đích gì?

4. Tại sao chúng ta cũng như dân Y-sơ-ra-ên phải thờ một mình Chúa mà thôi?

5. Tại sao chúng ta không nên thờ Đức Chúa Trời bằng hình tượng?

6. Giữ ngày yên nghỉ để làm gì?

7. Chúa Jêsus dạy va làm gương như thế nào về sự hiếu kính cha mẹ?

8. Tại sao tín đồ không nên nói dối?

9. Hãy kể ra hậu quả sự tham lam của vài người trong Kinh Thánh?

10. Nhờ đâu chúng ta giữ được luật pháp của Chúa?

BÀI 14. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỐI ĐÃI VỚI TUYỂN DÂN CỦA NGÀI

KINH THÁNH: Giô-suê 3:9-17.

CÂU GỐC: “Vậy nên phải nhận biết rằng, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi tức là Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài.” (Phục truyền 7:9).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời thành tín, luôn luôn giữ lời hứa của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

LỜI TIÊN TRI TRONG KINH THÁNH

(II Phi 1:15-21).

TH:

NHỮNG KẺ NHẠO BÁNG LỜI TIÊN TRI

(II Phi 3:1-14).

TB:

ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA VỚI ÁP-RA-HAM

(Sáng 12:1-3; 13:14-18; 15:1-21; 17:4-8).

TT:

DÂN DO THÁI KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA

(Lê-vi ký 26:27-34; Nê-hê-mi 9:26-29; Ê-xê-chi-ên 36:19).

TN:

ĐỨC CHÚA TRỜI LUÔN LUÔN THÀNH TÍN

(Lê-vi ký 26:40-46).

TS:

DÂN Y-SƠ-RA-ÊN BỊ BẮT LÀM PHU TÙ

(IICác 17:5, 21-23).

TB:

DÂN GIU-ĐA BỊ BẮT LÀM PHU TÙ

(IICác 24:11-25; 10).

Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ra-ham và dòng dõi ông là Y-sơ-ra-ên để từ đó Đấng Cứu Thế ra đời làm nguồn phước cho nhân loại. Chương trình của Chúa không những cứu dân Y-sơ-ra-ên mà cứu cả nhân loại. Lịch sử Y-sơ-ra-ên là lịch sử Đấng Cứu Thế theo phần xác. Mọi việc Chúa làm trải qua các thời đại đều hướng về thập tự giá là nơi Con Độc Sanh của Ngài phải dâng mình làm của lễ đền tội cho chúng ta. (Hê-bơ-rơ 9:26).

I. TUYỂN DÂN VÀO ĐẤT HỨA.

Đức Chúa Trời thành tín đã rẽ sông Giô-đanh, đưa dân Y-sơ-ra-ên vào tận Ca-na-an như Ngài đã hứa cùng tổ phụ họ (Xuất 3:8,17; 12:5; Giô-suê 24:11). Giô-suê phân chia xứ Ca-na-an cho 12 chi phái theo tên 12 con trai của Gia-cốp. Hai lần ông lặp lại câu nầy: “Trong các lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên chẳng có lời nào không thành, thảy đều ứng nghiệm hết” (Giô 21:45; 23:14), để xác nhận sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với họ. Câu gốc bài học hôm nay nhấn mạnh về sự thành tín đó. Kinh Thánh mô tả sự thành tín của Chúa là lớn lắm (Ca thương 3:23), đến tận các mây (Thi 36:5), tồn tại đời đời (Thi 100:5).

Không những đối với dân Y-sơ-ra-ên, song đối với chúng ta, Đức Chúa Trời cũng thành tín như vậy. Ngài tha thứ cho chúng ta (IGiăng 1:9). Ngài không thể thất tín (IITi 2:13), mọi lời hứa đều chắc chắn (ICôr 1:9; IICôr 1:18; Hêb 10:23), nên chúng ta có thể an tâm phó mình cho Ngài (IPhi-e-rơ 4:19).

II. TUYỂN DÂN PHẠM TỘI.

Vào xứ Ca-na-an đượm sữa và mật, dân Y-sơ-ra-ên không giữ được lòng kính mến Chúa ban đầu. Sau khi Giô-suê và những người đồng thời với ông đều qua đời, con cháu họ không nhìn biết Chúa, làm ác trước mặt Ngài, thờ lạy hình tượng (Các quan xét 2:10-13). Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ, phó họ vào tay kẻ thù nghịch và họ bị khốn khổ lắm. Mỗi khi họ ăn năn, Chúa dấy lên một quan xét giải phóng họ. Việc nầy cứ lặp lại nhiều lần như vậy cho đến đời Sa-mu-ên.

Dầu dân Y-sơ-ra-ên đã trải qua thời đại tối tăm, hỗn độn mà “Ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Quan xét 17:6; 21:25), thì vẫn có người trung thành với Chúa, nên được Ngài trọng dụng, nam có mà nữ cũng có – như bà Đê-bô-ra. Trong vòng dân sự cũng không thiếu những người yêu mến Ngài, nam có mà nữ cũng có – như Na-ô-mi, An-ne. Điều đó giống như trong đền thờ Đức Chúa Trời, lúc nào đèn cũng cháy luôn chứ không hề tắt (Xuất 27:20-21; Lê-vi 24:1-4). Hội Thánh đang trong hồi tối tăm của thời kỳ cuối cùng, thời kỳ bội đạo, mỗi chúng ta là một ngọn đèn, cũng như Giăng Báp-tit là một cây đuốc đang cháy (Ma-thi-ơ 5:14-16; Giăng 5:35). Giữa dòng dõi gian ác, bội nghịch nầy chúng ta phải giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuối trong thế gian (Phi-líp 2:15).

III. TUYỂN DÂN BỊ LƯU ĐÀY VÀ TẢN LẠC.

Đến đời Sa-mu-ên, dân Y-sơ-ra-ên xin ông lập lên trên họ một vua như các dân tộc xung quanh. Lời xin đó không đẹp lòng Chúa chút nào, song họ cố xin cho kỳ được (I Sam 8:4-9). Chúa là vua của họ. Trong Xuất 19:4-6, Chúa đã dùng đến 8 lần chữ “Ta” hoặc “của Ta” mà nói với dân Y-sơ-ra-ên, tỏ ra Ngài đã cứu họ, và họ thuộc về Ngài. Song đến đây họ từ chối Ngài. Vua thứ nhất của họ là Sau-lơ, kế đến là Đa-vít, rồi Sa-lô-môn. Khi còn thanh niên và trung niên, Sa-lô-môn rất tốt, song khi trở về già, Sa-lô-môn rất xấu, mặc dầu ông rất giàu và khôn ngoan hơn tất cả mọi người trước ông và sau ông. Sa-lô-môn thăng hà, nước ông bị chia ra làm hai: Nam và Bắc. Miền Nam có hai chi phái là Giu-đa và Bên-gia-min do Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn cai trị, lấy Giê-ru-sa-lem làm kinh đô, tên nước là Giu-đa. Miền Bắc có 10 chi phái do Giê-rô-bô-am là một trong những bầy tôi của Sa-lô-môn cai trị, lấy Sa-ma-ri làm kinh đô, tên nước là Y-sơ-ra-ên. Nước Y-sơ-ra-ên rộng đất, đông dân hơn nước Giu-đa, song các vua Giu-đa yêu mến Chúa hơn các vua Y-sơ-ra-ên (ICác 12:16-24).

1. Nước Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc bị mất: dân Y-sơ-ra-ên lìa bỏ Đức Chúa Trời là Đấng đã giải phóng tổ phụ họ khỏi Ê-díp-tô mà đem qua Ca-na-an. Họ bắt chước các dân tộc chung quanh mà thờ lạy tà thần bằng đủ thứ hình tượng ghê tởm (ICác 16:32, 18:19; IICác 13:6). Mặc dầu Chúa đã dùng nhiều tiên tri như Ô-sê, A-mốt, Ê-li, Ê-li-sê v.v… không ngớt khuyên lơn và cảnh cáo, nhưng họ không ăn năn. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã phó họ trong tay vua A-si-ri. Kinh đô Sa-ma-ri bị hạ, dân Y-sơ-ra-ên bị giết, kẻ sống sót bị bắt là phu tù. Người ta đem các dân khác đến ở trong Sa-ma-ri thế chỗ dân Y-sơ-ra-ên. Việc nầy xảy ra nhằm năm 722 trước Chúa giáng sinh (IICác 17:5-24). Về sau dân Y-sơ-ra-ên không thừa nhận dân tại Sa-ma-ri là dân Do-thái mà cứ kể họ là dân Sa-ma-ri, kể họ như một dân ngoại bang, mặc dầu Sa-ma-ri nằm trong địa phận nước Do-thái (Lu-ca 11:15-18; Giăng 4:9).

“Sự công bình làm cho nước cao trọng, song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc” (Châm 14:34). Hậu quả của tội lỗi là sự hổ thẹn và cuối cùng là sự chết, còn được giải phóng khỏi tội lỗi thì kết quả là sự thánh khiết và cuối cùng là sự sống đời đời (Rô-ma 6:21-22).

2. Nước Giu-đa ở miềm Nam bị mất: Các vua rất tốt của Giu-đa là A-sa, Giô-sa-phát, Ê-xê-chia, Giô-si-a, còn các vua rất xấu là A-cha, Ma-na-se. Có một cơn phục hưng xảy ra trong thời vua Giô-si-a, khi ông nầy ra lệnh hủy diệt tất cả hình tượng và mọi vật dụng trong cuộc thờ lạy các tà thần. Đồng thời thầy tế lễ Hinh Kia tìm được quyển luật pháp trong đền Đức Chúa Trời (II Sử 34,35).

Nước Giu-đa bị quân đội Ba-by-lôn đánh phá nhiều lần. Lần thứ nhất nhằm năm 605 TC. Nê-bu-cát-nết-sa bắt những thành phần ưu tú của Giu-đa đem qua Ba-by-lôn (IICác 24:1; Đa-ni-ên 1:1). Đến năm 586 TC, nước Giu-đa bị hủy phá hoàn toàn, của cải bị cướp, người bị giết hoặc bị bắt lưu đày để làm nô lệ (IICác 25:1-20; II Sử 36:11-21).

Nước Giu-đa mất vì những lý do sau đây: (1) Sau khi nước Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc bị thôn tính, nước Giu-đa ở miền Nam bị cô lập. (2) Thay vì hết lòng ăn năn nhờ cậy Chúa, họ đã cầu cứu các lân bang. Do đó có những mối liên hệ về xã hội, chính trị, kéo theo mối liên hệ về tín ngưỡng làm cho nước Giu-đa bị ảnh hưởng sự thờ lạy hình tượng. (3) Dầu đã được các tiên tri nhiều lần, nhiều cách kêu gọi, họ cũng chẳng vâng lời.

Sau 70 năm bị lưu đày ở xứ người, dân Giu-đa hoàn toàn tuyệt vọng, xem mình như trũng xương khô, thì Đức Chúa Trời đã đem họ trở về tổ quốc như Ngài đã hứa (II Sử 36:22,23; Giê 25:29, 29:10). Xô-rô-ba-bên và Nê-hê-mi đã hướng dẫn họ. Ngay từ đó họ không thờ lạy tà thần như trước. Song cũng ngay từ khi bị lưu đày, họ mất quyền tự chủ và luôn luôn ở dưới sự đô hộ của Ba-by-lôn, Mê-đô – Ba-tư, Hy-lạp và La-mã cho đến đời Chúa Jêsus. Trong đời Chúa Jêsus, lại một lần nữa dân Giu-đa chối bỏ Ngài, nộp Ngài để đóng đinh trên thập tự giá, nên họ bị tản lạc khắp nơi trên thế giới từ năm 70 cho đến năm 1947 họ mới được độc lập.

Qua cách đối đãi của Đức Chúa Trời với tuyển dân của Ngài chúng ta thấy Chúa vừa thương xót, vừa công bình, nhất là Ngài thành tín mặc dù họ thất tín. Lịch sử dân Do-thái được Đức Chúa Trời điều khiển để thực hiện chương trình cứu rỗi nhân loại.

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời chọn lựa Áp-ra-ham và dòng dõi ông với mục đích gì?

2. Tại sao Chúa đem dân Y-sơ-ra-ên vào tận Ca-na-an?

3. Khi vào Ca-na-an thì lòng dân Y-sơ-ra-ên như thế nào?

4. Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn thì Chúa làm gì cho họ?

5. Trong khi dân Y-sơ-ra-ên bội đạo thì vẫn có người yêu mến Ngài. Họ là ai?

6. Tại sao chúng ta biết Chúa không bao giờ bỏ hẳn dân Y-sơ-ra-ên?

7. Sau khi Sa-lô-môn qua đời thì nước ông bị chia ra hai phần như thế nào?

8. Vì sao dân Giu-đa bị lưu đày?

9. Kể từ khi bị lưu đày đó, dân Giu-đa đã mất gì quý hơn hết?

10. Dân Giu-đa bị hình phạt gì khi họ chối bỏ Chúa Jêsus?

BÀI 15. GIẤC MƠ CỦA VUA NÊ-BU-CÁT-NẾT-SA

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 2:1-49.

CÂU GỐC: “Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời tỏ ra những điều kín nhiệm, và đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết điều sẽ tới trong những ngày sau rốt” (Đa-ni-ên 2:28a)

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy lời tiên tri đã bày tỏ chương trình của Đức Chúa Trời ra như thế nào.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

GIẤC MƠ CỦA NHÀ VUA

(Đa-ni-ên 2:1-18).

TH:

SỰ KÍN NHIỆM ĐƯỢC TỎ RA

(Đa-ni-ên 2:19-30).

TB:

TƯƠNG LAI ĐƯỢC TIÊN ĐOÁN

(Đa-ni-ên 2:31-45).

TT:

ĐA-NI-ÊN ĐƯỢC ĐƯA LÊN ĐỊA VỊ CAO TRỌNG

(Đa-ni-ên 2:46-49).

TN:

VƯƠNG QUỐC SẼ XUẤT HIỆN TRONG TƯƠNG LAI

(Đa-ni-ên 7:9-14).

TS:

VỊ VUA SẼ ĐẾN TRONG VINH HIỂN

(Ma-thi-ơ 24:27-51; Khải 19:11-16).

TB:

NGÔI VUA CỦA ĐA-VÍT

(II Sam 7:15,16; Lu-ca 1:31-33; Công vụ 2:29-32).

Năm 605 TC, vua Nê-bu-cát-nết-sa đem quân đánh phá xứ Giu-đa và bắt thành phần ưu tú trong dân đem qua Ba-by-lôn. Giữa vòng những người bị bắt có thanh niên Đa-ni-ên và ba bạn của ông. Nhờ tin cậy Đức Chúa Trời mà không chịu ô uế bởi của cúng là món ăn, thức uống của Nê-bu-cát-nết-sa, Đa-ni-ên và ba bạn của ông được Chúa ban sự khôn khoan xuất chúng, mười lần giỏi hơn các nhà thông thái nhất của Ba-by-lôn.

Tuy nhiên, trước cảnh nước mất nhà tan, tấm thấn làm nô lệ ở xứ người, chắc Đa-ni-ên không khỏi thắc mắc: Tại sao Đức Chúa Trời cho phép điều nầy xảy ra? Chúa có chương trình gì cho các dân, các nước trong đó có Giu-đa? Vì vậy, Chúa đã cho Đa-ni-ên biết chương trình của Ngài qua giấc mơ của Nê-bu-cát-nết-sa.

I. ĐA-NI-ÊN NHẮC LẠI GIẤC MƠ CHO VUA NÊ-BU-CÁT-NẾT-SA (1-35).

Vào năm 603 TC, trong một đêm, Nê-bu-cát-nết-sa thấy một điềm chiêm bao rất quan trọng, song khi thức giấc thì vua quên hết. Vua liền cho vời tất cả các nhà thông thái trong nước đến và bảo họ thuật lại điềm chiêm bao của vua và giải nghĩa nó. Không một nhà thông thái nào làm thỏa mãn vua được. Vì thế, họ xin vua thuật chiêm bao cho họ nghe, rồi họ sẽ giải nghĩa. Vua tức giận, truyền lệnh đem giết tất cả các nhà thông thái, cũng tìm Đa-ni-ên và ba bạn của ông để giết nữa. Đa-ni-ên tin rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời biết chiêm bao đó và giải nghĩa được mà thôi, nên ông bình tĩnh xin Nê-bu-cát-nết-sa một thời hạn ngắn, ông sẽ thuật chiêm bao cho vua và giải nghĩa nó.

Được vua chấp thuận, Đa-ni-ên và ba bạn của ông đã cầu nguyện hết lòng, nên Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự bí mật đó cho Đa-ni-ên cũng bằng một chiêm bao. Ông liền ca ngợi Đức Chúa Trời về sự khôn ngoan, quyền năng tể trị vũ trụ và bày tỏ sự bí mật cho loài người. Ông cũng cảm tạ Ngài đã nhậm lời khẩn nguyện của ông mà ban cho ông sự khôn ngoan để biết những bí mật trong chương trình của Ngài.

Đa-ni-ên xin vào chầu Nê-bu-cát-nết-sa và thuật lại cho vua về chiêm bao mà vua đã thấy: Vua thấy một pho tượng rất lớn, rự rỡ lạ thường và dữ tợn lắm. Pho tượng đó đầu bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, hai ống chân bằng sắt và hai bàn chân một phần bằng sắt, một phần bằng đất sét. Cuối cùng có một hòn đá đến đập vào hai bàn chân bằng sắt và đất sét của pho tượng, làm cho tất cả sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều thành ra tro bụi, nhưng hòn đá đó hóa ra một hòn núi lớn, đầy dẫy trên đất.

II. ĐA-NI-ÊN GIẢI NGHĨA GIẤC MƠ CHO NÊ-BU-CÁT-NẾT-SA (36-45).

Pho tượng mà Nê-bu-cát-nết-sa đã thấy là Đức Chúa Trời bày tỏ, Ngài cho chúng ta biết chương trình của Ngài đối với thế gian qua bốn đế quốc được dấy lên rồi bị lật đổ từ thời Đa-ni-ên cho đến cuối cùng:

1. Đầu bằng vàng ròng là đế quốc Ba-by-lôn của Nê-bu-cát-nết-sa. Vua nầy giàu có, oai quyền, vinh hiển bậc nhất như vàng ròng. Ông đã xây một đền thờ cho các thần của ông, vách thì dát vàng và những loại đá quý lấp lánh như ánh sáng mặt trời. Ba-by-lôn làm bá chủ thế giới thời bấy giờ trong thời gian 87 năm (625-538 TC).

2. Ngực và hai cánh tay bằng bạc là đế quốc Mê-đi – Ba-tư. Ba-by-lôn bị Mê-đi – Ba-tư đánh bại và Đa-ri-út lên làm vua cai trị (Đa-ni-ên 5:31). Như hai cánh tay, nước nầy cũng có hai phần Mê-đi và Ba-tư. Dầu thua Ba-by-lôn như bạc kém hơn vàng, song Mê-đi – Ba-tư đã chinh phục và cai trị các nước một cách oai quyền hiếm có trong thời gian hai trăm năm (538-330 TC).

3. Bụng và vế bằng đồng là đế quốc Hy-lạp. A-lịch-sơn đại đế đã chiến thắng Mê-đi – Ba-tư và lập lên đế quốc Hy-lạp, thống trị thế giới bấy giờ. Sau khi A-lịch-sơn đại đế qua đời, bốn tướng lãnh của ông chia các nước thành bốn phần để cai trị, đế quốc Hy-lạp duy trì quyền bá chủ trong thời gian 267 năm (330-63 TC).

4. Ống chân và bàn chân bằng sắt lộn với đất sét là đế quốc La-mã. Sắt không có giá trị bằng vàng, bạc, đồng, song rất cứng, có sức mạnh làm vỡ nát mọi vật. La-mã đã chinh phục Hy-lạp và cai trị thế giới từ năm 63 TC đến năm 395 SC. La-mã bị chia ra làm hai phần: Đông La-mã và Tây La-mã. Đông La-mã bị đánh bại năm 476, còn Tây La-mã cho đến năm 1453 mới mất hẳn trong tay quân Thổ nhĩ kỳ.

Hai bàn chân có mười ngón bằng sắt lộn đất sét cũng thuộc về hai ống chân bằng sắt, tức là mười nước thuộc về ảnh hưởng của La-mã. Mười nước đó theo chính thể vừa cứng vừa giòn như đất sét lộn sắt là chính thể quân chủ và dân chủ. Hiện nay, chúng ta dăng sống trong thời đại 10 ngón chân này. Mười nước tại Châu âu thuộc Đế quốc La-mã xưa sẽ được thiết lập thành một khối trước ngày Chúa Jêsus tái lâm.

Lịch sử thế giới chứng minh rằng, 4 đế quốc vừa kể trên thật đã liên kết nắm quyền bá chủ thế giới bấy giờ đúng như thứ tự mà Đa-ni-ên đã giải nghĩa về pho tượng Nê-bu-cát-nết-sa đã thấy. Ngay khi Đa-ni-ên giải nghĩa pho tượng, thì Ba-tư chỉ là một tỉnh nhỏ thuộc quyền đế quốc Ba-by-lôn. Trong khi đó, Hy-lạp chỉ là những bộ lạc hiếu chiến, không có hy vọng gì trở thành cường quốc mấy trăm năm sau. Cũng vào thời đó, La-mã chỉ là một thành phố nhỏ mới xây dựng trên bờ sông Tiber. Như vậy, sách tiên tri là một sách lịch sử được viết trước khi các biến cố xảy ra. Biết trước như vậy chỉ có Đức Chúa Trời biết, và Ngài cho viết thành sách để bày tỏ chương trình của Ngài đối với thế gian.

5. Hòn đá siêu nhiên. Hòn đá nầy không phải bởi tay người ta đục ra, hòn đá đến đập vào pho tượng làm cho vỡ nát từ đầu chí chân, rồi hòn đá thành một núi lớn. Đa-ni-ên giải nghĩa rằng Đức Chúa Trời sẽ dựng nên một nước không bao giờ bị hủy diệt mà nước nầy sẽ đánh tan mọi nước. Cả Kinh Thánh đều mượn hòn đá chỉ về Chúa Jêsus (Thi 118:22; Ê-sai 28:16; Ma-thi-ơ 21:42-44; Mác 12:10; Lu-ca 20:17-18; Công vụ 4:9-12). Việc nầy sẽ xảy ra khi Chúa Jêsus tái lâm, vì Ngài là vua của các vua, Chúa của các Chúa (Khải 19:11-16).

III. CẢM XÚC CỦA NÊ-BU-CÁT-NẾT-SA TRƯỚC ĐẤNG BAN GIẤC MƠ (46-49).

Nghe qua mọi sự, vua cảm xúc sâu xa, đến nỗi sắp mình, lạy Đa-ni-ên rồi truyền dâng lễ vật cho ông. Vua cất tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên là Đấng tỏ các sự bí mật, rồi Đa-ni-ên và ba bạn ông được tôn trọng và thăng thưởng.

IV. BÀI HỌC CHO ĐỜI SỐNG CHÚNG TA.

Đức Chúa Trời có một chương trình cho thế giới mà Ngài đã dựng nên. Đức Chúa Trời cũng có một chương trình cho mỗi đời sống chúng ta mà Ngài đã cứu chuộc. Ngài đang thực hiện các chuơng trình đó. Chúng ta hãy buông mình vào tay Chúa và xin Ngài thự hiện chương trình của Ngài trong chúng ta. “Vì Đức Giê-hô-va biết đường người công bình, song đường kẻ ác rồi bị diệt vong” (Thi 1:6).

CÂU HỎI

1. Trong khi Đa-ni-ên và ba bạn ông làm phu tù tại Ba-by-lôn thì có điều gì xảy ra cho Nê-bu-cát-nết-sa?

2. Tại sao các nhà thông thái của Ba-by-lôn không làm thỏa mãn được yêu cầu của vua?

3. Đa-ni-ên và ba bạn ông đã làm gì trong lúc nguy nan đó?

4. Dầu bằng vàng chỉ về ai?

5. Ngực và cánh tay bằng bạc chỉ về ai?

6. Bụng và vế bằng đồng chỉ về ai?

7. Hai ống chân bằng sắt chỉ về ai?

8. Mười ngón chân sắt lộn với đất sét chỉ về ai?

9. Hòn đá chỉ về ai?

10. Bài học cho chúng ta là gì?

BÀI 16. ĐỨC CHÚA TRỜI HÀNH ĐỘNG TRONG DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

KINH THÁNH: Ê-sai 44:28; 45:4.

CÂU GỐC: “Nầy tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được, tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời, và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa” (Ê-sai 59:1-2).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta biết chương trình của Đức Chúa Trời đã được thực hiện trọn vẹn như thế nào trong khoảng thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

BẢY MƯƠI NĂM LƯU ĐÀY

(Giê-rê-mi 25:8-14, 32,33).

TH:

LỜI TIÊN ĐOÁN VỀ SỰ TAN LẠC

(Lê-vi ký 26:22-32; Phục 28:63-68).

TB:

LỜI TIÊN TRI LẠ LÙNG VỀ SIRU

(Ê-sai 44:28; 45:4).

TT:

CÁC PHU TÙ DO-THÁI ĐƯỢC TRỞ VỀ LẦN THỨ I

(E-xơ-ra 1:1; 2:1).

TN:

CÁC PHU TÙ DO-THÁI ĐƯỢC TRỞ VỀ LẦN THỨ II

(E-xơ-ra 7:1-10, 27,28).

TS:

CÁC PHU TÙ DO-THÁI ĐƯỢC TRỞ VỀ LẦN THỨ III

(Nê-hê-mi 2:1-20).

TB:

HY VỌNG CỦA DÂN DO-THÁI (Ê-sai 9:1-7).

 

Kinh Thánh không được sắp theo thứ tự thời gian mà được sắp theo loại. Các sách lịch sử là từ Giô-suê đến Ê-xơ-tê, từ Gióp đến Nhã ca là các sách văn thơ và từ Ê-sai đến Ma-la-chi là các sách tiên tri. Thời gian thì không theo thứ tự đó. Ví dụ có 3 sách lịch sử chép lúc dân Y-sơ-ra-ên được trở về tổ quốc là Ê-xơ-tê, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi. Bấy giờ có 3 tiên tri giảng dạy họ là A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi. Ma-la-chi là tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, còn Nê-hê-mi là nhân vật cuối cùng của lịch sử Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước. Từ Ma-la-chi và Nê-hê-mi đến Chúa Jêsus giáng sinh là khoảng thời gian hơn bốn trăm năm và là thời gian yên lặng (vì Đức Chúa Trời yên lặng hoàn toàn, Chúa không hề cảm thúc ai viết bất cứ lời nào của Ngài).

I. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐI LƯU ĐÀY.

Theo sách Lê-vi ký 26:22-32 và Phục truyền 28:63-68 thì trước khi vào Ca-na-an đượm sữa và mật, Đức Chúa Trời đã cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên rằng, nếu họ không nghe Lời Chúa, không cẩn thận làm theo điều răn và luật pháp của Ngài, họ sẽ bị rủa sả. Các sự rửa sả đó là bệnh tật, chiến tranh, hạn hán, nhất là bị bắt làm nô lệ ở xứ người. Dầu Đức Chúa Trời đã không ngớt sai các tiên tri đến để khuyên lơn, thức tỉnh, song dân Y-sơ-ra-ên cứ miệt mài trong tội lỗi của họ nên Ngài phải thi hành mạng lịnh của Ngài là lưu đày họ 70 năm làm nô lệ tại Ba-by-lôn (Giê 25:8-11). Chúa đã dấy Nê-bu-cát-nết-sa lên và phó dân Y-sơ-ra-ên vào tay của ông. Ông chẳng qua là một công cụ như cây roi trong tay của Chúa để Ngài sửa phạt dân sự Ngài.

Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương, công bình, thánh khiết. Ngài ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên, song Ngài không thể tha sự sửa phạt nếu họ đã phạm tội mà không chịu ăn năn. Ngài ban phước rất nhiều, và sửa phạt rất nặng đúng như lời Ngài đã phán. Đó là bài học mà chúng ta phải ghi nhớ luôn.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN TRỞ VỀ

Khi tiên tri Giê-rê-mi công bố bản án của dân Y-sơ-ra-ên thì tiên tri Ê-sai cũng công bố lời hứa cho họ. Lời hứa đó là Chúa sẽ dấy Si-ru lên, ông sẽ chinh phục Ba-by-lôn, làm vua nước Mê-đi Ba-tư và giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi cảnh nô lệ mà trở về tổ quốc (Ê-sai 44:28; 45:4). Ê-sai công bố lời tiên tri nầy trước khi Si-ru ra đời 100 năm (vì bấy giờ dân nys chưa làm phu tù, và sau 70 năm làm phu tù, Si-ru mới vâng lịnh Chúa mà giải phóng dân Y-sơ-ra-ên).

Vào năm 538 TC, tức là năm thứ nhất triều vua Si-ru nước Mê-đi Ba-tư, ông ra một chiếu chỉ phóng thích dân Y-sơ-ra-ên, trả lại tất cả những khí dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem mà Nê-bu-cát-nết-sa đã tước đoạt và đem qua Ba-by-lôn. Đồng thời ông cũng khuyến khích các dân tộc thuộc đế quốc của ông nên biếu tặng vàng, bạc, của cải, súc vật và các thứ lạc hiến cho việc xây dựng lại đền thờ của Đức Chúa Trời (E-xơ-ra 1:1-11). Những người hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên trở về tổ quốc là E-xơ-ra, Nê-hê-mi và Xô-rô-ba-bên. Dầu phải đương đầu với nhiều khó khăn, trở ngại do kẻ thù gây nên, song cuối cùng họ đã thành công và có một lễ khánh thành vui vẻ (Nê-hê-mi 12:27-47).

Chỉ có một mình Đức Chúa Trời biết trước mọi sự và làm được mọi sự. Những thịnh, suy của các nước trên thế giới đều nằm gọn trong tay của Chúa và Ngài khiến mọi sự hiệp lại làm ứng nghiệm lời của Ngài, hoàn tất chương trình của Ngài. Khi dân Y-sơ-ra-ên tuyệt vọng trong cảnh nô lệ, tự sánh như trũng xương khô chỉ chờ ngày mục nát mà thôi, thì Ngài đã làm cho sống lại thành một đạo quân rất lớn, trở về tổ quốc (Ê-xê-chi-ên 37). Hy vọng nơi Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ bị hổ thẹn, không bao giờ bị thất vọng, vì Ngài không bao giờ thất hứa, không bao giờ thay đổi (Thi 42 và 43).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐIỀU KHIỂN LỊCH SỬ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN TRONG BỐN TRĂM NĂM YÊN LẶNG.

Đó là khoảng thời gian từ khi Nê-hê-mi hoàn tất việc xây dựng lại đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi Chúa Jêsus Giáng sinh, hay là từ Ma-la-chi đến Ma-thi-ơ. Trong thời gian nầy, Kinh Thánh không ghi lại chi cả, song lịch sử thế giới có ghi chép, trong đó có những việc tương quan với dân Y-sơ-ra-ên. Khi nhìn trở lại lịch sử, chúng ta thấy rõ Đức Chúa Trời thật đã hành động.

Vào năm 336 TC, A-lịch-sơn được 20 tuổi, nối ngôi cha là Phi-líp làm vua xứ Ma-xê-đoan. Ông chinh phục đế quốc Mê-đi – Ba-tư và các lân bang, nắm quyền bá chủ thế giới bây giờ. Song ông qua đời quá sớm (năm 323 TC) lúc mới 33 tuổi. A-lịch-sơn rất tử tế với dân Do-thái, dành cho họ nhiều đặc ân.

Dưới triều A-lịch-sơn, văn chương Hy-lạp được truyền bá khắp nơi, ngôn ngữ Hy-lạp là thứ ngôn ngữ phổ thông. Nhờ đó khi Kinh Thánh Cựu Ước tiếng Hy-bá-lai được dịch ra Hy-lạp thì có nhiều người đã hiểu được Kinh Thánh. Khi Phao-lô giảng bằng tiếng Hy-lạp thì nhiều người nghe được sứ điệp Tin Lành.

Sau khi A-lịch-sơn qua đời, đế quốc Hy-lạp bị chia ra làm 4 phần do tướng lãnh của ông cai trị: Ptolémée xứ Ê-díp-tô, Séleucus xứ Ba-by-lôn, Cassandre xứ Ma-xê-đoan và Lysimaque xứ thrace. Bấy giờ xứ Do-thái nằm trong lãnh thổ của Ptolémée và được ông nầy đối đãi tử tế.

Năm 198 TC, vua của Sy-ri là Antiochus nổi lên chống lại với Ptolémée và chiếm xứ Do-thái. Ngay sau đó, dân Do-thái bị bắt bớ một cách tàn nhẫn, phải trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, nhiều người bị giết, đàn bà, con trẻ bị bán làm nô lệ. Antiochus đã đánh hạ các vách thành, cướp giựt mọi khí dụng trong đền thờ, dựng lên trong đó tượng thần Jupiter, dâng huyết và thịt heo trên bàn thờ để làm ô uế và sỉ nhục người Do-thái hầu tiêu hủy đức tin của họ (Đa-ni-ên 11:31). Ngoài ra ông còn cấm làm lễ cắt bì, tịch thu tất cả Kinh Thánh, trong 3 năm liền, đền thờ tại Giê-ru-sa-lem bị bỏ hoang. Thật là một thời kỳ hắc ám, kinh hoàng.

Bấy giờ có một gia đình Do-thái họ Macabê là ông Mattathia và 5 con trai nổi lên chống lại sự bạo tàn của Antiochus. Họ đã chiến thắng. Năm 165 TC, họ tẩy uế đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, tái lập cuộc thờ phượng như trước, đem lại an ủi, niềm tin và hy vọng cho dân tộc Do-thái. Về sau, dân Do-thái còn giữ ngày ấy làm kỷ niệm (Giăng 10:22).

Năm 63 TC, dân Do-thái ở dưới quyền đô hộ của đế quốc La-mã sau khi đế quốc nầy đã lần hồi đánh hạ đế quốc Hy-lạp.

Do nhu cầu quân sự và thương mại, đế quốc La-mã nổi tiếng về tài kiến trúc đã làm những đường giao thông rất tốt, thuận tiện cho công tác truyền giảng Tin lành của các sứ đồ và nhất là của Phao-lô sau nầy.

Kế đến, ở dưới quyền cai trị quá tàn bạo của đế quốc La-mã, dân Do-thái đã hết lòng mong chờ Đấng Mê-si đến và cuối cùng là do đế quốc La-mã thực hiện sắc lệnh của họ kết hợp với phong tục Do-thái nên ông Giô-sép mới đưa bà Ma-ri từ Na-xa-rét về Bết-lê-hem để làm hộ khẩu và Chúa Jêsus đã sinh ra tại thành Đa-vít như lời của Đức Chúa Trời đã tuyên hứa.

Dầu khi Đức Chúa Trời làm thinh, Ngài vẫn có mặt, dầu khi tưởng như Ngài yên lặng, Ngài vẫn hành động không ngừng. Trong bóng đêm dày đặc, Chúa vẫn hiện diện. Trong cảnh vật đổi sao dời, Chúa vẫn y nguyên. Bất luận lúc nào chúng ta kêu cầu, Chúa vẫn phán “Có Ta đây!” (Ê-sai 58:9). Vậy chúng ta không nên nản lòng, thất vọng, mà lúc nào cũng vững vàng, tin cậy và tràn đầy hy vọng.

CÂU HỎI

1. Kinh Thánh đã được sắp xếp như thế nào?

2. Vì sao gọi là “400 năm yên lặng”?

3. Trước khi vào Ca-na-an, Đức Chúa Trời đã cảnh cáo dân sự như thế nào?

4. Khi tiên tri Giê-rê-mi công bố bản án thì tiên tri Ê-sai làm gì?

5. Lời hứa trên bao nhiêu năm mới thực hiện?

6. Điều gì chứng tỏ Đức Chúa Trời vẫn hành động trong đế quốc Hy-lạp?

7. Làm sao biết được Đức Chúa Trời vẫn hành động khi đế quốc La-mã cai trị thế giới?

8. Làm sao chúng ta biết được Đức Chúa Trời vẫn hành động ngay trong những ngày nầy?

9. Điều gì chứng tỏ Đức Chúa Trời luôn luôn hành động trong Hội Thánh của Ngài?

10. Chúng ta phải có thái độ nào trong thời kỳ tăm tối hơn hết?

BÀI 17. CHÚA JÊSUS CHRIST LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 1:18-25, Lu-ca 1:26-38.

CÂU GỐC: “Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai và sanh một con trai, rồi người ta sẽ đặt tên Con Trai đó là Emmanuên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời và chúng ta phải tin nhận Con ấy làm Cứu Chúa của mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

Xin đọc theo lối đối chiếu để thấy rõ chương trình của Đức Chúa Trời.

 

Lời tiên tri

 

Sự ứng nghiệm

CN:

Ê-sai 7:14; Sáng 3:15.

ĐƯỢC SINH BỞI MỘT NỮ ĐỒNG TRINH

Ma-thi-ơ 1:23; Lu-ca 1:26-35

TH:

Sáng 9:26,27; 12:13

LÀ DÒNG DÕI CỦA SEM VÀ CỦA ÁP-RA-HAM

Lu-ca 3:36; Ma-thi-ơ 1:1-2

TB:

Sáng 18:18; 17:19

LÀ CON CHÁU Y-SÁC

Lu-ca 3:34; Ma-thi-ơ 1:1-2

TT:

Sáng 28:14; 24:15

LÀ CON CHÁU GIA-CỐP

Ma-thi-ơ 1:1,2; Lu-ca 3:34

TN:

Sáng 49:10

THUỘC CHI PHÁI GIU-ĐA

Ma-thi-ơ 1:2; 2:6

TS:

Ê-sai 9:6,7

THUỘC NHÀ ĐA-VÍT

Lu-ca 3:31

TB:

Mi-chê 5:2

SANH TẠI BẾT-LÊ-HEM

Lu-ca 2:4,11; Ma-thi-ơ 2:16

Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời, là giáo lý cơ bản của đức tin để nhờ đó chúng ta được cứu rỗi ( Giăng 20:31).

Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời không giống như dân Y-sơ-ra-ên là con Đức Chúa Trời (Xuất 4:22,23), cũng không giống như chúng ta là con Đức Chúa Trời (Giăng 1:12). Chúa Jêsus Christ bình đẳng với Đức Chúa Trời và chính Ngài là Đức Chúa Trời, là Đức Giê-hô-va (Ê-sai 9:5; Giê-rê-mi 23:6). Kinh Thánh gọi Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời khi nói về thời khoảng Ngài bằng lòng bỏ sự bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Trời, tự bỏ mình đi (Phi-líp 2:6-7) để quyền năng của Đức Chúa Trời khiến Ngài hoài thai trong lòng trinh nữ Ma-ri và sinh ra “trở nên giống như loài người”.

I. LỜI TIÊN TRI VỀ CHÚA JÊSUS CHRIST LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI.

1. lời tiên tri về sự giáng sinh: Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, Đức Chúa Trời liền hứa một Cứu Chúa sẽ ra từ dòng dõi từ người nữ (Sáng 3:15). Sau đó, lời hứa ấy được rõ ràng hơn là người nữ đó thuộc dòng dõi Áp-ra-ham (Sáng 12:3), của Y-sác (Sáng 17:19), của Gia-cốp (Sáng 28:14), của chi phái Giu-đa (Sáng 49:10), của nhà Đa-vít (Ê-sai 9:6,7). Cuối cùng là một trinh nữ sẽ thụ thai sinh ra Cứu Chúa theo phần xác tại thành Bết-lê-hem, xứ Do-thái. Song chỉ một mình Chúa Jêsus được sinh ra ngoài công lệ thiên nhiên là không có cha xác thịt, vượt hẳn mọi người là theo chương trình của Đức Chúa Trời đã hoạch định từ buổi sáng thế. Nếu đem các lời tiên tri nêu trên so với sự kiện lịch sử đã được ghi chép trong bốn sách Tin lành về sự giáng sinh của Ngài, chúng ta sẽ thấy mọi sự đều ứng nghiệm trọn vẹn. Đó là bằng cớ Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời.

2. Lời tiên tri về Ngài chịu nghèo nàn và bị chối bỏ: Thật là việc không ngờ. Cứu Chúa của nhân loại lại giáng sinh trong cảnh nghèo nàn và bị chối bỏ. Ê-sai 53:1-3 nói trước vào khoảng 600 năm rằng, Ngài như cái rễ ra từ đất khô, từng trải sự buồn bực, và đau đớn, một người không có hình dung tốt đẹp, chẳng ai thèm xem vì chẳng ai ưa thích được. Câu 4-7 nói thêm rằng Ngài mang sự khốn khổ, gánh sự buồn bực, bị vết, bị thương. Ngài bị áp bức như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm trước mặt kẻ hớt lông, Ngài chẳng từng mở miệng. Đọc lịch sử của Ngài trong 4 sách Tin lành chúng ta đều thấy những lời tiên tri trên đây đã được ứng nghiệm trọn vẹn.

Ngài giáng sinh trong chuồng chiên, nằm nơi máng cỏ, lớn lên trong gia đình thợ mộc nghèo nàn tại Na-xa-rét. Khi bắt đầu chức vụ, Ngài mượn thuyền để đi, mượn lừa để cỡi, mượn bánh để hóa ra, mượn nhà để dự lễ. Dầu vậy Ngài đã chứng minh một cách hùng hồn và đầy đủ về Ngài là Con Đức Chúa Trời qua sự giảng dạy kỳ diệu và công tác đầy quyền năng của Ngài.

Chưa có một giáo sư nào đã giảng dạy như Ngài. Ngài không tốt nghiệp trường nào, không có một thư viện, không có một quyển sách trong tay, song trong bất cứ trường hợp nào, trước một số thính giả thuộc thành phần nào trong xã hội loài người, Chúa đều có lời lẽ, ý tứ thích hiệp với họ. Không có một câu hỏi hóc búa nào mà Ngài không trả lời được, vì trước khi người ta hỏi, Chúa đã đọc được tư tưởng trong lòng họ. Ngài không bao giờ nói có lẽ hay ức đoán, mà lúc nào cũng nói: “Quả thật, quả thật”. Người thời bấy giờ nói với nhau về Ngài rằng: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy”. Cho đến ngày nay, đã suốt qua 20 thế kỷ, không ai tìm thấy một lỗi lầm nào trong lời giảng dạy của Ngài. Vì sự giảng dạy của Ngài là sự giảng dạy của Con Đức Chúa Trời.

Không hề có một y sĩ nào chữa bệnh một cách quyền năng như Ngài. Dầu ngày nay y học đã tiến bộ, người ta cũng chữa bệnh một cách rất khó khăn, phải mất nhiều thì giờ, tiền bạc, thuốc men, song chỉ đỡ được phần nào, chứ không như Chúa Jêsus. Ngài chỉ phán một lời thì kẻ câm nói được, kẻ điếc nghe được, kẻ mù thấy được, kẻ phung được lành, kẻ què đi được và kẻ chết sống lại được. Khi bão tố nổi lên, sóng dậy phủ thuyền, Ngài chỉ phán: “Êm đi, lặng đi!” mọi sự đều im lặng như tờ. Ngài dùng 5 cái bánh mạch nha và 2 con cá mặn là phần ăn của một người mà hóa ra cho năm ngàn người ăn no nê, lại còn thừa nữa. Công việc của Ngài không phải là công việc của người, nhưng là côn việc của Đức Chúa Trời.

Song rất tiếc, dân Do-thái vẫn ngoan cố, khăng khăng chối bỏ Chúa Jêsus Christ và nộp Ngài cho nhà cầm quyền La-mã để đóng đinh trên thập tự giá. Họ đã vô tình làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 53 và Thi thiên 22.

II. NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST, CON ĐỨC CHÚA TRỜI.

Hãy hỏi những người đồng thời với Chúa Jêsus, họ sẽ nói cho chúng ta biết Chúa Jêsus là ai:

1. Xin hỏi ông Na-tha-na-ên: Ông nghĩ thế nào về Giê-xu: Na-tha-na-ên đáp: Tôi đã gặp Chúa Jêsus và sau hồi trò chuyện, tôi đã thưa: “Lạy Thầy, Thầy là Con Đức Chúa Trời, Thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên” (Giăng 1:49).

2. Xin hỏi bà Ma-thê: Bà rất quen biết Chúa Jêsus. Vậy hãy nói cho chúng tôi biết Chúa Jêsus là ai? Đáp: Khi anh tôi là La-xa-rơ chết, Chúa có đến thăm và kêu anh tôi sống lại. Ngay trước đó, tôi đã thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian” (Giăng 11:27).

3. Xin hỏi các môn đồ: Các ông đã theo Chúa Jêsus trên mọi nẽo đường, các ông hãy cho chúng tôi biết Ngài là ai? Đáp: khi chúng tôi thấy Chúa đi bộ trên mặt biển vào lúc nửa đêm, thì chúng tôi đã sấp mình xuống chân Ngài mà thưa rằng: “Thầy thật là Con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 14:33).

4. Xin hỏi ma quỷ: Anh đã ám một người ở Giêrarê, rồi khi Chúa Jêsus đi ngang qua đó, anh đã làm gì? Đáp: Tôi đã chạy lại, sấp mình xuống trước mặt Ngài mà kêu lớn rằng: “Hỡi Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời rất cao… xin Ngài đừng làm khổ tôi” (Mác 5:6,7).

5. Xin hỏi ông Giu-đa: Sau một thời gian theo Chúa Jêsus, ông nghĩ thế nào về Ngài mà đã phản nộp Ngài để được 30 miếng bạc? Đáp: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội” (Ma-thi-ơ 27:4).

6. Xin hỏi đội trưởng La-mã: Ông nghĩ thế nào về Chúa Jêsus? Đáp: “Khi tôi chứng kiến cái chết của Ngài trên thập tự giá và các biến động xảy ra thì tôi kinh tâm tán đởm mà la lên: “Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 27:54).

7. Xin hỏi Phao-lô: Ông nghĩ thế nào về Chúa Jêsus mà đã quyết định tiêu diệt những kẻ theo Ngài? Đáp: “Tôi làm điều đó trong lúc tôi ngu muội chưa tin… Đức Chúa Jêsus đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy, trong những kẻ có tội đó, tôi là đầu” (ITi 1:13,15).

Quả thật, Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời. Nhưng đừng tin như ma quỷ tin (Mác 5:6,7: Gia-cơ 2:19). Phải tin như các môn đồ là quỳ xuống mà thờ lạy Ngài, tận hiến đời mình cho Ngài để Chúa hoàn toàn chiếm hữu và sử dụng.

CÂU HỎI

1. Tại sao sự giáng sinh của Đức Chúa Jêsus Christ làm chứng rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời?

2. Tại sao sự nghèo nàn và Ngài bị chối bỏ làm chứng rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời?

3. Trong ba năm chức vụ, Chúa Jêsus đã làm gì để chứng minh Ngài là Con Đức Chúa Trời?

4. Người đồng thời với Ngài đã nói gì khi nghe Chúa giảng? (Giăng 7:46).

5. Người đồng thời đã nói gì khi thấy Chúa làm? (Mác 2:12; Giăng 9:32).

6. Có mấy người đã làm chứng rằng Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời? Xin kể một người?

7. Ma quỷ có tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời không? Nếu có, tại sao nó không được cứu?

8. Tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời để được cứu thì phải thế nào?

9. Anh chị em có thật tin Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời không?

BÀI 18. CHÚA JÊSUS CHRIST, CON NGƯỜI TOÀN HẢO

KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 16:13-18.

CÂU GỐC: “…Và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường…” (Ma-thi-ơ 17:5b).

MỤC ĐÍCH: Dạy về sự tuyệt đối của Chúa Jêsus Christ và chúng ta phải quyết định tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỰ TRỞ THÀNH NHỤC THỂ

(Giăng 1:1-14; Cô-lô-se 2:9).

TH:

CON NGƯỜI

(Phi-líp 2:5-11).

TB:

THIÊN SỨ BÁO TIN CHO MA-RI

(Lu-ca 1:26-38).

TT:

NỮ ĐỒNG TRINH SINH RA CHÚA JÊSUS

(Lu-ca 2:1-20).

TN:

NGÀI CŨNG CHỊU CÁM DỖ NHƯ CHÚNG TA

(Ma-thi-ơ 4:1-11).

TS:

LỜI CHỨNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Mác 9:1-10).

TB:

LỜI CHỨNG CỦA PHI-E-RƠ

(Ma-thi-ơ 16:13-18).

Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời, song Ngài đã trở thành Con Người. Ngài là Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, tức là Thượng đế vô hình đã mặc lấy hình người ở giữa chúng ta (Giăng 1:14). Tân Ước có 77 lần chép về Ngài là Con Người, Ngài thuộc về mọi người, thuộc về muôn dân, muôn nước. Ngài vừa là Đức Chúa Trời mà cũng vừa là người, Ngài là Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người để làm cho ai nấy hòa lại với Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus Christ là một nhịp cầu, một gạch nối giữa Trời và người. Nếu không nhờ Ngài thì chẳng hề có ai đến được với Đức Chúa Trời (Giăng 14:6).

I. CHÚA JÊSUS CHRIST CÓ MỘT ĐỜI SỐNG TOÀN HẢO.

Ngài đã trở thành một hài nhi nằm trong máng cỏ, chuồng chiên, lớn lên trong gia đình thợ mộc nghèo nàn tại làng Na-xa-rét nhỏ bé, nhưng Ngài có một đời sống toàn hảo giữa loài người bất toàn (Lu-ca 2:40,52). Ma quỉ đã dùng đủ cách để cám dỗ Ngài, song Ngài chẳng hề phạm tội. Người đồng thời dã cố gắng thổi lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, nhưng không hề thấy một lỗi lầm nào trong lời nói cũng như trong việc làm của Ngài. Hơn nữa, Chúa còn thách đố họ rằng: “Trong các ngươi có ai minh xác Ta có tội ư?” Hết thảy đều cúi đầu, ngậm miệng. Tổng đốc Phi lát phải ba lần tuyên bố rằng: “Ta không thấy người nầy có tội gì cả” (Giăng 13:38; 19:4,6). Kinh Thánh mô tả: “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không có chút chi dối trá, Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình” (IPhi-e-rơ 2:22, 23). Thậm chí Giu-đa cũng thú nhận rằng: “Tôi đã nộp huyết vô tội” (Ma-thi-ơ 27:4), còn anh trộm cướp bị đóng đinh bên cạnh Ngài cũng nói: “Hình phạt ta chịu xứng với việc ta làm, nhưng người nầy (Chúa Jêsus) không hề làm một điều gì ác” (Lu-ca 23:41).

II. CHÚA JÊSUS CÓ SỰ THÔNG MINH TOÀN HẢO.

Sự thông minh của Ngài bày tỏ Ngài hoàn toàn vô tội như A-đam trước khi sa ngã. Khi 12 tuổi, Ngài làm rối trí các giáo sư Do-thái bằng những lời đối đáp của Ngài. Ngài chưa từng tốt nghiệp một trường nào, không có một thư viện cũng chẳng có một cuốn sách trong tay, song khi Ngài giảng dạy, tất cả người nghe Ngài phải ngạc nhiên, vì Ngài giảng cách có quyền, chứ không giống như các giáo sư Do-thái (Ma-thi-ơ 8:29). Không có một câu hỏi hóc búa nào mà Ngài không trả lời được. Hơn nữa Ngài còn đọc tư tưởng trong lòng mọi người, nên khi họ chưa hỏi, Ngài đã trả lời cho họ (Mác 2:8; Giăng 2:25; 6:61, 64; 13:11). Sự giảng dạy của Ngài thích hiệp với mọi người, mọi thành phần, trong mọi hoàn cảnh khác nhau. Ni-cô-đem là một giáo sư nổi tiếng cũng phải thưa: “Chúng tôi biết Thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến” (Giăng 3:2). Những kẻ từng chỉ trích Ngài trong lời nói phải cúi đầu, ngậm miệng, hoặc nói rằng: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy” (Giăng 8:46). Lời giảng của Ngài đã được ghi chép thành sách và được dịch ra gần 2000 thứ tiếng trên thế giới, song suốt gần 20 thế kỷ qua chưa hề có ai tìm thấy một lỗi lầm nào trong lời giảng dạy của Ngài. Sự thông minh cũng như đời sống của Ngài là của một con người hoàn toàn.

III. CHÚA JÊSUS CHRIST CÓ NHỮNG HÀNH ĐỘNG TOÀN HẢO.

Chúa Jêsus có quyền năng vô cùng. Song Ngài không dùng quyển năng đó để khoe khoang, để làm cho mình được tiếng tăm lừng lẫy, được thiên hạ hoan nghinh. Ngài cũng không thi hành quyền năng để báo thù kẻ làm hại Ngài. Ngài chỉ dùng lời phán mà chữa lành tất cả bệnh tật, thậm chí kêu kẻ chết sống lại. Ngài đuổi quỉ khỏi kẻ bị nó ám ảnh, hóa bánh cho đoàn dân ăn no nên mà còn thừa. Mỗi hành động đó đều xuất phát từ lòng yêu thương, nhân từ của Ngài (Ma-thi-ơ 9:36; 14:14; 15:32). Ngài vâng phục Đức Chúa Trời mà làm mọi việc, nên hai lần Đức Chúa Trời long trọng tuyên bố rằng: “Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Ma-thi-ơ 3:17; 17:5). Khi dân chúng thấy Ngài làm nhiều phép lạ, tin Ngài là một tiên tri, muốn tôn Ngài làm vua của họ để giải phóng họ khỏi quyền đô hộ của đế quốc La-mã, thì Ngài lui ở một mình trên núi (Giăng 6:14-15).

Chúa Jêsus là con người toàn hảo trong mọi hành động. Sự sống của Ngài không phải là sự sống của con người tội lỗi như chúng ta mà là sự sống của Đức Chúa Trời, nên mọi hành động của Ngài vừa bày tỏ ra Ngài là Con Người mà đồng thời cũng là Con Đức Chúa Trời. Bên miệng giếng Gia-cốp, Chúa mệt mỏi như một người, nhưng Ngài hiểu biết như Đức Chúa Trời khi Ngài phán với người đàn bà Sa-ma-ri: “Người đã có 5 đời chồng, còn người mà ngươi hiện có chẳng phải là chồng ngươi” (Giăng 4:6, 17, 18). Trong thuyền, Chúa ngủ như một người, song lời phán của Ngài là lời phán của Đức Chúa Trời, khi Ngài đứng dậy quở sóng gió và biển thì liền yên lặng như tờ (Ma-thi-ơ 8:24, 26). Sáng hôm sau, Chúa đói như một người, song mạng lịnh của Ngài là mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Khi Chúa thấy cây vả chỉ có lá mà không có trái thì phán: “Mầy chẳng khi nào sanh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi” (Ma-thi-ơ 21:18, 19). Khi đứng trước mộ La-xa-rơ, Chúa khóc vì cảm động như một người, song Ngài kêu một tiếng như Đức Chúa Trời nên La-xa-rơ từ mộ bước ra (Giăng 11:35,43,44). Ngài chết trên thập tự giá như một người, song sống lại khỏi phần mộ như Đức Chúa Trời.

Ngày nọ, Chúa hỏi các môn đồ: “Theo lời người ta nói thì Con Người là ai?” Kẻ nầy nói Ngài là Giăng Báp-tít, kẻ kia nói Ngài là Ê-li, kẻ khác nói Ngài là Giê-rê-mi hay một tiên tri nào đó. Chúa hỏi: “Còn các ngươi xưng Ta là ai?” Phi-e-rơ đại diện thưa: “Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Chúa cho Phi-e-rơ là có phước, vì được Đức Chúa Trời bày tỏ cho nên ông biết Ngài như vậy. Phước thay cho ai biết Chúa Jêsus như vậy, vì Ngài là Cứu Chúa có một không hai của loài người, ngoài Ngài ra không có Chúa nào khác.

IV. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA.

Chúa Jêsus là con người toàn hảo về mọi phương diện. Cuộc sống của Ngài là cuộc sống gương mẫu cho chúng ta, để ai nấy “noi dấu chân Ngài” (IPhi-e-rơ 2:21). Chúa muốn chúng ta có một đời sống giống như Ngài trong sự thánh khiết và công nghĩa (Ê-phê-sô 4:24). Song muốn đạt được nếp sống đạo đức đó, không phải chúng ta cố gắng mà được, bèn là nhận lấy sự sống của Ngài là sự sống thánh khiết và công nghĩa, cũng gọi là sự sống đời đời. Sự sống nầy không bao giờ tìm được ngoài Chúa Jêsus. Muốn có sự sống nầy, chúng ta phải có Chúa Jêsus, tức là tiếp nhận Ngài, xin Ngài bước vào ngự trị đời mình. Chừng ấy, chính Chúa sẽ tái diễn cuộc đời của Ngài trong chúng ta, làm cho chúng ta mỗi ngày được giống như Chúa hơn trong cách ăn ở của mình. Đó là lý do Phao-lô đã sẵn sàng chấp nhận mọi sự đau đớn như sư đau đớn của người đàn bà sinh nở cho đến chừng Đấng Christ thành hình trong tín đồ, tức là ai nấy đều thấy Ngài trong họ (Ga-la-ti 4:19). Chúa Jêsus có quyền năng vô cùng để ăn ở thánh khiết, đồng thời Ngài cũng có quyền năng giúp bất cứ ai nhờ cậy Ngài để ăn ở thánh khiết như Ngài. Vậy chúng ta hãy khao khát đời sống thánh khiết đến nỗi sẵn sàng phục tùng Ngài trọn vẹn, hầu cho chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta, để ai nấy vừa muốn vừa làm điều đẹp ý Ngài (Phi-líp 2:13).

Có người hỏi một tín đồ: Tại sao anh không hút thuốc lá, không xem hát, không đánh bạc, mặc dầu Kinh Thánh không cấm? Tín đồ đáp: Tôi không làm những điều đó chẳng phải tại Kinh Thánh cấm hay không, song tại tôi muốn ăn ở giống như Chúa Jêsus yêu dấu của tôi.

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus là ai?

2. Ngài trở nên con người bằng cách nào?

3. Vì sao chỉ có Chúa Jêsus Christ mới là Đấng Trung Bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và con người?

4. Cuộc đời của Ngài là toàn hảo có nghĩa gì?

5. Sự giảng dạy của Ngài là toàn hảo có nghĩa gì?

6. Mọi hành động của Ngài là toàn hảo có nghĩa gì?

7. Kể ra vài trường hợp mà Chúa hành động như vừa là con người, vừa là Con Đức Chúa Trời?

8. Cuộc đời toàn hảo của Chúa Jêsus có tương quan gì với chúng ta?

9. Làm sao để mỗi chúng ta có một cuộc đời thánh khiết và công nghĩa như Ngài?

10. Chúng ta xưng mình là con cái Chúa thì chúng ta muốn giống ai?

BÀI 19. CỨU CHÚA JÊSUS CHRIST

KINH THÁNH: Mác 15:21-24.

CÂU GỐC: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công vụ 4:12).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rằng Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

 

Lời tiên tri

 

Sự ứng nghiệm

CN:

Thi 38:13; Ê-sai 53:7

NGÀI YÊN LẶNG KHI BỊ LÊN ÁN

Ma-thi-ơ 26:43; 27:12-14

TH:

Ê-sai 53:4-6

NGÀI CHỊU KHỔ VÌ NGƯỜI KHÁC

Ma-thi-ơ 8:7

TB:

Ê-sai 53:12

NGÀI CHỊU KHỔ VÌ TỘI NHÂN

ICôr 15:3

TT:

Thi 22:16; Xa-cha-ri 12:10

TAY CHÂN NGÀI BỊ ĐÂM

Giăng 20:27

TN:

Thi 22:6-8

NGÀI BỊ SỈ NHỤC

Mác 15:29-30, Ma-thi-ơ 27:39

TS:

Thi 69:21

CHÚNG CHO NGÀI UỐNG DẤM

Ma-thi-ơ 27:34-48

Giăng 19:39

TB:

Ê-sai 53:9-12

NGÀI CHẾT CHUNG VỚI KẺ CƯỚP

Ma-thi-ơ 27:38

Chúa Jêsus giáng sinh là một điều kỳ diệu không tiền khoáng hậu. Hơn nữa, Ngài đã sống cuộc đời hoàn toàn thánh thiện, nêu gương cao quý cho muôn đời soi chung. Dầu vậy, Ngài giáng sanh không phải sống lâu như người đời, mà để chết đền tội cho nhân loại. Điều nay không phải là việc ngẫu nhiên, song nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời đã hoạch định từ buổi sáng thế (Khải 13:8). Khi bắt đầu chức vụ, Chúa Jêsus đã nhiều lần, trong nhiều trường hợp khác nhau phán rằng: Ngài đã chịu khốn khổ, chịu chết và đến ngày thứ ba sẽ sống lại để làm Cứu Chúa của nhân loại (Ma-thi-ơ 12:39-40; 16:21; 17:22,23; 20:17-19; 21:33-39 v.v…).

Xin hãy đọc đối chiếu LỜI TIÊN TRI với sự ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM để thấy rõ Chúa Jêsus that là Cứu Chúa. Mọi sự đó đã được mô tả theo sự biết trước của Đức Chúa Trời.

I. LÝ DO CON NGƯỜI CẦN CỨU CHÚA JÊSUS CHRIST.

Đọc 3 đoạn đầu của thơ Rô-ma, chúng ta thấy Phao-lô mô tả tình trạng tuyệt vọng của con người: (1) các dân ngoại bang đều đã phạm tội (1:18-32). (2) Dân Do-thái cũng phạm tội (2:1-3,8). (3) Cả thế gian đều đã phạm tội (3:9-20). Người Do-thái có luật pháp cũng phạm tội như người ngoại bang không có luật pháp mà chỉ có long tâm. Văn minh như người Hy-lạp cũng phạm tội như người dã man. Tự do như người La-mã cũng phạm tội như người nô lệ. Dân tộc nào cũng có tôn giáo, song chính tôn giáo của họ bày tỏ sự hư hỏng của long họ. Vì họ thờ hình tượng của loài người, hoặc của điểu, thú, côn trùng. Cách ăn ở của họ rất bại hoại, vì trong họ đầy day sự xấu xa gian ác. Họng như huyệt mả mở ra, môi có nọc độc rắn hổ mang, miệng đầy những lời nguyền rủa và cay đắng, chân lanh lẹ làm đổ máu. Họ chẳng tìm kiếm Chúa, chẳng tôn thờ Chúa, chẳng cảm tạ Chúa, chẳng kính sợ Chúa. Vì vậy, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Ngài. Chúng ta hết thảy đều ở trong số đó. Chẳng có phân biệt chi hết “vì mọi người đều đã phạm tội”.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN CỨU CHÚA JÊSUS CHRIST.

Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ khi loài người phạm tội (Rô-ma 1:18), song đồng thời Ngài rất thong yêu, muốn cho họ được cứu rỗi. Vì vậy, từ buổi sáng thế, Ngài đã có phương lược, và Chúa Jêsus, Con Độc Sanh của Ngài đã thi hành phương lược ấy.

thật là kỳ diệu! Loài người đáng ghét, Chúa lại yêu, đáng bỏ, Chúa lại tìm, đáng phạt, Chúa lại Chúa cứu, đáng nghịch Chúa lại hòa. Tình yêu của Chúa không thể đo lường, không lời mô tả, cao hơn trời, sâu hơn biển, dài rộng hơn cả không gian và thời gian, vì vô tận, đời đời.

Làm sao chúng ta thấu hiểu Đấng vinh hiển ở nơi cao tột cùng, lại xuống nơi đê hèn cùng tột, Đấng vô hạn lại mặc lấy hình người hữu hạn, Đấng chí thánh lại mang lấy tội lỗi của chúng ta. Kinh Thánh chép: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài…” (Giăng 3:16). Chúa Jêsus phán: “Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình” (Giăng 15:13). Phao-lô mô tả rằng chết vì người nghĩa, hoặc là người lành cũng là việc hi hữu, nhưng Chúa Jêsus chết vì tội nhân, chết vì kẻ thù (Rô-ma 5:6-8). Chỉ có Chúa làm việc đó vời tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sấp mặt cúi đầu, tuôn đổ lòng mình ra mà cảm tạ, tôn thờ, ca ngợi Chúa Ba Ngôi.

III. SỰ HY SINH CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST (MÁC 15:21-41).

Chúa Jêsus là Đấng từ trời giáng thế. Ngài thánh khiết, quyền năng. Một lời phán của Ngài đủ khiến cho phong ba, bão tố phải im lặng như tờ, một lời phán của Ngài đủ khiến cho bệnh tật nào cũng được lành, một lời phán của Ngài đủ khiến cho kẻ chết sống lại, một lời phán của Ngài đủ cho ma quỉ run rẩy mà lui ngay, một lời phán của Ngài sẽ có hơn 12 đạo thiên sứ lập tức đến hầu việc Ngài (Ma-thi-ơ 26:53). Thế mà Ngài tình nguyện để cho những con người yếu đuối trói Ngài, rồi đóng đinh trên thập tự giá.

Họ cho Ngài uống rượu hoà với một dược, song Ngài không uống. Người ta thường cho những người sắp bị đóng đinh uống như vậy để say sưa, đê mê, hầu đỡ đau đớn (Châm 31:6-7). Song Chúa Jêsus vì nhân loại, tình nguyện uống cạn chén thạnh nộ Đức Chúa Trời mà không muốn được giảm bớt một phần nào trong sự cay đắng của nó.

Họ đóng đinh Ngài giữa hai tên trộm cướp là có ý nhục mạ Ngài, liệt Ngài vào hạng hung ác của xã hội. Song không ngờ, họ đã cho Ngài có cơ hội cứu được một trong hai tên trộm cướp đó (Lu-ca 23:41-43).

Họ đã chế giễu Ngài là đã cứu kẻ khác mà không cứu được mình. Họ thách đố Ngài xuống khỏi thập tự giá để họ tin. Họ tưởng rằng những mũi đinh to sẽ giữ Ngài trên thập tự giá và quyền lực của cường quốc La-mã không bao giờ để Ngài xuống khỏi đó. Song họ không biết rằng dù có muôn vàn mũi đinh to, dù có tất cả quyền lực trong thế gian cũng thể giữ Chúa Jêsus trên thập tự giá, mà chỉ có tình thương của Ngài đối với nhân loại buộc chặt Ngài tại đó mà thôi. Nếu Ngài không tình nguyện chịu chết như vậy, toàn thể nhân loại sẽ tuyệt vọng đời đời.

Trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã kêu lên một tiếng thê thảm: “Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” Tiếng ấy vang lên từ một linh hồn đã bị Đức Chúa Trời bỏ rơi trong cảnh cô đơn, bị dứt phép thông công, như bị ném ra khỏi Thiên Đàng. Trước đó, Chúa Jêsus đã từng phán: “Đấng đã sai Ta đến vẫn ở cùng Ta, chẳng để Ta ở một mình, vì Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài” (Giăng 8:16-29). Đó là niềm an ủi vô biên của Ngài. Song khi chịu chết trên cây thập tự thì “Đấng vốn chẳng biết tội lỗi đã trở nên tội lỗi vì chúng ta” (IICôr 5:21), nên Ngài bị Đức Chúa Trời từ bỏ. Đức Chúa Trời là ánh sáng, là sự sống, là tình thương, là mọi sự, nên khi bị Đức Chúa Trời từ bỏ là khốn nạn vô cùng. Chúa Jêsus đã nếm mùi địa ngục vì chúng ta.

Anh trộm cướp bên cạnh Chúa Jêsus còn được an ủi, khi biết rằng: “Hình ta chịu xứng với việc ta làm”, song Ngài không được an ủi như vậy, vì Ngài hoàn toàn vô tội. Sự đau đớn của xác thể không đau đớn bằng sự đau đớn của tâm hồn. Anh trộm cướp chỉ đau đớn xác thể, nên anh chưa chết khi Chúa Jêsus đã chết. Còn Ngài không những đau đớn trong thể xác mà còn đau đớn trong tâm hồn, vì bị Đức Chúa Trời lìa bỏ. Điều đó làm cho trái tim của Ngài vỡ tan, nên Ngài đã trút linh hồn (Giăng 19:34). Sư đau đớn đó, chúng ta không bao giờ hiểu thấu. Nó cho chúng ta biết một điều là tội lỗi chúng ta nhiều quá, sự hình phạt của chúng ta nặng quá, song Chúa đã tình nguyện chịu chết để cứu chúng ta.

Cảm tạ Chúa, dầu bao nhiêu người đã chạy trốn, vẫn có các bà đứng đó, nhìn mọi diễn tiến. Nếu bây giờ, những người xung quanh có hỏi: các bà không thẹn mà theo một Cứu Chúa bị đóng đinh sao? Các bà không sợ khi người ta biết các bà cũng là môn đồ của Chúa Jêsus sao? Chắc các bà sẽ đáp: Các ông không cần hỏi, thấy chúng tôi đứng đây là đủ biết rồi!

Dân Do-thái đã chối bỏ Cứu Chúa Jêsus vì ngoan cố và vô tín. Xưa nay vẫn có người đã chối bỏ Ngài vì hổ thẹn và sợ hãi. Các bạn có chối bỏ Ngài không? Thiết tưởng trước tình thương kỳ diệu của Chúa, chúng ta phải nói rằng: “Dầu trời long đất lỡ, tôi cũng chẳng chối bỏ Ngài” (Rô-ma 8:35-39).

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus giáng sinh, chịu chết và sống lại có phải là việc tình cờ xảy ra không? Tại sao chúng ta biết được?

2. Tình trạng của loài người xưa nay thế nào?

3. Phương lược cứu rỗi của Đức Chúa Trời là gì?

4. Động cơ nào khiến Chúa phải làm việc đó?

5. Làm sao chúng ta biết Chúa Jêsus tình nguyện chịu chết?

6. Tại sao Chúa không chịu uống rượu hoà với một dược?

7. Tại sao người ta đóng đinh Chúa giữa hai tên trộm cướp?

8. Sức mạnh nào đã giữ Chúa Jêsus trên thập tự giá?

9. Trên thấp tự giá Chúa kêu “Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi” có nghĩa gì?

10. Cứ đứng dưới chân thập tự giá của Chúa, các bà muốn nói gì?

BÀI 20. PHÉP LẠ KHI CHÚA JÊSUS CHỊU CHẾT

KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 27:45-54.

CÂU GỐC: “Thầy đội và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus thấy đất rúng động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm mà nói rằng: “Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 27:54).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rằng những phép lạ nầy đã xảy ra khi Chúa Jêsus chịu chết để chứng tỏ Ngài là Con Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỰ TỐI TĂM

(Ma-thi-ơ 27:45-50; Mác 15:33-37).

TH:

BỨC MÀN BỊ XÉ

(Ma-thi-ơ 27:51; Hêb 9:1-8; 10:19-22).

TB:

CƠN ĐỘNG ĐẤT

(Ma-thi-ơ 27:51-54).

TT:

PHẦN MỘ MỞ RA

(Ma-thi-ơ 27:52-53).

TN:

CÁC THÁNH SỐNG LẠI

(Ma-thi-ơ 27:52-53).

TS:

CHUYỆN CÂY THẬP TỰ

(Giăng 19:16-37).

TB:

PHÉP LẠ CỦA TÌNH THƯƠNG

(Giăng 3:13-17; IGiăng 4:7-12).

Sự giáng sinh của Chúa Jêsus không giống ai, sự chết của Ngài cũng khác hẳn mọi người. Đời sống của Ngài là tuyệt đẹp, không có gì sánh kịp. Thập tự giá là một hình cụ nhục nhã, ghê gớm, song khi Chúa Jêsus chết trên đó, Ngài đã biến nó trở thành một biểu tượng vinh hiển mà chúng ta đã thấy trên các cơ quan từ thiện, bệnh viện, Hội Hồng thập tự. Thập tự giá đau thương mà Chúa đã chịu đã trở thành nguồn phước cho tội nhân. Dầu Chúa chết giữa hai tên trộm cướp, song sự chết của Ngài cũng như sự giáng sinh của Ngài có nhiều phép lạ cặp theo. Các phép lạ đó là các chứng nhân nói lên Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, Ngài là Đức Chúa Trời. Có ba phép lạ được kể ra sau đây:

I. SỰ TỐI TĂM BAO PHỦ XỨ (Ma-thi-ơ 27:45).

Sau khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá 3 tiếng đồng hồ, thì cả xứ đều tối tăm suốt 3 tiếng nữa, tức là từ 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều. Hiện tượng nầy không phải là nhật thực vì nhật thực chỉ kéo dài 7 phút thôi. Hơn nữa, Chúa chịu đóng đinh nhằm ngày lễ Vượt Qua và lễ ấy cử hành lúc trăng tròn, nên không thể nào trong một ngày trăng tròn lại có nhật thực được. Đang giữa trưa của một ngày mùa hạ, mặt trời chiếu sáng, thình lình sự tối tăm che khuất mặt trời. Đó là việc chỉ một mình Đức Chúa Trời làm được.

Khi Chúa Jêsus thi hành chức vụ, người Do-thái cứ đòi cho họ xem một dấu lạ từ trời, để họ tin Ngài là Đấng Mê-si của họ và là Cứu Chúa của thế gian (Ma-thi-ơ 16:1; Lu-ca 11:16). Bây giờ, trên thập tự giá, Ngài cho họ xem một dấu lạ từ trời: sự tối tăm.

Trước thảm kịch Con Đức Chúa Trời chịu chết vì tội nhân, muôn vật mặc màu tang trong im lặng u buồn. Trước thảm kịch đó, muôn vật cúi đầu che mặt lại, không dám nhìn. Trong giòng lịch sử nhân loại, không có sự chết của ai đáng ghi nhớ và cảm động bằng sự chết của Chúa Jêsus. Bức màn đen đã phủ trên đồi Gô-gô-tha và cả xứ Do-thái để biểu hiện tội lỗi và tình trạng tuyệt vọng của cả nhân loại. Thiết tưởng 3 tiếng đồng hồ đó là thời gian thê lương, ảm đạm nhất xưa nay. Dân Do-thái và chính quyền La-mã đã làm một việc mà hậu quả của nó là trời đất tối tăm và muôn vật âu sầu. Song đâu phải chỉ có dân Do-thái và chính quyền La-mã đã đóng đinh Chúa Jêsus, mà toàn thể nhân loại đã đóng đinh Ngài. Nếu chúng ta không phạm tội, nếu Chúa không vì yêu chúng ta, đâu có cảnh Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá. Đó vừa là một thảm kịch, vừa là một phép lạ chứng minh Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời.

II. BỨC MÀN TRONG ĐỀN THỜ BỊ XÉ LÀM HAI (Ma-thi-ơ 27:50-51).

Trong đền tạm tại đồng vắng cũng như trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, thì giữa nơi thánh và nơi chí thánh có một bức màn từ trên phủ xuống, phân rẽ hai nơi. Thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm được vào đó một lần với chậu huyết trong tay để làm lễ chuộc tội, rồi trở ra (Xuất 26:31-35; 30:10; Hê-bơ-rơ 9:1-27). Vì nơi chí thánh là ngôi của Đức Chúa Trời.

Dân sự chỉ được đến hành lang, thầy tế lễ chỉ được đến nơi thánh. Song không ai được phép vượt qua bức màn để vào nơi chí thánh. Nếu ai làm vậy sẽ ngã chết lập tức.

Trải qua các đời, nhân loại biết có Đức Chúa Trời, song Ngài ở xa quá, “Vắn hơi kêu chẳng thấu trời”. Nhưng thật ra Ngài không ở xa, chỉ vì tội lỗi chúng ta đã làm chúng ta xa cách Ngài và che khuất mặt Ngài khỏi chúng ta (Ê-sai 59:1-2). Dân Ysarơên khao khát đến gần Ngài nhưng không thể nào đến được, vì không ai có quyền cất bức màn ấy đi. Mãi cho đến khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, lúc Ngài kêu lên một tiếng lớn “Mọi sự đã trọn” (Giăng 19:30), rồi trút linh hồn thì bức màn trong đền thờ tức thì bị xé ra làm hai, từ trên chí dưới. Chính tay Đức Chúa Trời đặt vào nên mới bị xé từ trên chí dưới.

Khi xé bức màn đó, Đức Chúa Trời công khai tuyên bố với toàn thể nhân loại là sự cứu chuộc đã hoàn thành, con đường vào nơi chí thánh đã mở toang, tội nhân được tự do trực tiếp đến gần Ngài, nhờ sự chết chuộc tội của Chúa Jêsus trên thập tự giá. Kể từ đó, tấm bảng CẤM VÀO bị cất đi và được thay thế bằng tấm bảng MỜI VÀO (Hê-bơ-rơ 10:19-22). Vì vậy, chính Chúa Jêsus đã phán trước “Ta là đường đi,… chẳng bởi Ta không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

Bức màn bị xé ra là một phép lạ lớn lao chứng minh sự chết của Chúa Jêsus có hiệu lực mở một con đường vào nơi chí thánh tức là từ đất lên trời. Ngài thật là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại.

III. ĐẤT RÚNG ĐỘNG VÀ MỒ MẢ MỞ RA (Ma-thi-ơ 27:51-54).

1. Đất rúng động: Đây không phải là cơn động đất như thường có, song nó chỉ xảy ra trong phạm vi đồi Gô-gô-tha để chứng minh sự chết của Chúa Jêsus là sự chết của Đấng Cứu Thế.

2. Mồ mả mở ra: Phần mộ của người Do-thái ở trong các vầng đá, nên khi đất rúng động thì làm các vầng đá bể ra, phần mộ cũng đồng thời được mở và thi hài của các thánh đồ sống lại. Việc nầy cũng chỉ xảy ra trong phạm vi đồi Gô-gô-tha, tương quan đến nghĩa trang gần đó. Các thánh đồ không ra khỏi phần mộ cho đến khi Chúa Jêsus sống lại vào ngày thứ ba. Họ có hiện ra cho nhiều người tại Giê-ru-sa-lem cũng xem thấy. Họ không sống lại như Chúa Jêsus, song sống lại như La-xa-rơ. Việc đó nói lên sự chết của Chúa Jêsus có một quyền lực mạnh mẽ đã phá tan sự chết, đem sự sống cho kẻ chết, báo trước sự sống lại của tín đồ trong ngày Ngài tái lâm. Một loạt phép lạ đã liên tiếp xảy ra đánh mạnh vào mắt, vào tai, vào trí, vào lòng của những người Do-thái ngoan cố, vô tín, nói cho họ nghe, chỉ cho họ thấy, dạy cho họ biết Chúa Jêsus không phải là con người lộng ngôn, không phải là tay gian ác như họ đã vu khống mà là Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Thế có một không hai. Qua các phép lạ đó, thầy đội Lama cũng hoảng hốt kêu lên: “Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời”. Cả dân chúng đã thấy nông nổi làm vậy đều đấm ngực mà trở về (Lu-ca 23:48).

Nếu Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời thì sự chết của Ngài là “Đấng Christ đã theo kỳ hạn chịu chết vì kẻ có tội… là Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:6-8), “Ngài là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). Chúa chết để đem chúng ta ra khỏi nơi tội lỗi, tối tăm, tuyệt vọng đến nơi sáng láng lạ lùng, Chúa chết để mở một con đường vào nơi chí thánh, đem chúng ta đến gần Đức Chúa Trời, trước ngôi thi ân, Chúa chết để phá tan quyền lực của tử thần, đem chúng ta qua sự sống và sự sống đời đời.

“Nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong mà đến gần Chúa” để tôn thờ, cảm tạ, ca ngợi và phục vụ Ngài.

CÂU HỎI

1. Bằng cớ nào cho chúng ta biết sự chết của Chúa Jêsus không phải là sự thất bại, nhục nhã?

2. Chúa Jêsus chết có cặp theo các phép lạ nào?

3. Mọi phép lạ đó có công dụng để chứng minh việc gì?

4. Cả xứ đều tối tăm có ý nghĩa gì?

5. Bức màn bị xé có ý nghĩa gì?

6. Đất rúng động, mồ mả mở ra có ý nghĩa gì?

7. Trước các phép lạ đó, thầy đội La-mã đã nói gì?

8. Trước các phép lạ đó dân chúng đã làm gì?

9. Bây giờ trước các phép lạ đó, chúng ta phải nói gì và làm gì?

10. Đối với các bạn, Chúa Jêsus là ai? Tại sao Ngài phải chịu chết?

BÀI 21. KẾT QUẢ SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST TRÊN CÁC MÔN ĐỒ

KINH THÁNH: ICôr 15:1-58.

CÂU GỐC: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sự lại, thì ngươi sẽ được cứu” (Rô-ma 10:9).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rằng sự sống lại của Chúa Jêsus là nền tảng đức tin của Cơ Đốc Nhân.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

LỜI CHỨNG VỀ SỰ SỐNG LẠI

(ICôr 15:1-11).

TH:

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ SỐNG LẠI

(ICôr 15:12-20).

TB:

PHƯƠNG CÁCH SỐNG LẠI

(ICôr 15:35-50).

TT:

CHIẾN THẮNG SỰ CHẾT

(ICôr 15:51-58).

TN:

HY VỌNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

(Rô-ma 8:10-18).

TS:

GIÊ-XU CHRIST SỐNG LẠI

(Giăng 20:1-18).

TB:

MỘT THÂN THỂ THUỘC LINH

(Giăng 20:19-29).

Sự sống lại của Chúa Jêsus cũng như sự giáng sinh và sự chết của Ngài đều là những sự kiện lịch sử, không ai chối cãi được. Đó là những lẽ thật trọng đại làm nền tảng cho đức tin của chúng ta.

Cứu Chúa của chúng ta vốn có từ trước vô cùng, tự hữu, hằng hữu (Mi-chê 5:1; Giăng 1:1-3; 8:58; Cô-lô-se 1:17). Ngài đã hóa thân làm người tại trần gian 33 năm, Ngài đã tình nguyện chịu chết vì nhân loại trên thập tự giá và Ngài cũng đã sống lại khỏi phần mộ. Thế là Ngài đắc thắng tội lỗi, ma quỉ, thế gian, sự chết. Không còn một kẻ thù nào đứng nổi trước mặt Ngài. Đó là niềm hoan lạc của chúng ta.

Có một nhà thông thái muốn lập một tôn giáo để cứu nhân độ thế. Ông đã viết một bộ sách rất lớn, rất đầy đủ giáo lý, tín điều, rồi gởi đến các bằng hữu, cũng là những nhà thông thái để nhờ họ xem và phê phán. Hầu hết các bằng hữu của ông đều hoan nghinh nhiệt liệt về tinh thần và khả năng của ông với hy vọng ông sẽ thành công và họ cũng sẵn sàng cộng tác với ông nữa. Song chỉ có một người được yêu cầu gặp ông để đặt vài câu hỏi mà nếu ông giải đáp thỏa đáng thì người ấy cũng hoan nghinh và cộng tác như các bạn khác. Thế là hai nhà thông thái đã gặp nhau, và các câu hỏi đáp như sau:

(1) Nếu anh đã lập một tôn giáo, và trong vòng các tín đồ của anh có người nghèo khó, anh có vui lòng chia cơm xẻ áo cho họ không?

Đáp: Tôi xin vui lòng.

(2) Nếu trong vòng tín đồ của anh có người phạm pháp phải ngồi tù, anh có vui lòng ngồi tù thay cho người đó không?

Đáp: Tôi xin vui lòng.

(3) Nếu trong vòng tín đồ của anh có người phạm pháp phải bị án tử hình, anh có vui lòng chết thay cho người đó không? – Sau một hồi suy nghĩ, ông cũng đáp: Tôi xin vui lòng.

(4) Nếu anh đã chết, thì có thể sống lại được không? – Không cần suy nghĩ, ông đáp ngay: Rất tiếc, không được.

Người bạn nói: nếu anh không thể sống lại, tôi xin anh đừng lập tôn giáo, vì anh đã chết thì tôn giáo của anh cũng là tôn giáo chết, không cứu ai được. Halêlugia! Chúa Jêsus Christ đã sống lại

I. BAN ĐẦU, CÁC MÔN ĐỒ BUỒN BÃ.

Dầu Chúa đã nhiều lần nhiều cách tuyên bố trước các môn đồ và dân chúng rằng Ngài sẽ chịu đóng đinh trên thập tự giá, rồi đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Song đó là một phép lạ vĩ đại, xưa nay chưa từng có, nên không những dân chúng mà các môn đồ cũng không tin (Mác 16:11-13; Lu-ca 24:11, 21; Ma-thi-ơ 27:63).

Những kẻ theo Ngài đã chứng kiến cảnh Ngài bị đòn vọt, bị đóng đinh, bị giáo đâm, thi hài của Ngài được khâm liệm và đặt trong thạch mộ, thì họ hoàn toàn thất vọng. Đến ngày thứ ba, đứng trước mộ trống, Ma-ri Ma-đơ-len khóc sướt mướt vì tưởng có ai đã trộm thi hài của Chúa mình đi rồi. Phi-e-rơ và Giăng nghe báo tin ngôi mộ trống, không biết thi hài của Chúa ở đâu nên cũng vội vàng đến xem, nhưng không tin Ngài đã sống lại.

II. KẾ ĐÓ, CÁC MÔN ĐỒ NGẠC NHIÊN.

Sau khi sống lại, Chúa Jêsus đã hiện ra với các môn đồ nhiều lần nhiều cách suốt bốn mươi ngày:

1. Ngài đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len. Bà đi thuật lại cho các môn đồ rằng mình đã thấy Chúa và Ngài đã phán cùng bà (Giăng 20:11-18).

2. Ngài đã hiện ra với hai bà khác. Họ rất vui mừng ôm chân Ngài, thờ lạy Ngài,rồi chạy báo tin cho các môn đồ qua Ga-li-lê để gặp Ngài tại đó (Ma-thi-ơ 28:8-10).

3. Ngài đã hiện ra với hai môn đồ đi về làng Em-ma-út mà giải thích cho họ về các lời tiên tri trong Kinh Thánh có tương quan đến Ngài. Khi biết Chúa Jêsus thật đả sống lại, họ trở lại Giê-ru-sa-lem để thuật cho các môn đồ biết (Lu-ca 24:13-35).

4. Ngài hiện ra với các môn đồ khi họ hộp nhau trong một nhà, lần nầy vắng mặt Thô-ma. Ngài đưa tay, chân và sườn cho họ xem. Biết Chúa thật đã sống lại, ai nấy vui mừng trong ngạc nhiên (Lu-ca 24:36-43; Giăng 20:19-23).

5. sau khi gặp Chúa, các môn đồ thuật lại cho Thô-ma, song ông không tin nên một tuần lễ sau, Chúa hiện ra với các môn đồ, có cả Thô-ma. Bấy giờ Thô-ma đã phủ phục dưới chân Ngài, thưa rằng: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi” (Giăng 20:24-29).

6. Ngài hiện ra với Phi-e-rơ (Lu-ca 24:34; ICôr 15:5).

7. Ngài đã hiện ra với các môn đồ khi họ đánh cá trên bờ biển Ga-li-lê. Chúa đã ăn uống và trò chuyện với họ cách thân mật (Giăng 21:1-25).

8. Ngài đã hiện ra với các môn đồ trên một hòn núi tại Ga-li-lê và truyền mạng lịnh cuối cùng cho họ (Ma-thi-ơ 28:16-20; Mác 16:14-18). Chắc lần nầy cũng có mặt 500 người khác (ICôr 15:6).

9. Ngài đã hiện ra với các môn đồ lần cuối cùng tại Giê-ru-sa-lem và phán dạy họ (Lu-ca 24:44-49).

10. Ngài đã hiện ra cho Gia-cơ (ICôr 15:7).

11. Ngài đã hiện ra với các môn đồ trên núi Ô-li-ve và thăng thiên (Lu-ca 24:50-53; Mác 16:19; Công vụ 1:9-11).

12. Ngài đã hiện ra với Phao-lô trên con đường đi đến Đa-mách (Công vụ 9:3-6; I côr 15:8).

Qua những lần Chúa hiện ra như vậy đã thay đổi thái độ của các môn đồ, từ buồn bã đến ngạc nhiên, rồi vui mừng, tin quyết và can đảm.

III. CUỐI CÙNG, CÁC MÔN ĐỒ TIN QUYẾT VÀ CAN ĐẢM.

Họ không còn thất vọng nên không còn buồn bã mà vui mừng, họ không còn nghi ngờ, nên không còn sợ hãi mà tin quyết và can đảm. Họ không còn quanh tay bó gối ngồi trong phòng cửa đóng then cài, song đã đứng dậy, mở cửa ra, đem Tin Lành cho mọi người ở khắp mọi nơi (Công vụ 1:8).

Lời làm chứng của các môn đồ luôn luôn nhấn mạnh về sự sống lại của Chúa Jêsus, vì đó là sự kiện hùng hồn nhất để nói lên Ngài là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, đồng thời lên án dân Y-sơ-ra-ên và chính quyền La-mã đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá là đã phạm tội rất nặng và họ cần phải ăn năn (Công vụ 2:32-36; 3:14-15; 4:10; 5:30;10:40). Làm chứng như vậy, họ bị bắt bớ đủ cách: đe dọa, cấm đoán, đánh đòn, bỏ tù, ném đá, chém đầu, song họ đã can đảm nói ra sự thật mà họ đã nghe, đã thấy, da04 biết chắc chắn. Kết quả Hội Thánh ngày càng tiến bộ. Không những làm chứng và giảng dạy mà khi viết thơ, các sứ đồ cũng đã nhấn mạnh về sự sống lại của Chúa Jêsus (Rô-ma 1:3-4; Ê-phê-sô 1:20; Phi-líp 2:9-11; Cô-lô-se 3:1; ITê 1:10… ) Nhất là trong thơ ICôr 15:1-58.

Tin Lành là Chúa Jêsus Christ chịu chết vì tội chúng ta, bị chôn, sống lại và hiện ra cho nhiều người (ICôr 15:1-11).

Chúa Jêsus Christ sống lại là bằng cớ chắc chắn rằng tội lỗi chúng ta đã được Đức Chúa Trời tha thứ (ICôr 15:12-19).

Chúa Jêsus Christ sống lại là bằng cớ chắc chắn rằng thân thể của tín đồ qua đời sẽ sống lại và thân thể của tín đồ đang sống sẽ được biến hóa khi Ngài tái lâm (ICôr 15:20-27).

Chúa Jêsus sống lại là một sức mạnh thúc đẩy chúng ta hầu việc Ngài một cách dư dật luôn (ICôr 15:58).

Nguyện quyền phép sự sống lại của Chúa hành động trong chúng ta cũng như đã hành động trong các môn đồ và sứ đồ, hầu chúng ta cũng có kinh nghiệm kỳ diệu như họ.

CÂU HỎI

1. Nền tảng của đức tin chúng ta là gì?

2. Tại sao các môn đồ thất vọng khi Chúa chịu chết?

3. Tại sao Chúa phải hiện ra với các môn đồ đến 12 lần?

4. Hãy lần lượt kể ra vài trường hợp khác nhau Chúa đã hiện ra với các môn đồ?

5. Bạn thích trường hợp nào hơn hết? Vì sao?

6. Cuối cùng các môn đồ có thái độ nào về sự sống lại của Chúa?

7. Xin kể lại các diễn tiến trong đời sống của các môn đồ khi chứng kiến sự sống lại của Chúa?

8. Khi làm chứng hoặc viết thư, các môn đồ nhấn mạnh lẽ thật nào?

9. Sự sống lại của Chúa Jêsus là bằng cớ chắc chắn của những sự gì?

10. Sau khi Chúa Jêsus sống lại, thân thể của Ngài khác hơn trước thế nào?

BÀI 22. CÔNG TÁC CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST THĂNG THIÊN

KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 7:23-28; 8:6-13.

CÂU GỐC: “Bởi đó, Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (Hê-bơ-rơ 7:25).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng nhờ Chúa Jêsus Christ đã thăng thiên và Ngài hiện đang cầu thay cho chúng ta, chúng ta có sức mạnh để thi hành sứ mạng mà Ngài đã giao phó.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

THẦY TẾ LỄ CẢ CỦA CHÚNG TA

(Hê-bơ-rơ 9:1-14).

TH:

SỰ HY SINH CAO CẢ CỦA NGÀI

(Hê-bơ-rơ 10:11-25).

TB:

THẦY TẾ LỄ CẢ CỦA THỜI XƯA

(Hê-bơ-rơ 4:14-16).

TT:

BỨC MÀN BỊ XÉ

(Hê-bơ-rơ 5:1-10).

TN:

MỘT THẦY TẾ LỄ CẢ HOÀN HẢO

(Hê-bơ-rơ 7:11-28).

TS:

CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG TRUNG BẢO

(Ê-phê-sô 2:13-22).

TB:

CHỈ CÓ MỘT ĐẤNG TRUNG BẢO

(I Tim 2:1-6; IGiăng 2:1).

Sau khi sống lại, Chúa Jêsus đã thăng thiên, kế đó Đức Thánh Linh giáng lâm. Nhưng không phải Đức Chúa Jêsus đã chấm dứt công việc của Ngài đâu mà vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay và cho đến khi Ngài trở lại để đem chúng ta về với Ngài (Giăng 14:2,3; Công vụ 1:9-11).

I. CHÚA JÊSUS TIẾP TỤC CÔNG TÁC CỦA NGÀI TRÊN ĐẤT (Mat 28:16-20).

Chúa có quyền hành trên trời và dưới đất, Ngài sai các môn đồ đi truyền giảng Tin Lành và hứa ở cùng họ, làm việc với họ luôn cho đến tận thế (Mat 28:18-20).

Trước khi lên thập tự giá, Chúa hứa ban đức Thánh Linh đến với các môn đồ: “Ta không để các ngươi mồ côi đâu, Ta sẽ đến cùng các ngươi… Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng Ta ở trong Cha Ta, các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi” (Giăng 14:18,20). Vậy Chúa vẫn tiếp tục ở với các môn đồ, ở trong các môn đồ, cùng làm việc với họ và làm việc qua họ trong công tác truyền giảng Tin Lành cho nhân loại.

Chúa Jêsus đã hiện ra với Phao-lô trên đường Đa-mách và chinh phục ông trở nên sứ đồ của Ngài (Công vụ 9:3-6). Khi Phao-lô truyền giảng cho các dân tộc, đã nhiều lần Ngài hiện ra với ông để ban lịnh, để an ủi (Công vụ 18:9,10; 23:11).

Không những trong đời các sứ đồ mà cho đến ngày nay và cho đến cuối cùng, Chúa vẫn ở với chúng ta trong mọi nơi, công tác với chúng ta trong mọi việc của Ngài; lúc nào chúng ta cũng thấy sự hiện diện của Ngài, cũng nghe tiếng phán dạy của Ngài. Chúa đi giữa Hội Thánh, Ngài biết công việc của mỗi người nên Ngài khen, Ngài trách, Ngài khuyên, Ngài hứa, Ngài cảnh cáo… (Khải 2: và 3:). Chúng ta cảm tạ Chúa vì Ngài đang làm việc Ngài trong Hội Thánh.

II. CHÚA JÊSUS LÀM VIỆC CỦA NGÀI TRÊN TRỜI (Hê-bơ-rơ 7:23-28).Hê-bơ-rơ 7:23-28).

Chúa Jêsus là Đấng vô sở bất tại, cùng một lúc Ngài ở với tất cả con cái Ngài trên thế gian mà cũng đồng thời ngự bên hữu Đức Chúa Trời (Công vụ 7:55; Hê-bơ-rơ 1:3; IPhi-e-rơ 3:22). Tại đó Ngài cầu thay cho chúng ta.

Đời xưa, dân Y-sơ-ra-ên được thầy tế lễ cả cầu thay cho họ. Mỗi năm một lần, thầy tế lễ cả được vào nơi chí thánh để làm lễ chuộc tội cho dân chúng. Sau khi làm lễ ấy xong phải ra ngay chứ không được phép ở lại đó. Ngoài ra, thầy tế lễ là người hay chết nên bị thay đổi luôn. Ngày nay, chúng ta có Chúa Jêsus là một thầy tế lễ cả, Ngài có những đặc điểm mà các thầy tế lễ của dân Y-sơ-ra-ên không có:

1. Các thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên dâng huyết con sinh, còn Chúa Jêsus dâng chính huyết Ngài một lần đủ cả để làm lễ chuộc tội đời đời cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:12).

2. Vì huyết Ngài dâng lên một lần là đủ cả, nên sau khi dâng xong, Ngài ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, chứ không phải đi ra như thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên (Hê-bơ-rơ 1:3).

3. Các thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên vì sự chết mà phải thay đổi luôn không giữ được chức vụ lâu dài, còn Chúa Jêsus sống đời đời, nên Ngài hằng cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:24,25).

4. Các thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên chỉ vào nơi chí thánh dưới đất do tay người làm ra, còn Chúa Jêsus vào nơi chí thánh trên trời do Đức Chúa Trời dựng nên (Hê-bơ-rơ 8:1,2).

5. Đang khi các thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên mỗi năm một lần vào nơi chí thánh, thì bức màn vẫn còn phủ xuống, con đường vào nơi chí thánh chưa được mở, còn khi Chúa Jêsus vào nơi chí thánh trên trời thì bức màn liền bị xé hai từ trên chí dưới, và con đường đã được mở cho mọi người đến gần Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 27:50-51; Hêb 10:19).

Vậy, thầy tế lễ cả của dân Y-sơ-ra-ên chỉ làm tượng trưng thôi, còn Chúa Jêsus mới là thầy tế lễ cả thật, có đủ tư cách đem chúng ta đến gần Đức Chúa Trời trong nơi chí thánh trên trời. Vì Ngài đang ngồi tại đó để cầu thay cho chúng ta, nên có lời mời gọi ân cần và tha thiết: “Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng… Nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong mà đến gần Chúa” (Hê-bơ-rơ 4:16; 10:22). Với chức vụ cầu thay của Chúa Jêsus bên hữu Đức Chúa Trời, Phao-lô thách đố: “Còn ai chống nghịch với chúng ta? Ai kiện cáo chúng ta? Ai lên án chúng ta? Ai phân rẽ chúng ta? Ông quả quyết rằng: Hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo, sự chết, sự sống, thiên sứ, kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, bề sâu hoặc vật nào đều chẳng có thể phân rẽ, chống nghịch, cáo kiện, lên án chúng ta cả” (Rô-ma 8:31-39).

III. CHÚA JÊSUS LÀM VIỆC CỦA NGÀI TRONG CHÚNG TA (Hê-bơ-rơ 6:8-13).

Ngoài ra ở với chúng ta để cùng làm việc với chúng ta, cầu thay cho chúng ta bên hữu Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus còn làm việc của Ngài trong đời sống chúng ta.

Trong gao ước cũ mà Đức Chúa Trời đã lập với dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se, thì luật pháp mà Chúa ban cho họ được Ngài viết trên bảng đá đá, nên dân Y-sơ-ra-ên đã không giữ được (Xuất 19:4-5; 24:1-8). Vì vậy, Đức Chúa Trời đã nhờ miệng tiên tri Giê-rê-mi hứa sẽ lập với họ một giao ước mới. Chúa Jêsus đã thực hiện giao ước đó khi Ngài lập tiệc thánh. Bởi vậy, Kinh Thánh có hai phần: Cựu Ước và Tân Ước (Giê-rê-mi 31:31-34).

So sánh hai giao ước ấy thì giao ước mới tốt hơn giao ước cũ (Hê-bơ-rơ 8:6,13). Xin kể ra các lẽ sau đây:

1. Giao ước cũ được lập bởi Môi-se, giao ước được lập bởi Chúa Jêsus (Lu-ca 22:20; ICôr 11:25).

2. Giao ước cũ được đóng ấn bởi huyết của con sinh, giao ước mới được đóng ấn bởi huyết của Chúa Jêsus.

3. Giao ước cũ được viết trên bảng đá, giao ước mới được viết trên bảng lòng (Hê-bơ-rơ 8:8-10).

4. Dân Y-sơ-ra-ên không giữ được giao ước cũ vì giao ước cũ không ban cho họ năng lực để làm trọn. Tín đồ thật của Chúa giữ được giao ước mới vì Đức Thánh Linh ban cho chúng ta năng lực để làm trọn.

Giá trị của hai giao ước khác nhau, nên ơn phước cũng khác nhau. Bốn phước hạnh của giao ước mới là:

1. Đức Chúa Trời để luật pháp trong trí và ghi tạc vào lòng (Hê-bơ-rơ 8:10a): Luật pháp bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời, nên để luật pháp trong trí và ghi tạc vào lòng là làm cho người đó được dự phần bản tánh của Chúa, được sự sống của Ngài. Chim bay trên trời, cá lội dưới nước là tại Chúa đã ghi tạc luật của Ngài trong chúng nó. Trái cam ngọt, trái ớt cay cũng như vậy. Đó là lý do chúng ta giữ được (IICôr 3:30).

2. Được thuộc về Đức Chúa Trời và Ngài thuộc về chúng ta (c.10b): Nhờ Chúa để luật pháp Ngài vào trí và ghi tạc vào lòng chúng ta mà chúng ta đương nhiên thuộc về Chúa và đồng thời Chúa cũng thuộc về chúng ta. Tất cả máy móc đều được ghi tên của xưởng sản xuất, quyển sách cũng mang tên người chủ. Phao-lô nói rằng ông mang dấu vết của Chúa Jêsus là nói ông thuộc về Ngài (Ga-la-ti 6:17).

3. Được biết Đức Chúa Trời (c11): Người được Chúa ghi tạc luật pháp của Ngài vào lòng là được thuộc về Đức Chúa Trời, cũng được biết Ngài. Đây không có nghĩa là biết qua loa như biết người hàng xóm mà biết rõ ràng thân mật như cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè, càng biết Chúa chúng ta càng tin cậy Ngài, càng yêu mến Ngài đến nỗi tận hiến đời mình cho Ngài. Môi-se ước ao biết Chúa hơn (Xuất 33:13). Phao-lô cũng ước ao như vậy (Phi-líp 3:10-11).

4. Được tha tội (c.12): Được tha tội là phước hạnh cuối cùng song cũng là phước hạnh đầu tiên, là nền tảng cho 3 phước hạnh kia. Nhờ được tha tội mà chúng ta được Chúa ghi tạc luật pháp vào lòng, được thuộc về Chúa, được biết Chúa. Đây là phước hạnh lớn nhất mà Đa-vít đã phải la lên: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình… Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho” (Thi thiên 32:1-2).

Trên là những công việc vĩ đại mà Chúa Jêsus đã làm, đang làm và sẽ còn làm trong chúng ta. Nguyện chúng ta hưởng được tất cả phước hạnh Chúa dành cho.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết dầu Chúa Jêsus đã thăng thiên, công việc Ngài vẫn chưa chấm dứt?

2. Chúa đang làm gì cho Hội Thánh của Ngài?

3. Hiện nay Chúa đang làm gì ở trên trời?

4. Tại sao chúng ta biết Chúa Jêsus là thầy tế lễ cả của chúng ta cao trọng hơn thầy tế lể cả của dân Y-sơ-ra-ên?

5. Vì được Chúa Jêsus ngồi bên hữu Đức Chúa Trời để cầu thay nên Phao-lô thách đố như thế nào?

6. Tại sao giao ước mới tốt hơn giao ước cũ?

7. Được Chúa để luật pháp vào trí và ghi tạc vào lòng có nghĩa gì?

8. Được thuộc về Chúa và Chúa thuộc về mình có nghĩa gì?

9. Chúng ta phải biết Chúa đến mức độ nào?

10. Tại sao được tha tội là phước hạnh lớn nhất?

BÀI 23. SỰ SINH LẠI

KINH THÁNH: Giăng 3:1-6.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3:3).

MỤC ĐÍCH: Giúp tín hữu hiểu và ham thích Lời Chúa để họ có thể trở nên người mới trong Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐƯỢC SANH LẠI

(Giăng 3:1-16).

TH:

ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐẤNG CHRIST

(IICôr 5:11-17).

TB:

SỐNG ĐỜI ĐỜI TRONG ĐẤNG CHRIST

(IGiăng 5:9-13).

TT:

TIN LÀ CẦN THIẾT

(Giăng 6:40-47).

TN:

ĐƯỢC SỐNG TRONG ĐẤNG CHRIST

(Ê-phê-sô 2:1-7).

TS:

ĐỒNG SỐNG VỚI ĐẤNG CHRIST

(Ga-la-ti 2:20).

TB:

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

(ICôr 6:9-11).

Những bài học vừa qua cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã hoàn thành công việc cứu rỗi. Tin nhận Ngài, không những chúng ta được tha thứ tội lỗi trong quá khứ, mà đồng thời cũng được sanh lại, trở nên con cái Đức Chúa Trời để ai nấy có một đời sống mới thay cho đời sống cũ.

Khi chưa tin Chúa, chúng ta có sự sống cũ, tức sự sống bại hoại do A-đam lưu truyền. Nhưng từ khi tin Chúa, chúng ta được sanh lại (Giăng 1:12,13), cũng gọi là được dựng nên mới (IICôr 5:17). Nhờ đó, chúng ta có một nếp sống ngày càng giống như Chúa chúng ta khi Ngài còn ở tại trần gian.

Vậy hôm nay chúng ta học về sự sanh lại.

I. Ý NGHĨA CỦA SỰ SANH LẠI.

Chúa Jêsus đã bảo Ni-cô-đem: “Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy nước Đức Chúa Trời… không được vào nước Đức Chúa Trời. Chớ lấy làm lạ về điều Ta đã nói với ngươi: các ngươi phải sanh lại” (Giẳng:3,5,7). Ni-cô-đem bối rối hỏi: “Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ mà sanh lần thứ hai sao?”

Sanh lại không phải là trở vào lòng mẹ để được sanh ra lần thứ hai. Đó là việc bất năng, mà cũng không cần thiết. Nếu có thể trở vào lòng mẹ để sanh ra 10 lần cũng vô ích. Vì “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt”. Cha mẹ là xác thịt, sanh con cũng xác thịt. Chúng ta được sanh ra lần thứ nhất bởi cha mẹ, bây giờ chúng ta phải được sanh ra lần thứ hai bởi Đức Chúa Trời.

II. CẦN THIẾT CỦA SỰ SANH LẠI.

Nếu không được sanh lại bởi Đức Chúa Trời thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời, không thể vào nước Đức Chúa Trời, tức là không được cứu rỗi. Sanh lại không phải là việc có thể có, có thể không mà nhất định phải có, nếu muốn được cứu rỗi. Tại sao? Nếu không được sanh lại bởi Đức Chúa Trời, người đó không thuộc về Ngài, không phải con cái Ngài, nên người đó không tương hợp với nước Ngài và nước Ngài cũng không tương hợp với người đó (Khải 21:8; 22:15). Thử đem một người chưa được sanh lại vào nước Đức Chúa Trời như thử đem con chim xuống nước, con cá lên không.

Vì vậy, mỗi người cần được sanh lại bởi Đức Chúa Trời để được thuộc về Ngài, trở nên con cái của Ngài, dự phần bản tánh của Ngài, thừa hưởng cơ nghiệp của Ngài. Nếu Ni-cô-đem cần phải được sanh lại, thì không ngoại trừ ai cả, vì ông ấy là người Do-thái, thuộc phái Pha-ri-si, nổi tiếng là ngoan đạo. Ông cũng là một trong bảy mươi nhân viên tòa công luận, học thức và giàu có. Không thể đem việc đi nhà thờ, cầu nguyện, ca hát, dâng tiền, chịu Báp-têm, dự tiệc thánh thay cho sự sanh lại được. Sự sanh lại là gốc rễ, còn mọi việc trên là bông trái. Nếu bông trái không ra từ gốc rễ thì là bông trái giả, bằng giấy mà thôi! Giu-đa đã theo Chúa 3 năm, hành động y như một môn đồ, không ai nghi ngờ chi về ông cả, thậm chí trong đêm cuối cùng ông cũng dự tiệc với Chúa. Nhưng sau đó ông hướng dẫn bọn người gian ác đến vườn Ghết-sê-ma-nê bắt Ngài. Giu-đa có thể dối gạt mọi người, song không thể dối gạt Chúa nên cuối cùng ông đã đi đến nơi của ông (Công vụ 1:25).

Con cọp ở trong chuồng sắt vẫn là con cọp như lúc nó ở ngoài rừng. Con rắn thay da vẫn là on rắn độc dữ. Nếu không5 được sanh lại bởi Đức Chúa Trời, thì con cái của Tín đồ, Mục sư, Truyền đạo vẫn “Dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa” (Giê-rê-mi 17:9). Thay đổi chỗ ở, thay đổi bộ áo không quan trọng gì, cần phải thay đổi tấm lòng do sự sanh lại. Vậy trừ phi người không muốn được cứu rỗi, kỳ dư ai nấy phải được sanh lại.

III. BIỂU HIỆN CỦA MỘT NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC SANH LẠI.

Chúa phán: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động nhưng không biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh cũng như vậy”.

Không ai thấy gió, không ai bắt gió trong tay, song ai cũng biết có gió, vì nghe, vì thấy, vì cảm xúc những hiện tượng từ gió phát ra. Khi không có gió, cát bụi nằm yên, lá cây bất động, mặt biển phẳng lặng, lá cờ rũ xuống, ai nấy cảm thấy nóng bức. Nhưng khi có gió, cát bụi tung lên, lá cây xao động, mặt biển nổi sóng, cờ bay phất phới. Ai nấy cũng đều thấy được những hiện tượng ấy, nghe tiếng vi vu, cảm xúc mát mẻ… và biết rằng có gió.

Một người được sanh lại thì có những hiện tượng do Đức Thánh Linh làm ra. Một biến động đã xảy ra từ bên trong đổi mới việc làm, lời nói, tư tưởng, ý chí, mục đích, nguyện vọng của người đó. Người đó sẽ thôi làm điều mình muốn làm, chấm dứt cuộc đời tội lỗi mà bắt đầu cuộc đời đạo đức.

Hai sứ đồ Giăng và Phi-e-rơ nêu lên bốn hiện tượng như sau:

1. Không phạm tội, không thể cứ phạm tội (IGiăng 3:9): Người chưa được sanh lại thì thích phạm tội, miệt mài trong tội và xúi dục kẻ khác cùng phạm. Song đã được sanh lại thì gớm ghiếc tội, chống trả tội, tránh xa tội. Nếu có lỡ lầm vấp phạm thì buồn rầu, đau đớn và hết lòng ăn năn để được Chúa tha thứ, chứ không thể nào cứ phạm tội thêm.

2. Thương yêu anh em mình (IGiăng 3:14): Người đã được sanh lại là từ cõi chết qua cõi sống, nên có một hiện tượng rõ ràng là thương yêu anh em mình. Tất cả chúng ta là con một cha, anh em một nhà, chi thể của một thân, vui cùng vui, buồn buồn cùng buồn, chia xẻ, an ủi lẫn nhau. Không những thương anh em trong Hội Thánh địa phương mình mà cũng thương yêu anh em trong Hội Thánh khắp nơi trên thế giới nữa.

3. Thắng hơn thế gian (IGiăng 5:4): Thế gian gồm có: Mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, kiêu ngạo của đời, tức là danh lợi, quyền và mọi thứ vui trần tục. Những điều nầy rất hấp dẫn đối với người đời, song không là gì đối với người đã được sanh lại. Người được sanh lại ao ước những gì thuộc về trời (Cô-lô-se 3:1-3).

4. Gớm ghiếc tội lỗi, ham thích Lời Chúa (IPhi-e-rơ 2:1,2): Người đã được sanh lại từ bỏ tội lỗi, ham thích Lời Chúa như con trẻ mới đẻ ham thích sữa mẹ vậy. Con trẻ ấy lớn lên và mạnh mẽ một cách dễ thương. Con trẻ mới đẻ không ham thích gì bằng sữa mẹ. Người được sanh lại không ham thích gì bằng Lời Chúa.

IV. BÍ QUYẾT ĐƯỢC SANH LẠI (Giăng 3:14-16).

Vậy thì làm sao để được sanh lại? – sanh lại là việc của Đức Chúa Trời, song chúng ta có bổn phận tuân theo hai điều:

1. Nhận mình có tội: chúng ta cũng như dân Y-sơ-ra-ên, chẳng khác loại rắn độc (Ma-thi-ơ 3:7; 23:33) đáng bị rủa sả, nhưng Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội đã tình nguyện mang lấy tội lỗi của chúng ta và chịu rủa sả thay cho chúng ta (Ga-la-ti 3:13). Con rắn bị treo trên cây sào là hình ảnh của Chúa Jêsus bị treo trên thập tự giá vì chúng ta (Dânsố ký 21:4-9).

2. Nhận Chúa Jêsus làm cứu Chúa của mình: Bởi tin nhận như vậy, Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta, ngự vvào đời sống chúng ta, tái tạo chúng ta trở nên con cái Ngài, tức là làm cho chúng ta được sanh lại (Giăng 2:12,13).

Khi dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi Ê-díp-tô, qua biển đỏ, vào đồng vắng, thì họ không còn nước uống. Đến Ma-ra có nước, song đắng quá không thể uống được. Môi-se kêu cầu Chúa, Ngài chỉ cho ông một khúc gỗ, ông lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt (Xuất 15:22-25).

Lòng của chúng ta như nước tại Ma-ra. Khúc gỗ kia như thập tự giá của Chúa. Nhận mình có tội, tin Chúa chịu chết đền tội cho mình, chúng ta được tha thứ, được sanh lại tức là có đời sống mới thay cho đời sống cũ.

CÂU HỎI

1. Sanh lại có nghĩa gì?

2. Tại sao phải được sanh lại mới được vào nước Đức Chúa Trời?

3. Tại sao Giu-đa đã theo Chúa mà cuối cùng phải hư mất?

4. Khi một người đã được sanh lại thì có những hiện tượng nào?

5. Một người đã được sanh lại thì thương yêu ai?

6. Một người đã được sanh lại thì thắng hơn thế gian, có nghĩa gì?

7. Một người đã được sanh lại thì ham thích gì?

8. Nếu muốn được sanh lại bởi Đức Chúa Trời, mọi người phải làm gì?

9. Nước đắng tại Ma-ra hóa ngọt, có sự dạy dỗ gì cho chúng ta?

10. Qua bài học nầy, bạn biết mình đã được sanh lại hay chưa? Vì sao bạn biết như thế?

BÀI 24. ĐỨC THÁNH LINH

KINH THÁNH: Công vụ 2:1-21.

CÂU GỐC: “Lúc nào Thần Lẽ thật sẽ đến thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật, vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và bày tỏ chho các ngươi những sự sẽ đến” (Giăng 16:13).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Thánh Linh là Đấng yên ủi, Đấng dẫn dắt và dạy dỗ chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TIÊN TRI VỀ ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM

(Giô-ên 2:25-32).

TH:

LỜI HỨA VỀ ĐỨA THÁNH LINH

(Giăng 16:7-15).

TB:

ĐỨC THÁNH LINH SẼ ĐẾN

(Giăng 14:16-26).

TT:

ĐỨC THÁNH LINH ĐẾN

(Công vụ 2:1-21).

TN:

ĐỨC THÁNH LINH VÀ CƠ ĐỐC NHÂN

(Giăng 3:3,6; 16:13,14; ICôr 3:16; 6:19).

TS:

BƯỚC ĐI TRONG THÁNH LINH

(Rô-ma 8:1-10).

TB:

ĐƯỢC DẪN DẮT BỞI THÁNH LINH

(Rô-ma 8:11-17).

Trước khi thăng thiên, Chúa Jêsus đã hứa ban Đức Thánh Linh đến ở với và ở trong các môn đồ, vì Ngài không muốn họ bị cô đơn. Khi Chúa sắp thăng thiên, Ngài bảo họ ở lại trong thành Giê-ru-sa-lem đợi Thánh Linh giáng lâm để ai nấy sẽ mặc lấy quyền năng, hầu làm chứng cho Ngài khắp mọi nơi. Dầu không biết rõ mọi sự sẽ ra sao, các môn đồ đã tin cậy, vâng lời và chờ đợi Đức Thánh Linh.

I. ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM (Công vụ 2:1-13).

Nhằm ngày lễ Ngũ tuần của dân Do-thái, tức là năm mươi ngày sau khi Chúa sống lại, mười ngày sau khi Ngài thăng thiên, thì Đức Thánh Linh giáng lâm. Đang khi các môn đồ họp lại một chỗ để thờ phượng, thình lình họ nghe tiếng gió thổi ào ào, thấy những lưỡi bằng lửa đậu trên mỗi người. Thế là ai nấy được đầy dẫy Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng ngoại quốc để ca tụng Đức Chúa Trời. Các dân từ 15 xứ khác nhau đến dự lễ Ngũ tuần trong ngày đó đều được nghe các môn đồ ca tụng Đức Chúa Trời bằng tiếng mẹ đẻ của các dân ấy, khiến cho ai nấy phải ngạc nhiên và sợ hãi.

Sự kiện trên là một phép lạ. Phép lạ là một hiện tượng siêu nhiên, sức người không làm nổi, nên chỉ có Đức Chúa Trời làm. Trong trường hợp này, Chúa làm phép lạ để cho mọi dân tộc có mặt tại Giê-ru-sa-lem bấy giờ thấy, nghe và hiểu được quyền năng của Đức Thánh Linh. Khi các dân tộc ấy đều trở về xứ mình, họ thuật lại phép lạ hầu chuẩn bị và mở đường cho công cuộc truyền giáo mà Phi-líp, Phi-e-rơ, Phao-lô sẽ thực hiện sau đó. Vì vậy, ngày Đức Thánh Linh giáng lâm là ngày trọng đại trong lịch sử Hội Thánh.

II. QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH (Công vụ 2:14-21).

Đức Thánh Linh ví như gió và lửa. Gió rất mạnh mẽ làm cây ngã, đá lăn, nhà sập, thì Đức Thánh Linh có quyền đập đổ mọi trở lực, san thành bình địa mọi chướng ngại. Lửa thiêu hủy mọi rác rến, lửa làm cho nóng cháy, các máy móc nhờ sức lửa mà chạy được. Cũng vậy, Đức Thánh Linh tẩy uế lòng người, làm cho sốt sắng, ban cho năng lực phi thường.

Hơn một tháng trước, Phi-e-rơ đã sợ hãi, đến nỗi ba lần chối Chúa trước mặt những con đòi. Nhưng khi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, ông dũng cảm lạ lùng, dám đứng trước mặt mấy ngàn người là những kẻ đã từng dự phần đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá, mà giải thích sự việc cho họ hiểu. Ông nói rằng các môn đồ không phải say rượu mới như họ tưởng, song được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Ông rất bình tĩnh và sáng suốt, nhờ lời tiên tri Giô-ên mà trưng dẫn để chứng minh cho mọi người thấy rõ hiện tượng nầy đã dự ngôn từ xưa. Đồng thời ông cũng trưng dẫn Thi thiên 16 để chứng minh sự chết và sống lại của Chúa Jêsus đã được tiên tri Đa-vít dự ngôn. Cuối cùng, ông long trọng tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã tôn Giê-xu là Chúa và Cứu Chúa của nhân loại, và kết án dân Y-sơ-ra-ên đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Khi ai nấy chịu cảm động la lên: “Anh em ơi, chúng tôi phải làm chi?” Ông khuyên họ ăn năn để được tha thứ. Có ba ngàn người đã tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình.

Không ai có thể thay đổi đời sống của một người như Phi-e-rơ. Chỉ có Thánh Linh quyền năng. Không ai có thể chinh phục ba ngàn người tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa mà trước đó 50 ngày, họ đã đồng thinh la lên: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá”. Chỉ có quyền năng của Đức Thánh Linh.

Trải qua 20 thế kỷ, đã có hàng triệu triệu người được Đức Thánh Linh thay đổi đời sống của họ từ ô uế ra thánh khiết, từ sợ hãi ra can đảm, từ yếu đuối ra mạnh mẽ, từ nguội lạnh ra sốt sắng, từ đê hèn ra cao thượng, từ kẻ thù ra bạn hữu, từ kẻ bắt bớ trở thành môn đồ.

III. CÔNG VIỆC ĐỨC THÁNH LINH TRONG LÒNG NGƯỜI.

Đức Thánh Linh là một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh có tư tưởng, ý chí, cảm xúc, hành động như Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh khôn ngoan, thánh khiết, yêu thương, nhân từ như Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh toàn ái, toàn tri, toàn năng, toàn tại như Đức Chúa Trời. Chúng ta đang sống trong thời đại của Đức Thánh Linh. Công việc của Ngài thật vĩ đại, thật phước hạnh, có quan hệ đến mỗi chúng ta.

1. Ngài an ủi chúng ta (Giăng 14:16): sau khi làm cho chúng ta được sanh lại, trở nên con cái Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh tiếp tục an ủi chúng ta trong cảnh ngộ. Không có nổi đau buồn nào mà Ngài không an ủi được. Không có ai an ủi chúng ta bằng Ngài. Nhờ Ngài mà chúng ta được an ủi, cũng nhờ Ngài, chúng ta an ủi kẻ khác. Ai có Ngài, người đó trở thành con trai của sự yên ủi (Công vụ 4:36).

2. Ngài dạy dỗ, nhắc lại cho chúng ta mọi điều (Giăng 14:26): Đức Thánh Linh dạy dỗ những điều mới, nhắc lại những điều cũ, cả hai bổ túc lẫn nhau để giúp chúng ta hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời. Ngài là giáo sư tốt nhất của chúng ta, từng dạy dỗ những lẽ thật không hề có ai dạy được. Ai nấy hãy xin Chúa dạy dỗ và sẵn sàng nghe tiếng dịu dàng, nhỏ nhẹ của Ngài.

3. Ngài làm chứng về Chúa Jêsus cho chúng ta. (Giăng 15:26): Nhờ Đức Thánh Linh, chúng ta biết và tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa, nhờ Ngài chúng ta sâu nhiệm hơn trong đức tin đến Chúa Jêsus. Chúng ta không thể tự mình biết Chúa Jêsus, vì “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Giê-xu là Chúa” (ICôr 12:3).

4. Ngài cáo trách tội lỗi của chúng ta (Giăng 16:8-11): Nhờ Ngài soi sáng mà chúng ta thấy được chân tướng của mình, nghĩa là biết mình có tội. Mọi người đều có tội, song có người ngoan cố dám nói mình không có tội, lại có người biết mình có tội, song rất mù mờ, không biết tội là gì. Nếu không được Đức Thánh Linh cáo trách, thúc giục, tín đồ cũng không thể ăn năn những lỗi lầm của mình. Vậy, xin Thánh Linh cho mỗi chúng ta thấy rõ mình là người thế nào, và đem chúng ta đến sự ăn năn.

5. Ngài dẫn chúng ta vào tất cả lẽ thật (Giăng 16:13): Tất cả lẽ thật đã được ghi chép trong Kinh Thánh mà Đức Thánh Linh là tác giả. Muốn hiểu biết lẽ thật, chúng ta phải nhờ Ngài dẫn dắt. Hãy luôn luôn sống trong sự hiện diện của Ngài, bước theo Ngài từng bước một. Hãy cung kính xin Ngài giải thích lời của Ngài cho chúng ta. Dầu có Kinh Thánh trong tay, xưa nay đã có lắm người lầm lạc, cương giải, chuốc lấy sự hư mất cho mình và cho người khác nữa (IIPhi-e-rơ 3:16).

6. Ngài ban mọi ân tứ để Hội Thánh được gây dựng (ICôr 12:11): Có 17 ân tứ khác nhau do Đức Thánh Linh ban phát cho mọi con cái Ngài. Nếu chúng ta có ân tứ nào là đã nhận nơi Ngài, và nhận nơi Ngài để gây dựng Hội Thánh. Kẻ được ân tứ nầy, người được ân tứ khác, không ai có một cớ rất nhỏ nào để khoe khoang mà chỉ có những cớ rất lớn để cảm tạ và ca tụng Chúa thôi. “Bởi vì ai phân biệt ngươi với người khác? Ngươi há có điều chi mà chẳng đã nhận lãnh sao? Nếu ngươi đã nhận lãnh, thì sao còn khoe mình như đã từng nhận lãnh? (ICôr 4:7).

7. Ngài đầy dẫy trong chúng ta (Ê-phê-sô 5:18): Nếu muốn được Chúa Thánh Linh an ủi, dạy dỗ, làm chứng, cáo trách, dẫn dắt, ban mọi ân tứ, chúng ta phảiu xin Ngài ngự trị đời sống chúng ta cách trọn vẹn. Chúng ta phải tận hiến cho Chúa, làm đền thờ cho Ngài. Bởi sự đầy dẫy của Ngài, chúng ta mới có thể sống cuộc đời đắc thắng, thánh khiết, mới đủ tư cách và khả năng để phục vụ Ngài.

Chúng ta hãy nhờ Đức Thánh Linh mà cầu nguyện, dâng tiền, học hỏi, giảng dạy, làm chứng v.v… “Chúng ta… là kẻ cậy Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà hầu việc Đức Chúa Trời, khoe mình trong Đấng Christ, và không để lòng tin cậy trong xác thịt bao giờ” (Phi-líp 3:3).

CÂU HỎI

1. Trước khi thăng thiên, Chúa Jêsus đã hứa và dặn dò các môn đồ thế nào?

2. Đức Thánh Linh giáng lâm bao nhiêu ngày sau khi Chúa Jêsus sống lại?

3. Đức Thánh Linh giáng lâm như thế nào?

4. Quyền năng của Thánh Linh đã làm gì cho Phi-e-rơ?

5. Quyền năng của Thánh Linh đã làm gì cho ba ngàn người?

6. Xin kể ra một vài công việc của Đức Thánh Linh?

7. Xin giải thích việc Đức Thánh Linh cáo trách chúng ta?

8. Đức Thánh Linh ban ân tứ cho chúng ta như thế nào và để làm gì?

9. Đầy dẫy Đức Thánh Linh có nghĩa gì?

10. Làm sao để được đầy dẫy Đức Thánh Linh?

BÀI 25. ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Rô-ma 3:21-26; 6:14-19.

CÂU GỐC: “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Ê-phê-sô 2:8,9).

MỤC ĐÍCH: Cho tín hữu biết rằng ân điển của Đức Chúa Trời là sự ban cho vô điều kiện.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

LUẬT PHÁP VÀ ÂN ĐIỂN

(Lu-ca 10:25-28; Giăng1:7; IICôr 4:6; Ê-phê-sô 2:8,9).

TH:

TRƯỚC LUẬT PHÁP MỌI NGƯỜI ĐỀU PHẠM TỘI

(Rô-ma 3:9-20).

TB:

ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 21:31).

TT:

CHÚNG TA ĐƯỢC CỨU NHỜ SỰ CHẾT CỦA ĐẤNG CHRIST

(Mat 20:28; IICôr 5:21; Ga-la-ti 3:13).

TN:

CHÚNG ĐƯỢC GIỮ GÌN TRONG SỰ SỐNG CỦA ĐẤNG CHRIST

(Rô-ma 5:1-15; ITi 2:6; IPhi-e-rơ 1:18-19).

TS:

CHÚNG TA NHỜ CẬY ÂN ĐIỂN CỦA CHÚA

(Rô-ma 6:11-23).

TB:

HÃY ĐI VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA

(Giăng 8:1-11)

Ân điển hoặc ân sủng là ân huệ lớn lao của người trên ban cho kẻ dưới một cách không điều kiện.

Ân điển của Đức Chúa Trời là sự biểu lộ tình thuơng vô lượng của Ngài đối với kẻ không xứng đáng gì cả. Bởi ân điển Đức Chúa Trời ban cho loài người mọi sự không điều kiện, tức là không tùy thuộc loài người tốt hay xấu, mà tùy thuộc sự nhân từ, thương xót của Ngài.

I. CHÚNG TA ĐƯỢC CỨU BỞI ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Rô-ma 3:21-26).

Kinh Thánh lên án dân Do-thái và toàn thể nhân loại đã phạm tội (Rô-ma 1:18; 3:20). “Và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không bởi sự chuộc tội đã làm trọn, trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 3:24).

Chúng ta cả thảy là những tội nhân khốn nạn, không thể làm gì để được cứu rỗi, cũng chẳng có ai cứu rỗi chúng ta. Song bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus đã giáng thế, tình nguyện chịu chết trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội chúng ta. Nhờ tin nhận công lao cứu chuộc đó, chúng ta được kể là công bình, vì đứng trong địa vị công bình của Chúa Jêsus. Ấy chẳng bởi việc làm của chúng ta nên chẳng ai có một cớ rất nhỏ để khoe mình, mà chỉ có cớ để cảm tạ Chúa thôi.

Người tội lỗi lại thích khoe khoang, muốn làm một việc gì để được cứu rỗi, hơn là chỉ nhờ ân điển của Chúa. Song họ không biết rằng càng cố gắng càng thất bại. Đa-vít nói: “Tôi bị lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng, bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi” (Thi thiên 69:2). Đa-vít như rơi vào chỗ đất lầy, bị lún xuống mãi mà không có chỗ nào vững chắc để đặt chân, nên càng vẫy vùng càng bị lún xuống mau hơn. Ông bị dòng nước lôi cuốn và nhận chìm. Trong hoàn cảnh đó người tội lỗi phải tuyện vọng, chỉ chờ chết mà thôi. Đa-vít đã kêu cầu Chúa và được Ngài giải cứu. “Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, khỏi vũng bùn lấm, Ngài đặt chân tôi trên hòn đá và làm cho bước tôi vững bền” (Thi thiên 40:2).

Ê-sai mô tả con người đã trở nên một vật ô uế, một khối tội lỗi. Dầu cố gắng làm việc công bình để có cớ khoe khoang, song trước mặt Đức Chúa Trời, các vật đó như một chiếc áo bẩn thỉu, mà kẻ mặc vào chỉ chuốc lấy cho mình sự hổ thẹn. Ai nấy như một chiếc lá héo, còn tội ác của mình như một ngọn gió đùa mình đi (Ê-sai 64:6). Trái lại ân điển của Chúa như một lễ phục của chàng rể và cô dâu trong ngày thành hôn (Ê-sai 61:10).

Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài đã cho chúng ta được cứu rỗi bởi đức tin đến Chúa Jêsus, trong đó có sự tha thứ, xưng công bình, tái sanh, nên thánh, lựa chọn, kêu gọi, hy vọng một cách chắc chắn. Mọi sự đó không ai có thể mua được bằng tiền bạc, hay bằng công đức riêng. Song ai nấy có thể nhận được một cách vô điều kiện bởi ân điển của Chúa.

II. ĐƯỢC SỐNG BỞI ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Rô-ma 6:14-19).

Sau khi được cứu bởi ân điển, chúng ta cũng sống bởi ân điển, mỗi ngày của đời mình. Có người đã hiểu lầm một cách tai hại rằng, sau khi đã được cứu bởi ân điển, chúng ta có thể nhờ sức riêng của mình mà giữ luật pháp. Không! Đành rằng luật pháp là thánh thiện, song không ai có thể nhờ sức riêng mà giữ trọn luật pháp. Phao-lô nói: “Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy!” (Rô-ma 6:15). Trái lại, ân điển không những giúp chúng ta làm trọn luật pháp, mà còn làm trổi hơn nữa. Ông chủ nào nô lệ nấy, vì nô lệ phải hoàn toàn vâng phục ông chủ. Ông chủ xấu, nô lệ cũng xấu. Ông chủ tốt, nô lệ cũng tốt. Khi trước chúng ta làm nô lệ cho tội lỗi, nên ai nấy phải phạm tội. Bây giờ, chúng ta đã được Chúa Jêsus đổ huyết ra mua chuộc và vì vậy, chúng ta thuộc về Ngài, trở nên nô lệ của Ngài. nô lệ của Chúa, chúng ta vâng phục Ngài mà ăn ở thánh khiết như Ngài.

Luật pháp và ân điển trái nhau. Luật pháp đòi hỏi, ân điển ban cho. Luật pháp bảo phải làm để được, ân điển bảo phải tin để được. Luật pháp lên án, rủa sả, ân điển tha thứ, rửa sạch. Phao-lô đã cố gắng giữ luật pháp, song đồng thời ông bắt bớ Hội Thánh của Chúa. Nhưng ông đã được cứu bởi ân điển, rồi được kêu gọi làm sứ đồ để suốt đời nhờ ân điển mà hầu việc Ngài. Ông nói: “Tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ân điển của Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi” (ICôr 15:10). Khi ông kêu cầu Chúa cứu mình khỏi sự yếu đuối, thì Chúa bảo: “Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối” (IICôr 12:9). Vì vậy, về sau ông nói: “Tôi làm được mọi sự, nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi (Phi-líp 4:13).

Chúa Jêsus đã sống cuộc đời thánh khiết tại trần gian. Bây giờ Ngài muốn tiếp tục sống cuộc đời đó trong mỗi chúng ta, nếu chúng ta tôn thờ Ngài làm Chúa của đời mình. Khi Chúa ngự trị trong lòng mình, chúng ta không sống theo luật pháp là mắt đền mắt, răng đền răng, yêu người lân cận; ghét kẻ thù nghịch như sự công bình của thầy thông giáo và người Pha-ri-si, mà trổi hơn họ là yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình (Ma-thi-ơ 6:5; 38-45). Chúa Jêsus đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh Ngài: “Lạy cha, xin tha cho họ (Lu-ca 23:34). Ngài đã sống tiếp tục cuộc đời đó trong Ê-tiên, nên ông ấy cũng đã cầu nguyện cho kẻ ném đá mình: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ” (Công vụ 7:60).

Bởi ân điển, Chúa đã cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh nô lệ tại Ê-díp-tô, song chưa hết, cũng bởi ân điển đó, Ngài chăn nuôi, dẫn dắt, bảo vệ họ suốt 40 năm trong đồng vắng, cho đến khi đưa họ vào tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Họ đã được cứu bởi ân điển và cũng được sống bởi ân điển. Nếu không nhờ ân điển của Chúa, dân Y-sơ-ra-ên không thể nào sống nổi 40 năm trong đồng vắng. Chúng ta cũng vậy. Phi-e-rơ khuyên: “Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa” (IIPhi-e-rơ 3:18).

Trong ân điển vô lượng vô biên của Chúa, dầu chúng ta có tấn tới đến đâu cũng không bao giờ hết. Ân điển đó như dòng sông vô tận không bao giờ cạn. Dầu nhu cầu của chúng ta có lớn đến đâu, thì đối với ân điển của Chúa, nó vẫn còn là nhỏ quá. Phao-lô khuyên: “Hãy cậy ân điển trong Đức Chúa Jêsus Christ mà làm cho mình mạnh mẽ” (IITi 2:1). Ân điển cao thâm, dư dật của Chúa làm cho người yếu đuối trở nên mạnh, người nghèo trở nên giàu, người hèn hạ trở nên cao trọng.

Chúng ta phải luôn luôn nhận rằng mình không có chi, không ra chi. Mỗi điều chúng ta có là Chúa ban cho, mọi điều chúng ta làm là Chúa làm cho, chúng ta là người thể nào là nhờ ân điển Chúa. Chúng ta hãy hết lòng “Khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài” (Ê-phê-sô 1:6).

CÂU HỎI

1. Ân điển của Chúa có nghĩa gì?

2. Tại sao chúng ta không thể nhờ công bình của mình để được cứu?

3. Được cứu bởi ân điển của Chúa có nghĩa gì?

4. Đa-vít nói thế nào về lúc ông chưa được cứu và sau khi được cứu?

5. Được sống bởi ân điển có nghĩa gì?

6. Nhờ ân điển của Chúa, chúng ta có thể sống thế nào?

7. Luật pháp khác với ân điển ra sao?

8. Ân điển cao hơn luật pháp thế nào?

9. Hãy giải thích sự kiện dân Y-sơ-ra-ên được cứu bởi ân điển và được sống bởi ân điển trong 40 năm?

10. Tại sao chúng ta không có cớ khoe khoang?

BÀI 26. ĐỨC TIN LÀ CHÌA KHÓA CỦA CUỘC ĐỜI

KINH THÁNH: Rô-ma 10:8-13; Hê-bơ-rơ 11:1-13.

CÂU GỐC: “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài, vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài” (Hê-bơ-rơ 11:6).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rằng đức tin là con đường đưa tới sự sống, và nhờ đức tin chúng ta có thể làm được những việc lớn lao.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ý NGHĨA CỦA ĐỨC TIN

(Hê-bơ-rơ 11:1-7).

TH:

ĐỨC TIN CỦA ÁP-RA-HAM VÀ SA-RA

(Hê-bơ-rơ 11:8-9).

TB:

ĐỨC TIN CỦA MÔI-SE

(Hê-bơ-rơ 11:23-29).

TT:

NHỮNG ANH HÙNG ĐỨC TIN

(Hê-bơ-rơ 11:30-40).

TN:

NGUỒN GỐC CỦA ĐỨC TIN

(Rô-ma 10:8-17).

TS:

ĐỨC TIN CỦA MỘT PHỤ NỮ NGOẠI BANG

(Ma-thi-ơ 15:21-18).

TB:

ĐỨC TIN CÀNG THÊM LÊN

(Lu-ca 17:1-6).

Mỗi ngày chúng ta sống bởi đức tin. Đứa tiền ra mua một vé xe, mua một con tem gở thư, mua các thức ăn ngoài chợ, đều là những hành động bởi đức tin. Nếu chúng ta đã có thể tin người, sao lại không có thể tin Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời chẳng hề lừa gạt ai và Ngài là Đấng toàn năng, bất luận điều chi Ngài đã hứa, Ngài đều có thể làm. Vì vậy chúng ta rất dễ mà tin Đức Chúa Trời.

I. ĐƯỢC CỨU BỔI ĐỨC TIN (Rô-ma 10:8-13).

Nhờ đức tin mà chúng ta nhận được ân điển của Chúa. Ân điển ban cho không điều kiện, song ta muốn nhận được thì phải tin. Chúng ta không thể được một ơn phước nào từ Đức Chúa Trời, nếu chúng ta không tin: “Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ, vì kẻ nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây, đi đó. Người như thế chớ nên tưởng rằng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa” (Gia-cơ 1:6,7). Chúa ban cho dân Y-sơ-ra-ên xứ Ca-na-an làm cơ nghiệp, song “Chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin” (Hê-bơ-rơ 3:19). Chúa Jêsus đã hoàn thành sự cứu rỗi cho chúng ta trên thập tự giá và Ngài đã sống lại. Trước khi về trời Ngài phán với các môn đồ: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu Báp-têm sẽ được rỗi, nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” (Mac 16:15,16) “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu, vì bởi tin trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi. Vả, Kinh Thánh nói rằng: kẻ nào tin sẽ chẳng bị hổ thẹn” (Rô-ma 10:9-11).

II. ĐƯỢC SỐNG BỞI ĐỨC TIN (Hê-bơ-rơ 11:1-13).

Tất cả những người được cứu bởi đức tin, cũng được sống bởi đức tin. “Vì trong Tin Lành nầy có sự bày tỏ công bình của Đức Chúa Trời bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17). “Người công bình của Ta sẽ cậy đức tin mà sống” (Hê-bơ-rơ 10:38).

Các vĩ nhân của Đức Chúa Trời được Kinh Thánh ghi chép lại đều là những người đã sống bởi đức tin. Bởi đức tin, A-bên dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in. Bởi đức tin, Hê-nóc sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Bởi đức tin, Nô-ê thành tâm kính sợ đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình. Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, lìa Canh đê qua Ca-na-an. Họ dám làm những việc lạ lùng, trở nên những con người vĩ đại, vì đã sống bởi đức tin.

Danh sách các vĩ nhân của Đức Chúa Trời không phải đã chấm dứt vào cuối đoạn 11 của Hê-bơ-rơ đâu. Các vĩ nhân được ghi chép trong đó chỉ tượng trưng thôi. Trải qua 20 thế kỷ, con số vĩ nhân của Chúa đã gia tăng rất nhiều, một mình Chúa biết rõ. Nếu hết lòng yêu mến Chúa, chúng ta rất ước ao tên mình được ghi trong bản danh sách vĩ nhân của Đức Chúa Trời là đời sống đức tin.

III. NỀN TẢNG CỦA ĐỨC TIN.

Đức tin mà chúng ta nói đây, không phải là đức tin nhảm, tin càn, tin ai, tin gì cũng được. Đối tượng duy nhất của đức tin là Đức Chúa Trời. A-bên tin Đức Chúa Trời, Hê-nóc tin Đức Chúa Trời, Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ (Hê-bơ-rơ 11:16). Đức Chúa Trời bảo và hứa, họ tin cậy và vâng lời Ngài. đức tin của họ lập trên chính mình Chúa, họ tin mỗi lời phán dạy của Ngài mà làm theo. Bởi đức tin, hhọ đã tôn vinh Chúa và Chúa cũng tôn vinh họ.

Ngày nay chúng ta có toàn bộ Kinh Thánh trong tay. Kinh Thánh là một quyển sách lời hứa, chứa đựng rất nhiều lời hứa rất quý, rất lớn của Chúa cho chúng ta. Chúa Jêsus không hề phán: Có lẽ, phỏng chừng, mà luôn luôn “Quả thật, quả thật”. Ngài phán như thề rằng: “Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta nói chẳng bao giờ qua đâu” (Ma-thi-ơ 24:35; Mác 13:31). Chúng ta phải nhờ đức tin bám chặt mỗi một lời hứa của Chúa cho mình. Kinh Thánh như một kho tàng vô tận mà mỗi chúng ta đều có phần trong đó. Nhờ đức tin chúng ta khai thác kho tàng nầy để làm giàu cho sự sống thuộc linh của mình. Tin nhiều, được nhiều, tin ít, được ít, không tin không được gì cả. Khi dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an, Chúa hứa với họ: “Phàn nơi nào bàn chân các ngươi đạp đến thì Ta ban cho các ngươi” (Giô-suê 1:3). Vậy, họ đi chậm, được ít, đi mau, được nhiều, không đi không được gì hết. Ơn phước của Chúa như đại dương bao la, như dòng sông sâu rộng vô cùng, chúng ta cần bao nhiêu cũng có, múc bằng vô luận cái gì cũng đầy.

Khi đứa em phá của trở về, và trước sự lầm bầm của anh cả, người cha nói: “Con ơi, con ở với cha luôn, hết thảy của cha là của con” (Lu-ca 15:31). Thế mà lâu nay, anh cả cứ cay đắng, vì tưởng mình bị thiệt thòi và cho cha mình bất công, hẹp lượng. Anh chưa hề biết lòng rộng rãi của cha đối với mình. Chúng ta có thể như người anh cả đó. Đang khi Chúa bảo: “Con ơi, hết thảy của cha là của con”, chúng ta vẫn sống trong nghèo nàn, trong cay đắng, không ngớt lầm bầm, oán trách Chúa. Ghê thay là lòng vô tín! Nó không tôn vinh Đức Chúa Trời mà sỉ nhục Ngài.

IV. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỨC TIN.

Phải có đức tin mới sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Vì vậy, đức tin cần phát triển để ngày càng mạnh mẽ hơn. Để được phát triển, đức tin phải chịu thử thách. Đa-vít nói: “Ngài tập tôi đánh giặc, đến nỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng” (Thi thiên 18:34).

Đức tin của Áp-ra-ham luôn chịu thử thách. Nào là đói kém tại Ca-na-an, sự tranh giành của Lót, bà Sa-ra son sẻ, nhất là dâng Y-sác làm của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời. Song nhờ chịu thử thách, đức tin của Áp-ra-ham đã phát triển đúng mức (Hê-bơ-rơ 11:17-19).

Các môn đồ đi theo Chúa, không phải chỉ một lần thử thách mà họ có đức tin lớn mạnh đâu, song phải trải qua nhiều lần, nhiều cách. Lần thứ nhất họ qua biển với Chúa, gặp bão tố, Chúa quở một lời biển lặng, sóng yên và họ hỏi nhau: “Người nầy là ai mà gió và biển đều vâng lệnh người?” (Ma-thi-ơ 8:23-27). Lần thứ hai họ qua biển mà Chúa không đi cùng. Lối canh tư, họ đang lênh đênh giữa biển, thình lình, họ thấy một bóng người đi bộ trên mặt biển nên họ tưởng là ma mà la lên. Chúa phán: “Các ngươi hãy yên lòng, ấy là Ta đây, đừng sợ!”. Sau đó, các môn đồ quỳ lạy Ngài mà thưa rằng: “Thầy thật là Con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 14:22-33).

Chúng ta phải sẵn sàng chịu thử thách để đức tin của mình được phát triển. Chúa Jêsus phán với Phi-e-rơ: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy, quỉ Sa-tan đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song Ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn” (Lu-ca 22:31,32).

Ngoài ra, chúng ta phải như các môn đồ, luôn luôn cầu nguyện: “Xin thêm đức tin cho chúng tôi” (Lu-ca 17:5).

Đức tin chúng ta có nơi Chúa là một tài sản quý báu và lớn lao. Hãy đứng vững trong đức tin. Đừng để kẻ cướp “giựt lột hết (Lu-ca 10:30). Mất đức tin là mất hết mọi sự rồi.

CÂU HỎI

1. Vì sao chúng ta rất dễ dàng tin Đức Chúa Trời?

2. Bởi đâu chúng ta nhận được ân điển của Chúa?

3. Bởi đâu một số dân Y-sơ-ra-ên không vào được Ca-na-an đượm sữa và mật?

4. Chúng ta đã nhờ đức tin mà được cứu, thì cũng nhờ đức tin mà nhờ được gì nữa?

5. Vì sao của lễ của A-bên tốt hơn của lễ của Ca-in?

6. Muốn sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhờ gì?

7. Nhờ đâu người ta trở thành vĩ nhân của Đức Chúa Trời?

8. Chúng ta tin gì? Tin ai?

9. Nền tảng của đức tin chúng ta là gì?

10. Làm sao để đức tin được phát triển?

BÀI 27. CHƯƠNG TRÌNH VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI SỰ CỨU RỖI.

Kinh Thánh: Xuất Ê-díp-tô ký 12:1-28.

Câu Gốc: Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

Mục Đích: Dạy rằng chương trình vĩ đại nhất của Đức Chúa Trời là cứu rỗi chúng ta qua sự chết đền tội của Chúa Jêsus Christ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chiên Con của Lễ Vượt Qua

(Xuất 12:1-28)

TH:

Chiên Con của chúng ta

(Giăng 1:29; ICôr 5:6,7; IPhi 1:18,19)

TB:

Ngài chết thay tôi

(Ê-sai 53:1-9; Giăng 3:1-16)

TT:

Huyết Ngài tẩy sạch

(IGiăng 1:3-10)

TN:

Luật pháp của Đức Chúa Trời

(Xuất 20:1-17)

TS:

Tội lỗi trước mặt Chúa

(Rô-ma 3:9-20)

TB:

Đấng Christ và luật pháp

(Rô-ma 10:4-15)

Trong 3 tháng tới đây, chúng ta học về chương trình của Đức Chúa Trời đối với nhân loại và nhất là đối với Cơ đốc nhân. Qua các bài học này, tín hữu sẽ thấu đáo niềm tin của mình và giữ vững được niềm tin ấy.

Hôm nay chúng ta học về lý do khiến Chúa Jêsus phải giáng sinh chịu chết và sống lại. Đó là công trình vĩ đại nhất của Đức Chúa Trời, vĩ đại hơn công trình dựng nên vũ trụ. Để dựng nên vũ trụ, Đức Chúa Trời chỉ dùng lời phán của Ngài, song để cứu rỗi nhân loại Ngài phải giáng sinh, chịu chết và sống lại. Công trình dựng nên vũ trụ đã chấm dứt sau một thời gian, song chương trình cứu rỗi nhân loại vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay là kêu gọi tội nhân ăn năn và áp dụng cứu ân vào đời sống của họ. Chúa Jêsus phán: “Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy” (Giăng 5:17).

I. LÝ DO CON NGƯỜI CẦN SỰ CỨU RỖI.

A-đam đã phạm tội vì không vâng phục Chúa. Con cháu của A-đam cũng phạm tội như ông. “Cho nên bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian… Vì như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội” (Rô-ma 5:12,19). Con người bẩm sinh là tội lỗi, nên từ khi tấm bé, con người đã tỏ ra ích kỷ, bướng bỉnh, thích chống cự chứ không vâng phục. Không phải vì chúng ta đã phạm tội nên mới bị kể là tội nhân; song vì chúng ta đã là tội nhân nên mới phạm tội.

Vậy, không ai có thể sống cuộc đời thánh thiện, nhưng cứ miệt mài trong tội. Không những tự mình phạm tội, lại còn ưng thuận cho kẻ khác cũng phạm nữa (Rô-ma 3:23; Ê-phê-sô 4:19; Rô-ma 1:32).

Con người cố ý chối tội. Làm như vậy không giải quyết được vấn đề, mà chỉ làm cho nó càng nặng hơn thôi. Vì như một người mắc bệnh ung thư mà cứ quyết là không có, thì không phải vì cớ quyết như vậy là khỏi binh ung thư, trái lại bệnh sẽ ngày càng nặng hơn cho đến chết. Thà chúng ta thành thật nhận mình có bệnh để lo chạy chữa kịp thời. Dầu muốn dầu không, chúng ta đều là những tội nhân; tội lỗi ở khắp nơi, cũng ở trong lòng chúng ta nữa. “Nếu chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta… Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta” (IGiăng 1:8,10).

Không có gì đáng kinh khủng bằng tội lỗi. Tội lỗi phá hủy mọi sự, cướp mất mọi sự. Kết quả của nó là sự chết cả xác lẫn hồn đời đời trong hỏa ngục.

1. Tội lỗi phá hủy gia đình và xã hội.

Khi tội lỗi đã vào gia đình A-đam Ê-va, thì ông tố cáo bà: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó mà tôi đã ăn rồi” (Sáng thế Ký 3:12). Kế đó là Ca-in giết A-bên, rồi nhân loại vốn từ một gốc sinh ra vẫn tiếp tục giết nhau một cách không gớm tay. Trong muôn loài mà Đức Chúa Trời đã dựng nên, không có loài nào bóc lột, hà hiếp, tàn sát lẫn nhau bằng loài người. Hậu quả: nhan nhản khắp mọi nơi có biết bao bệnh viện, khám tù, nghĩa địa.

2. Tội lỗi phá hoại đời sống cá nhân.

Tội lỗi làm cho con người mất tự do mà trở nên nô lệ. Tội lỗi làm cho con người cao quý trở nên đê hèn, sấp mình thờ lạy hình tượng vô tri và điểu thú, côn trùng. Tội lỗi chúng ta ngăn trở chúng ta được phước (Giê-rê-mi 5:25). Tội lỗi làm cho con người xa cách Đức Chúa Trời và xa cách nhau (Ê-sai 59:1,2; Cô-lô-se 1:21; Ê-phê-sô 2:13). Lìa bỏ Chúa đưa mình đến một đời sống xấu xa, cay đắng (Giê-rê-mi 2:17). Nhưng chưa hết, cuối cùng tội lỗi còn đưa chúng ta đến chốn trầm luân là xa cách Đức Chúa Trời cho đến đời đời để chịu khổ hình. Thật, không có lời nào đủ để mô tả sự kinh khủng của tội lỗi, không ai tưởng tượng nổi sự đau đớn của tội nhân trong hỏa ngục (Lu-ca 16:24; Ê-sai 33:14; Khải huyền 14:11; 20:10).

Vì vậy không có phước nào lớn bằng được tha tội. Đa-vít đã phải la lên như mình được một bửu vật quý hơn ngôi vua, rằng: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình. Phước thay cho người nào mà Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho và trong lòng không có sự giả dối” (Thi thiên 32:1,2).

Nếu chúng ta được dịp gặp một anh tù chung thân mà hỏi: Anh muốn gì, chọn một trong 4 điều này: một bộ áo đẹp, một bữa cơm ngon, một số tiền lớn và được ra khỏi tù? Chắc chắn anh sẽ đáp ngay: Được ra khỏi tù.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI SẮM SẴN MỘT ĐẤNG CỨU THẾ.

Ngay khi A-đam và Ê-va phạm tội, Đức Chúa Trời đã hứa ban một Đấng Cứu Thế ra từ dòng dõi người nữ (Sáng 3:15). Đấng Cứu Thế đó được hình dung bằng chiên con chịu giết.

1. Chiên Con của A-đam (Sáng thế ký 3:21).

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam và mặc lấy cho”. Đã có da thú, tất nhiên phải có con thú bị giết. Thú đó là chiên con, và chiên con đó là tượng trưng cho Chúa Cứu Thế chịu chết đền tội cho chúng ta.

2. Chiên Con của A-bên (Sáng thế ký 4:4).

Đức Chúa Trời đã dạy A-đam, và A-đam đă dạy hai con về cách nào phải dâng tế lễ để được chuộc tội. Nhưng A-bên vâng lời còn Ca-in thì không, nên Đức Chúa Trời đã nhậm tế lễ của A-bên mà không nhậm tế lễ của Ca-in. Tế lễ của A-bên bằng chiên con, làm tượng trưng cho Đấng Cứu Thế chịu chết mới đền tội được.

3. Chiên Con Lễ Vượt Qua (Xuất 12:1-13).

Để được giải phóng khỏi ách nô lệ tại Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho người Y-sơ-ra-ên, mỗi nhà phải giết một chiên con, thịt thì ăn, huyết dùng bôi lên hai cây cột và mày cửa, nhà nào ăn thịt chiên nấy. Tối lại, Chúa đến quan sát mọi nhà trong cả xứ Ê-díp-tô. Nhà người Y-sơ-ra-ên có huyết bôi trên cửa nên Ngài vượt qua, không làm hại gì cho nhà ấy, dầu con chó cũng không sủa (Xuất 11:7). Nhưng tất cả nhà của Ê-díp-tô, từ vua chí dân, từ tự chủ cho đến nô lệ, vì không có huyết chiên con bôi trên cửa nên nhà nào cũng có người chết: con đầu lòng của người và con đầu lòng của súc vật. Nhà của người Y-sơ-ra-ên bình an, nhà của người Ê-díp-tô kinh hoàng.

Phao-lô giải thích rằng: “Vì Đấng Christ là con sinh lễ vượt qua của chúng ta đã bị giết rồi” (ICôr 5:7). Cảm tạ Chúa, nhờ huyết Ngài, chúng ta được bảo vệ hoàn toàn.

4. Chiên Con dâng tế lễ (Lê-vi ký 1:3-5).

Khi một người Y-sơ-ra-ên đã phạm tội mà muốn được tha thứ, phải bắt một chiên con không tì vít chi cả trong bầy mình, đem đến trước cửa hội mạc. Người phạm tội phải đặt tay mình trên đầu con chiên mà xưng hết tội lỗi của mình ra, nghĩa là con chiên vô tội phải mang lấy tội lỗi của người đó mà chết thế cho, chính người phải giết con chiên, rồi thầy tế lễ dùng huyết nó để chuộc tội cho người đã phạm.

Làm việc đó, không phải người Y-sơ-ra-ên tin vào sự chết của con chiên chuộc tội mình, vì giá trị của con chiên đâu có đủ thay cho mạng người. Làm việc đó đức tin của họ hướng về Đấng Cứu Thế sẽ chịu chết đền tội cho họ mà chiên con chỉ làm tượng trưng. Vì thế, khi Giăng Báp-tít thấy Chúa Jêsus đi ngang qua thì chỉ vào Ngài mà giới thiệu với các môn đồ mình rằng: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).

Sự cứu rỗi mà chúng ta nhận được là quý báu vô cùng, vì nó là mạng sống của Đức Chúa Trời đã đổ ra. Điều đó cũng làm chứng rằng tội lỗi của chúng ta rất nhiều, sự hình phạt rất nặng, mà chỉ có Chúa Jêsus mới cứu chuộc được (Công vụ 4:12). Đức Chúa Trời đã làm việc đó chỉ vì yêu thương chúng ta, muốn chúng ta thuộc về Ngài, được ở với Ngài đời đời.

Vậy, chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được trọn trong đời sống của bạn hay chưa? Bạn đã nếm trải sự cứu rỗi của Chúa đến mức sẵn sàng chia xẻ cho người khác chưa? Nếu chưa, hãy tin nhận Ngài ngay hôm nay đi (Giăng 1:12-13).

CÂU HỎI

1. Công trình lớn nhất của Đức Chúa Trời là gì?

2. Tại sao chúng ta gọi đó là công trình lớn nhất?

3. Thế nào là tội?

4. Chúng ta bị kể là tội nhân khi nào?

5. Tội lỗi kinh khủng như thế nào?

6. Vậy khi được tha tội chúng ta phải xem mình được gì?

7. Đấng Cứu Thế mà Đức Chúa Trời đã hứa được hình dung bằng gì?

8. Xin kể ra các chiên con làm tượng trưng cho Đấng Cứu Thế?

9. Khi dâng chiên con làm lễ chuộc tội, dân Y-sơ-ra-ên hướng đức tin về ai? Tại sao?

10. Làm sao bạn biết chắc mình đã được cứu rỗi?

BÀI 28. HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Kinh Thánh: Công vụ 2:37-47.

Câu gốc: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Hội Thánh nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời, Đấng Christ là Đầu Hội Thánh và tất cả những ai đặt đức tin nơi Ngài đều thuộc về Hội Thánh chân thật là thân thể của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hội Thánh được thành lập

(Công vụ 2:1-21)

TH:

Bài giảng của Phi-e-rơ

(Công vụ 2:22-41)

TB:

Hội Thánh đầu tiên

(Công vụ 2:42-47)

TT:

Đấng Christ là đầu Hội Thánh

(Ê-phê-sô 1:18-23; Cô-lô-se 1:18)

TN:

Thân thể của Đấng Christ

(ICôr 12:1, 12-27)

TS:

Đấng Christ thương yêu Hội Thánh

(Ê-phê-sô 5:23-27)

TB:

Nền tảng của Hội Thánh

(Ma-thi-ơ 16:13-19)

Chúng ta biết chắc rằng Hội Thánh là của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán:”Còn ta, ta bảo ngươi rằng:…Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được Hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18); “Hãy chăn chiên ta (Giăng 21:15-17). Kinh Thánh chép: “Hết thảy các Hội Thánh của Đấng Christ chào anh em” (Rô-ma 16:16). “Đừng làm gương xấu cho người Giu-đe, người Gờréc, hay là Hội Thánh của Đức Chúa Trời” (ICôr 10:31). “Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em” (I Phi-e-rơ 5:2). “Vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội Thánh của Đức Chúa Trời” (I Ti-mô-thê 3:5). “Phòng khi ta chậm đến, thì con biết làm thế nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống” (I Ti-mô-thê 3:15).

Những câu Kinh Thánh trên đây chứng minh Hội Thánh thuộc quyền sở hữu của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể trưng dẫn thêm nhiều câu như vậy nữa.

I. Ý NGHĨA CỦA HỘI THÁNH.

Hội Thánh gồm những người được Đức Chúa Trời kêu gọi ra khỏi thế gian tội lỗi để thuộc riêng về Ngài. Trong IICôr 6:14-18, Phao-lô cho chúng ta thấy có hai đoàn thể tương phản nhau, khác hẳn nhau: Công bình với gian ác, sáng với tối, Đấng Christ với Bêlian, kẻ tin với kẻ chẳng tin, đền thờ Đức Chúa Trời với hình tượng tà thần. Rồi có lời kêu gọi: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy”. Những người vâng theo tiếng kêu gọi đó thuộc về Hội Thánh của Chúa.

Phi-e-rơ viết: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thuộc về Đức Chúa Trời… Anh em trước không phải là một dân mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót mà bây giờ được thương xót (I Phi-e-rơ 2:9-10).

Phao-lô “gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn Danh Đức Chúa GiêXu Christ chúng ta” (ICôr 1:2).

Vậy, Hội Thánh của Đức Chúa Trời có Hội Thánh phổ thông, gồm tín đồ trên toàn thế giới, có Hội Thánh địa phương như Hội Thánh Cô-rinh-tô, Hội Thánh Việt Nam, là những người đã được kêu gọi ra khỏi sự gian ác, khỏi sự tối tăm, khỏi sự vô tín, khỏi quyền lực ma quỷ mà được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus, được tiếp nhận làm con trai con gái, làm thầy tế lễ và làm dân thánh của Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải nức nở vui mừng cảm tạ Chúa, vì chúng ta đã được dự phần trong sự kêu gọi và lựa chọn đó, để thuộc về Hội Thánh Ngài.

II. ĐẤNG CHRIST LÀ ĐẦU HỘI THÁNH.

“Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, ban cho Đấng Christ làm Đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ” (Ê-phê-sô 1:22,23).

“Vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài” (Ê-phê-sô 5:23).

“Ấy cũng chính Ngài là Đầu của thân thể, tức là Đầu Hội Thánh” (Cô-lô-se 1:18).

Chúa muốn dùng sự tương quan mật thiết giữa đầu với thân thể để chỉ về sự tương quan mật thiết giữa Ngài với Hội Thánh.

Trong thân thể con người, mỗi cơ quan là một bộ máy diệu kỳ. Song nếu thiếu cái đầu thì thân thể con người không còn giá trị gì. Muốn nhận ra một người, chúng ta phải nhìn mặt người ấy. Khuôn mặt biểu lộ nét thông minh. Bộ óc là trung tâm điều khiển mọi hoạt động của thân thể. Nếu chúng ta sờ vào vật nóng, cảm giác ấy sẽ truyền ngay lên óc, bộ óc liền ra lệnh cho tay chúng ta rút khỏi vật ấy.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp bộ óc điều khiển mà thân thể không thể tuân theo được như trường hợp bệnh nhân tê liệt, tàn phế. Dầu người đó có bộ óc thông minh đến đâu cũng không thể điều khiển thân thể theo ý mình.

Đấng Christ là Đầu, Hội Thánh là thân thể Ngài. Song nếu Hội Thánh như một thân thể tê liệt, tàn phế thì buồn biết bao! Hội Thánh là bàn tay thi hành công việc của Chúa, là giọng nói để truyền giảng sứ điệp của Ngài, là trái tim để Ngài thương yêu mọi người, là bàn chân để đem Tin lành Ngài khắp nơi. Nhưng than ôi! Có Hội Thánh như một thân thể khô héo, có bàn tay teo, có bàn chân bại, có trái tim cứng, có cái lưỡi đơ. Đó là trường hợp trong Hội Thánh có sự bất hòa chống đối, chia rẽ, làm mất tiềm lực và khả năng của Hội Thánh.

Vì vậy, Phao-lô khuyên: “Anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, nhịn nhục, lấy lòng yêu thương mà chìu nhau, dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh (Ê-phê-sô 4:1-3). Ông cũng nói thêm là Chúa đã kêu gọi người này làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, không phải để phá hoại mà để gây dựng, không phải để chia rẽ nhưng để hiệp một hầu cho thân thể của Chúa đạt đến bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn (Ê-phê-sô 4:11-13).

Một thân thể trọn vẹn luôn luôn phục tùng cái đầu, một Hội Thánh trọn vẹn cũng phục tùng Chúa Jêsus như vậy. Mỗi chúng ta phải tuyệt đối tin cậy và vâng lời Chúa. Khi nào Chúa sai mới đi, việc chi Chúa bảo mới làm, lời chi Chúa đẹp lòng mới nói, tức là lúc nào cũng sẵn lòng chờ lệnh, không chậm trễ mà cũng chẳng vội vàng.

III. HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN (CÔNG VỤ 2:41-47).

Hội Thánh đầu tiên là Hội Thánh kiểu mẫu để chúng ta noi theo. Sau khi được đầy dẫy Thánh Linh, Phi-e-rơ đại diện cho sứ đồ giảng một bài kết quả có 3000 người ăn năn tin Chúa Jêsus. Hội Thánh bắt đầu được thành lập và sinh hoạt thường xuyên như sau:

1. Bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ.

2. Bền lòng giữ sự thông công của anh em.

3. Bền lòng giữ lễ bẻ bánh.

4. Bền lòng giữ sự cầu nguyện.

Ba ngàn người ấy nhận sự dạy dỗ của các sứ đồ để làm theo, họ ham thích sự dạy dỗ ấy như trẻ con ham thích sữa mẹ, nên ai nấy đều được lớn lên trong sự sống thuộc linh. Họ thông công với nhau như chuyện trò thân mật, thăm viếng, khuyên lơn, dìu dắt, tóm một lời là chăm sóc nhau. Họ bẻ bánh dự tiệc thánh, rồi ăn chung với nhau cách vui vẻ thật thà. Người giàu chẳng dư, người nghèo chẳng thiếu vì ai nấy lấy mọi điều mình có mà chia xẻ cho nhau. Họ cũng bền lòng cầu nguyện cách sốt sắng, hết lòng. Mọi hành động đó phát xuất từ tấm lòng đầy dẫy Đức Thánh Linh, tình thương vị tha. Nhờ vậy mà Đức Chúa Trời đã thi hành nhiều dấu kỳ, phép lạ trong Hội Thánh làm cho mọi người cảm biết sự hiện diện của Ngài mà kính sợ. Kết quả: “Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội Thánh”.

Dầu cá nhân trong Hội Thánh bất toàn thì Hội Thánh cũng chẳng bao giờ thất bại mà sẽ đắc thắng như tồn tại, phát triển, phục hưng. Vì đó là chương trình của Chúa mà Ngài là Đấng có cả quyền hành ở trên trời và dưới đất. Trong 7 bức thơ gởi cho 7 Hội Thánh, đại diện cho toàn thể Hội Thánh khắp thế giới trải mọi thời đại, Chúa có ban 7 lời hứa cho kẻ nào thắng. Lời hứa cuối cùng: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài” (Khải huyền 3:21). HA-LÊ-LU-GIA! HA-LÊ-LU-GIA!

Vậy, chúng ta hãy noi gương Hội Thánh đầu tiên để Chúa sẽ đem hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu người được cứu thêm vào Hội Thánh.

CÂU HỎI

1. Hội Thánh thuộc quyền sở hữu của ai?

2. Ai là người thuộc về Hội Thánh?

3. Hội Thánh phổ thông là gì?

4. Hội Thánh địa phương là gì?

5. Đấng Christ là đầu của Hội Thánh có nghĩa gì?

6. Hội Thánh phải có thái độ nào đối với Chúa?

7. Hội Thánh đầu tiên có những gương mẫu nào?

8. Kết quả hàng ngày của Hội Thánh là gì?

9. Làm sao để giữ gìn sự hiệp một của Hội Thánh?

10. Tương lai của Hội Thánh sẽ ra sao?

BÀI 29: TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI THÁNH

Kinh Thánh: Công vụ 8:1-7, 26-40.

Câu gốc: “Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Ma-thi-ơ 28:18-20).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Chúa Jêsus muốn Hội Thánh Ngài đem Tin lành cho khắp muôn dân.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

VÍ DỤ VỀ SỰ HẦU VIỆC

(Ma-thi-ơ 13:1-23)

TH:

LỜI KÊU GỌI HẦU VIỆC

(Giăng 4:35-38)

TB:

TẤM GƯƠNG TRUYỀN GIẢNG

(Lu-ca 10:1-12)

TT:

MẠNG LỆNH CỦA CHÚA JÊSUS

(Ma-thi-ơ 28:18-20)

TN:

BÀI HỌC VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP

(Công vụ 8:26-40)

TS:

TỰ TRUYỆN CỦA MỘT NHÀ TRUYỀN GIÁO

(II Ti-mô-thê 4:1-8, 16-18)

TB:

TRUYỀN GIẢNG TRONG MỌI HOÀN CẢNH

(I Tê 2:1-4)

Hội thánh gồm những người đã được cứu rỗi bởi ân điển của Chúa. Người được cứu rỗi trở nên con cái Chúa là người có giá trị. Người có giá trị là người có trách nhiệm và làm trọn trách nhiệm. Vậy trách nhiệm của Hội Thánh là gì?

I. CHÚA JÊSUS TRAO TRÁCH NHIỆM CHO HỘI THÁNH (MA-THI-Ơ 28:18-20).

Sau khi sống lại và trước khi về trời, Chúa cho các môn đồ biết rằng quyền hành của Ngài là vô cùng, vô hạn, cả trên trời lẫn dưới đất. Rồi Ngài truyền lệnh:

1. “VẬY, HÃY ĐI KHIẾN MUÔN DÂN TRỞ NÊN MÔN ĐỒ TA”:

Đó là bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem mà truyền giảng danh Ngài cho mọi dân tộc về sự ăn năn để được tha tội. Đó là mắc nợ cả người Hy lạp lẫn người dã man, cả người khôn ngoan lẫn người ngu dốt. Vì Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. Công cuộc cứu rỗi nhân loại, Chúa đã hoàn thành, song nhân loại có được cứu rỗi hay không còn tùy thuộc các môn đồ có làm trách nhiệm của mình hay không.

Không phải chỉ 12 sứ đồ hoặc 120 môn đồ phải làm trách nhiệm truyền giảng Tin lành cho mọi dân tộc đâu. Việc truyền giảng như vết dầu loang trên mặt nước, từ người này sang người khác, từ gần đến xa, từ ít đến nhiều, như một sợi xích có nhiều vòng nối lại. Khi một người đã được bạn bè hướng dẫn về với Chúa là một cái vòng mới thêm vào sợi xích, song người ấy không nên là cái vòng cuối cùng mà đến phiên mình phải hướng dẫn người khác thêm vào sợi xích đó một vòng nữa. Cứ như vậy, làm sợi xích dài vô tận, không ai có thể đếm được là có bao nhiêu vòng. Đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Chúa là trách nhiệm của mỗi cá nhân.

2. “LÀM BÁP-TÊM CHO HỌ, NHÂN DANH CHA, CON VÀ THÁNH LINH”:

Khi một tín đồ đã hiểu giáo lý căn bản và có dấu hiệu tái sanh, thì đáng được Báp-têm để hiệp nên một thân, có sự thông công trong Hội Thánh hữu hình cũng như Hội Thánh vô hình, là thành viên trong Hội Thánh địa phương cũng như Hội Thánh phổ thông. Vì vậy, mỗi tín đồ nên ước ao sớm được báp-têm nhân danh Chúa Ba Ngôi.

3. “VÀ DẠY HỌ GIỮ HẾT CẢ MỌI ĐIỀU MÀ TA ĐÃ TRUYỀN CHO CÁC NGƯƠI”:

Học giáo lý căn bản, kinh nghiệm sự tái sanh để chịu Báp-têm chỉ mới là bước đầu thôi. Sau đó cần phải học suốt đời giáo lý Cơ Đốc, kinh nghiệm suốt đời ân huệ lớn lao của Chúa. Phải luôn luôn tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa. Vì càng biết Chúa, càng yêu Chúa, càng yêu Chúa, càng tin cậy Chúa; càng tin cậy Chúa, càng tôn vinh Chúa.

4. “NÀY, TA THƯỜNG Ở CÙNG CÁC NGƯƠI LUÔN CHO ĐẾN TẬN THẾ”:

Đấng có toàn quyền trên vũ trụ ở với Hội Thánh cho đến tận thế để bảo đảm cho trách nhiệm của Hội Thánh được kết quả. Vì thế, khi chúng ta vâng lệnh Chúa, Ngài đồng công với chúng ta. Có Ngài ở với, được Ngài đồng công, thì chẳng có việc lớn và khó nào mà không thành. Đành rằng kẻ thù là ma quỷ dùng trăm mưu ngàn kế để phá hoại ngày đêm, thì Chúa đã biết hết, mọi việc Ngài làm được, nên kẻ thù phải hối tiếc, đau đớn mà nhìn Hội Thánh tiến bộ không ngừng, chinh phục vô số tội nhân.

Tin cậy và vâng lời là hai yếu tố cần thiết để làm trọn trách nhiệm Chúa giao.

II. HỘI THÁNH THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM CHÚA JÊSUS GIAO.

Sau khi Chúa thăng thiên, Đức Thánh Linh giáng lâm, các sứ đồ bắt đầu truyền giảng:

1. TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (CÔNG VỤ 1:8):

Dầu Hê-rốt, Phi-lát, dân Do thái, dân ngoại bang đã họp nhau tại đây để đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá, thì Tin lành cứu rỗi cần truyền giảng trước nhất cho họ, hầu họ có dịp ăn năn. Vì vậy, sau bài giảng của Phi-e-rơ, đã có 3000 người tin Chúa. Rồi số đó lên đến 5000, đông lắm, nhiều lắm, tràn ra (Công vụ 4:32, 6-7).

2. TẠI GIU-ĐÊ VÀ SA-MA-RI:

Trong một thời gian, Hội Thánh chỉ quanh quẩn tại Giê-ru-sa-lem chứ chưa nghĩ đến việc đem Tin lành đi xa hơn. Nhưng nhờ cơn bắt bớ dữ dội xảy ra khi Ê-tiên bị ném đá, tín đồ phải bỏ Giê-ru-sa-lem chạy tan tác đến nhiều nơi trong Giu-đê, Sa-ma-ri và truyền giảng Tin lành. Tại Sa-ma-ri, Phi-líp giảng một cách quyền năng, có kết quả lớn lao. Ông cũng được Chúa sai đến Ga-xa để hướng dẫn hoạn quan Ê-thi-ô-pi về với Ngài, và quan ấy đã đem Tin lành truyền giảng cho lục địa Phi Châu.

3. TẠI ĐA-MÁCH VÀ AN-TI-ỐT XỨ SY-RI:

Sau-lơ đuổi theo các tín đồ tại Đa-mách để bắt bớ họ, song dọc đường ông bị Chúa bắt phục trở nên sứ đồ của Ngài. Cơn bắt bớ đã đem Tin lành đến Đa-mách, An-ti-ốt và cũng đến đảo Chíp-rơ, đến xứ Phê-ni-xi. Nơi nào cũng có kết quả rất nhiều (Công vụ 11:19-21).

4. TẠI AN-TI-ỐT VÀ CÁC NƯỚC Á CHÂU, ÂU CHÂU:

Bấy giờ một cơn phục hưng xảy ra tại An-ti-ốt qua chức vụ của Ba-na-ba và Phao-lô, biến An-ti-ốt trở thành trung tâm truyền giáo cho thế giới. Hội Thánh An-ti-ốt đã cử 2 giáo sĩ là Phao-lô và Ba-na-ba. Đoàn truyền giáo đã đem lại nhiều kết quả lớn lao.

Suốt 2 thế kỷ đầu tiên, Hội Thánh đã chịu nhiều bắt bớ dữ dội. Có khi chỉ trong một ngày 500 tín đồ bị giết. Các bạo quân của La mã đã tẩm dầu lên tín đồ, cột họ vào các trụ, rồi châm lửa biến họ thành cây đuốc sống; hay ném tín đồ vào chuồng sư tử tại hí trường để làm trò giải trí. Các tín đồ bị giết bằng đủ mọi cách ghê gớm nhất. Song họ vẫn trung tín theo Chúa, truyền Tin lành của Ngài cho đến chết. Họ đã truyền giảng bằng lời nói mà cũng bằng chính đời sống hy sinh như vậy, nên Hội Thánh trong hai thế kỷ đó được phát triển mạnh mẽ.

Từ sau thế kỷ thứ 2 đến nay, Hội Thánh Chúa trên thế giới cứ tiếp tục truyền giảng Tin lành. Người thì phiên dịch Kinh thánh, kẻ thì tổ chức Trường Chúa Nhật, người thì mở trường dạy Kinh thánh, kẻ thì dâng mình làm giáo sĩ, kẻ thì viết sách, người thì soạn nhạc, người thì dâng tiền bạc, kẻ thì dâng của cải v.v… Mỗi người một cách hoạt động trong một công trường thuộc linh vĩ đại là truyền giảng Tin lành cứu rỗi tội nhân, xây dựng Hội Thánh ngày càng mạnh mẽ như lệnh Chúa ban ra. Nhờ đó, Tin lành đã đến Việt Nam, Hội Thánh Việt Nam đã được thành lập từ năm 1911. Ban đầu chỉ có một người Việt Nam tin Chúa, ngày nay có hàng mấy mươi vạn người tin Ngài. Tương lai sẽ còn nhiều hơn nữa.

III. TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA TRONG HỘI THÁNH.

Trong phạm vi trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào, chúng ta phải làm gì? Hàng triệu người chưa được nghe tình thương của Đức Chúa Trời đối với mình. Ngoài ra, sự cứu rỗi không phải là vấn đề truyền thống: Hễ cha mẹ tin Chúa thì con cái đương nhiên được cứu, song mỗi người tin Chúa cách riêng mới được cứu. “Hãy tin Chúa Jêsus thì ngươi và cả nhà sẽ được cứu rỗi”. Câu đó không có nghĩa là truyền thống mà chỉ có nghĩa ảnh hưởng. Khi một người tin Chúa là mở đường, là tạo cho người trong gia đình cơ hội biết Chúa, để tin Ngài mà được cứu rỗi. Song nếu có người không chịu tin, thì cũng bị hư mất. Các bạn hãy tìm phương pháp giới thiệu Chúa Jêsus cho người thuộc phạm vi trách nhiệm của bạn. Trong nhà có cha mẹ, con cái, anh chị em, bà con, họ hàng. Ngoài nhà có thân hữu láng giềng quen thuộc. “Đừng mắc nợ ai chi hết, chỉ mắc nợ về sự thương yêu nhau mà thôi, vì ai yêu kẻ lân cận mình, ấy là đã làm trọn luật pháp” (Rô-ma 13:8).

CÂU HỎI

1. Hãy giải thích ba phần trong lệnh truyền của Chúa?

2. Tại sao một người tin Chúa, chịu Báp-têm vẫn chưa đủ?

3. Điều gì bảo đảm cho trách nhiệm của Hội Thánh sẽ hoàn thành tốt đẹp?

4. Hội Thánh đầu tiên đã vâng lệnh Chúa truyền giảng trước nhất tại đâu?

5. Cơ hội nào đã thúc đẩy họ truyền giảng cho Giu-đê và Sa-ma-ri?

6. Hội Thánh nào là trung tâm truyền giáo lúc bấy giờ?

7. Hai nhà truyền giáo đầu tiên là ai?

8. Trong hai thế kỷ đầu tiên, Hội Thánh đã gặp cơn bắt bớ thế nào?

9. Từ đó đến nay, Hội Thánh đã làm gì mà vẫn tồn tại và truyền đến Việt Nam ta?

10. Chúng ta phải làm gì cho đồng bào?

BÀI 30: HỘI THÁNH TRONG THẾ GIỚI

Kinh Thánh: Ê-phê-sô 6:10-20; I Phi-e-rơ 4:12-16

Câu gốc: “Ngài nhơn Đấng Christ ban ơn cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì danh Ngài nữa” (Phi-líp 1:29).

Mục Đích: Giúp tín hữu hiểu rằng chịu khổ vì Chúa là một phần trong chương trình của Ngài để làm ích lợi cho Hội Thánh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI HOẠN NẠN CÙNG ĐẤNG CHRIST

(Giăng 16:33; 17:13-21)

TH:

ĐƯỢC GIẢI CỨU KHỎI SỰ BẮT BỚ

(II Ti-mô-thê 3:10-15)

TB:

MỤC ĐÍCH CỦA SỰ HOẠN NẠN

(Ê-phê-sô 5:25-27)

TT:

ÁNH SÁNG TRONG NƠI TỐI TĂM

(Giăng 1:4-5; Phi-líp 2:14-17)

TN:

NHỮNG KHÍ GIỚI CỦA HỘI THÁNH

(Ê-phê-sô 6:10-20)

TS:

VUI MỪNG TRONG SỰ HOẠN NẠN

(I Phi-e-rơ 4:12-16)

TB:

PHẦN THƯỞNG CHO NGƯỜI TRUNG TÍN

(Khải huyền 2:8-11)

Đức Chúa Jêsus đã lập Hội Thánh trong một thế giới thù nghịch với Ngài, đến nỗi đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá, nên Chúa phán: “Ví bằng người đời ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi. Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian, và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi. Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình, nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các ngươi” (Giăng 15:18-20).

Phi-e-rơ viết: “Kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ…” (I Phi-e-rơ 5:8). Phao-lô viết: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ” (Ê-phê-sô 6:11). Giăng viết: “Cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỷ” (IGiăng 5:19).

Như vậy, ma quỷ đứng phía sau mọi việc và mọi người để điều khiển mỗi cơ cấu tổ chức, hầu đạt được mục đích của nó là chống lại Hội Thánh của Đức Chúa Trời, con người chỉ là nạn nhân của nó.

I. CHIẾN TRẬN THUỘC LINH GIỮA HỘI THÁNH VÀ MA QUỶ (Ê-PHÊ-SÔ 6:10-13).

Đây là một chiến trận khác thường, không giống như bao nhiêu chiến trận xưa nay, giữa người này với người khác, nước nọ với nước kia. Hội Thánh không chiến đấu với con người có thịt và huyết, rờ được thấy được, mà với quyền bính, với thế lực, với bá chủ thế gian tối tăm này, với các tà linh độc ác trên không trung do ma quỷ cầm đầu. Hội Thánh phải chiến đấu với những kẻ thù vô hình, những kẻ thù chẳng ở dưới đất mà ở thiên không, những kẻ thù có đầy mưu kế xảo quyệt hơn hết. Mưu kế của chúng nó là vừa dọa nạt vừa dỗ dành; vừa ngược đãi vừa mua chuộc; vừa tàn nhẫn vừa ngọt ngào. Chiến sĩ A-can không ngã trên chiến trường Giê-ri-cô, mà ngã dưới đống áo choàng, bạc và vàng (Giô-suê 7:21). Lãnh tụ Sam-sôn không ngã dưới lưỡi gươm của quân lính Phi-li-tin mà ngã trong vòng tay của ky nữ Đa-li-la (Quan xét 16). Sư tử gầm thét không đáng sợ bằng sư tử nằm ngủ!

Chúng ta phải chiến đấu liên tục ngày và đêm cho đến suốt đời một cách can đảm, cương quyết, vững vàng để chiến thắng Sa-tan và bè lũ nó. Thà ăn rau, uống nước chứ không ăn cao lương mỹ vị của ma quỷ; thà bị quăng vào lò lửa hực, chứ không sấp mình thờ lạy hình tượng; thà bị ném vào hang sư tử, chứ không chịu chối Chúa.

Sau hết và trước hết: “Phải mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài” (Ê-phê-sô 6:10).

II. KHÍ GIỚI THUỘC LINH CỦA HỘI THÁNH (Ê-PHÊ-SÔ 6:14-20).

Chiến trận thuộc linh phải có khí giới thuộc linh, chiến đấu với kẻ thù vô hình phải có khí giới vô hình. Phao-lô viết: “Vì chúng tôi dẫu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để tranh chiến là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời có sức mạnh để đạp những đồn lũy” (IICôr 10:3-4). Những khí giới đó là gì?

1. NỊT LƯNG BẰNG LẼ THẬT:

Nịt lưng làm cho người được gọn gàng, dễ dàng đi lại trong khi làm việc, nhất là trong khi chiến đấu. Chiến sĩ của Chúa phải nịt lưng bằng lẽ thật, tức là nói năng, hành động một cách thành thật, dầu phải bị thiệt hại. “Phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình” (Ê-phê-sô 4:25).

2. MẶC GIÁP BẰNG SỰ CÔNG BÌNH:

Áo giáp rất cần cho một chiến sĩ, không có không được. Áo giáp mà chiến sĩ của Chúa phải có là sự công bình. Ai nấy phải ăn ở trung tín, liêm khiết như Đa-ni-ên, dầu cho kẻ thù có vạch lá tìm sâu, thổi lông tìm vết cũng không tìm được một sự bất công nào trong chức thượng thơ của ông (Đa-ni-ên 6:4). Sự công bình của chúng ta phải trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si (Ma-thi-ơ 5:20).

3. MANG GIÀY CỦA TIN LÀNH BÌNH AN:

Mang giày để chân được an toàn. Chiến sĩ của Chúa phải mang một thứ giày là sự bình an của Ngài. Chiến sĩ mà không có sự bình an, chỉ có bối rối, chắc chắn sẽ thất bại. Loài người gần như có mọi sự, trừ ra bình an. Chúa Jêsus về trời đã để lại cho chúng ta một di sản quý báu là sự bình an (Giăng 14:27). Đừng để kẻ thù cướp mất di sản ấy.

4. DÙNG KHIÊN ĐỨC TIN:

Khiên hay thuẩn là các khí giới dùng để đỡ gạt các lằn tên, mũi giáo của kẻ thù, hầu bảo vệ cho toàn thân. Khiên của chúng ta là đức tin đến Đức Chúa Trời toàn ái, toàn tri, thành tín đời đời. Đa-vít nhiều lần nói rằng Đức Chúa Trời là cái khiên che chở ông (Thi thiên 3:3; 5:12; 7:10; 16:3). Chính Chúa đã phán với Áp-ra-ham: “Hỡi Áp-ra-ham, ngươi chớ sợ chi, ta đây là một cái thuẩn của ngươi” (Sáng thế Ký 15:1). Những gì, những ai đụng đến Áp-ra-ham, phải đụng đến Chúa trước.

5. ĐỘI MŨ CỦA SỰ CỨU RỖI:

Chiến sĩ phải có mũ. Chiến sĩ của Chúa phải có mũ trên đầu luôn, vì là một thứ khí giới quan trọng. Mũ đó là sự cứu rỗi. Đa-vít nói: “Hỡi Chúa Giê-hô-va, là sức lực về sự cứu rỗi tôi; Chúa che chở đầu tôi trong ngày chiến trận” (Thi thiên 140:7). Đã được cứu rỗi mới thuộc về Chúa và làm chiễn sĩ cho Ngài, được Ngài che chở luôn luôn.

6. ĐEO GƯƠM THÁNH LINH LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI:

Chiến sĩ phải có gươm. Chiến sĩ thuộc linh phải có gươm thuộc linh là Lời Đức Chúa Trời. Đó là gươm hai lưỡi, sắc bén lắm. Chúng ta phải biết sử dụng gươm này, và sử dụng mỗi ngày, mỗi giờ. Lúc nào, nơi nào cũng đem lời Chúa áp dụng vào nếp sống của mình như một thứ gươm linh giải quyết mọi chiến trận, đạt tiêu chuẩn bách chiến bách thắng. Vì các thứ khí giới trên kia là để tự vệ, chỉ có thứ khí giới này là để tấn công, và có tấn công mới có chiến thắng.

7. CẦU NGUYỆN LUÔN:

Chiến sĩ của đời không hề biết thứ khí giới này vì là thứ khí giới bí mật nên chỉ có chiến sĩ của Chúa mới biết sử dụng và biết giá trị của nó. Nhờ sự cầu nguyện mà các khí giới trên kia có hiệu lực tối đa. Sự cầu nguyện xem dường yếu đuối, nhưng kỳ thật rất mạnh mẽ, vì kéo Đức Chúa Trời toàn năng đứng về phía mình. Sự cầu nguyện nắm vững phần chiến thắng, nên ma quỷ không sợ gì bằng sợ Hội Thánh cầu nguyện.

Kinh Thánh dạy chúng ta lúc nào cũng cầu nguyện, việc gì cũng cầu nguyện, cầu nguyện cho mọi người, cầu nguyện cách bền lòng. Đa-vít nói: “Ngày nào tôi kêu cầu Chúa, các kẻ thù nghịch tôi sẽ thối lại sau; tôi biết điều đó, vì Đức Chúa Trời bênh vực tôi” (Thi thiên 56:9).

Những thứ khí giới vừa kể không làm hại ai cả, ngoài ma quỷ và bè lũ của nó. Những thứ khí giới này dùng để chiến thắng ma quỷ, giải phóng tội nhân, đem họ lại cùng Chúa, đúng như lời Ngài đã phán cùng Phao-lô: “Ta sẽ bảo hộ ngươi khỏi dân này và dân ngoại là nơi ta sai ngươi đến, đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ nơi tối tăm mà qua nơi sáng láng, từ quyền lực của Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời…” (Công vụ 26:18).

III. LÝ DO HỘI THÁNH PHẢI CHỊU THỬ THÁCH (I PHI-E-RƠ 4:12-16).

Lò lửa thử thách nóng gấp bảy lần lửa bình thường đã không làm hại chi cho ba thanh niên Hê-bơ-rơ, mà chỉ làm lợi cho họ là các dây trói họ đã bị thiêu hủy và nhất là Danh Đức Chúa Trời được tôn vinh trong cả đế quốc Ba-by-lôn (Đa-ni-ên 3:28-30).

Trong khi Hội Thánh ở trong lò lửa thử thách, dầu hình thức có vẻ tiêu sơ, yếu đuối nghèo nàn, song tinh thần vui mừng, mạnh mẽ, phong phú. Lửa thử thách chỉ thiêu hủy những tội lỗi dễ vấn vương, làm cho Hội Thánh được tự do bước đi trong sự thánh khiết. Ngoài ra, Danh Chúa được tôn vinh và nhiều người được cứu rỗi. Vì vậy, chúng ta phải nức lòng vui mừng và cảm tạ (Ma-thi-ơ 5:11,12).

CÂU HỎI

1. Tại sao suốt cả lịch sử, Hội Thánh luôn luôn bị bắt bớ?

2. Hội Thánh phải chiến đấu với ai?

3. Kẻ thù nghịch của Hội Thánh là thế nào?

4. Những khí giới nào chiến thắng được kẻ thù đó?

5. “Giày bình an” có nghĩa gì?

6. Xin giải thích khí giới của đức tin?

7. Khí giới nào được gọi là khí giới bí mật? Tại sao?

8. Hội Thánh chiến thắng ma quỷ để làm gì?

9. Hội Thánh bị thử thách có lợi hại như thế nào?

10. Chúng ta phải có thái độ nào trong khi bị thử thách?

BÀI 31: BẢY HỘI THÁNH TẠI TIỂU Á (1)

Kinh Thánh: Khải huyền 2:1-17.

Câu gốc: “Vả chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô-ma 8:28).

Mục Đích: Cho chúng ta biết rằng trung tín với Chúa là cách độc nhất giúp chúng ta đứng vững trước sự bắt bớ thù nghịch của thế gian và Chúa sẽ đem chiến thắng cho người tin cậy Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Khải huyền 1:1-7)

TH:

ĐẤNG CHRIST HẰNG SỐNG

(Khải huyền 1:8-11)

TB:

ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC TÔN VINH

(Khải huyền 1:12-18)

TT:

SỰ KHẢI THỊ ĐƯỢC VIẾT RA

(Khải huyền 1:19-20)

TN:

SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THÁNH

(Khải huyền 2:1-7)

TS:

HỘI THÁNH BỊ BẮT BỚ

(Khải huyền 2:8-11)

TB:

HỘI THÁNH THEO TÀ THUYẾT

(Khải huyền 2:12-17)

Tuần này và tuần tới chúng ta học về 7 Hội Thánh tại Á Châu. Đó là cái thước đo Hội Thánh chúng ta ngày nay. Ai nấy hãy xem xét để biết tình trạng của Hội Thánh mình có như vậy không, điều nào phải tránh, điều nào phải làm.

Chúng ta biết rằng Chúa cho phép Hội Thánh Ngài bị bắt bớ, bị thử thách, không phải để chúng ta mất đức tin, mà ngược lại để chúng ta tin cậy và yêu mến Ngài hơn, hầu chúng ta được vững vàng và đắc thắng.

Trong Khải thị 1:12-20, sứ đồ Giăng mô tả cách bóng bẩy hình dung oai nghi, vinh hiển của Chúa Jêsus, đến nỗi ông phải ngất xỉu dưới chân Ngài. Hãy nghe tiếng Ngài phán với ông: “Đừng sợ chi, Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống. Ta đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ”. Đó là Đấng đã gửi thư cho các Hội Thánh Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm v.v…

I. Ê-PHÊ-SÔ, HỘI THÁNH HOẠT ĐỘNG (KHẢI HUYỀN 2:1-7).

Chúa cầm 7 ngôi sao là 7 sứ giả của 7 Hội Thánh trong tay hữu quyền năng của Ngài. Chúa đi giữa 7 chân đèn vàng là 7 Hội Thánh. Vì vậy, Ngài thấy hết, biết hết công việc của mỗi người. Chúa khen họ:

1. Hội Thánh Ê-phê-sô đã làm việc Chúa cách khó nhọc và nhịn nhục (nhẫn nại) không mệt nhọc chút nào (c.2,3). Vì Danh Chúa, họ sẵn sàng chấp nhận mọi sự đó.

2. Hội Thánh Ê-phê-sô giữ gìn giáo lý của Chúa (c.2b, 6). Họ có tri thức thuộc linh rất cao, phân biệt được sứ đồ thật và sứ đồ giả nên không bị ai lừa dối. Họ cũng ngay thẳng mà không dung túng kẻ ác. Họ ghét đảng Ni-cô-la như Chúa ghét, không phải ghét con người của đảng đó mà ghét việc làm của đảng. Chúa đã từng cho biết các tiên tri giả như muông sói mang lốt chiên. Chúng ta nhờ những trái nó mà nhận biết được (Ma-thi-ơ 7:15-20).

Song Hội Thánh Ê-phê-sô có một điều bị Chúa trách là họ đã bỏ tình thương ban đầu (c.4, 5). Dầu họ chịu khó nhọc và nhẫn nại đến đâu để làm việc Chúa, dầu họ trung thành giữ các giáo lý của Chúa một cách không chỗ trách được, thì cũng không thể bù vào chỗ thiếu thốn lớn hơn hết là tình thương. Làm việc mà không vì tình thương thì sớm hoặc muộn sẽ cay đắng, chán nản. Nếu làm việc mà không vì tình thương thì dầu có phân phát cả gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, bỏ thân mình để chịu đốt cũng chẳng có ích chi (ICôr 13:3). Song nếu làm việc nhọc nhằn và lâu dài mà vì tình thương thì cũng xem như nhẹ nhàng, ngắn ngủi. Vì Ra-chên, Gia-cốp phải làm việc cho La-ban 7 năm, nhưng vì yêu nàng nên ông coi 7 năm bằng chừng đôi ba bữa (Sáng 29:20). Nếu chúng ta yêu Chúa và yêu nhau thì hầu việc Chúa trọn đời vẫn còn ngắn ngủi quá. Tình thương là dấu hiệu thứ nhất của một Hội Thánh sống.

Vậy nên, Chúa kêu gọi ăn năn. Ăn năn là thành thật nhận mình có tội và chẳng đòi hỏi một điều gì. Không ăn năn sẽ bị phạt, ăn năn sẽ được thưởng (c.7).

II. SI-MIỆC-NƠ, HỘI THÁNH BỊ BẮT BỚ (KHẢI HUYỀN 2:8-11).

Nếu tình thương là dấu hiệu thứ nhất của Hội Thánh sống, thì đau khổ là dấu hiệu thứ nhì. Dấu hiệu này là kết quả của dấu hiệu kia. Sẵn sàng chịu khổ là chứng minh của tình thương chân thật. Hội Thánh Si-miệc-nơ yêu Chúa nên sẵn sàng chịu khổ vì danh Ngài. Phi-e-rơ và Giăng “đều hớn hở về mình được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Chúa Jêsus” (Công vụ 5:41).

Chúa nói cho Hội Thánh Si-miệc-nơ rằng họ phải chịu:

1. HOẠN NẠN.

Kinh Thánh không nói lý do. Song lịch sử cho biết năm 195 trước Chúa, một đền thờ thờ thần tượng của La-mã được lập lên tại Si-miệc-nơ và toàn dân dưới quyền cai trị của đế quốc phải thờ lạy thần đó. Hội Thánh là những người đã tôn thờ Chúa Jêsus là Chân thần độc nhất nên họ không chịu tôn thờ ai nữa, kể cả Hoàng đế. Vì vậy họ bị bắt bớ.

2. NGHÈO KHÓ.

Hoạn nạn như trên đã đưa họ đến nghèo khó. Ngoài ra, trong cách ăn ở trung thành, liêm chính của họ thì nghèo khó là phần chắc. Hơn nữa, như thơ Hê-bơ-rơ mô tả tình trạng của Hội Thánh thời đó: “Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quý hơn hằng còn luôn” (Hê-bơ-rơ 10:34).

3. GIÈM PHA.

Người Giu-đa vu khống Hội Thánh Si-miệc-nơ bằng những lời đồn đãi không đâu để đầu độc nhiều người, khiến họ có ác cảm đối với Hội Thánh. Chúa gọi những người Giu-đa đó không phải là người Giu-đa, con cháu của Áp-ra-ham, song họ thuộc về hội của quỷ Sa-tan.

4. TÙ TỘI.

Không chịu tôn thờ thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời, lại ăn ở trung thành, liêm chính, bị vu khống bằng những lời độc ác thì kết quả phải bị tù tội là việc đương nhiên. Các tín đồ tại Giê-ru-sa-lem đã bị tù (Công vụ 8:3). Sứ đồ Giăng, Phi-e-rơ, Phao-lô cũng bị tù.

5. CHẾT.

Hội Thánh Si-miệc-nơ đã trung tín cho đến chết, nghĩa là dầu phải chết cũng cứ giữ lòng trung tín với Chúa. Năm 156, Polycarpe, Giám mục tại Si-miệc-nơ bị nhà cầm quyền La mã buộc phải nhân danh Hoàng đế phỉ báng Chúa Jêsus thì sẽ được khỏi chết. Ông đáp: “Đã 86 năm qua, tôi phục vụ Chúa, Ngài chẳng hề làm hại tôi, làm sao tôi có thể phỉ báng Đấng đã cứu tôi?” Cuối cùng, ông bị thiêu sống.

Chúa phán với Hội Thánh Si-miệc-nơ: “Ngươi chớ ngại (chớ sợ) điều mình sẽ chịu khổ… Hãy trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống… Kẻ nào thắng sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai”.

III. BẸTGĂM, HỘI THÁNH CÓ TÀ THUYẾT (KHẢI HUYỀN 2:1-17).

Chúa biết nơi ở của Hội Thánh Bẹt-găm, đó là trung tâm thờ lạy tà thần. Tại đây, chiến sĩ của Chúa phải chiến đấu với sự sai lầm vì có nhiều tư tưởng, nhiều tôn giáo, nhiều triết lý khác nhau chống lại lời của Chúa. Đành rằng chúng ta phải yêu Chúa là dấu hiệu thứ nhất, phải chịu bắt bớ vì danh Ngài là dấu hiệu thứ nhì, song cũng phải đứng vững trong lẽ thật là dấu hiệu thứ ba. Vì cả ba là dấu hiệu của Hội Thánh sống. Vì vậy, dầu Chúa khen Hội Thánh Bẹt-găm vững lòng tôn danh Ngài cho đến chết như Antiba, thì cũng có điều Ngài trách họ là trong họ còn có người theo giáo lý Ba-la-am và có người theo giáo lý Ni-cô-la.

Chúng ta đã biết giáo lý của Ba-la-am. Ông này là một tiên tri xấu mà Kinh Thánh phải để 3 đoạn của Dân Số Ký (22-24) chép về công việc của ông. Ông đã bị Ba-lác là vua của Mô-áp mua chuộc, ông đã bán rẻ chức thánh và lương tâm mà rủa sả dân Đức Chúa Trời để được vàng bạc, của cải, danh vọng. Ông còn bày mưu cho Ba-lác cám dỗ dân Y-sơ-ra-ên phạm tội thờ lạy tà thần, ăn của cúng và gian dâm, để rồi 24.000 người bị giết (Dân Số Ký 25:1-9). Từ đó, ông bỏ chức vụ theo dân Ma-đi-an, nên khi dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng dân Ma-đi-an, họ giết luôn kẻ phản bội là Ba-la-am (Dân Số Ký 31:8-16). Kinh Thánh nhiều lần nhắc lại Ba-la-am để cảnh cáo chúng ta (Phục 23:4, 5; Giô-suê 24:9, 10; Nê-hê-mi 13:2; Mi-chê 6:5; II Phi-e-rơ 2:15; Giu-đe 11; Khải 2:14). Giáo lý của Ba-la-am trong Cựu ước cũng là giáo lý của Ni-cô-la trong Tân ước. Họ nêu lên sự tự do, song không phải sự tự do trong Đức Thánh Linh mà là sự phóng túng trong tư dục của xác thịt, để trở thành nô lệ cho tội lỗi và ma quỷ. Đồng thời, họ bán rẻ chức thánh và lương tâm để được danh, lợi, quyền.

Chúa gọi những kẻ đó ăn năn, bằng không Chúa sẽ đến mà giao chiến cùng họ. Nếu họ ăn năn sẽ được thưởng.

Những điều chúng ta đang gặp và sẽ gặp là những điều Hội Thánh trải qua các đời đã gặp. “Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời” (Truyền 1:9). Chúa đã giữ gìn Hội Thánh đến ngày nay, Ngài sẽ còn giữ gìn Hội Thánh cho đến cuối cùng. Chúng ta được khích lệ, thương yêu, chịu khổ, trung thành vì danh Chúa, tức là đắc thắng. Tất cả những lời hứa đều dành cho kẻ đắc thắng (c.7, 11, 17).

CÂU HỎI

1. Giăng mô tả hình dung của Chúa như thế nào?

2. Chúa đang ở đâu và làm gì cho Hội Thánh?

3. Những điều đáng khen của Hội Thánh Ê-phê-sô là gì?

4. Điều đáng trách của Hội Thánh Ê-phê-sô là gì?

5. Những sự bắt bớ mà Hội Thánh Si-miệc-nơ phải chịu là gì?

6. Chúa khích lệ Hội Thánh Si-miệc-nơ như thế nào?

7. Ba-la-am là vị tiên tri thế nào?

8. Tại sao Kinh Thánh nhiều lần để cập tới Ba-la-am?

9. Ba dấu hiệu của một Hội Thánh sống là gì?

10. Hội Thánh của chúng ta giống như Hội Thánh nào trong 3 Hội Thánh này?

BÀI 32: BẢY HỘI THÁNH TẠI TIỂU Á (2)

Kinh Thánh: Khải huyền 2:18; 3:22.

Câu gốc: “Nầy ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta” (Khải huyền 3:20).

Mục Đích: Khuyến khích chúng ta theo Chúa một cách trung tín, sẵn sàng chấp nhận lời quở trách, cảnh cáo và ngay cả sự sửa phạt của Chúa nữa. Bởi vì những điều đó là dấu hiệu chứng tỏ Đức Chúa Trời thương yêu chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

HỘI THÁNH THỜ HÌNH TƯỢNG

(Khải huyền 2:18-29)

TH:

HỘI THÁNH CHẾT

(Khải huyền 3:1-6)

TB:

HỘI THÁNH TRUNG TÍN

(Khải huyền 3:7-13)

TT:

HỘI THÁNH HÂM HẨM

(Khải huyền 3:14-22)

TN:

HÌNH ẢNH CỦA ĐẤNG CHRIST

(Khải huyền 1:10-18)

TS:

ĐẶC TÍNH CỦA ĐẤNG CHRIST

(Khải huyền 2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14)

TB:

SỰ CAO QUÝ CỦA ĐẤNG CHRIST

(Khải huyền 5)

Có người nói Đức Chúa Trời là Cha yêu thương nên Ngài sẽ tha thứ mọi việc trái phép của chúng ta. Nhưng cũng nên biết rằng vì yêu thương Ngài sẵn sàng cảnh cáo và trách phạt chúng ta (Hê-bơ-rơ 12:5-11). Ngài không nuông chìu lòng ích kỷ của chúng ta đâu, vì làm vậy sẽ hại cho chúng ta mà thôi. Đừng khinh thường sự cảnh cáo và trách phạt của Chúa mà phải ăn năn ngay. Hãy xem Chúa cảnh cáo các Hội Thánh.

I. THI-A-TI-RƠ, HỘI THÁNH THỜ HÌNH TƯỢNG (KHẢI 2:18-29).

Chúa thấy Hội Thánh Thi-a-ti-rơ tốt hơn Hội Thánh Ê-phê-sô vì họ có tình thương mà Hội Thánh Ê-phê-sô đã mất. Họ cũng có đức tin, tinh thần phục vụ, nhẫn nại. Công việc cuối cùng của họ còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. Song Hội Thánh Ê-phê-sô không dung túng kẻ ác, biết phân biệt chân giả và ghét đảng Ni-cô-la, còn Hội Thánh Thi-a-ti-rơ lại chấp nhận đảng Giê-sa-bên.

Hội Thánh Thi-a-ti-rơ như một khu vườn, một đám ruộng tốt mà kẻ thù đã gieo cỏ lùng vào. Hội Thánh Thi-a-ti-rơ như một thân hình mạnh mẽ mà trong đó bịnh ung thư đang phát sinh. Chúa mượn Giê-sa-bên cũng như Ba-la-am để mô tả tội lỗi của Hội Thánh Thi-a-ti-rơ và Ê-phê-sô. Giê-sa-bên là một đàn bà ngoại đạo thuộc dân Si-đôn, được vua A-háp của dân Y-sơ-ra-ên cưới làm hoàng hậu. Bà đã đem thần Ba-anh và Át-tạt-tê theo mình và được A-háp lập các cuộc thờ phượng đó trong xứ Y-sơ-ra-ên (ICác 16:29-33). Cũng vậy, Hội Thánh Thi-a-ti-rơ đã dung túng một đàn bà xưng mình là tiên tri, có hành động như Giê-sa-bên là cám dỗ nhiều người phạm tội dâm loạn và ăn của cúng thần tượng. Hội Thánh Ê-phê-sô thiếu tình thương, còn Hội Thánh Thi-a-ti-rơ thiếu sự thánh khiết. Đó là một sự thiếu thốn lớn. “Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế… Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là đến sự nên thánh vậy” (ITê 4:3-7).

1. CHÚA CẢNH CÁO ĐẢNG GIÊ-SA-BÊN (21-23):

Chúa nhân từ cho họ có thì giờ để ăn năn mà họ không ăn năn. Loài người dễ bị cám dỗ mà phạm tội, song rất khó ăn năn. Bởi cớ không ăn năn nên Chúa sẽ quăng họ trên giường đau đớn, vào tai nạn lớn cho đến chết. Trước Đấng có con mắt như ngọn lửa, thấy hết mọi sự, và dưới cơn thạnh nộ của Đấng có chân như đồng sáng để nghiền nát, thì thật là điều đáng kinh khiếp. Chúa không muốn ai chết mất, mà muốn mọi người được cứu, song ai nấy phải ăn năn.

2. CHÚA KHUYÊN LƠN NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI (24-25):

Không phải hết thảy Hội Thánh Thi-a-ti-rơ đều bị Sa-tan đầu độc qua giáo lý của Giê-sa-bên. Trái lại, một số đã đứng vững mà từ khước mọi cám dỗ. Đối với những kẻ đó, Chúa khuyên họ bền giữ mọi điều mình có cho đến chừng Ngài đến. Hội Thánh ngày nay cũng phải coi chừng kẻ bị đầu độc bởi giáo lý của Giê-sa-bên (Gia-cơ 4:4).

II. SẠT-ĐE, HỘI THÁNH CHẾT (KHẢI HUYỀN 3:1-6).

Chúa không có lời nào khen Hội Thánh Sạt-đe, vì Ngài thấy công việc của họ không trọn vẹn chi cả. Họ chỉ có tiếng là sống, mà kỳ thật đang chết mòn. Tại đây không có đảng Ba-la-am hoặc Ni-cô-la hay Giê-sa-bên. Dường như Sa-tan không cần phí công hoạt động, nó cứ để vậy rồi lần hồi Hội Thánh sẽ chết. Phải chăng đang có nhiều Hội Thánh giống như Sạt-đe?

Trong Hội Thánh Sạt-đe, một số người chưa có sự sống của Chúa, một số khác có sự sống nhưng yếu đuối, nghèo nàn, chứ không được mạnh mẽ, phong phú. Một số ít chưa làm ô uế áo xống mình, ám chỉ những kẻ kia đã làm ô uế áo xống của họ. Như vậy, tội lỗi đã làm tiêu tan tất cả sinh lực của Hội Thánh. Ngày nay, một số Hội Thánh muốn làm cho nổi tiếng mình là sống, song kỳ thật đang chết mòn. Càng cố gắng một cách miễn cưỡng bằng sức riêng, bằng sự sống của xác thịt thì càng uể oải, chán chường, cuối cùng phải ngã gục, nằm dài. Một tội lỗi kín đáo nào còn ở trong Hội Thánh, nó chỉ có một tên đơn sơ là ô uế, song rất nguy hiểm. Vì đã bị ô uế thì không còn đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời như đạo binh của Giô-suê đã bị A-can làm cho ô uế.

Chúa chỉ cho Hội Thánh Sạt-đe phương cách giải độc:

1. HÃY THỨC TĨNH VÀ LÀM CHO VỮNG SỰ CÒN LẠI, LÀ SỰ HẦU CHẾT (c.2):

Trong hy vọng cuối cùng, Chúa kêu gọi họ nhen lại ân tứ của Ngài (II Ti-mô-thê 1:6). Một chút lửa làm cháy cả rừng.

2. HÃY NHỚ LẠI ĐIỀU MÌNH ĐÃ NHẬN VÀ NGHE THÌ GIỮ LẤY VÀ ĂN NĂN ĐI (C.3):

Mỗi khi nhớ lại những gì đã qua làm cho chúng ta được khích lệ về ơn phước Chúa ban để giữ lấy, và đau đớn về những lỗi lầm để ăn năn. Nếu không ăn năn Chúa sẽ đến một cách thình lình như kẻ trộm mà chúng ta ăn năn không kịp. Chúa muốn chúng ta ăn năn ngay, không phải chờ đợi một ngày, một giờ nào khác.

Phước cho người gìn giữ áo xống mình được trắng để cùng đi với Chúa bất cứ lúc nào Ngài đến. Màu trắng chỉ về sự thánh khiết là màu đặc biệt của sách Khải huyền (2:17; 6:2; 7:9,14; 14:14; 19:11,14; 20:11).

III. PHI-LA-ĐEN-PHI, HỘI THÁNH TRUNG TÍN (KHẢI HUYỀN 3:7-13).

Chúa không có lời khen Hội Thánh Sạt-đe, song không có lời trách Hội Thánh Phi-la-đen-phi. Dầu họ có ít năng lực, nhưng cứ giữ lời Chúa, không chối danh Ngài, tức là muốn cứ được hầu việc Ngài.

1. CHÚA MỞ TRƯỚC MẶT HỌ MỘT CÁI CỬA (C.7.8.9):

Cái cửa chỉ về cơ hội. Khi đứng trước một sự khó khăn, chúng ta tưởng như các cửa đều đóng hết và mình hoàn toàn thất vọng. Đó là trường hợp của Hội Thánh Phi-la-đen-phi. Vì thế, Chúa cho họ biết Ngài đã mở một cái cửa trước mặt họ, có lẽ là một cái cửa hẹp mà họ không thấy vì không để ý. “Người khôn thấy cơ hội trong sự khó khăn, kẻ dại thấy sự khó khăn trong cơ hội”. Chúng ta hãy bình tĩnh nghe rõ tiếng Chúa, thấy rõ một cái cửa Chúa đang mở trước mặt mình. Tuy nhiên, bên cạnh cái cửa đó luôn luôn có sự chống đối của Sa-tan (ICôr 16:9). Đó không ai khác hơn là những kẻ giả hình trong Hội Thánh. Song Chúa có chìa khóa của Đa-vít là chìa khóa toàn quyền đóng và mở, và chìa khóa của sự chết và âm phủ nữa. Vậy, hãy xin Chúa mở cửa giảng đạo khắp nơi (Cô-lô-se 4:3-4).

2. CHÚA ĐẾN MAU CHÓNG (C.10,11):

Đành rằng có sự thử thách, nhưng không hại gì cho kẻ trung tín với Chúa. Hơn nữa, Ngài sẽ đến mau chóng để ban thưởng.

IV. LAO-ĐI-XÊ, HỘI THÁNH HÂM HẨM (KHẢI HUYỀN 3:14-22).

Chúa trách ngay tội hâm hẩm của họ mà Ngài không chịu nổi, muốn nhả họ ra. Họ có mắt song đui mù, không thấy được thực trạng của mình là khổ sở, khốn khổ, nghèo ngặt, lõa lồ mà cứ tưởng mình là giàu có đến nỗi không cần chi nữa. Chúa ước ao họ nóng nảy hay lạnh chứ đừng hâm hẩm. Hâm hẩm là Hội Thánh lưng chừng, cầu an, thế nào xong thôi, không tiến cũng không thoái, không chống đối cũng không ủng hộ, không chối Chúa cũng không hầu việc Ngài, đặng không mừng, mất không lo. Người yếu đuối muốn mạnh mẽ, người thối lui muốn tiến bộ, người sa ngã muốn đứng dậy, người nguội lạnh muốn nóng nảy, song người hâm hẩm chẳng muốn gì cả, cho mình là đủ rồi.

Lịch sử chép rằng Hội Thánh Lao-đi-xê nằm trên một con sông bắt nguồn từ một suối nước nóng. Nước từ suối đó chảy ra rất nóng, song khi gần đến thành Lao-đi-xê thì nhập vào một dòng sông, lần hồi pha với nước lạnh nên trở thành hâm hẩm. Hội Thánh Lao-đi-xê bị thế gian thâm nhập và chi phối (Ma-thi-ơ 24:12). Chúa rất gớm Hội Thánh như thế.

1. CHÚA KHUYÊN (C.18):

Dầu Ngài có quyền truyền lệnh song chỉ khuyên. Tất cả mọi nhu cầu của chúng ta được Chúa đáp ứng đầy đủ. Ân điển của Chúa được ban cho vô điều kiện (Ê-sai 55:1).

2. CHÚA GỌI (C.19):

Chúa cảnh cáo sẽ nhả họ ra, song Ngài yêu thương, muốn họ sốt sắng và ăn năn để được Ngài tha thứ.

3. CHÚA CHỜ ĐỢI (C.20):

Để được cứu khỏi tình trạng hâm hẩm, mỗi người phải mở cửa nhà, cửa lòng mời Chúa ngự vào. Ai có Chúa thì không thể nào hâm hẩm mà phải nóng nảy như lửa cháy, không nước nào tưới tắt cho được (Lu-ca 24:32; Nhã ca 8:6,7).

Dẫu mỗi Hội Thánh đều có những lỗi lầm khác nhau mà Chúa quở trách, song Hội Thánh nào cũng được lời hứa rất quý, rất lớn, dành cho những kẻ thắng. Đắc thắng là ăn năn và làm những gì Ngài khuyên bảo.

CÂU HỎI

1. Một người không thờ hình tượng song tham lam thì thế nào? (Cô-lô-se 3:5)

2. Dung túng tội lỗi, Hội Thánh sẽ bị hại gì?

3. Thực trạng của Hội Thánh Sạt-đe là gì? Xin giải thích.

4. Phương thuốc giải độc cho Hội Thánh Sạt-đe là gì?

5. Chúa đã mở một cái cửa trước mặt Hội Thánh Phi-la-đen-phi có nghĩa gì?

6. Hai Hội Thánh nào không có lời trách và hai Hội Thánh nào không có lời khen?

7. Tại sao Chúa không chịu được Hội Thánh hâm hẩm?

8. Tại sao Hội Thánh Lao-đi-xê đã trở nên hâm hẩm?

9. Chúa khuyên Hội Thánh Lao-đi-xê thế nào?

10. Làm sao giải quyết vấn đề hâm hẩm để trở nên nóng cháy?

11. Hội Thánh của bạn giống Hội Thánh nào trong các Hội Thánh này.

12. Bạn nhất định làm gì sau khi học xong bài học này?

BÀI 33: CHÚA JÊSUS SẼ TRỞ LẠI

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 24:3-14; 29:51

Câu gốc: “Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống, bây giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn” (ITê 4:16,17).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng chương trình của Đức Chúa Trời cho các thời đại sẽ chấm dứt khi Chúa trở lại.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

NHỮNG DẤU HIỆU KHI CHÚA SẮP TRỞ LẠI

(Ma-thi-ơ 24:3-14)

TH:

THỜI KÝ CUỐI CÙNG

(Lu-ca 21:8-19)

TB:

NHỮNG THỜI VÀ KỲ

(ITê 5:1-11)

TT:

NIỀM AN ỦI HẠNH PHƯỚC

(ITê 4:13-18)

TN:

NIỀM HY VỌNG HẠNH PHƯỚC

(Giăng 14:1-3; Phi-líp 3:20,21)

TS:

MỘT PHẦN THƯỞNG

(II Ti-mô-thê 4:1-8)

TB:

LÚC CHÚA TRỞ LẠI

(Ma-thi-ơ 24:36-51)

Niềm hy vọng của chúng ta không thuộc về đời này. “Nếu chúng ta chỉ có hy vọng trong Đấng Christ về đời này mà thôi, thì trong cả mọi người chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết” (ICôr 15:19). Niềm hy vọng hạnh phước trường cửu của Hội Thánh là chính Chúa Jêsus khi Ngài trở lại.

Câu gốc của bài học dạy rằng Chúa sẽ trở lại để kêu kẻ chết trong Ngài sống lại và biến hoá kẻ đang sống trong Ngài, để rồi cả hai được cất lên không trung mà gặp Chúa. Chúa hứa: “… Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:3).

Ngoài ra được biến hoá, cất lên và ở cùng Chúa, chúng ta còn được phần thưởng. Phao-lô viết: “Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta… Không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi người yêu mến sự hiện đến của Ngài” (II Ti-mô-thê 4:8). Chúa phán: “Này, ta đến mau chóng, đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm” (Khải huyền 22:12). “Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình” (Ma-thi-ơ 13:43).

Khi nghĩ đến ngày Chúa trở lại, Phao-lô viết lên: “Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. Vì sự họan nạn nhẹ và tạm của chúng ta sẽ sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng, đời đời, vô lượng vô biên” (Rô-ma 8:18, I Cô 4:17).

I. CHẮC CHẮN CHÚA SẼ TRỞ LẠI.

Trong Tân ước không có lẽ đạo nào được nhắc đến nhiều lần bằng sự trở lại của Chúa. Cứ mỗi 25 câu thì có một câu nói đến việc đó.

1. CHÚA QUẢ QUYẾT:

“Ta sẽ trở lại” (Giăng 14:3). “Nầy, ta đến mau chóng, phải ta đến mau chóng” (Khải 22:7,12,20; 3:11). Ngài cũng dùng rất nhiều thí dụ để mô tả và xác chứng sự trở lại của Ngài.

2. THIÊN SỨ RAO TRUYỀN:

“Jêsus này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi cũng sẽ trở lại…” (Công vụ 1:11).

3. CÁC MÔN ĐỒ TIN CẬY.

“Ngài sẽ hiện ra lần thứ hai” (Hê-bơ-rơ 9:28), “Chính mình Chúa trên trời giáng xuống” (ITê 4:16), “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu” (II Phi-e-rơ 3:9). “Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng phải đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu” (Hê-bơ-rơ 10:37) “Vì kỳ Chúa đến gần rồi” (Gia-cơ 5:8).

Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa cả về sự trở lại của Chúa; nó chắc chắn như ngày mai mặt trời sẽ mọc. Bao nhiêu lời hứa về sự giáng sanh, chịu chết, sống lại, về trời của Chúa đã được hoàn thành, thì lời hứa về sự trở lại của Ngài cũng vậy.

II. CÁCH CHÚA SẼ TRỞ LẠI.

Những lời Chúa phán trực tiếp hoặc qua các thí dụ đều bày tỏ cách nào Ngài sẽ trở lại.

1. CHÚA SẼ TRỞ LẠI CÁCH VINH HIỂN:

Chúa đã đến trong thân hình của một em bé bọc khăn, nằm trong máng cỏ của chuồng chiên để chịu chết đền tội cho nhân loại. Song Ngài sẽ trở lại cách vinh hiển. “Vì Con Người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ” (Ma-thi-ơ 16:27)… “Con Người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống” (Ma-thi-ơ 24:30), “… Về sau, các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời và ngự trên mây trời mà xuống” (Ma-thi-ơ 26:64). “Kìa Ngài đến giữa những đám mây” (Khải 1:7).

2. CHÚA SẼ TRỞ LẠI CÁCH THÌNH LÌNH (ITÊ 5:2).

Chúa mượn hình ảnh kẻ trộm trong ban đêm để ám chỉ Ngài sẽ trở lại cách thình lình. “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi. Trong đời Nô-ê thế nào, khi Con Người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn uống, cưới gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới đùa đi hết thảy… Vậy thì các ngươi hãy chực cho sẵn, vì Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ” (Ma-thi-ơ 24:36-39,44).

3. CHÚA SẼ TRỞ LẠI CÁCH MAU CHÓNG:

Chúa phán: “Ta đến mau chóng” (Khải 3:11; 22:7,12,20). “Vì như chớp phát ra từ phương đông nháng đến phương tây, thì sự Con Người đến sẽ như thế ấy” (Ma-thi-ơ 24:27). Kinh Thánh chép: “Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều được sống lại…” (ICôr 15:52). Chúa sẽ trở lại như thế, nên chúng ta không chuẩn bị ngay bây giờ thì chừng đó không ai có thể chuẩn bị kịp.

III. NHỮNG DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC CHÚA SẼ TRỞ LẠI.

Thấy trời u ám biết sắp có mưa, thấy những dấu hiệu sau đây biết Chúa sắp đến. “Ngài đang ở trước cửa” (Ma-thi-ơ 24:33).

1. BỘI ĐẠO (MA-THI-Ơ 24:4,5,11,12,24):

Nhiều tiên tri giả, Christ giả dấy lên dỗ dành nhiều người làm cho lòng nguội lần đến độ bỏ Chúa, phản bội Ngài.

2. CHIẾN TRANH (MA-THI-Ơ 24:6,7A):

Suốt cõi lịch sử đều có chiến tranh hoặc nhỏ hoặc lớn nơi này hay chỗ nọ, nhưng lúc đó chiến tranh đạt đến mức độ dữ dội hơn hết.

3. ĐÓI KÉM (MA-THI-Ơ 24:7B):

Thế giới phải đương đầu với nạn đói khốc liệt hơn hết.

4. DỊCH LỆ (LU-CA 21:11):

Đói kém dịch lệ do chiến tranh gây ra. Hai cái họa sau này cũng giết người một cách khủng khiếp.

5. ĐỘNG ĐẤT (LU-CA 21:11; MA-THI-Ơ 24:7C):

Những cơn động đất xảy ra trên thế giới thêm nhiều lên.

6. BẮT BỚ (MA-THI-Ơ 24:8-10; LU-CA 21:12-19):

Sự bắt bớ vì danh Chúa mỗi ngày một nhiều ở khắp nơi.

7. TIN LÀNH GIẢNG KHẮP NƠI (MA-THI-Ơ 24:14; MÁC 13:10).

Ngày nay có thể nói Tin lành đã giảng ra gần khắp mọi nơi trên thế giới.

8. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN TRỞ VỀ TỔ QUỐC (LU-CA 21:24):

Suốt 20 thế kỷ, dân Y-sơ-ra-ên đã tản lạc khắp nơi, không ai ngờ rằng họ có thể trở về tổ quốc. Song họ đã trở về và lập lại quốc gia của họ.

9. NHỮNG HIỆN TƯỢNG TRÊN TRỜI (MA-THI-Ơ 24:29; LU-CA 1:25,26)

Đây chỉ về sự sụp đổ của chính quyền, sự thay đổi từ quân chủ ra dân chủ, và các biến cố chính trị quan trọng liên tiếp xảy ra.

10. NHỮNG KHÓ KHĂN (II TIMÔTHÊ 3:1-5):

Đạo đức suy đồi, con người bại hoại đến một mức độ quá sức tưởng tượng.

Các dấu hiệu trên đây kể như đã hiện ra quá rõ ràng, giống như “cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm thì các ngươi biết mùa hạ gần tới”.

IV. CHÚNG TA PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO VỚI SỰ TRỞ LẠI CỦA CHÚA.

Đang khi chờ đợi Chúa sắp trở lại, thì chúng ta phải có thái độ xứng đáng:

1. TỈNH THỨC VÀ CHỰC SẴN (MA-THI-Ơ 24:43-44):

Lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi Chúa trở lại, làm gì cũng sẵn sàng chờ đợi Chúa trở lại. Luôn nhớ lời cảnh cáo của Chúa: “Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ”. Nếu trong thời các sứ đồ mà họ đã nói: “Kỳ Chúa đã gần rồi” (Gia-cơ 5:8; Phi-líp 4:5), thì hôm nay, sau 20 thế kỷ, gần là dường nào! Sau khi đã nêu các dấu hiệu về sự trở lại, Chúa long trọng phán: “Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên và ngước đầu lên, vì sự giải cứu của các ngươi đã gần tới” (Lu-ca 21:28).

2. TRUNG TÍN VÀ KHÔN NGOAN (MA-THI-Ơ 24:45-51):

Quản gia phải trung tín chăm sóc mọi người trong nhà chủ, cho ăn đúng giờ, cho thức ăn thích hợp để ai nấy ăn được. Có thức ăn cho người già, người trẻ, người khoẻ, người yếu, người nào có thức ăn nấy.

Không phải chỉ trung tín trong một thời gian mà bất cứ lúc nào chủ đến cũng thấy đầy tớ làm như vậy. Đầy tớ đó được chủ tin cậy giao cho chăm sóc gia tài mình. Chúa cũng nói về một đầy tớ ác, bất trung nghĩ thầm: Chủ ta đến chậm, còn đủ thì giờ ăn chơi, rồi khi chủ gần về, ta chuẩn bị cũng không muộn. Thế là nó đánh bạn đồng công với mình, ăn uống với phường say rượu. Thình lình, chủ đến, nó chỉ còn chờ đợi cái số phận khốn nạn dành cho mình là nơi khóc lóc và nghiến răng.

Ngày Chúa trở lại là ngày vinh hiển hạnh phước, suốt mọi thời đại tập trung vào ngày đó. Vậy mỗi chúng ta hãy hướng về ngày Chúa trở lại mà sống, sống như là Chúa trở lại hôm nay.

CÂU HỎI

1. Theo Chúa, chúng ta có hy vọng gì?

2. Làm sao chúng ta biết chắc chắn Chúa sẽ trở lại?

3. Chúa sẽ trở lại cách nào?

4. Chúa sẽ trở lại cách thình lình giống như gì?

5. Chúa sẽ trở lại cách mau chóng giống như gì?

6. Làm sao chúng ta biết chắc chắn là Chúa sắp trở lại?

7. Chúng ta phải có thái độ nào khi chờ đợi Chúa trở lại?

8. Chúng ta phải giữ thái độ đó cho đến bao lâu?

9. Đầy tớ gian ác và bất trung nghĩ như thế nào?

10. Đầy tớ gian ác và bất trung làm như thế nào và hậu quả ra sao?

11. Mỗi người trong chúng ta hướng về đâu mà sống?

BÀI 34: SỰ CUỐI CÙNG CỦA KẺ THÙ

Kinh Thánh: IITê 2:1-12.

Câu gốc: “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Jêsus sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến” (IITê 2:8).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy Chúa Jêsus sẽ diệt kẻ thù là ma quỷ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỰ GIAN ÁC BỊ DIỆT TRỪ

(IITê 2:1-12)

TH:

NHỮNG KẺ LÃNH ĐẠO TÀ GIÁO VÀ NHỮNG KẺ CHỐNG LẠI ĐẤNG CHRIST

(Khải huyền 13:1-10)

TB:

NHỮNG KẺ LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ GIẢ DỐI VÀ TIÊN TRI GIẢ

(Khải 13:11-18)

TT:

NHIỀU KẺ CHỐNG LẠI ĐẤNG CHRIST

(IGiăng 2:18-24; 4:1-6; IIGiăng 7:11)

TN:

THỬ NGHIỆM ĐỂ BIẾT SỰ THẬT

(IGiăng 4:1-6)

TS:

CƠN HOẠN NẠN LỚN

(Thi 2:5; Giê 3:7; Dân 12:1; Mat 24:21; Khải 7:14)

TB:

VỊ VUA CHIẾN THẮNG

(Khải 19:11-16)

Chúng ta thấy có hai căn nguyên Thiện và Ác phát xuất từ đầu tiên, rồi song hành cho đến cuối cùng. Hai bên chống nhau như sáng với tối, trắng với đen, tin với không tin, đền thờ Đức Chúa Trời với hình tượng tà thần. Hai bên nghịch nhau; cho đến cuối cùng, một bên bị tiêu diệt.

Vì vậy, Phao-lô khuyên chúng ta: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin”. Chính Đức Chúa Trời cũng kêu gọi: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi; Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai, con gái ta” (IICôr 6:14-15).

Ê-li đã trách dân Y-sơ-ra-ên: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài, nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn” (ICác 13:21). Đức Chúa Trời ghét và cấm đi giẹo hai bên (IICác 17:41; Sô-phô-ni 1:5; Mat 6:24; Gia-cơ 4:4; Khải 3:15).

I. NHẬN DIỆN KẺ THÙ

Kẻ thù của Chúa và Hội Thánh là Sa-tan, là ma quỷ. Sa-tan có nghĩa là địch thủ. Đức Chúa Trời là căn nguyên của điều thiện, còn Sa-tan là căn nguyện của điều ác. Sa-tan đã hiện ra bằng nhiều hình thức khác nhau như: kẻ chống lại Đấng Christ, con thú, người tội ác.

1. KẺ CHỐNG LẠI ĐẤNG CHRIST (I GIĂNG 2:18,19; 4:1-3; II GIĂNG 7:11):

Kẻ chống lại Đấng Christ không phải là kẻ ở ngoài Hội Thánh mà là kẻ ở trong Hội Thánh theo phương diện tổ chức, song không thuộc về Hội Thánh theo phương diện tâm linh. Những kẻ đó được một chỗ đứng để phá hoại Hội Thánh ngay từ bên trong một cách đắc lực (2:18).

Kẻ chống lại Đấng Christ cũng là kẻ giả mạo Đấng Christ. Hành động này làm hại Hội Thánh nhiều nhất. Xưa nay đã có nhiều tiên tri giả, Christ giả hiện ra dưới nhiều hình thức, qua nhiều con người khác nhau để cám dỗ ngay những kẻ được chọn nữa (4:1; Mat 24:24).

Kẻ chống lại Đấng Christ là kẻ dạy tà giáo, chối bỏ Cứu Chúa Jêsus, gây cho đức tin bị sụp đổ, đưa đến tình trạng hoang mang, sợ hãi. Những kẻ đó rất nguy hiểm mà Giăng đã dặn dò: “Chớ rước họ vào nhà và đừng chào hỏi họ. Vì người nào chào hỏi họ tức là dự vào công việc của họ” (IIGiăng 10:11).

2. CON THÚ (KHẢI 13:1-8):

Hiện thân của Sa-tan được hình dung bằng một con thú quái dị, có 7 đầu, 10 sừng. Nó giống như con beo, chân như chân gấu, miệng như miệng sư tử, tỏ ra nó dữ tợn, mạnh mẽ đến vô địch. Đặc tính của con thú là phô trương, phạm thượng; ưa nói phạm đến Đức Chúa Trời, đến danh của Ngài, đến mọi vật và mọi người thuộc Ngài. Thế mà “hết thảy dân sự trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có ghi tên trong sách sự sống của Chiên Con”. Con thú đó sắp hiện ra trong thế gian.

3. NGƯỜI TỘI ÁC – CON CỦA SỰ HƯ MẤT (IITÊ 2:3-4):

Người tội ác là người chỉ biết làm ác; cuối cùng nó là con của sự hư mất. Giu-đa đã đi đường đó và được biệt danh đó (Giăng 17:12).

Người tội ác này luôn đối nghịch và tự nhắc mình lên trên mọi thần, thậm chí ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời, tự xưng là Đức Chúa Trời. Người này muốn tiếm vị Đức Chúa Trời (Ê-sai 14:14; Êxê 28:2). Nó cũng được gọi là kẻ bất pháp (IITê 2:8).

Sa-tan còn được hình dung bằng con rồng vì nó độc ác; bằng con rắn vì nó xảo quyệt, bằng con sư tử vì nó mạnh mẽ. Công tác đặc biệt của nó là cám dỗ và tố cáo Hội Thánh (Khải 12:9-10; Xa-cha-ri 3:1; Mat 4:1; Giăng 13:2).

II. KẺ THÙ BỊ GIỚI HẠN

Dầu nó độc ác, xảo quyệt, mạnh mẽ đến đâu cũng không được toàn quyền hành động mà bị hạn chế.

1. NÓ BỊ GIỚI HẠN TRONG SỰ CÁM DỖ (I CÔR 10:13).

Cám ơn Chúa, Ngài biết sự chịu đựng của con cái Ngài, nên không một sự cám dỗ nào xảy ra quá sức chịu đựng của chúng ta, song Ngài luôn luôn mở đàng cho chúng ta ra khỏi đó. Ngoại trừ trường hợp chúng ta đem mình và buông mình vào sự cám dỗ như Sam-sôn thì không kể. Chúa Jêsus đã nói với Phi-e-rơ: “Ma quỷ đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta cầu nguyện cho ngươi, hầu đức tin ngươi không thiếu thốn” (Lu-ca 22:31-32).

2. NÓ BỊ GIỚI HẠN TRONG SỰ TỐ CÁO (GIÓP ĐOẠN 2 VÀ 3):

Sa-tan xấu quá mà nghe Chúa nói Gióp tốt quá thì lòng ghen ty của nó không chịu được, cố tìm cách hạ phẩm giá của Gióp. Nó tố cáo ông không thật lòng kính sợ Chúa mà ăn ở thánh khiết, chẳng qua tại Chúa cho ông đông con lại giàu có. Để chứng minh Gióp không như Sa-tan tố cáo, Ngài đặt một giới hạn cho nó là chỉ được phép hại đến con cái và tài sản của ông.

Sa-tan đã thua. Song nó là đứa gian ác, không biết phục thiện là gì nên tiếp tục yêu cầu Chúa đụng đến xương thịt của Gióp, ắt người sẽ phỉ báng Ngài. Để chứng minh Gióp là một người trọn vẹn, Chúa lại đặt một giới hạn cho Sa-tan là nó chỉ có phép đụng đến xương thịt của Gióp mà không cho phép đụng đến mạng sống ông. Kết quả, Sa-tan hoàn toàn thất bại và hổ thẹn. Chúa đã đặt một hàng rào bất khả xâm phạm chung quanh con cái của Ngài, mà Sa-tan dầu mạnh như sư tử cũng không vượt qua hàng rào đó được.

Hiện nay, Sa-tan muốn hiện nguyên hình để làm tất cả những gì nó muốn, song không được (IITê 2:5-8). Mặc dầu bè lũ của nó đang hoạt động ráo riết khắp thế gian, bằng đủ cách, song Đấng ngăn trở nó là Đức Thánh Linh còn ở đây với Hội Thánh Ngài, nên nó chỉ có phép hiện ra đúng kỳ nó thôi. Khi nào Chúa Jêsus tái lâm, Hội Thánh được cất lên trời với Đức Thánh Linh, thì thế gian sẽ hoàn toàn ở dưới quyền ma quỷ. Đó là thời kỳ đại nạn (Mat 24:21).

Hội Thánh là sự sáng của thế gian, là muối của đất đã giữ thế gian khỏi tối tăm và bại hoại. Ngày nào Hội Thánh còn trong thế gian là phước hạnh cho nhân loại.

III. SỰ CUỐI CÙNG CỦA KẺ THÙ (IITÊ 2:8).

“Song đường kẻ ác rồi bị diệt vong” (Thi thiên 1:1).

Chúa sẽ dùng lời phán của Ngài, tức là chỉ ra lệnh, Sa-tan và bè lũ của nó sẽ bị hủy diệt hoàn toàn. Con thú và tiên tri giả, “cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời” (Khải 19:20; 20:10).

Ngày tái lâm của Chúa đã gần thì ma quỷ biết rõ số phận khốn nạn của nó, thì giờ ngắn ngủi của nó, nên càng nỗ lực hoạt động ráo riết và mãnh liệt (Khải 12:12). Chúng ta không cần sợ hãi mà chỉ cần thức tỉnh để giữ mình khỏi mưu chước của nó (IICôr 2:11). Đồng thời chúng ta biết rõ ngày vinh hiển tuyệt vời của chúng ta sắp hiện ra, và thì giờ phục vụ Chúa tại trần gian chẳng còn bao lâu nữa. Vậy chúng ta hãy nỗ lực hoạt động ráo riết và mãnh liệt trong công tác truyền giảng Tin lành để cứu vớt tội nhân và gây dựng Hội Thánh. Hãy nghĩ đến số phận của đồng bào sống ngoài Chúa là đáng thương hại dường nào! (IITê 2:9-12).

CÂU HỎI

1. Ai là căn nguyên của điều thiện? Ai là căn nguyên của điều ác?

2. Điều thiện và điều ác khác nhau như thế nào?

3. Sa-tan hiện ra bằng những con người nào và những con thú nào?

4. Ý nghĩa của những con người và những con thú đó là gì?

5. Hai công việc đặc biệt của ma quỷ là gì?

6. Ma quỷ bị giới hạn trong hai công việc của nó như thế nào?

7. Khi nào ma quỷ mới không bị giới hạn?

8. Khi đó thì con người trong thế giới sẽ ra sao?

9. Sự cuối cùng của ma quỷ và các quỷ sứ nó là thế nào?

10. Chính lúc này ma quỷ đang làm gì?

11. Chính lúc này chúng ta phải làm gì?

 

BÀI 35: SỰ PHÁN XÉT CUỐI CÙNG

Kinh Thánh: Khải huyền 20:11-15

Câu gốc: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Chúa Jêsus là Đấng yêu thương, song cũng là Đấng công bình. Ngài là Cứu Chúa, song Ngài cũng sẽ là Quan án.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SA-TAN BỊ ĐOÁN XÉT

(Khải 20:1-10)

TH:

LOÀI NGƯỜI BỊ ĐOÁN XÉT

(Khải 20:11-15)

TB:

CÁC NƯỚC BỊ ĐOÁN XÉT

(Ma-thi-ơ 25:31-46)

TT:

QUAN ÁN

(Giăng 5:22,27; Công vụ 10:42; Rô-ma 14:10; IICôr 5:10)

TN:

ĐOÁN XÉT HÀNH ĐỘNG

(Truyền 11:9; 12:14; Khải 20:13)

TS:

ĐOÁN XÉT LỜI NÓI

(Ma-thi-ơ 12:36,37; Giu-đe 15)

TB:

ĐOÁN XÉT TƯ TƯỞNG

(Truyền 12:4; ICôr 4:5)

Một bệnh nhân lao phổi đã đến với bác sĩ. Sau khi khám bệnh, bác sĩ bảo: “Bệnh anh nặng lắm song vẫn còn hy vọng, miễn là anh phải chữa trị lập tức. Anh hãy nhập viện, tôi sẽ chữa cho anh”. Song bệnh nhân nhất quyết chối từ vì bận nhiều công tác, không thể ở lại.

Sau 6 tháng, bệnh nhân trở lại gặp bác sĩ. Khám kỹ càng, bác sĩ lắc đầu nói: “Tuyệt vọng! Trước đây tôi là bác sĩ, sẵn sàng chữa cho anh, song anh không vâng lời. Bây giờ, tôi là quan án, cho anh biết rằng anh sẽ chết một ngày gần đây”.

Mọi người đều có tội. Còn Chúa Jêsus là Cứu Chúa duy nhất. Bây giờ đến với Ngài, mọi người đều được tha thứ. Bằng không, trong tương lai ai nấy bị bắt buộc phải hầu trước toà án của Ngài. Chừng đó, Ngài không còn hành động theo tư cách Cứu Chúa nữa, mà sẽ hành động theo tư cách Quan án. Ngài sẽ không tha thứ mà chỉ buộc tội.

I. TOÀ ÁN (20-11)

“Một toà lớn”. Xưa nay không có một toà án nào lớn như vậy. Các toà án đã có chỉ phán xét các tội nhân trong một nước, trong một thời, song toà án này là chung thẩm, thượng thẩm, tối cao, phán xét phạm nhân trong cả thế giới, trải qua mọi thời đại, từ khi có loài người cho đến ngày đó.

“Một toà án…trắng”. Màu trắng chỉ về sự thánh khiết, trong sạch trọn vẹn, chí công vô tư. Tại đây, không hề có bóng dáng của sự bất công, bất nghĩa. Vàng bạc, danh vọng, quyền thế không có giá trị gì đối với toà án này.

“Trời đất bắt đầu trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho chúng nó”. Bây giờ, người ta có thể vào rừng, lên núi, đào hang, vượt bể để trốn, song chừng đó, thì không còn một chỗ nào hoặc dưới đất hay trên trời để phạm nhân ẩn mình.

Sự thánh khiết oai nghi của toà án thật đáng sợ!

II. QUAN ÁN (20:11).

“Đấng, đương ngồi ở trên”. Đấng đương ngồi ở trên ngôi của toà án lớn và trắng này không ai khác hơn là Chúa Jêsus Christ, Con độc sanh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa nhân loại (Giăng 5:22,27). Ngài đã giáng thế làm người, mang lấy tội lỗi của nhân loại và chịu chết thế cho họ. Song với kẻ chẳng tin Ngài thì vẫn còn ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Vì không tin Ngài là Cứu Chúa, nên họ phải hầu Ngài là Quan án.

“Trước mặt Ngài, trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho chúng nó”. Không những con người mà trời đất vô tri cũng không đứng nổi trước sự thánh khiết và oai nghi của Chúa. Giăng đã mô tả dung nhan của Ngài: mặc áo dài, thắt đai vàng, đầu và tóc trắng như lông chiên, như tuyết; mắt như ngọn lửa, chân như đồng sáng và tiếng như các dòng nước lớn, tay hữu Ngài cầm bảy ngôi sao, miệng ra một thanh gươm bén hai lưỡi; mặt như mặt trời khi chói sáng hết sức. Thấy Ngài Giăng ngã ra như người chết.

III. PHẠM NHÂN (20:12,13A)

“Những kẻ chết”. Chết thuộc thể và chết thuộc linh. “Cả lớn và nhỏ”. Vua chúa, quan quyền, dân chúng, nô lệ, tự chủ, văn minh, dã man, giàu sang, nghèo hèn đều “đứng trước toà”. Dầu muốn dầu không ai cũng phải có mặt.

“Biển đem trả những người chết mình chứa; sự chết và âm phủ cũng đem trả những người chết mình có”. Tất cả những người chết ngoài ân điển của Chúa từ sáng thế cho đến ngày đó đều được sống lại từ biển và từ đất.

Làm sao người ta sống lại được? Lấy thân thể nào mà sống?

“Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sự sống đời đời, còn kẻ để chịu sự xấu hổ, nhơ nhuốc đời đời” (Đa-ni-ên 12:2). “Chớ lấy điều đó làm lạ, vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi. Ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán” (Giăng 5:28,29). “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).

Sự sống lại của thân thể là luật chung, áp dụng cho mọi người công bình và gian ác; song sau đó kẻ được thưởng, người bị phạt.

Thân thể chúng ta như hột giống, khi nó được gieo xuống đất như đã chết; song từ đó nó sống lại. “Thân thể đã gieo ra là sự hay hư nát, mà sống lại là sự không hay hư nát; đã gieo ra là nhục mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu mà sống lại là mạnh; đã gieo ra là thể huyết khí mà sống lại là thể thiêng liêng” (ICôr 15:42:44). Từ đó, thân thể của con người không thể chết được nữa, nhưng còn đời đời trong thiên đàng hay trong hỏa ngục.

IV. CÁCH PHÁN XÉT (20:13B-15).

“Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tuỳ công việc mình làm”.

“Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Gal 6:7). “Vì Đức Chúa Trời sẽ đến đoán xét các công việc đến nỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy” (Truyền 12:14). “Ta, Đức Giê-hô-va dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm” (Giê-rê-mi 17:10). “Vả, Ta bảo với các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói” (Ma-thi-ơ 12:36). “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mặt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” (Hêb 4:13).

Thế thì, không miễn trừ ai, không ai có thể chối tội, mà đầu nào cũng phải cúi xuống, miệng nào cũng ngậm lại để chịu hình phạt.

“Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bi ném xuống hồ lửa”.

“Đừng sợ kẻ giết được thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng thà sợ Đấng làm mất linh hồn và thân thể trong địa ngục (Ma-thi-ơ 10:28). “Đến ngày tận thế cũng như vậy; các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném những kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng” (Ma-thi-ơ 13:49-50). “Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và nơi lửa chẳng hề tắt, vì mọi người sẽ bị muối bằng lửa (Mác 9:48-49). Người nhà giàu kêu: “Xin thương lấy tôi… vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi” (Lu-ca 16:24). “Còn ma quỉ là đứa dỗ dành chúng thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm sinh, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời” (Khải 20:10).

Adolphe Monod, một Mục sư Pháp đã viết: “Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm để không tìm thấy sự hình phạt đời đời trong Lời của Đức Chúa Trời. Song tôi đã thất bại… Khi tôi nghe tiếng Chúa Jêsus phán rằng, kẻ gian ác sẽ đi vào sự hình phạt đời đời và kẻ công bình sẽ đi vào sự sống đời đời; sự hình phạt của kẻ này sẽ đời đời cũng cùng một ý nghĩa với sự hạnh phúc của kẻ kia thì tôi đã chịu phục, đã cúi đầu, đã để tay lên miệng mà tin có sự hình phạt đời đời”.

Đó là lý do mà trải qua 20 thế kỷ đã có nhiều người sẵn sàng ra đi đến xứ xa, vào rừng sâu, lên núi cao để truyền giảng Tin lành cho mọi người. Vì không có công tác nào ở dưới đất nầy lớn lao bằng đem một tội nhân về với Chúa, để người đó được cứu khỏi địa ngục đời đời mà vào thiên đàng đời đời. Trên thiên đàng chúng ta sẽ hối tiếc nếu bây giờ chúng ta không dâng mình vào việc truyền giảng Tin lành.

Mong mỗi tín hữu đều là người được cứu và dự phần cứu người khác.

CÂU HỎI

1. Hai chức vụ của Chúa Jêsus hiện nay và trong ngày phán xét khác nhau thế nào?

2. Toà án lớn và trắng có nghĩa gì?

3. Tại sao trời đất đều trốn hết?

4. Ai sẽ ngồi trên toà án tối cao trong ngày phán xét?

5. Ai sẽ là phạm nhân trong ngày phán xét?

6. Làm sao người ta sống lại được vì đã chết từ buổi sáng thế?

7. Thân thể sống lại của người sẽ ra thế nào?

8. Tất cả phạm nhân sẽ ở đâu và bao lâu?

9. Phạm nhân sẽ chịu gì?

10. Trước một tương lai như vậy, bây giờ chúng ta phải làm gì?

11. Làm cách nào để bạn được khỏi sự phán xét?

BÀI 36: THIÊN ĐÀNG

Kinh Thánh: Khải Huyền đoạn 21 và 22.

Câu gốc: “Khi Ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:3).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đang sửa soạn một chỗ cho con cái Ngài sống đời đời với Ngài. Chúng ta có thể vào đó nếu chúng ta tin nhận Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI

(Khải huyền 21:1-8)

TH:

GIÊ-RU-SA-LEM MỚI

(Khải huyền 21:9-27)

TB:

ĐỊA ĐÀNG MỚI

(Khải huyền 22:1-17)

TT:

MỘT CHỖ ĐÃ ĐƯỢC SẮM SẴN

(Giăng 14:1-11)

TN:

THẾ GIAN BỊ LỬA HUỶ DIỆT

(Ê-sai 51:6; Mi-chê 1:4; I Phi-e-rơ 3:4-15)

TS:

TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI

(Ê-sai 65:17-25)

TB:

NGÔI ĐỜI ĐỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Khải huyền 22:1)

Nhờ Kinh Thánh, chúng ta vượt qua giới hạn của thời gian để nhìn vào cõi đời đời. Chúng ta hãy đọc kỹ các phần: Kinh Thánh Đọc Hàng Ngày và cầu nguyện để thấy rõ tương lai của chúng ta.

Chúa cho chúng ta biết là các công trình của loài người là chỉ để dành cho lửa (Giê 51:53; Ha-ba-cúc 2:13). Trời đất sẽ qua đi (Mat 24:35; Khải 21:1). Trời đất sẽ bị lửa hủy diệt (II Phi 3:7,10,12). Đang khi đó, Chúa sắm sẵn một nơi để chúng ta ở đời đời với Ngài (Giăng 14:1-3). Đó là thiên đàng.

I. THIÊN ĐÀNG LÀ MỘT THÀNH PHỐ KỲ DIỆU.

Tại trần gian, không hề có một thành phố nào như thành phố này (Hãy hát những bài hát về Thiên đàng trong Thánh ca từ số 338-346 và 425).

1. KHÔNG CÒN ĐAU KHỔ MÀ CHỈ CÓ VUI MỪNG (KHẢI 21:4)

Nước mắt đã ráo, chết chóc không còn, tang chế buồn thảm qua rồi. Tại đó ai nấy vui mừng bằng một sự vui mừng thánh khiết, trường cửu mà không xen lẫn một nỗi đau thương nào. Lòng vui mà cảnh cũng vui.

2. ĐẦY VINH QUANG THIÊN THƯỢNG (KHẢI 21:10-21).

Tường thì bằng bích ngọc, thành bằng vàng ròng như pha lê trong suốt, nền bằng đủ mọi thứ ngọc, mười hai cửa bằng mười hai ngọc châu, đường đi cũng bằng vàng ròng như pha lê trong suốt. Chắc còn nhiều điều kỳ diệu khác mà tiếng của loài người không có để mô tả.

Chẳng ai có thể xây một thành phố như vậy. Vì thế, dầu giàu có, Áp-ra-ham đã suốt đời sống trong trại. Nếu có ai hỏi tại sao, ông đáp: “Tôi chờ đợi một thành có nền vững chắc mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê 11:10). Cũng như Áp-ra-ham, các thánh đồ đã thiết tha mong mỏi một quê hương tốt hơn, là quê hương trên trời (Hê 11:6).

3. KHÔNG CÒN BAN ĐÊM (KHẢI 21:23-25; 22:4-5).

Tại trần gian này chúng ta cần có ban đêm để ngủ nghỉ, song cũng cần có ánh sáng mặt trời, mặt trăng mới sống được. Nhưng vì có ban đêm nên cửa phải đóng, tủ phải khoá mà vẫn còn lo sợ.

Trên thiên đàng không cần đèn, cũng không cần mặt trời, mặt trăng, vì vinh quang của Đức Chúa Trời lòa hơn mặt trời. Ban đêm không còn, không có một bóng tối nào tại đó. Cũng không có ai mệt mỏi mà cần phải ngủ nghỉ. Cửa không bao giờ đóng mà chẳng có chút lo sợ.

4. KHÔNG CÒN TỘI LỖI (KHẢI 21:27).

Không có một tội nhân nào được vào thiên đàng nên không có một bóng dáng tội lỗi nào ở đó. Bây giờ, chúng ta cần phải có tấm lòng mới, song sống trong trời đất cũ, có cuộc sống thánh khiết song ở giữa tội lỗi bao trùm. Chừng đó, chúng ta không những có tấm lòng mới, mà cũng có thân thể mới, sống trong trời đất mới, có cuộc sống thánh khiết và sống trong cảnh thánh khiết.

5. AI NẤY ĐƯỢC HẦU VIỆC ĐỨC CHÚA TRỜI (KHẢI 22:3):

Không phải trên thiên đàng chúng ta không cần làm chi hết mà thành người ở dưng. Người có giá trị, có hạnh phúc là người làm việc. Trước khi phạm tội, A-đam được “Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn” (Sáng 2:15). Trên thiên đàng cũng vậy, chúng ta vẫn tiếp tục tôn thờ, phục vụ Chúa. Nhưng phục vụ mà vẫn yên nghỉ, phục vụ mà không hề mệt mỏi, không hề băn khoăn, phục vụ một cách vui vẻ, thoả mãn, tức là “sẽ trị vì đời đời” (Khải 22:5). Khi các đầy tớ đã trung tín về các ta lâng của chủ giao, thì chủ đáp: “… Ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi” (Mat 25:21-23) Khi các đầy tớ đã trung tín về nén bạc mà vua giao cho, thì vua đáp: “… Ngươi sẽ được cai trị mười thành… Ngươi được cai trị năm thành” (Lu-ca 19:17-19).

Chính vì đó mà Đa-ni-ên đã nói: “Nhưng các thánh của Đấng rất cao sẽ nhận lấy nước và được nước làm của mình đời đời, cho đến đời đời vô cùng” (Dân 7:18). Phao lô cũng nêu lên ý ấy: “Lại nếu chúng ta chịu nổi thử thách ấy, thì sẽ cùng Ngài đồng trị” (II Tim 2:12).

Được sống mãi mãi trong một thành phố như vậy, thật không có gì hạnh phúc bằng. Chúa lo liệu cho chúng ta vượt quá xa mọi điều chúng ta ao ước. Chúa biết tất cả các nhu cầu của chúng ta hơn chúng ta biết, Ngài sẽ cung ứng mọi nhu cầu đó.

II. ĐIỀU KIỆN VÀO THIÊN ĐÀNG.

Khi một người từ nước này sang nước kia phải hội đủ những điều kiện, lắm khi phiền phức, phương chi từ đất lên trời, từ trần gian lên thiên đàng. Vậy, ai không được vào và ai được vào?

1. NHỮNG KẺ KHÔNG HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN VÀO (KHẢI 21:8/,27; 22:15).

Đó là những kẻ hèn nhát, chẳng tin, gớm ghiếc, giết người, gian dâm, phù phép, thờ hình tượng, nói dối, ô uế. Những kẻ này không có phần gì trong thiên đàng, không có chỗ nào dành cho họ trên đó. Song chỗ của họ là hồ lửa đời đời.

Lại những loài chó, kẻ thuật sĩ, kẻ tà dâm, giết người, kẻ thờ hình tượng và kẻ ưa thích nói dối, làm dối đều ở ngoài hết thảy. Có người đã phạm tội mà không chịu ăn năn, lại dám liều lĩnh nói rằng: “Miễn là tôi được vào thiên đàng, làm con chó tại đó cũng được”. Câu Kinh Thánh trên đây cho biết, không có con chó nào được vào thiên đàng. Ai nói vậy, hãy thức tỉnh và ăn năn kịp thời, đừng liều lĩnh nữa mà phải hối tiếc đời đời.

2. NHỮNG KẺ ĐƯỢC VÀO (KHẢI 21:27B; 22:14):

Nhưng chỉ có những kẻ được biên tên vào sách sự sống của Chiên Con. Đó là những kẻ đã được sanh bởi Đức Chúa Trời tại Si-ôn và đã được Ngài biên vào sổ của Ngài (Thi 87:6). Chỉ có con cái mới được kế tự cha và hưởng cơ nghiệp của cha (Rô 8:17; Gal 4:7).

Khi nữ hoàng nước Sê-ba nghe thiên hạ nói về sự khôn ngoan, giàu có và quyền thế của vua Sa-lô-môn, thì bà không tin cho rằng người ta đồn đại quá sự thật, chứ làm gì có. Song khi người ta đã nói rất nhiều thì bà bắt đầu quan tâm nên đã đích thân đến Giênusalem để nghe, để thấy sự thật. Sau khi đã tiếp xúc với Sa-lô-môn, quan sát mọi sự, bà nói: “Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về lời nói và sự khôn ngoan của vua thì là thật lắm. Song trước khi tôi đi đến đây, và chưa thấy tận mắt những điều này thì tôi chẳng tin, và kìa, người ta chẳng nói đến được phân nửa! Sự khôn ngoan và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn mà tôi đã nghe” (ICác 10:6-7).

Sa-lô-môn chỉ là một ông vua ở đời này mà đã làm ngạc nhiên một nữ vương lân cận, phương chi là Đức Chúa Trời, Vua của các vua, thì làm cho chúng ta ngạc nhiên dường nào, khi chúng ta vào bệ kiến Ngài tại thiên đàng!

Trước viễn cảnh kỳ diệu của thiên đàng, Phao-lô nói: “Tôi tưởng rằng sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta… Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên” (Rô 8:18; IICôr 4:17).

CÂU HỎI

1. Quả đất hay là thế gian này rồi sẽ ra sao?

2. Nơi mà Chúa sắm sẵn cho chúng ta là gì?

3. Thiên đàng khác hơn thế gian như thế nào?

4. Thiên đàng làm bằng những gì?

5. Áp-ra-ham và các thánh đồ đã mong ước gì?

6. Trên thiên đàng còn việc gì cho chúng ta làm?

7. Ai được vào thiên đàng?

8. Ai không được vào thiên đàng?

9. Muốn vào thiên đàng phải làm sao?

10. Chúng ta sẽ có thái độ nào khi vào thiên đàng?

11. Phao-lô khích lệ chúng ta thể nào khi hướng lòng về thiên đàng?

BÀI 37: ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ MỘT CHƯƠNG TRÌNH CHO NHÂN LOẠI

Kinh Thánh: Sáng thế ký 1:26-28; 2:8-17

Câu gốc: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:18).

Mục Đích: Cho chúng ta biết chương trình của Đức Chúa Trời qua mọi thời đại.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỨC CHÚA TRỜI HẰNG CÓ ĐỜI ĐỜI

(Thi 90:1-17)

TH:

CHÚA JÊSUS LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI

(Giăng 1:1-14)

TB:

SỰ TẠO DỰNG TRỜI ĐẤT

(Sáng 1:1-31)

TT:

TỘI LỖI PHẢI BỊ TRỪNG PHẠT

(Sáng 3:8-24)

TN:

CƠN LỤT LÀ SỰ ĐOÁN PHẠT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Sáng 7:1; 8:19)

TS:

ĐỨC CHÚA TRỜI CHỌN ÁP-RA-HAM

(Sáng 12:1-9)

TB:

LUẬT PHÁP

(Xuất 20:1-26)

Trong ba bài liên tiếp theo đây, chúng ta ôn lại những bài đã học trong 9 tháng qua về chương trình của Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải có một cái nhìn tổng quát từ sáng thế cho đến tận thế để biết chương trình của Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta đã học lược qua các sách từ Sáng thế ký cho đến Khải huyền.

Kinh Thánh là một tác phẩm kỳ diệu gồm có 66 sách, được viết ra bởi chừng 40 tác giả, trong khoảng thời gian 1500 năm. Có rất nhiều đề tài được bàn đến trong Kinh thánh, nên Kinh Thánh như một thư viện thu hẹp. Tuy nhiên Kinh Thánh chỉ có một chủ đề là: Sự Cứu Rỗi Bỡi Chúa Jêsus Christ. Tất cả Kinh Thánh đều nói về phạm vi, thàn tánh, tư cách và công việc của Ngài.

I. LÝ DO ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ MỘT CHƯƠNG TRÌNH CHO NHÂN LOẠI (SÁNG 1:3).

Sau khi dựng nên trời đất, muôn vật và loài người, đức Chúa Trời đặt A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen, để trồng và giữ vườn. A-đam và Ê-va đã được dựng nên với một tâm hồn thơ ngây nhưng có ý chí tự do, mà trong muôn loài không loài nào có. Chúa dựng nên loài người như vậy để thông công với Ngài và quản trị muôn vật. Vì có ý chí tự do nên họ có trách nhiệm chọn điều phải, tránh điều quấy. Nhưng vì không vâng lời Chúa, họ đã chuốc lấy cho mình và cho dòng dõi mình sự bại hoại. Kết quả ông bà mất sự vinh quang của Chúa cho, trở nên loã lồ, hổ thẹn sợ hãi. Bà chịu cực khổ trong thai nghén, đau đớn khi sinh nở; ông chịu khó nhọc, làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn. Ông bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen là nơi hạnh phúc. Dầu vậy, ngay khi đó, Chúa đã hứa ban cho loài người một Đấng Cứu Thế (Sáng 3:15).

Tội lỗi thật ghê gớm, không những nó làm cho A-đam và Ê-va bại hoại, mà cả dòng dõi của ông bà cũng bị bại hoại, đến nỗi Đức Chúa Trời phải dùng một cơn nước lụt để hủy diệt loài người, loài súc vật, loài côn trùng, loài chim trời khỏi mặt đất. Song giữa loài người thời bấy giờ có Nô-ê là người công bình trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. Ông đã vâng lời Chúa đóng một chiếc tàu lớn, cứu cả gia đình và loài súc vật còn lưu truyền cho đến ngày nay.

Sau cơn lụt, con cháu Nô-ê đã sanh sản thêm nhiều. Nhưng mấy trăm năm kế đó, loài người càng đông đúc lại càng bại hoại. Họ quyết định xây một cái tháp chót cao đến tận trời để được rạng danh. Họ không thể nào xây một cái tháp chót cao tận trời, song lòng kiêu ngạo của họ thật đã tận trời. Kết quả chỉ là lộn xộn và tan rã.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI LỰA CHỌN ÁP-RA-HAM (SÁNG 12:15).

Đức Chúa Trời đã lựa chọn Áp-ra-ham và kêu gọi ông ra khỏi thành U-rơ, xứ Canh-đê để đi lên xứ Ca-na-an.

Chương trình của Đức Chúa Trời là từ một người ra một gia đình, từ một gia đình ra một chi phái, từ một chi phái ra một dân tộc. Rồi từ dân tộc đó, Ngài ban sự khải thị cho loài người là Kinh thánh, lại cũng từ dân tộc đó, Đấng Cứu Thế giáng trần chết đền tội cho loài người, đúng như Lời Ngài đã hứa (Sáng 3:15; 12:1-3). Dân tộc đó là Y-sơ-ra-ên, cũng gọi là Do thái.

Tất cả mọi diễn biến trong lịch sử loài người nói chung cũng như lịch sử dân Y-sơ-ra-ên nói riêng, đều ở dưới quyền điều khiển của Đức Chúa Trời để hoàn thành chương trình vĩ đại và đời đời của Ngài là ban một Cứu Chúa cho thế gian. “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ đã được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô 8:28).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI LỰA CHỌN MÔI-SE (XUẤT 1:3).

Vì một cơn đói kém, Gia-cốp là cháu nội của Áp-ra-ham và cả gia đình gồm 70 người đã từ Ca-na-an xuống Ê-díp-tô, tại đó có Giô-sép.

Sau 400 năm, con cháu Gia-cốp đã lên đến con số hơn 2 triệu người. Đang khi đó, tình hình tại Ê-díp-tô cũng thay đổi. Pha-ra-ôn (danh hiệu hoàng đế Ê-díp-tô) thân thiện với Giô-sép đã qua đời, các Pha-ra-ôn khác đã đem lòng ganh tị, nghi ngờ dân Y-sơ-ra-ên, nên đã bắt bớ họ đủ cách, nào buộc họ làm những công việc cực nhọc, nặng nề, nào hạn chế sinh đẻ, nhất là nếu sinh con trai thì phải liệng xuống sông. Những ngày trong hoàn cảnh đen tối ấy, Đức Chúa Trời đã giải cứu Môi-se khỏi chết lại còn được làm con của công chúa Pha-ra-ôn, được nuôi dạy trong triều đình Pha-ra-ôn suốt 40 năm. Kế đó, Môi-se được Chúa huấn luyện 40 năm trong đồng vắng Ma-đi-an, chuẩn bị cho chức vụ sau nầy vì Ngài lựa chọn ông.

Đến lúc không còn chịu nổi sự bắt bớ, dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại Đức Chúa Trời và cầu khẩn Ngài. Bấy giờ, Chúa kêu gọi Môi-se, sai ông đi giải phóng đồng bào mình.

Qua Môi-se, Đức Chúa Trời đã thi hành 10 tai vạ, buộc Pha-ra-ôn phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Môi-se đã dẫn dân của Chúa ra khỏi xứ Ê-díp-tô, vượt Biển Đỏ vào đồng vắng. Suốt 40 năm, Chúa đã nuôi dân Ngài bằng mana từ trời, bằng nước từ hòn đá. Cũng tại đồng vắng, Chúa ban cho họ luật pháp: Luật luân lý và luật thờ phượng. Cuối cùng dân Y-sơ-ra-ên đã vào tận Ca-na-an đượm sữa và mật, y như Chúa đã hứa cho họ từ đời tổ phụ họ là Áp-ra-ham (Sáng 15:13- 14; Xuất 3:8; Dân 13:27).

Bài học của chúng ta là: dầu loài người bất trung, vô tín, đã phạm tội, song Đức Chúa Trời vẫn thành tín đối với lời hứa của Ngài mà thực hiện chương trình cứu rỗi loài người. Chúng ta ôn lại để cảm tạ, ca ngợi Chúa về các ơn phước lớn lao Ngài đã ban cho chúng ta, là những kẻ không đáng được. Cũng vì lý do đó mà Đa-vít đã tự nhủ: “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va; mọi điều gì ở trong ta, hãy ca tụng danh thánh của Ngài! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, chớ quên các ân huệ của Ngài” (Thi thiên 103:1-2).

CÂU HỎI

1. Kinh Thánh là một quyển sách thế nào? Chép về gì?

2. Loài người khác hơn loài vật ở chỗ nào?

3. A-đam và Ê-va đã phạm tội thì bị hại gì?

4. Vì tội lỗi, loài người bị Chúa đoán phạt như thế nào?

5. Sau khi con người phạm tội, Đức Chúa Trời đã hứa ban cho họ điều gì?

6. Chúa lựa chọn Áp-ra-ham để làm gì?

7. Chúa lựa chọn Môi-se để làm gì?

8. Tại sao chúng ta biết Chúa luôn luôn thành tín?

9. Chúng ta cần ôn lại dĩ vãng để làm gì?

BÀI 38: CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC BÀY TỎ

Kinh Thánh: Giăng 19:36-37.

Câu gốc: “Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên! (Giăng 1:49).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ chương trình của Ngài qua Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ và qua Hội Thánh của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỰ KHÔNG VÂNG PHỤC CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

(Lê 26:27-34; Nê 9:26-29)

TH:

GIẤC MƠ CỦA ÔNG VUA

(Đa-ni-ên 2:1-18)

TB:

TRUYỆN TÍCH CÂY THẬP TỰ

(Giăng 19:16-37)

TT:

ĐẤNG CHRIST SỐNG LẠI

(Giăng 20:1-18)

TN:

ĐẤNG CHRIST LÀ ĐẤNG TRUNG BẢO

(Ê-phê-sô 2:13-22)

TS:

HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN

(Công vụ 2:1-21)

TB:

ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 3:21-23)

Hôm nay chúng ta ôn lại những bài đã học trong Quí II (tam cá nguyệt II). Nếu cần, chúng ta cùng nhau mở các bài học ấy ra xem lại để hiểu thêm và để nhớ. Xem cái cũ để biết cái mới.

Sau khi được giải phóng khỏi Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ vào đồng vắng. Tại đó, họ được Chúa ban luật pháp. Trong luật đó có Luật luân lý hay Luật đạo đức như 10 điều răn, cũng có Luật lễ nghi hay Luật thờ phượng như đền thờ, các thầy tế lễ, các của lễ… Qua các nghi thức thờ phượng, dân Y-sơ-ra-ên được tha thứ, được giao thông cùng Chúa (Xuất 25:8; 29:45-46; Phục 12:11).

Bốn mươi năm trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên ở dưới sự hướng dẫn của Môi-se. Khi vào Ca-na-an, phân chia sản nghiệp, dân Y-sơ-ra-ên ở dưới sự hướng dẫn của Giô-suê. Khi Giô-suê qua đời, dân Y-sơ-ra-ên ở dưới sự hướng dẫn của các quan xét. Sau thời các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên xin lập một vương quốc. Thế là từ đó, họ đã thay đổi từ chính thể thần quyền ra chính thể quân chủ.

I. VƯƠNG QUỐC Y-SƠ-RA-ÊN.

Vị vua thứ nhất của Y-sơ-ra-ên là Sau-lơ. Sau-lơ đã khởi sự rất tốt song kết thúc rất xấu. Vì vậy, Phao-lô đã khuyên: “Anh em đã nhận Chúa Jêsus thể nào, hãy bước đi trong Ngài thể ấy” (Cô-lô-se 2:6).

Đa-vít, vị vua thứ hai cũng là vị vua tốt nhất của Y-sơ-ra-ên. Dầu ông đã phạm tôi nhưng ông đã hết lòng ăn năn (Thi thiên 51). Trong thời kỳ cai trị của ông, nước Y-sơ-ra-ên phú cường lắm.

Vị vua thứ ba của Y-sơ-ra-ên là Sa-lô-môn, con vua Đa-vít. Khi còn trẻ, Sa-lô-môn rất tốt, song khi già, ông bị các bà vợ ngoại đạo cám dỗ thờ lạy hình tượng tà thần. Khi Sa-lô-môn qua đời, nước Y-sơ-ra-ên bị chia ra làm hai: miền Bắc do Giê-rô-bô-am làm vua, cai trị 10 chi phái, lấy tên nước là Y-sơ-ra-ên, miền Nam do Rô-bô-am, con Sa-lô-môn làm vua, cai trị hai chi phái Giu-đa và Bên-gia-min, lấy tên nước là Giu-đa. Các vua của hai miền đó đã phạm tội cùng Chúa, song các vua miền Nam đỡ hơn, nên thỉnh thoảng có cơn phục hưng đạo đức tại đó. Vua hai miền thường tranh chiến nhau, (miền Bắc đông dân gấp hai, đất rộng gấp 3 lần miền Nam).

Nước Y-sơ-ra-ên miền Bắc có 19 đời vua nối ngôi cai trị 210 năm. Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri cáo trách tội lỗi và kêu gọi dân chúng ăn năn, song họ vẫn ngoan cố, chống đối. Kết quả: Năm 722 TC, đạo quân A-si-ri xâm chiếm cả nước, bắt dân Y-sơ-ra-ên đày qua A-si-ri rồi đem các dân tộc khác đến ở tại Sa-ma-ri, thủ đô của nước Y-sơ-ra-ên (IICác 17:16,24). Phần đông dân Y-sơ-ra-ên ở luôn bên A-si-ri mà không trở về tổ quốc. Vì thế về sau, trong thời Chúa Jêsus, dân Y-sơ-ra-ên không thừa nhận dân Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri là dân Y-sơ-ra-ên, mà cứ gọi là dân Sa-ma-ri và không giao thiệp với họ.

Nước Giu-đa miền Nam có mười hai đời vua nối ngôi và cai trị 344 năm. Đức Chúa Trời đã dùng nhiều tiên tri kêu gọi họ ăn năn, song họ cũng không thức tỉnh để thoát khỏi tình trạng đau thương như dân Y-sơ-ra-ên miền Bắc. Vì vậy, năm 597 TC, đạo quân Ba-by-lôn xâm chiếm cả nước, bắt dân Giu-đa đày qua Ba-by-lôn (IICác 24:14-16; 25:2-21). Sau 70 năm bị lưu đày, dân Y-sơ-ra-ên được trở về tổ quốc.

Kể từ khi bị đày qua A-si-ri và Ba-by-lôn, dân hai miền đã mất quyền tự chủ, phải bị Ba-by-lôn, Mê-đô – Ba-tư, Hy-lạp và La-mã thay nhau cai trị (đô hộ). Dầu họ có vua, song chỉ là vua chư hầu như vua Hê-rốt. mãi cho đến năm 1948, họ mới được độc lập cho đến ngày nay.

Tất cả hậu quả trên đều do lìa bỏ Chúa mà ra. “Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi, sự bội nghịch ngươi sẽ trách ngươi, nên ngươi khá biết và thấy rằng lià bỏ Đức Giê-hô-va ngươi, và chẳng có lòng kính sợ Ta, ấy là một sự xấu xa cay đắng…” (Giê-rê-mi 2:19).

II. VƯƠNG QUỐC ĐẤNG CHRIST.

Trước khi Đấng Christ đến, sứ giả của Ngài là Giăng Báp-tít đã báo tin và kêu gọi: “Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần”. Những người ăn năn đều được Giăng làm phép báp-têm để chuẩn bị tiếp đón Cứu Chúa, cũng là Vua dân Y-sơ-ra-ên. Đồng thời, Giăng giới thiệu Chúa Jêsus là cao trọng hơn ông đến nỗi ông không đáng mở dây giày cho Ngài. Ông làm báp-têm bằng nước, còn Ngài làm báp-têm bằng Thánh Linh và bằng lửa. Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi (Ma-thi-ơ 3;1-12; Giăng 1:29).

Khi bắt đầu chức vụ, Chúa Jêsus đã giảng giải luật pháp của Nước Ngài (Ma-thi-ơ 5;7). Kế đó, Ngài làm nhiều phép lạ như chữa lành các thứ tật bịnh và đuổi quỷ qua lời phán của Ngài. Ngài quở bão tố yên lặng, đi bộ trên mặt biển, hóa bánh ra nhiều, kêu kẻ chết sống lại. Ngài làm các điều đó để chứng minh Ngài là Vua của Y-sơ-ra-ên, Cứu Chúa của nhân loại như các tiên tri đã báo trước (Ê-sai 9:5,6; Dân 7:14). Đồng thời, Ngài giữ trọn luật pháp một cách không chỗ trách được. Thế mà chính quyền Dothái lại chối bỏ Ngài, rồi bắt nộp cho chính quyền La-mã.

Nước của Jêsus Christ không thuộc về thế gian nầy (Giăng 6:15; 18:36). Ngài là Vua cai trị trong lòng của mọi thần dân Ngài (Lu-ca 17:20-21). Ngài không giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách cai trị của La-mã, mà Ngài giải phóng toàn thể nhân loại khỏi ách nô lệ của ma quỉ và tội lỗi (Ma-thi-ơ 1:21), để họ trở nên một dân thuộc Ngài (Tít 2:4).

Vì không hiểu như vậy nên chính quyền Dothái và chính quyền La-mã hiệp nhau đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá. Song chính quyền Dothái và chính quyền La-mã là ai mà có thể giết Chúa Jêsus? Vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, còn họ là tạo vật của Ngài. Chúa phán: “Chẳng có ai cất sự sống ta đi, song ta tự phó cho; Ta có quyền phó sự sống và có quyền lấy lại; Ta đã lãnh mạng lệnh này nơi Cha Ta” (Giăng 10:18). Vậy Ngài đã tình nguyện chịu chết đền tội để giải phóng nhân loại khỏi ách ma quỉ, khỏi hậu quả của tội lỗi và quyền lực của nó, để làm Vua đời đời trong một nước thánh khiết.

III. ĐỨC THÁNH LINH GIÁNG LÂM.

Sau khi Chúa Jêsus về trời, Đức Thánh linh giáng lâm để thành lập Hội Thánh, tức là đem cứu ân của Chúa Jêsus mà ứng dụng vào đời sống con người. Ngài cáo trách tội lỗi để tội nhân ăn năn (Giăng 16:8-11). Ngài ban cho họ có đức tin để tiếp nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa (Giăng 16:13-15). Ngài tái tạo tội nhân trở nên con cái Đức Chúa Trời (Giăng 3:3-5; Tít 3:5). Ngài giải phóng tín đồ khỏi quyền lực tội lỗi (Rô-ma 8:2), Ngài làm cho tín đồ được mạnh mẽ trong lòng (Ê-phê-sô 3:16). Ngài dẫn dắt tín đồ trong mọi bước đi (Rô-ma 8:14), Ngài ngự trong lòng của tín đồ để chứng cho họ biết rằng họ là con cái Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:16). Ngài ban mọi ân tứ cần thiết để tín đồ hầu việc Ngài trong Hội Thánh.

Đó là chương trình của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trải qua các thời đại. Chương trình đó là cứu rỗi nhân loại qua sự chết đền tội và sự sống lại của Đức Chúa Jêsus. Đó là ân điển ban cho mọi kẻ tin.

CÂU HỎI

1. Luật pháp của Môi-se được chia ra làm hai phần nào?

2. Ban đầu dân Y-sơ-ra-ên được Đức chúa Trời cai trị qua các nhân vật nào?

3. Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên xin được ai cai trị họ?

4. Vua thứ nhất của nước Y-sơ-ra-ên là ai? Thứ hai là ai? Thứ ba là ai?

5. Nước Y-sơ-ra-ên đã bị chia ra làm 2 thế nào? Ai cai trị miền Bắc? Ai cai trị miền Nam? Mỗi miền bao nhiêu chi phái?

6. Tại sao dân 2 miền phải bị xâm chiếm và bị lưu đày?

7. Chúa Jêsus đã làm gì để chứng minh Ngài là Vua của Y-sơ-ra-ên, Cứu Chúa nhân loại?

8. Tại sao dân Do thái nộp Ngài để chịu giết?

9. Chính quyền Do thái và La mã có thể giết Chúa Jêsus không? Tại sao?

10. Đức Thánh Linh giáng lâm để làm gì? Hãy kể ra các công việc của Ngài.

BÀI 39: CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC HOÀN TẤT

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 24:27-31; Mác 13:24-37; Lu-ca 21:25-36.

Câu gốc: “Anh em đã nhận Đức Chúa Jêsus Christ thế nào thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy” (Cô-lô-se 2:6).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời có một chương trình toàn hảo cho các thời đại và Ngài sẽ làm trọn chương trình ấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐẤNG CHRIST VÀ LUẬT PHÁP

(Rô-ma 10:4-15)

TH:

HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN

(Công vụ 2:1-21)

TB:

SỨ MẠNG CHÚA GIAO PHÓ CHO CHÚNG TA

(Ma-thi-ơ 28:16-20)

TT:

PHẢI THỬ ĐỂ BIẾT LẼ THẬT

(IGiăng 3:1-21)

TN:

SỰ ĐOÁN XÉT CỦA CHÚA

(Giô-ên 3:1-21)

TS:

VỊ VUA SẼ TRỞ LẠI

(Ma-thi-ơ 24:27-31; Mác 13:24-37; Lu-ca 21:25-36)

TB:

TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

(Khải thị 21:1-8)

Chúng ta đã học 9 tháng qua. Bây giờ hãy xét lại: Đời sống của bạn tiến triển thế nào? Bạn có biết Đức Chúa Trời và chương trình của Ngài không? Bạn có làm công việc Ngài đã giao phó cho bạn? Mong bạn thấy đời sống mình tiến bộ, năm này hơn năm ngoái, tháng này hơn tháng trước, hôm nay hơn hôm qua.

Khi chúng ta đi đường xa và phải vượt một đồi cao, đến đỉnh đồi đứng nhìn lại con đường đã qua đầy quanh co khúc khuỷu, nhìn con đường sắp tới, chúng ta thấy mập mờ không biết còn bao xa. Tuy nhiên, chúng ta được khích lệ vì đã kinh nghiệm một đoạn đường, và thấy trước đoạn đừng còn lại mà mình phải đi để đến đích.

Chúng ta đã ôn lịch sử loài người trong chương trình của Đức Chúa Trời. Bây giờ, chúng ta nhìn về tương lai thấy những nét chính của chương trình đó, và hăm hở đi trọn chương trình Chúa muốn chúng ta đi.

I. HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

1. ĐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH.

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã chọn một dân tộc và hành động qua dân tộc ấy. Ngày nay, Đức Chúa Trời cũng chọn Hội Thánh “Anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời…” (I Phi-e-rơ 2:9).

Hội Thánh là một tập thể lớn, gồm muôn dân muôn nước trong thế giới và qua các thời đại:

1. Hội Thánh do Chúa Jêsus thành lập (Ma-thi-ơ 16:18).

2. Hòn đá góc nhà và nền nhà là Chúa Jêsus (Ê-phê-sô 2:20; ICôr 3:11).

3. Đầu của Hội Thánh là Chúa Jêsus (Ê-phê-sô 5:23).

4. Hội Thánh là thân thể Chúa (Ê-phê-sô 1:22-23).

5. Hội Thánh hiệp một trong Chúa (Rô-ma 12:5).

6. Hội Thánh được Chúa yêu thương (Ê-phê-sô 5:25).

7. Hội Thánh được Chúa làm cho tinh sạch (Ê-phê-sô 5:25-26).

8. Hội Thánh được ân điển của Chúa (IICôr 8:1).

9. Hội Thánh được Chúa điều khiển và chăm sóc (Ê-phê-sô 4:11-13).

10. Hội Thánh bày tỏ sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 3:10).

11. Hội Thánh được sanh ra trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Công vụ 2).

12. Hội Thánh còn đời đời (Khải thị 22:5).

Chúng ta rất sung sướng vì được thuộc về Hội Thánh của Chúa.

2. CÔNG VIỆC CỦA HỘI THÁNH (MA-THI-Ơ 28:18-20).

Chúa đã long trọng tuyên bố với các môn đồ là Ngài có tất cả quyền hành trên trời dưới đất. Với quyền hành lớn lao và vô hạn đó, Ngài sẽ ban Thánh Linh cho họ đề ai nấy mặc lấy quyền năng mà làm chứng cho Ngài khắp mọi nơi trên thế giới.

“Hãy đi dạy dỗ muôn dân”, hay là hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta. Trải qua 20 thế kỷ tức là từ khi Đức Thánh Linh giáng lâm, Hội Thánh của Chúa đã lần lượt đi từ gần đến xa, người này qua đi người khác thay vào công tác truyền giảng, nên Tin lành đã được loan báo khắp mọi nơi cho mọi người.

“Hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ”. Sau khi hướng dẫn một người về với Chúa, chúng ta phải tiếp tục hướng dẫn người ấy chịu báp-têm. Tin và chịu báp-têm là 2 bước khác nhau mà mỗi người phải đi qua. Nếu đã có dấu hiệu thật lòng tin, mới tiến đến chịu báp-têm. Vì ý nghĩa của báp-têm là đồng chết với Chúa về tội lỗi và đồng sống lại với Ngài trong một đời mới.

“Và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi”. Đã chịu báp-têm vẫn chưa đủ, người tín đồ còn phải tiếp tục học lời Chúa. Một em bé đã được sanh ra còn phải tuần tự lớn lên mãi nhờ thức ăn bổ dưỡng. Hội Thánh phải nỗ lực dạy tín đồ tất cả những điều Chúa đã truyền. Mỗi tuần lễ giảng một bài thật chẳng thấm vào đâu đối với nhu cầu tâm linh của tín đồ. Thân thể phải ăn mỗi ngày chứ không phải mỗi tuần, linh hồn cũng vậy. Hãy tập cho tín đồ biết lượm mana mỗi ngày (Xuất 16:13-36).

“Và này, ta hằng ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Chúa ở cùng chúng ta là đồng công với chúng ta, là hành động qua chúng ta bằng quyền năng của Ngài, để chúng ta làm công việc của Ngài cho đến khi Ngài trở lại.

Chúng ta nói mình hầu việc Chúa. Vậy việc Chúa tại thế gian này là việc gì? Không có việc gì khác ngoài ra các việc vừa kể ra trên đây. Nếu ngày nào Chúa chưa tái lâm để chấm dứt thời đại ân điển này là Ngài còn cho chúng ta cơ hội truyền giảng Tin lành cứu vớt tội nhân, gây dựng Hội Thánh.

II. CHÚA JÊSUS TÁI LÂM.

Ngày Chúa Jêsus tái lâm là ngày vui mừng nhất cho Hội Thánh – song lại là ngày khủng khiếp và tuyệt vọng nhất cho người đời. “Khi ấy điềm Con Người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực và thấy Con Người lấy đại quyền, đại vinh ngự những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy, hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài” (Khải 1:7).

Hội Thánh sẽ được biến hóa và cất lên không trung để gặp Chúa (Phi-líp 3:20); ITê 4:13-18). Tội nhân sẽ bị phán xét trước tòa án trắng (Khải 20:11-15).

Chúa Jêsus sắp tái lâm. Chỉ trong mấy câu cuối cùng của sách Khải huyền có đến ba lần Chúa phán: “Này Ta đến mau chóng” (Khải 22:7,12,20). Nguyện tất cả chúng ta đều đồng thanh với Giăng mà thưa: “Amen, Lạy Chúa Jêsus, xin hãy đến”.

III. TRỜI MỚI ĐẤT MỚI (KHẢI 21:2-5).

Đây là chỗ ở Chúa sắm sẵn cho những kẻ thuộc về Ngài (II Phi-e-rơ 3:13). Đây cũng là cõi đời đời. Đức Chúa Trời đã dựng nên cho chúng ta để sống đời đời với Ngài trong trời mới đất mới. Dầu chúng ta đã phạm tội, Chúa Jêsus đã sẵn sàng chịu chết đền tội chúng ta để thực hiện chương trình vĩ đại đó.

Xin mời bạn hãy nghĩ đến chương trình Chúa dành cho mình. Hãy xin Chúa thực hiện chương trình của Ngài cho chúng ta. Ngay bây giờ hãy quyết định một lần đủ cả là sống cho mục đích đời đời của Đức Chúa Trời.

CÂU HỎI

1. Chương trình của Đức Chúa Trời trong quá khứ là gì?

2. Chương trình của Đức Chúa Trời trong tương lai là gì?

3. Hội Thánh của Chúa gồm những ai?

4. Hãy kể một vài đặc ân của Hội Thánh?

5. Công việc Chúa giao cho Hội Thánh trong thế gian này là gì?

6. Chúng ta phải làm công việc Chúa cho đến chừng nào?

7. Chúa Jêsus tái lâm là hy vọng cho ai?

8. Chúa Jêsus tái lâm để làm gì?

9. Chúa dựng trời mới, đất mới để làm gì?

10. Qua các bài học 9 tháng vừa rồi, đời sống thuộc linh của bạn ra sao?

BÀI 40: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA HỌC BIẾT VÀ LÀM THEO Ý CHỈ NGÀI

Kinh Thánh: Công vụ 8:26-40; II Ti-mô-thê 3:14-17.

Câu gốc: “Chẳng phải những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước Thiên đàng đâu, nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn Cha Ta ở trên trời mà thôi” (Ma-thi-ơ 7:21).

Mệnh Lệnh: “…để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thế nào” (Rô-ma 12:2).

Lời Cầu Nguyện: “Xin dạy tôi theo làm theo ý muốn Chúa, vì Chúa là Đức Chúa Trời tôi” (Thi thiên 143:10).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TÌM Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG VIỆC CHÚNG TA LÀM

(Giăng 7:10-21)

TH:

KINH THÁNH BÀY TỎ Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(II Ti-mô-thê 3:14-17)

TB:

ĐẶT Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRÊN HẾT MỌI SỰ

(Gia-cơ 4:13-17)

TT:

PHẢI VÂNG PHỤC Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Phục truyền 6:17-25)

TN:

VÍ DỤ VỀ VIỆC LÀM THEO Ý CHỈ CỦA CHÚA

(Ma-thi-ơ 25:14-30)

TS:

SỰ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC LÀM THEO Ý CHỈ CỦA CHÚA

(Ma-thi-ơ 7:21-29)

TB:

NHỮNG TẤM GƯƠNG VỀ SỰ TÌM BIẾT Ý CHỈ CỦA CHÚA

(Công vụ 8:26-40; 16:6-10)

Chúng ta đã học về chương trình của Đức Chúa Trời qua các thời đại. Còn 3 tháng cuối cùng nầy, chúng ta học về chương trình của Đức Chúa Trời cho đời sống của mỗi chúng ta.

Chúng ta bắt đầu bài học hôm nay bằng lời cầu nguyện: “Xin Chúa cho chúng con thấy chương trình của Ngài, dạy dỗ chúng con ý chỉ củq Ngài, ban cho chúng con ân tứ để làm theo ý chỉ đó”.

Chúa sẽ trả lời chúng ta bằng cách nào? Làm sao chúng ta biết được ý chỉ của Chúa cho mỗi đời sống của chúng ta? Làm sao chúng ta được dẫn dắt để bước đi mỗi ngày, mỗi giờ trong ý chỉ của Chúa? Xin chú ý các phần sau đây:

I. NHỜ SỰ DẪN DẮT CỦA THÁNH LINH (GIĂNG 16:13).

Thánh Linh ở với chúng ta và ở trong chúng ta, sẵn sàng dẫn dắt chúng ta trong ý chỉ của Đức Chúa Trời, miễn là chúng ta cũng sẵn sàng lắng nghe tiếng êm dịu, nhưng rõ ràng của Ngài. Không hề có người nào là con cái của Đức Chúa Trời mà không được Thánh Linh dẫn dắt (Rô 8:14).

Đang khi sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa để biết ý chỉ của Ngài, Phi-líp được lệnh: “Hãy chờ dậy, đi qua phía nam, trên con đường từ thành Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa. Đường ấy vắng vẻ, người chờ dậy và đi” (Công vụ 8:26-27). Đức Chúa Trời không bảo Phi-líp làm một việc vô lý là bỏ thành phố Sa-ma-ri đông người, đang có kết quả lớn, mà đi đến con đường vắng vẻ. Song Ngài biết trên con đường đó có một người cần được hướng dẫn là hoạn quan Ê-thi-ô-pi, người sẽ đem Tin lành về lục địa Châu Phi.

Để biết ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với mình, Hội Thánh An-ti-ốt đã kiêng ăn cầu nguyện. Trước tấm lòng khao khát đó, Thánh Linh phán với họ: “Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ làm công việc Ta đã gọi làm… Môn đồ liền đặt tay trên hai người, rồi để cho đi” (Công vụ 13:2-3). Hội Thánh thuộc về Chúa, nên một mình Ngài có quyền tuyệt đối kêu gọi và sai đi người nào Ngài muốn, làm việc gì Ngài chỉ định.

Trong vòng truyền giáo thứ hai, Phao-lô và Si-la dự định tiếp tục công tác tại Á Châu vì đang có kết quả. Nhưng Thánh Linh không cho phép. Phao-lô hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với mình là như vậy, nên ông dừng lại và chờ đợi sự hướng dẫn của Ngài. Đêm kia, trong một giấc chiêm bao, Phao-lô biết được Chúa muốn ông qua truyền giáo tại Âu Châu, ông liền tìm cách qua đó (Công vụ 16:6-10).

Sau khi được giải phóng khỏi ách nô lệ của người Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ và vào đồng vắng. Đó là con đường họ chưa từng đi, nên Chúa đã dẫn dắt họ từng bước một bằng trụ mây: “Mỗi khi trụ mây cất lên khỏi trại thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi; trong nơi nào trụ mây dừng lại, thì dân Y-sơ-ra-ên hạ trại ở đó. Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va…” (Dân 9:15-23).

II. NHỜ HỌC LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (II TIMÔTHÊ 3:14-17).

Cách Thánh Linh dẫn dắt chúng ta hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc căn bản trong Kinh Thánh. Dầu Ngài phán trong lòng chúng ta bằng tiếng êm dịu, song Ngài cũng mượn Kinh Thánh mà phán, tức là dùng Kinh Thánh để dẫn dắt chúng ta.

Khi đứng trước một ngã ba đường, không biết phải qua bên hữu hay qua bên tả; khi gặp một nan đề không biết cách nào để giải quyết, nếu chúng ta yên lặng đủ, chờ đợi và sẵn sàng tìm biết ý chỉ của Chúa đói với mình, thì Chúa sẽ dùng Kinh Thánh nhắc lại, và dẫn dắt chúng ta đường nào phải đi, việc chi phải làm. “Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi” (Ê-sai 58:11). “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi, mắt ta sẽ chăm chú mà khuyên dạy ngươi” (Thi 32:8). “Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đằng sau mình rằng: Này là đường đây, hãy noi theo” (Ê-sai 30:21).

Vậy, hãy triệt để áp dụng Kinh Thánh vào nếp sống hằng ngày của mình. Tuy nhiên, không phải đến khi có việc mới mở Kinh Thánh ra xem, rồi vì không biết chỗ nào, nên đã có người làm như thầy bói. Có một câu chuyện buồn cười: Một tín đồ khi có việc, mở Kinh Thánh ra, nhắm mắt lại, lấy ngón trỏ đặt trên một câu. Chẳng may nhằm Ma-thi-ơ 27:5 “Giu-đa liền ném bạc vào đền thờ, trở ra đi thắt cổ”. Xếp Kinh Thánh lại, rồi mở ra, người tín đồ đặt ngón trỏ trên một câu khác, nhằm Lu-ca 10:37 “Hãy đi, làm theo như vậy”!

Chúng ta học Lời Chúa ngay bây giờ, học luôn, chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với những bất trắc xảy ra, với những nhu cầu cấp bách, hầu mỗi khi có việc, chúng ta nhớ ngay Kinh Thánh dạy thế nào về vấn đề này. Phao-lô khuyên Ti-mô-thê: “Từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan…” (II Ti-mô-thê 3:15). Đa-vít nói: “Tôi đã giấu Lời Chúa Trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa” (Thi thiên 119:11). “Giấu” có nghĩa là để dành, tích trữ.

III. NHỜ SỰ CẦU NGUYỆN (I GIĂNG 5:14-15).

Để biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhờ Thánh Linh dẫn dắt chúng ta qua Kinh thánh. Song sau hết và cũng trước hết, chúng ta nhờ cầu nguyện. “Xin dạy tôi làm theo ý muốn Chúa, vì Chúa là Đức Chúa Trời tôi” (Thi thiên 143:10). Bởi sự thông công mật thiết, Đức Chúa Trời có dịp bày tỏ cho chúng ta biết ý chỉ của Ngài, và lúc nào cũng sẵn lòng làm việc đó.

Khi biết được ý chỉ của Chúa, chúng ta phải phục tùng. Nếu không đỗ đạt thành tài mà học hành dang dỡ, chúng ta phải vui lòng hầu việc Chúa theo khả năng của mình. Nếu phải nghèo nàn, chúng ta cũng hầu việc theo ân tứ Chúa cho. Nếu thân thể yếu đuối, chúng ta cũng hầu việc Chúa theo sức mình có (Quan xét 6:14). Dầu thuận cảnh hay nghịch cảnh, chúng ta cứ bước đi theo sự dẫn dắt của Chúa vì biết rằng bất cứ hoàn cảnh nào cũng nằm trong chương trình của Chúa, và Ngài đang khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ngài.

Vậy chúng ta phải hành động ngay, như Phi-líp, như Hội Thánh An-ti-ốt, như Phao-lô, không do dự, không trễ nãi. Hãy reo lên: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi vui mừng làm theo ý Chúa, luật pháp ở trong tôi” (Thi thiên 40:8).

Kẻ nào nghe lời Chúa, biết ý chỉ của Chúa rồi làm theo thì giống như người khôn cất nhà mình trên đá. Dẫu có mưa sa, nước chảy, gió lay xô động nhà ấy, song nó không sập. Trái lại, kẻ nào nghe lời Chúa, biết ý chỉ của Ngài mà không làm theo thì giống như người dại, cất nhà mình trên bãi cát. Có mưa sa, nước chảy, gió lay xô động nhà ấy thì sập ngay, hư hại rất nhiều (Ma-thi-ơ 7:24-29).

Trước mặt chúng ta thường có hai người như vậy. Chúng ta giống như người nào?

CÂU HỎI

1. Phi-líp được Thánh Linh dẫn dắt thế nào?

2. Hội Thánh An-ti-ốt được Thánh Linh dẫn dắt như thế nào?

3. Phao-lô được Đức Thánh Linh dẫn dắt như thế nào?

4. Trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên được Thánh Linh dẫn dắt như thế nào?

5. Ngày nay Thánh Linh dùng cách nào để dẫn dắt chúng ta?

6. Làm sao để chúng ta được Thánh Linh dẫn dắt bằng lời Ngài?

7. Đa-vít và đã dạy chúng ta như thế nào?

8. Sau hết và trước hết, chúng ta nhờ gì mà biết được ý chỉ của Chúa?

9. Sau khi biết được ý chỉ của Chúa, chúng ta phải làm gì?

10. Làm theo ý chỉ của Chúa và không làm theo khác nhau thế nào?

BÀI 41: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA HỌC KINH THÁNH

Kinh Thánh: phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13-21.

Câu gốc: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước” (Giô-suê 1:8).

Mục Đích: Khuyến khích mỗi chúng ta thường xuyên đọc Kinh Thánh và Dùng Kinh Thánh như một quyển sách hướng dẫn đời sống mình.

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài” (Thi 119:18).

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy dò xem Kinh Thánh” (Giăng 5:39).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

CHUYÊN TÂM CHO ĐƯỢC ĐẸP LÒNG CHÚA

(II Tim 2:15; 3:15-17)

TH:

CHUYÊN TÂM ĐỂ BIẾT Ý CHỈ CỦA CHÚA

(Phục truyền 6:6-9)

TB:

HAM THÍCH SỮA THIÊNG LIÊNG CỦA ĐẠO

(I Phi-e-rơ 2:1-7)

TT:

HỌC BIẾT ĐƯỜNG LỐI CỦA CHÚA

(Thi thiên 27:1-14)

TN:

HỌC TẬP ĐỂ BIẾT CÁCH SỐNG

(Giăng 6:48-58)

TS:

HỌC HỎI ĐỂ ĐƯỢC SOI SÁNG

(Giăng 5:39-47)

TB:

HỌC TẬP DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA THÁNH LINH

(Giăng 16:7-16)

Theo Phục Truyền 6:6-9, Đức Chúa Trời muốn dân Y-sơ-ra-ên học Lời Ngài. Chúa cũng muốn chúng ta học Lời Ngài như vậy, vì chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, con cháu đức tin của Áp-ra-ham (Rô 4:16; 9:8; Gal 3:29).

1. Lời Chúa phải ở trong lòng chúng ta.

2. Phải dạy dỗ Lời Chúa cho con cái, nghĩa là in vào trí, khắc vào lòng chúng nó.

3. Phải nói Lời Chúa khi ở nhà hay khi đi đường, khi nằm hay khi ngồi, tức là suy gẫm Lời Chúa ngày và đêm (Thi 1:2), rồi áp dụng Lời Chúa vào hành vi của mình.

4. Phải buộc Lời Chúa nơi tay, để nó nơi trán giữa đôi mắt. Người Dothái bịt khăn ngang trán, nên họ để một câu Kinh Thánh tại đó.

5. Phải viết Lời Chúa trên cột nhà và cửa để thấy và ghi nhớ.

Tóm lại phải giữ Lời Chúa trong nhà, trong thân, trong trí, trong lòng (Giô-suê 1:8).

Lời Chúa mà chúng ta có hôm nay là Kinh thánh.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN VỚI CHÚNG TA QUA KINH THÁNH.

Đức Chúa Trời của chúng ta không như hình tượng câm, có miệng mà không nói (ICôr 12:2; Thi thiên 115:5), song Ngài luôn luôn phán với chúng ta.

Ngài đã phán qua Môi-se và các tiên tri, Ngài đã phán qua Chúa Jêsus và các sứ đồ (Hêb 1:1). Ngài đã bảo họ chép lại lời phán và việc làm của Ngài để lưu truyền hậu thế.

Chúa bảo Môi-se: “Hãy chép điều này trong sách làm kỷ niệm” (Xuất 17:14). “Môi-se chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va” (Xuất 24:4). Đức Giê-hô-va cũng chép lời Ngài trên bảng đá cho dân Y-sơ-ra-ên (Xuất 24:12; 32:15,16). Chúa lại bảo Môi-se: “Hãy chép các lời nầy” (Xuất 34:27). Chúa bảo Giê-rê-mi: “Hãy lấy một cuốn sách, chép vào đó mọi lời Ta đã phán cùng ngươi…” (Giê-rê-mi 36:2).

Cuối cùng, Chúa bảo sứ đồ Giăng: “Vậy, hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến” (Khải 1:19).

Phao-lô đã được Đức Thánh Linh cảm động chép 13 thơ tín từ Rô-ma đến Phi-lê-môn, ông có nhắc: “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được trông cậy” (Rô-ma 15:4).

Vì vậy, tất cả những người được Chúa dùng chép Kinh Thánh đều nhấn mạnh: “Đức Giê-hô-va phán…” Khi Kinh Thánh phán, ấy là lời Đức Chúa Trời phán. Lời Chúa là chân thật, quyền năng, sống động, đời đời. Kinh Thánh là một quyển sách, một bức thơ của Đức Chúa Trời gởi cho nhân loại. Con cái được đọc thơ của Cha yêu dấu là sung sướng vô cùng.

II. ÍCH LỢI CỦA SỰ HỌC KINH THÁNH.

Chúa phán với chúng ta là vì ích lợi cho chúng ta.

1. LỜI CHÚA LÀM CHỨNG CHO CHÚNG TA (IPHI 1:23; GIA-CƠ 1:8):

Chúng ta được sanh lại, trở nên con cái Đức Chúa Trời là công việc của Thánh Linh. Song Thánh Linh dùng Kinh Thánh để cáo trách tội lỗi, soi sáng, cảm động, đưa chúng ta đến sự ăn năn, tin nhận Cứu Chúa Jêsus Christ. Kinh Thánh là một dụng cuđ đắc lực của Thánh Linh.

2. LỜI CHÚA LÀM CHO CHÚNG TA ĐƯỢC LỚN LÊN (I PHI 2:2):

Sau khi được tái sanh, chúng ta cần lớn lên để đạt bậc trưởng thành, có tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Chúa Jêsus. Muốn vậy, chúng ta phải học hỏi, ăn nuốt Lời Chúa như con trẻ ham thích sữa mẹ.

3. LỜI CHÚA LÀM CHO CHÚNG TA ĐƯỢC TẨY SẠCH (GIĂNG 13:5):

Sau khi được cứu, như vừa kể trên, chúng ta còn có những tội lỗi dễ vấn vương, những thói quen không tốt, những tư tưởng bất khiết. Song Lời Chúa như lửa để thiêu hủy mọi sự đó, đồng thời Lời Chúa như nước tẩy sạch tấm lòng của chúng ta (Hêb 10:22).

4. LỜI CHÚA LÀM CHO CHÚNG TA ĐƯỢC NÊN THÁNH (GIĂNG 17:17):

Sau khi được tẩy sạch, Lời Chúa còn giữ gìn chúng ta sạch mãi. Lời Chúa giữ chúng ta khỏi tội lỗi. Ngược lại tội lỗi giữ chúng ta khỏi Lời Chúa. Đa-vít nói: “Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa” (Thi 119:11).

5. LỜI CHÚA NÂNG ĐỠ, AN ỦI CHÚNG TA (THI 19:7; 119:50):

Lời Chúa có một tác động phi thường để nâng đỡ kẻ ngã lòng, an ủi kẻ thất vọng, thêm sức kẻ yếu đuối. Không cứ hoàn cảnh nào, Lời Chúa đều có thể nâng đỡ, an ủi cả.

Tại một xứ kia, có một tín đồ gặp tai nạn mìn nổ làm mất hết hai tay, mù hết đôi mắt. Ông thất vọng vì không còn đọc được Kinh thánh. Nhưng có người bảo ông rằng ông có thể dùng môi để đọc chữ nổi (Braille). Khi Kinh Thánh được đưa đến môi mình ông mới hay chất nổ đã làm cho thần kinh ở môi ông bị tê liệt, nên ông không thể dùng môi mà đọc được. Đang khi thất vọng, ông nhớ đến lưỡi mình. Thế là ông bắt đầu tập đọc Kinh Thánh chữ nổi bằng lưỡi. Ông cho biết: “Tôi đã đọc cả Kinh Thánh 4 lần, có nhiều đọan đã đọc đi rồi đọc lại hàng chục lần mà không chán”.

Đúng như Đa-vít đã nói: “Các lời ấy (Lời Chúa) quý hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong. Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi” (Thi 19:10; 119:103).

III. PHƯỚC HẠNH CỦA SỰ LÀM THEO KINH THÁNH.

Chúng ta biêt Kinh Thánh là Lời Chúa phán với chúng ta. Các lời ấy nhằm mục đích làm lợi ích cho chúng ta. Song muốn hưởng được lợi ích đó, chúng ta không những học, hiểu Lời Chúa mà còn phải làm theo.

Đa-vít nói: “Phước cho người gìn giữ chứng cớ Ngài” (Thi 119:2). Chúa Jêsus phán:”Những kẻ nghe và giữ Lời của Đức Chúa Trời còn có phước hơn” (Lu-ca 11:28). Gia-cơ chép: “Những kẻ nào… hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời” (Gia-cơ 1:25).

Chúa Jêsus đã so sánh người nghe Lời Chúa rồi làm theo giống như người khôn ngoan xây nhà mình trên đá, còn người nghe Lời Chúa mà không làm theo giống như người dại dột, xây nhà trên cát. Đa-vít nói:”Các điều răn Chúa làm cho tôi khôn ngoan hơn kẻ thù nghịch tôi… tôi thông hiểu hơn kẻ già cả, vì cớ gìn giữ các giềng mối Chúa” (Thi 119:98,100). Phao-lô nói với Ti-mô-thê: “Từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan…” (II Tim 3:15).

Kinh Thánh là một quyển sách lời hứa, chứa đựng vô số lời hứa quí báu và chân thật của Chúa chúng ta. Ai muốn hưởng lời hứa đó, phải học cho hiểu rồi cẩn thận làm theo. Lúc nào cũng phải sẵn sàng “quỳ xuống dưới chân Ngài đặng lãnh những lời của Ngài” (Phục 33:3).

Một kẻ sát nhân đang bị giam trong khám, chờ ngày thọ hình. Một quyển Tân Ước được gởi vào biếu anh, song anh không đọc. Thế rồi, vì tò mò, ngày kia anh mở ra xem. Anh say mê đọc mãi miết cho đến chỗ Chúa Jêsus bị đóng đinh và Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu-ca 23:34). Anh viết thơ ra cho bạn: “Lòng tôi cảm động vô cùng. Tôi đã ăn năn và thưa với Chúa: Lạy Chúa Jêsus, xin tha tội cho con”. Và anh đã qua đời bình an.

Xung quanh chúng ta có rất nhiều tội nhân đang thất vọng. Hãy giúp đỡ họ (Châm 24:11).

CÂU HỎI

1. Kể lại 5 điều Chúa dặn phải giữ lời Chúa.

2. Sách nào được kể là Lời của Chúa?

3. Tại sao Kinh Thánh là lời phán của Chúa?

4. Lược kể 5 điều lợi ích của sự học Kinh thánh?

5. Kể lại câu chuyện một tín đồ gặp tai nạn mìn nổ?

6. Muốn hưởng được lợi ích của Lời Chúa phải làm sao?

7. Người làm theo Lời Chúa giống như ai?

8. Thuật lại câu chuyện của một anh sát nhân?

9. Đa-vít xem Lời Chúa quý giá và ngon ngọt như gì?

10. Qua bài học này, chúng ta có quyết định gì đối với Lời Chúa?

BÀI 42: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA CẦU NGUYỆN

Kinh Thánh: Lu-ca 11:1-3.

Câu gốc: “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn, mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 4:6-7).

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy thức canh và cầu nguyện” (Ma-thi-ơ 26:41).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Lạy Chúa, xin dạy chúng tôi cầu nguyện” (Lu-ca 11:1).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy quyền năng lớn lao của sự cầu nguyện và khuyến khích chúng ta luôn luôn cầu nguyện với Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

TN:

CẦU NGUYỆN LÀ CA TỤNG

(Cô-lô-se 1:15-23)

TH:

CẦU NGUYỆN LÀ XƯNG TỘI

(Thi 51; IGiăng 1:9)

TB:

CẦU NGUYỆN LÀ NÀI XIN

(Giăng 15:1-17; IGiăng 15:11-15)

TT:

CẦU NGUYỆN LÀ CẦU THAY

(Giăng 17:1-26)

TN:

CẦU NGUYỆN LÀ TẠ ƠN

(Phi-líp 4:1-13)

TS:

HÃY CẦU NGUYỆN CHO RÕ RÀNG

(Ma-thi-ơ 6:5-15)

TB:

ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÁP LỜI CẦU NGUYỆN (

Thi 118:1-9)

Đức Chúa Trời muốn chúng ta cầu nguyện để Ngài đáp lời hơn là chúng ta muốn cầu nguyện. Dầu đã tin Chúa, chúng ta cũng chưa biết hết năng lực của sự cầu nguyện, cũng chưa nếm đủ phước hạnh của sự cầu nguyện. Kinh Thánh đã nhiều lần, nhiều cách để dạy dỗ, khích lệ, thức tỉnh chúng ta về sự cầu nguyện. Vậy, cầu nguyện là gì? Ai có quyền cầu nguyện? Cầu nguyện với ai? Tại sao phải cầu nguyện? Cầu nguyện khi nào? Cầu nguyện tại đâu? Phải cầu nguyện điều gì? Phải cầu nguyện cách nào? Điều gì ngăn trở sự cầu nguyện? Kết quả của sự cầu nguyện là gì? Trong phạm vi bài này, chúng ta suy gẫm vài điều.

I. Ý NGHĨA CỦA SỰ CẦU NGUYỆN.

Cầu nguyện không những là trình bày mọi nhu cầu của mình, song cặp theo đó còn có những điều khác như:

1. CA TỤNG SỰ VINH HIỂN OAI NGHI CỦA CHÚA:

Những Thi thiên của Đa-vít đều bao hàm ý nghĩa đó. Trong các thơ tín của Phao-lô cũng vậy. Trong cơn đau thương hơn hết, Nê-hê-mi vẫn chúc tụng Chúa trước khi trình bày mọi sự cho Ngài (Nê 1:4,5). Khi vì dân Y-sơ-ra-ên mà cầu nguyện, Đa-ni-ên cũng không quên chúc tụng Chúa (Đa-ni-ên 9:4). Chúng ta phải có thái độ đó đối với Chúa mỗi khi cầu nguyện.

2. CẢM TẠ SỰ NHÂN TỪ, THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA:

Bởi lòng biết ơn mà nhiều người đã được Chúa nhậm lời cầu nguyện. Được Chúa nhậm lời cầu nguyện thì họ biết ơn Ngài càng nhiều hơn. Đa-vít than: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi” (Thi 116:12). Phao-lô la lên: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban cho của Ngài không xiết kể” (IICôr 9:15).

3. CẦU THAY:

Trong khi cầu nguyện, chúng ta hay nghĩ đến người khác mà cầu thay cho họ. Áp-ra-ham đã nghĩ đến Lót, Môi-se đã nghĩ đến dân Y-sơ-ra-ên. Phao-lô nghĩ đến đồng bào mình, Êphápra đã nghĩ đến Hội Thánh mình (Cô-lô-se 4:12). Chúng ta hãy nghĩ đến người yếu đuối, người vấp ngã, người bệnh hoạn, nghèo nàn, bà con, bạn hữu chưa tin Chúa mà cầu thay cho họ. Lời cầu nguyện có giá trị là cầu nguyện cho người khác.

4. ĂN NĂN TỘI:

Trong khi cầu nguyện, đừng quên xét mình trước mặt Chúa mà ăn năn những lỗi lầm đã qua, và xin Chúa tha thứ. Tội lỗi là một cái nút chặn làm cho nguồn phước bị bế tắc. “Tội lỗi các ngươi ngăn trở các ngươi được phước” (Giê 5:25). “Người nào giấu tôi lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó, sẽ được thương xót” (Châm ngôn 28:13). Xưng tội không phải để bị Chúa bắt tội, song xưng tội để được tha thứ. “Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công bình, để tha tội chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (IGiăng 1:9).

5. TRÌNH BÀY LÊN CHÚA MỌI NHU CẦU CỦA MÌNH:

Hãy lấy lòng thành kính, âu yếm, tin cậy mà dâng lên Chúa từng điều, bằng một giỏng nói đơn sơ chứ không cần kêu la, đập bàn, vỗ ghế, giậm chân. Cuối cùng, hãy bởi đức tin mà tạ ơn Chúa trước, vì Ngài đã nghe, đã nhậm. Dầu lần sau, chúng ta phải nhắc lại những điều mình xin, song đừng quên Lời Chúa dạy “Mọi điều ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi” (Mác 11:24). Trước khi làm việc gì, phải cầu nguyện. Phải đặt sự cầu nguyện vào hàng đầu và hàng cuối cùng của mọi việc.

II. LỜI CẦU NGUYỆN ĐƯỢC ĐÁP LẠI.

Khi lời cầu nguyện được đáp lại, chúng ta rất vui mừng. Để được vậy, chúng ta phải biết một vài nguyên tắc căn bản:

1. CẦU NGUYỆN VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI:

Chúa phán: “Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho” (Giê-rê-mi 33:3). “Vậy, Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội Thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn” (Công vụ 12:5). Có nhiều người đã cầu nguyện, song không cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Người này cầu nguyện với Ba-anh (ICác 19:25-28), người nọ cầu nguyện với Ma-ri, nên cả đời họ chẳng được Chúa đáp lời. Chỉ một mình Đức Chúa Trời hằng sống có thể nghe lời cầu nguyện của chúng ta và đáp lại.

2. CẦU NGUYỆN CÁCH BỀN LÒNG:

Phải cầu nguyện luôn chớ hề mỏi mệt (Lu-ca 18:1). Phải khẩn nguyện và nài xin một cách bền lòng. Đa-ni-ên viết: “Ta để mắt hướng về Chúa là Đức Chúa TrờI, lấy sự khẩn nguyện, nài xin với sự kiêng ăn, mặc bao gai đội tro mà tìm” (Đa-ni-ên 9:3). Đa-vít cũng thưa: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy lắng tai về lời cầu nguyện tôi, dũ nghe tiếng nài xin của tôi” (Thi 86:6). Sự nài xin tha thiết và bền lòng có một sức mạnh khiến cho lời cầu nguyện của chúng ta được Chúa nhậm. Chúa Jêsus phán: “Vậy, lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét lẽ công bình cho những người được chọn, là kẻ đêm ngày kêu xin Ngài, mà lại chậm chạp đến cứu họ sao! Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ” (Lu-ca 18:7-8).

3. CẦU NGUYỆN THEO Ý ĐỨC CHÚA TRỜI:

“Xin ý Cha được nên ổ đất như ở trời” (Ma-thi-ơ 6:10). Chúa biết nhu cầu của chúng ta hơn chúng ta biết, nên khi Chúa đáp “không”, cũng tốt như khi Ngài đáp “được”. Khi tiên tri Ê-li ngã lòng, ông cầu nguyện “Ôi Đức Giê-hô-va, đã đủ rồíi! Hãy cất lấy mạng sống tôi…” Ông nằm ngủ để chờ chết. Song hai lần thiên sứ đánh thức ông, bảo: “Hãy chổi dậy mà ăn” (ICác 19:1-8). Môi-se và Giô-na cũng vậy (Dân 11:1-15; Giô-na 4:1-11). Đức Thánh Linh ở trong lòng chúng ta, cầu thay cho chúng ta (Rô-ma 8:26-27). Chúa Jêsus ở bên hữu Đức Chúa Trời, cầu thay cho chúng ta (Rô-ma 8:34; Hêb 7:25). Vậy, chúng ta phải kêu lên luôn “Lạy Chúa, xin dạy con cầu nguyện”

III. NHỮNG ĐIỀU NGĂN TRỞ SỰ CẦU NGUYỆN.

Đành rằng tội lỗi là sự ngăn trở, song ta nên xét, tội lỗi đó là những điều gì?

1. Không vâng lời Chúa (Phục 1:43-45).

2. Không kính sợ Chúa (Châm 1:28-29).

3. Cứng lòng đối với Chúa (Xa 7:8-13).

4. Không có lòng tin cậy Chúa (Hêb 11:6).

Luôn giữ thái độ khiêm cung trước mặt Chúa và nài xin “Đức Chúa Trời ôi, xin hãy tra xét tôi và biết lòng tôi, hãy thử thách tôi và biết tư tưởng tôi, xin xem thử tôi có lối ác nàochăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời” (Thi 139:23-24).

Nếu ôn lại kỹ càng, chúng ta phải ngạc nhiên, vì lắm điều chúng ta chưa cầu xin, Chúa đã cho, vì Ngài cung cấp nhu cầu đúng lúc. Ngược lại, có những điều chúng ta đã cầu xin, Chúa chưa cho vì chưa cần. Một cậu bé thấy cha dùng dao cạo râu mỗi sáng, cậu thích lắm nói: “Xin ba cho con dao đó để con cũng cạo như ba vậy”. Cha đáp: “Ba sẽ cho con dao khi nào con cần. Nhưng bây giờ con chưa cần nó”.

CÂU HỎI

1. Chúa muốn chúng ta cầu nguyện để làm gì?

2. Cầu nguyện là gì? Xin mỗi bạn giải thích một phần.

3. Chúng ta phải cầu nguyện với ai?

4. Cầu nguyện bền lòng là thể nào?

5. Cầu nguyện theo ý Đức Chúa Trời có nghĩa gì?

6. Tại sao khi Chúa đáp “không” cũng tốt như khi Ngài đáp “được”?

7. Thường có những điều gì làm trở ngại sự cầu nguyện?

8. Tại sao có những điều chúng ta chưa xin, Chúa đã cho?

9. Tại sao có những điều chúng ta xin, Chúa chưa cho?

10. Xin bạn nghĩ đến cách nào để có thêm nhiều nhóm cầu nguyện trong Hội Thánh?

BÀI 43: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA DÂNG HIẾN

Kinh Thánh: IICor 8:1-15; Ma-la-chi 3:8-10.

Câu gốc: “Hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình” (Rô 6:13b).

Mục Đích: khuyến khích mỗi chúng ta dâng thì giời, ân tứ, tiền bạc cho Chúa.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy cho, thì các ngượi sẽ được lại.” (Lu-ca 9:38).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết ban cho, không phải phàn nàn hay là vì ép uổng, vì Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng.” (IICôr 9:7).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

DÙNG LỜI CẦU NGUYỆN

(Giăng 14:11-26)

TH:

CÁCH DÙNG THÌ GIỜ

(Truyền 12:1; Ê-phê-sô 5:16; I Phi 4:1-5)

TB:

SỰ HẦU VIỆC CHÚA

(Mat 25:14-30; Công 2:41-47; ICôr 3:9)

TT:

SỬ DỤNG TIỀN BẠC

(A-ghê 2:8; Ma-la-chi 3:8-10; I Tim 6:17-18)

TN:

CÁCH DÙNG TÀI SẢN

(Lê-vi ký 27:30-32; Thi 24:1)

TS:

ĐỨC CHÚA TRỜI BAN CHO

(Giăng 3:16; Rô-ma 6:23; 8:32; IICôr 9:15; Gia-cơ 1:17)

TB:

CHÚNG TA SẼ CHO NHƯ THẾ NÀO

(Lu-ca 6:38; Công 20:35; IICôr 9:6-7)

Mọi điều chúng ta có đều thuộc về Đức Chúa Trời, thậm chí chúng ta cũng thuộc về Ngài, vì cả vũ trụ là của Ngài.

“Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó đều thuộc về Đức Giê-hô-va” (Thi 24:1).

“Bạc là của Ta, vàng là của Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (A-ghê 2:8). “Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến, và mọi vật chúng tôi đã dâng cho Chúa, chẳng qua là đã thuộc về Chúa” (I Sử 29:14).

Nhưng Chúa giao cho chúng ta mọi sự như kể trên theo tư cách chúng ta là quản gia, chỉ có quyền quản lí tài sản của Ngài. “Vậy ai nấy hãy coi chúng tôi như đầy tớ của Đấng Christ, và kẻ quản trị những sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời” (ICôr 4:1). “Mọi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời” (I Phi-e-rơ 4:10).

Thế thì, anh chị em và tôi là quản gia của Chúa. Mạng lịnh của Chúa cho các quản gia là gì? – Ban cho, phân phát, phục vụ, sinh lợi. Ai nấy phải sử dụng thì giờ, cơ hội, ân tứ, khả năng, tiền bạc, của cải để làm lợi cho nhà Đức Chúa Trời là Hội Thánh.

I. DÂNG HIẾN THÌ GIỜ.

Chúa cho mỗi ngươi có thì giờ. Thì giờ rất quí, quí hơn tiền bạc. Tiền bạc mất còn dễ kiếm tiền bạc khác, song thì giờ qua là mất. Đời chúng ta rất ngắn ngủi, nên thì giờ rất hiếm hoi. Viết thơ cho tín đồ, Phao-lô khuyên: “Vậy hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan. Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu” (Ê-phê-sô 5:15-16).

Người khôn ngoan là người xem quí thì giờ và biết lợi dụng thì giờ. Không đợi ngày mai, vì ngày mai là ngày không có. Chúng ta không có quyền ở ngày mai, mà chỉ có quyền ở ngày nay. Việc gì nên làm, phải làm, thì làm ngay bây giờ. “Kìa hiện nay là thì thuận tiện, kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi” (IICôr 6:2).

Hãy chụp lấy cơ hội, vì nó có cánh bay rất mau, không tìm lại được, nhất là cơ hội hầu việc Chúa. bao nhiêu người đã bỏ mất thì giờ, cơ hội qúi hơn vàng, trong khi đáng xử dụng vào việc của Chúa. Chúng ta chớ như người dại dột nữa, nhưng như người khôn ngoan. Bà Ê-xơ-tê có một cơ hội tốt nhất để hầu việc Chúa, cứu giúp đồng bào mình mà Mạc-đô-chê gọi là “cơ hội này” (Ê-xơ-tê 4:12-15). Ê-xơ-tê là người khôn ngoan đã tận dụng thì giờ và cơ hội Chúa cho, nên bà đã cứu giúp được đồng bào mình trong cơn tuyệt vọng. Chúa cũng cho mỗi chúng ta có thì giờ và cơ hội như vậy để hầu việc Ngài, tùy phạm vi và quyền hạn của chúng ta.

Môi-se sống 120 tuổi, song so với cõi đời đời, ông cảm thấy thì giờ của ông ngắn ngủi quá. Ông đã kêu lên: “Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày của chúng tôi, hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi thiên 90:12). Chúng ta không đếm cát đá mà đếm vàng bạc, vì vàng bạc rất quí. Chúng ta cũng phải đếm mỗi ngày Chúa cho chúng ta sống, chúng ta phải quí và xử dụng thì giờ đúng lúc, đúng chỗ để lợi ích tối đa. Nhiều người đã không quí trọng những ngày Chúa cho mình như quí trọng vàng bạc, nên họ đã phung phí một cách oan uổng trong cuộc cờ, chén rượu. Xin mỗi chúng ta hãy cầu nguyện như Môi-se.

Phao-lô cũng là người khôn ngoan, sau khi gặp Chúa, ông đã bắt đầu làm chứng cho người thành Đa-mách, trở về Giê-ru-sa-lem, ông làm chứng cho người tại đó. Trọn một năm, ông hiệp tác với Ba-na-ba gây dựng Hội Thánh tại An-ti-ốt. Kế đó, ông được Chúa sai đi 3 vòng truyền giáo cho thế giới với Ba-na-ba và Si-la. Khi dừng chân tại một nơi nào, ông lấy thì giờ viết thơ. Ông đã viết 9 thơ tín gởi cho các Hội Thánh Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, và cho ông Phi-lê-môn. Trước mặt các trưởng lão Ê-phê-sô, Phao-lô xác nhận ông không né tránh trách nhiệm truyền giảng Tin Lành cho họ, nên ông khẳng định rằng ông tinh sạch về huyết của họ (Công 20:20, 27). Từ khi tin Chúa cho đến ngày qua đời. Phao-lô chỉ có thời gian 30 năm. Ông đã tận dụng thì giờ ngắn ngủi đó để hầu việc Chúa.

II. DÂNG HIẾN ÂN TỨ.

Trong Ma-thi-ơ 25:14-30, Chúa dùng thí dụ về một ông chủ có nhiều đầy tớ. Trước khi đi xa, ông giao cho mỗi người một số ta lâng bạc để làm lợi ra. Chúa muốn nói về các ân tứ đã ban cho chúng ta để hầu việc Ngài. Người nầy 5, người kia 2, người nọ 1, tùy tài năng của mỗi người. Song kết quả là theo lòng trung tín hay không. Nhờ hầu việc Chúa, người nhận 5 làm lợi được 5; người nhận 2 làm lợi được 2. Cả hai đều được Chúa khen thưởng y như nhau. Song người nhận được 1 thì đem đi chôn, không làm gì nữa cả. Khi tính sổ, Chúa trách: “Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác… đầy tớ vô ích”. Người nầy không hề được khen thưởng mà chỉ bị quở phạt.

Chúng ta phải chịu trách nhiệm xử dụng ân tứ Chúa cho để hầu việc Ngài. Vậy, đừng biếng nhác mà phải siêng năng.

III. DÂNG HIẾN TIỀN BẠC.

Chúa cho chúng ta quyền quản lý tiền bạc cũng như quản lý thì giờ và ân tứ. Chúng ta không là chủ của tiền bạc, Chúa mới là Chủ. Vậy, chúng ta phải xử dụng tiền bạc đúng với mạng lịnh của Chúa, vì ai nấy phải tính sổ với Ngài.

Ví dụ: Về thì giờ, chúng ta tưởng rằng mỗi tuần có 7 ngày, chúng ta dùng ngày thứ nhất để thờ phượng Chúa và 6 ngày còn lại chúng ta được tự do, muốn đi đâu thì đi, làm chi thì làm? Không! Cả 7 ngày đều thuộc về Chúa. Chúng ta không được phép dùng một ngày, một giờ đi đâu, làm gì không đẹp lòng Ngài. Về tiền bạc, chúng ta tưởng rằng sau khi dâng phần mười, 9 phần chúng ta còn lại chúng ta được tự do, muốn tiêu pha thế nào tuỳ ý. Không! 9 phần kia cũng thuộc Chúa cả. Chúng ta có thể dùng số đó mua thức ăn, quần áo và mọi vật cần thiết, mà không được phép mua một đồng thuốc là hoặc một đồng rượu, hay một đồng vé hát. Chúa đã chịu đổ huyết vô cùng quí báu không phải chỉ để được một phần bảy thì giờ, phần mười tiền bạc của chúng ta, mà để được chúng ta một cách trọn vẹn, trăm phần trăm.

Sau khi đã dâng một phần mười vào ngân quĩ Hội Thánh, còn 9 phần kia chúng ta chỉ dùng cho mình? Không! Phải dùng số tiền đó cho nhu cầu của người khác nữa.

Đức Chúa Trời là Đấng ban cho, đã ban cho muôn vật, thậm chí cũng ban cho Con độc sanh của Ngài. Ngài muốn chúng ta là kẻ quản lí tài sản của Ngài cũng phải ban cho. “Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh”.

Phao-lô đã khen tặng Hội Thánh Ma-xê-đoan (IICôr 8:1-5):

Câu 2. Đang khi gặp nhiều hoạn nạn thử thách thì rất nghèo khổ là đương nhiên, song chính lúc ấy, họ đã rãi rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình. Tiền bạc quá eo hẹp, song lòng quá rộng rãi, tiền bạc quá thiếu thốn, song lòng quá dư dật.

Câu 3,4. Khi nghe tín đồ Giê-ru-sa-lem đói kém, họ nài xin Phao-lô cho họ được dự phần giúp đỡ. Chắc ban đầu Phao-lô từ chối vì thấy họ nghèo quá, song cuối cùng ông chấp nhận. Khi được phép họ lạc quyên hết sức, hoặc quá sức. Họ muốn được quyên tiền, họ muốn được ban cho.

Câu 5. Phao-lô không ngờ họ quyên được nhiều quá điều ông tưởng. Bí quyết là họ đã dâng mình cho Chúa. Đã dâng mình cho Chúa nên rất dễ mà chịu nhiều hoạn nạn, thử thách, rất dễ mà ban cho, không có tiếc chi cả, có tiếc chăng là tiếc không được ban cho.

Trước đây hơn mười năm, một thanh niên tín đồ từ Trung Hoa lục địa ra nước ngoài, và làm chứng tại một đại hội Tin Lành: “Hội Thánh Trung Hoa ngày nay không còn là một Hội Thánh nhận lãnh mà là một Hội Thánh ban cho. Mỗi nhóm tín đồ đều dâng tiền mà không ai chịu nhận. Tiền đó chỉ dành cho người đau yếu, thiếu thốn”.

Nguyện Hội Thánh Việt Nam là một Hội Thánh ban cho.

CÂU HỎI

1. Chức vụ Chúa giao cho mỗi chúng ta là gì?

2. Chúng ta phải lợi dụng thì giờ để làm gì?

3. Đếm các ngày của mình có nghĩa là gì?

4. Chúa ban ân tứ cho mỗi chúng ta để làm gì?

5. Tại sao có một đầy tớ phải bị trách phạt?

6. Tại sao chúng ta đã dâng 1/10 tiền bạc vẫn chưa đủ?

7. Ngoài ra dâng phần mười cho Chúa, chúng ta phải dùng tiền bạc làm gì nữa?

8. Hội Thánh Ma-xê-đoan là một Hội Thánh thế nào?

9. Hội Thánh Trung Hoa ngày nay là một Hội Thánh thế nào?

10. Chúng ta muốn Hội Thánh Việt Nam như thế nào?

BÀI 44: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA TRUYỀN GIẢNG

Kinh Thánh: Ê-sai 6:1-9; Ma-thi-ơ 28:18-20

Câu gốc: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ” (Ma-thi-ơ 28:19).

Mục Đích: Khuyến khích mỗi chúng ta nhận lãnh công tác đem Tin Lành của Chúa đến cho thế gian.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 16:15).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Lạy Chúa, tôi phải làm chi?” (Công vụ 22:10).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

HÃY ĐI KHẮP THẾ GIAN

(Ma-thi-ơ 28:18-20; Mác 16:15-18; Công 1:8)

TH:

RA ĐI LẬP TỨC

(Công Vụ 8:26-37)

TB:

VÂNG LỜI MÀ RA ĐI

(Công Vụ 9:1-19)

TT:

RA ĐI KHI ĐƯỢC SAI PHÁI

(Xuất 3:1-22).

TN:

RA ĐI KHÔNG SỢ HÃI

(Xuất 4:1-13)

TS:

RA ĐI LÀM SỨ MẠNG

(Ê-sai 6:1-9)

TB:

SẴN SÀNG RA ĐI

(Lu-ca 22:33; Công vụ 21:13; Rô-ma 1:14-17; II Tim 4:6)

Dầu Chúa Jêsus đã hoàn thành sự cứu rỗi, song tội nhân vẫn hư mất như thường nếu chúng ta hông đi truyền giảng. Vì vậy trước khi về trời, Ngài đã giao lại cho các môn đồ một công tác trọng đại nhất:

– “Vậy hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta” (Ma-thi-ơ 28:19 Bản nhuận chánh).

– “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin lành cho mọi người” (Mác 16:15).

– “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).

– “Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20b). Lời hứa này bao hàm một mạng lịnh là chúng ta phải đi truyền giảng cho đến tận thế, tức ngày Chúa tái lâm.

Nếu chính phủ thiết lập một dự án xây đập lấy nước, thì chúng ta không thể nghĩ rằng đó là một việc của một người làm được, mà phải có hàng vạn người. Song cũng không phải mỗi người làm theo ý mình mà không cần sự giám sát của ai. Trái lại mỗi người phải nhất trí thi hành lệnh trên đưa xuống. Đó là một hình ảnh nhỏ mọn cho chúng ta thấy công cuộc truyền giảng Tin lành cho thế giới là vĩ đại dường nào!

Để thi hành mạng lịnh của Chúa, chúng ta phải suy gẫm mấy điều như sau:

I. LỆNH CHÚA SAI ĐI.

Chữ quan trọng cho các câu trên kia là “HÃY ĐI VÀ LÀM CHỨNG”. Đó là hai công tác chính của Hội Thánh, đó là nhiệm vụ của mỗi Cơ đốc nhân. Đừng bao giờ nghĩ rằng người chưa tin Chúa sẽ tìm đến chúng ta trong nhà thờ. Không! Chúng ta phải tìm đến họ. Con chiên lạc không thể tìm người chăn, hoặc tự động trở về ràn, mà người chăn phải tìm con chiên lạc và đem nó về ràn. Nếu Chúa Jêsus cứ ngồi trên trời thì chúng ta hư mất hết thảy. Song Ngài đã ra đi. Chúa phán: “Con Người đã đến để tìm và cứu kẻ bị mất… Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người” (Lu-ca 19:10; Ma-thi-ơ 20:28).

Khi đã đến trần gian, Chúa không ngừng đi đến các thành phố, làng mạc, chữa bịnh, đuổi quỉ, giảng dạy, kêu gọi mọi người (Ma-thi-ơ 4:23; 9:35; 11:1; Mác 1:38). Chưa hết, Ngài đã đến tận đồi Gô-gô-tha, trên thập tự giá. Tại đó, Ngài phán: “Xong rồi” (Giăng 19:30).

Hội Thánh trải qua các đời đã lần lượt và TIẾP TỤC RA ĐI LÀM CHỨNG. Nếu không vậy, chắc Tin lành chưa đến Việt nam. Song trên thực tế, Tin lành đã đến Việt nam, đến tận thành phố, làng mạc của chúng ta, thậm chí cũng đến tận nhà của chúng ta nữa. Sau khi được cứu, chúng ta có trách nhiệm đem Tin lành đến tận nhà người khác. Phi-e-rơ đã đến thành Sê-sa-rê, tận nhà Cọt-nây, Phi-líp đã đến gặp hoạn quan Ê-thi-ô-pi. A-na-nia đã đến gặp Sau-lơ tại thành Đa-mách. Phao-lô đã đến giảng giữa công chúng, giảng từ nhà này sang nhà khác, làm chứng cho người Do thái lẫn người Hy lạp (Công vụ 20:20-21).

Chúa khích lệ chúng ta bằng một câu quí báu: “NHỮNG BÀN CHÂN CỦA KẺ RAO TRUYỀN TIN LÀNH LÀ TỐT ĐẸP BIẾT BAO” (Rô-ma 10:15). Chúng ta hãy ao ước có bàn chân đó.

II. NƠI CHÚNG TA ĐI

Chúng ta truyền giảng Tin lành trong phạm vi trách nhiệm của mình. Hãy bắt đầu từ gia đình như Anh-rê làm chứng cho anh là Phi-e-rơ. Kế đó nữa là làm chứng trong sở làm, trong trường học, giữa vòng bà con, giữa vòng người lân cận. “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn” (Lu-ca 16:10), “ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều” (Ma-thi-ơ 25:21,23). Ai sẵn sàng làm bất cứ việc gì hoặc nhỏ hay lớn, đi bất cứ nơi nào hoặc xa hay gần mà Chúa chỉ bảo, sẽ được Chúa trọng dụng.

Làm chứng là nói cho mọi người về ân điẻn của Chúa đã cứu mình. Đừng hổ thẹn về Chúa. Hãy nghe lời Phao-lô khuyên: “Vậy, con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ, nhưng phải cậy quyền phép Đức chúa Trời mà chịu khổ với Tin lành” (IITim 1:8). Hãy nghe lời chứng của ông khi ngồi tù: “Phần nhiều trong anh em nhân tôi bị xiềng xích mà có lòng tin rất lớn trong Đấng Christ, dám truyền đạo Đức Chúa Trời, chẳng sợ hãi gì hết” (Phi-líp 1:14). Hãy nghe lời cầu nguyện của Hội Thánh đầu tiên: “Nầy, xin Chúa xem xét sự họ ngăm dọa và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ”. Và đây là kết quả: “Khi đã cầu nguyện, nơi nhóm lại rúng động, ai nấy đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ” (Công 4:29,31).

Mạng lịnh của Chúa là “Hãy đi khiến muôn dân… Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người”. Giảng cho muôn dân, giảng cho mọi người. Dầu họ là ai cũng bởi Chúa sinh ra, Chúa thương họ, Chúa chết vì họ. Chúa muốn họ được cứu. Đặc tính của Tin lành là bớt thù thêm bạn, biến kẻ thù trở nên bạn hữu, biến tội nhân trở nên thánh nhân, biến con cái ma quỉ trở nên con cái Đức Chúa Trời, biến đá trở nên con cháu Áp-ra-ham. Chúa cho cơn bắt bớ xảy ra để đưa Phao-lô đến làm chứng cho tổng đốc Phê-lít, Phê-tu, vua Ạc-ríp-ba, đúng như chương trình đã định (Công vụ 9:15).

III. PHƯƠNG PHÁP CHÚNG TA TRUYỀN GIẢNG

1. CHO TỪNG NGƯỜI:

Chúa BẢO mỗi người phải làm chứng, phải làm chứng cho từng người tại bất cứ nơi nào mình gặp được trên thế giới. Đành rằng phải truyền giảng giữa công chúng như trong nhà thờ, nhưng cách này không phải ai làm cũng được, không phải lúc nào cũng được. Còn sự làm chứng cho từng người thì ai cũng làm được. Trong thế giới có những chiến dịch truyền giảng một lần cho hàng mấy vạn người. Song kết quả là do các Cơ đốc nhân đã làm chứng cho từng người. Chiến dịch tạo cho các thân hữu cơ hội quyết định và bày tỏ đức tin. Nếu một chiến dịch như vừa kể mà không do các Cơ đốc nhân làm chứng trước cho từng người thì không kết quả bao nhiêu hay không kết quả gì cả. Có những người không bao giờ chịu đi đến nhà thờ hay bất cứ một nơi công cộng nào để nghe giảng, song họ bằng lòng nghe lời làm chứng của bạn bè. Họ quan niệm rằng Mục sư là người ăn lương nên phải giảng, còn tín đồ không vì một lý do nào khác hơn là đã được ban phước nên muốn người khác cũng được phước như mình. Hai công chức kia được cử đến dự một buổi lễ trong nhà thờ. Khi ra về, một người nói: “Ông Mục sư giảng hay quá!” Người bạn đáp: “Nào có lạ gì, đó là một cán sự chuyên môn mà”.

2. BẰNG ĐỜI SỐNG:

Chúng ta hãy đem chính đời sống mình bảo đảm cho lời làm chứng của mình, để đồng bào vừa nghe chúng ta nói mà cũng vừa thấy chúng ta làm. Các sứ đồ đã dùng huyết họ đóng ấn cho đức tin họ, vì hết thảy đều tử đạo. Các tín đồ trong những thế kỷ đầu tiên cũng vậy. Ngày nay, chúng ta chưa cần tử đạo. Tử đạo chỉ có một lần, trong giờ phút nào đó, còn sống đạo là suốt cả đời. Xin Chúa cho chúng ta nói được như Phao-lô: “Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe nơi tôi và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em” (Phi-líp 4:9).

“Đâu có ý chí, đó có phương pháp”. Sau khi học bài này, anh chị em thảo luận để biết Hội Thánh của mình có phải là Hội Thánh truyền giảng hay không? Mỗi người có phải là tín đồ truyền giảng hay không? Đời sống của anh chị em có phải là đời sống truyền giảng hay không? Nguyện chúng ta sẵn sàng thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, có con đây, xin hãy sai con” (Ê-sai 6:8).

CÂU HỎI

1. Trước khi về trời, Chúa giao lại một công tác trọng đại cho chúng ta. Công tác đó là gì?

2. Câu nào Chuá bảo chúng ta phải truyền giảng cho đến tận thế?

3. Hai công tác quan trọng của Hội Thánh là gì?

4. Chúa Jêsus đã làm gương thế nào về việc này?

5. Nhờ đâu Tin lành đã đến Việt nam?

6. Chúng ta phải làm chứng cho ai trước nhất?

7. Trong vấn đề này, đặc tánh của Tin lành là gì?

8. Tại sao truyền giảng cho từng người là quan trọng hơn truyền giảng cho cả đám đông?

9. Giảng bằng đời sóng là gì?

10. Bạn có quyết định gì sau khi học bài này?

BÀI 45: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA SỐNG YÊU THƯƠNG

Kinh Thánh: Giăng 15:12-17; ICôr 13.

Câu gốc: “Điều răn của ta đây này: các ngươi hãy yêu nhau cũng như ta đã yêu các ngươi” (Giăng 15:12).

Mục Đích: Cho chúng ta thấy phải yêu Chúa và yêu nhau.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Ngươi phài hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và yêu người lân cận như mình” (luca 10:27).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Lạy Chúa, xin Chúa giúp chúng con được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự hay biết” (Ê-phê-sô 3:19).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

YÊU THƯƠNG NHAU

(Giăng 15:12-17)

TH:

YÊU THƯƠNG ĐỨC CHÚA TRỜI

(Phục 6:5; 11:1-16; Ma-thi-ơ 22:36-38)

TB:

TÌNH YÊU THUỘC VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

(IGiăng 4:7-21)

TT:

TÌNH YÊU HAY NHÂN TỪ

(Rô-ma 12:10-21; 13:10)

TN:

TÌNH YÊU LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG

(ICôr 13:1-13)

TS:

TÌNH YÊU LÀM VỪA LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI

(IGiăng 2:3-17)

TB:

TÌNH YÊU TRONG VIỆC LÀM VÀ LẼ THẬT

(IGiăng 3:11-24)

Chúng ta là những tội nhân đáng chết, song được cứu bởi tình yêu của Chúa. Chúng ta được tương giao với Chúa trên một nền tảng là tình yêu. Vì vậy, Chúa muốn chúng ta cứ sống trong tình yêu, và nhất cử nhất động đều phát xuất từ tình yêu.

Người có tình yêu thì chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật, hay nhịn nhục, hay nhân từ, hay dung thứ mọi sự, hay tin mọi sự, hay trông cậy mọi sự, hay nín chịu mọi sự.

I. YÊU CHÚA.

Điều răn thứ nhất và lớn hơn hết là Yêu Chúa. Sau khi sống lại, Chúa Jêsus đã hỏi Phi-e-rơ 3 lần: “Ngươi yêu ta chăng?” Phi-e-rơ phải xác nhận 3 lần: “Tôi yêu Chúa”. Rồi cũng 3 lần Chúa bảo:”Hãy chăn chiên ta” (Giăng 21:15-17).

Hội Thánh Ê-phê-sô có nhiều điều đáng khen, song không có thể bù vào một điều đáng trách là bỏ lòng yêu mến ban đầu. Vì vậy, Chúa kêu gọi họ ăn năn, để yêu Chúa như ban đầu, bằng không Chúa sẽ bỏ họ. Một Hội Thánh không có tình yêu là một Hội Thánh đáng bỏ. Thiếu gì còn cho qua được, song thiếu tình yêu thì không cho qua được đâu.

Như chồng khao khát tình yêu của vợ, cha mẹ khao khát tình yêu của con, thì Chúa cũng khao khát tình yêu của chúng ta. Không có gì thay thế được tình yêu. Chúng ta có thể sốt sắng đến tận tâm lo việc Hội Thánh, song không vì yêu Chúa mà chỉ vì yêu mình, không vì danh Chúa mà chỉ vì danh mình, không phải để Chúa được tôn vinh mà chỉ để tự tôn vinh. Hôn là một dấu hiệu tốt đẹp của tình yêu, song cái hôn của Giu-đa lại không phải là dấu hiệu của tình yêu mà là dấu hiệu của phản bội. Chúa hỏi “Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con Người sao?” (Lu-ca 22:48).

Dầu chúng ta có yếu đuối mà vấp phạm như Phi-e-rơ, song chúng ta cũng phải thành thật mà thưa như ông: “Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa”. Đa-vít cũng đã long trọng tuyên bố: “Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 18:1; 116:1).

II. YÊU NGƯỜI.

Đức Chúa Trời là tình yêu. Chúa Jêsus thể hiện tình yêu. Tin lành là tôn giáo tình yêu. Đã được cứu bởi tình yêu, chúng ta phải đối đãi nhau bằng tình yêu. Chúa bảo chúng ta yêu nhau như Ngài đã yêu chúng ta (Giăng 13:34; 15:12).

1. Yêu nhau là dấu hiệu chúng ta đã được cứu, được sanh lại bởi Đức Chúa Trời (IGiăng 3:14; 4:7).

2. Yêu nhau là dấu hiệu Đức Chúa Trời đang ngự trong chúng ta (IGiăng 4:12).

3. Yêu nhau là dấu hiệu chúng ta yêu Chúa (IGiăng 4:21).

4. Yêu nhau là dấu hiệu chúng ta là môn đồ của Chúa (Giăng 13:35).

Chúa cũng bảo chúng ta yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình, như Đức Chúa Trời khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng người lành, làm mưa cho kẻ công bình và kẻ độc ác. Yêu người yêu mình, yêu người đáng yêu thì ai cũng yêu được, song yêu người ghét mình, yêu người không đáng yêu mới thật là yêu, vì đó là tình yêu của Chúa. Ngài đã yêu như vậy (Ma-thi-ơ 5:43-48).

III. CHỨNG CỚ CỦA TÌNH YÊU:

Tình yêu thật không phải bằng lời nói và lưỡi mà bằng việc làm và lẽ thật (IGiăng 3:18).

1. ĐỐI VỚI CHÚA:

Nếu thật lòng yêu Chúa, thì chứng cớ là:

a. Dâng mình cho Chúa (Rô-ma 12:1):

Chúa yêu chúng ta nên đã tự hiến thân Ngài làm của lễ đền tội cho chúng ta. Đó là bằng cớ. Chúng ta yêu Chúa thì phải tình nguyện dâng thân thể mình là của lễ sống và thánh để đẹp lòng Ngài. Dâng thân thể có nghĩa là dâng trọn đời mình. Để đẹp lòng Chúa, chúng ta không thể dâng ít hơn. Chúa đổ huyết ra mua chuộc chúng ta là mua chuộc toàn bộ con người của chúng ta. Hết lòng yêu Chúa thì không thể giữ lại một phần nào cho mình, mà dâng cả cho Chúa. Ma-ri chỉ có một bình dầu cam tòng hương rất quí giá. Bởi yêu Chúa bà đã dâng hết dầu đó cho Ngài, vì đời bà cũng đã được dâng lên cho Ngài như vậy. Vì thế, Chúa rất đẹp lòng và phán rằng: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ nơi nào Tin lành này được giảng ra thì người ta cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người” (Ma-thi-ơ 26:13).

b. Giữ gìn Lời Chúa (Giăng 14:15; 15:10):

Người thật lòng yêu Chúa, không những dâng mình cho Ngài song đồng thời cũng giữ gìn lời Ngài. Vì đó cũng là một chứng cớ. Không thể có một người yêu Chúa mà không giữ gìn lời Ngài. Chúa trách: “Sao các ngươi gọi Ta là Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán” (Lu-ca 6:46). Chúa buồn về sự cứng lòng của người Do thái (Mác 3:5). Hãy nghe Chúa phán về chính mình Ngài: “Nhưng thế gian phải biết rằng Ta yêu Cha Ta và làm theo điều Cha đã phán dặn” (Giăng 14:31). Vì vậy, Đức Chúa Cha đã phán về Con Ngài: “Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Ma-thi-ơ 3:17; 17:5).

2. ĐỐI VỚI NGƯỜI:

Nếu thật lòng yêu người thì chứng cớ là:

a. Làm chứng cho họ:

Yêu ai là muốn cho họ được cứu như mình. Muốn cho họ được cứu, chúng ta phải làm chứng cho họ. Dân thành Giê-ru-sa-lem đã dự phần đóng đinh Chúa, song sau khi sống lại và trước khi về trời, Chúa dặn dò các môn đồ phải bắt đầu làm chứng tại Giê-ru-sa-lem, nên đã có hàng ngàn người được cứu trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Vì yêu người, Phao-lô đã kêu lên: “Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân Y-sơ-ra-ên cầu nguyên cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu”. Không những cầu nguyện, ông cũng sốt sắng làm chứng. Từ khi tin Chúa cho đến ngày Phao-lô qua đời vào khoảng 30 năm. Trong thời gian đó, ông đã đi trên bộ, dưới thuyền chỉ để làm chứng cho mọi người.

b. Chia xẻ của cải mình cho họ:

“Nếu ai có của cải đời này thấy anh em mình đương cùng túng mà chặt dạ thì lòng yêu mến của Đức Chúa Trời chẳng ở trong người đó” (IGiăng 3:17).

Chứng cớ của tình yêu thật là chia xẻ cho anh em mình của cải thuộc thể cũng như của cải thuộc linh. Có người cho mà không yêu nhưng không hề có người yêu mà không cho. “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài…” Yêu nhiều, chúng ta sẽ cho nhiều, và cho những gì tốt nhất.

Sau khi học bài học này, chúng ta bày tỏ chứng cớ của tình yêu đối với Chúa và đối với người bằng sự vâng lời Ngài mà “thăm viếng kẻ mồ côi và người góa bụa”, chăm sóc người nghèo khổ, đau yếu, tật nguyền. Hội Thánh nào đã lập ra quỹ tương trợ là điều đáng khích lệ lắm.

Làm sao để chúng ta có thể yêu Chúa như Chúa dạy? – Lòng mình vị kỷ, lòng Chúa vị tha. Ma quỉ ghen ghét, Chúa rất yêu thương. Khi nào Chúa ngự trị lòng mình, tức thì Sa-tan bị trục xuất. Được Chúa ngự trị, Ngài đổ tuôn tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, và chúng ta yêu Chúa, yêu nhau bằng chính tình yêu của Chúa.

CÂU HỎI

1. Chúng ta được Chúa cứu trên nền tảng nào?

2. Tại sao Chúa trách Hội Thánh Ê-phê-sô?

3. Giu-đa đã hôn Chúa, song tại sao chúng ta biết ông không yêu Ngài?

4. Chúa bảo chúng ta yêu người như thế nào?

5. Yêu người là dấu hiệu của những sự gì?

6. Nếu chúng ta thật lòng yêu Chúa thì phải làm gì?

7. Nếu chúng ta thật lòng yêu người thì phải làm gì?

8. Sau khi học bài này, chúng ta nên làm gì ngay?

9. Làm sao chúng ta có thể yêu như Chúa dạy?

BÀI 46: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA BIẾT CÁCH SỐNG

Kinh Thánh: Rô-ma 12:1-16; IICôr 5:14,15.

Câu gốc: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi-líp 1:21).

Mục Đích: Giúp mỗi người nhận biết rằng đời sống Cơ đốc nhân là đời sống tốt đẹp nhất mà họ có thể nhận được.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: Lạy Chúa, xin giúp con “tấn tới trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng con là Đức Chúa Jêsus Christ” (ii phi 3:18).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐẤNG CHRIST THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG CHÚNG TA

(IICôr 5:17-21)

TH:

CHÚNG TA CÓ ĐƯỢC SỰ SỐNG NHỜ CHÚA

(Gal 2:20; 5:16-23)

TB:

SỐNG CHO ĐẤNG CHRIST

(Phi-líp 1:20; 2:16)

TT.

SỐNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rô-ma 14:1-8)

TN:

SỐNG CHO SỰ VINH HIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(ICôr 10:23-33)

TS:

MỘT ĐỜI SỐNG ĐẦU PHỤC CHÚA

(Rô-ma 12:1-16)

TB:

PHẦN THƯỞNG CHO ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC NHÂN

(II Ti-mô-thê 4:6-8)

Người ta thích thấy hơn thích nghe. Tín hữu thích thấy một đời sống gương mẫu hơn thích nghe những bài giảng luận. Sự cứu rỗi của Chúa là quyền năng siêu việt để tái tạo con người và ban cho họ một đời sống đẹp đẽ.

Chúa Jêsus đã sống cuộc đời tuyệt hảo tại trần gian để làm gương mẫu cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta biết cách để sống cuộc đời như Ngài.

I. SỐNG BỞI CHÚA!

Chúa phán: “Như Cha là Đấng hằng sống, đã sai Ta đến, và Ta sống bởi Cha, cũng một thể ấy, người nào ăn Ta, sẽ sống bởi Ta vậy” (Giăng 6:57).

Không ai có thể sống cuộc đời tín đồ Đấng Christ, ngoài ra Đấng Christ. Nói cách khác, chỉ có Đấng Christ mới có thể sống một cuộc đời tín đồ Đấng Christ. Chỉ có Chúa Cơ đốc mới có thể sống cuộc đời Cơ đốc nhân. Cơ đốc nhân là người có Chúa Cơ đốc ngự trong lòng.

Khi còn tại thế, Chúa Jêsus đã ở với các môn đồ, hằng ngày trực tiếp dạy dỗ họ về cách sống, song họ không sống được như lời Ngài dạy, nên Chúa hứa khi Thánh Linh đến thì “Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi… Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng Ta ở trong Cha Ta, các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi, Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh, ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, ngoài Ta các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 14:17; 20; 15:5). Vì vậy, khi các môn đồ đầy dẫy Đức Thánh Linh họ đã sống cuộc đời đẹp đẽ chưa từng có. Đó là Chúa Jêsus đã sống lại cuộc đời của Ngài trong họ. Bây giờ, Ngài cũng muốn sống như vậy trong mỗi chúng ta.

Phao-lô đã nói: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Gal 2:20). “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi-líp 1:21).

Chúa sống trong chúng ta hay chúng ta sống bởi Chúa, giống như thân thể sống bởi đồ ăn. Cách Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống là tôn Jêsus Christ làm Vua, làm Chúa đời mình, lúc nào cũng thờ phượng, cảm tạ, ca ngợi Ngài, lúc nào cũng tin cậy, kính mến, phục tùng Ngài. Luôn luôn sống trong hiện diện Ngài, xin Ngài kiểm soát, hướng dẫn mỗi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động của chúng ta. Hãy thưa với Chúa như tác giả Thi thiên: “Ngài là Chúa tôi, trừ Ngài ra tôi không có phước gì khác. Trên trời tôi có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất, tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa” (Thi 16:2; 73:25).

II. SỐNG VỚI CHÚA.

Nếu Chúa sống trong chúng ta, tức là chúng ta sống bởi Ngài thì chúng ta cũng sống với Ngài. Sống với Ngài là làm việc với Ngài. Phao-lô nói: “Chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời” (ICôr 3:9). ” Chúng tôi làm việc với Chúa (IICôr 6:1).

Một người sống là một người làm việc. Chúng ta được làm việc với Chúa, làm việc dưới quyền điều khiển của Chúa. Làm việc như thế, chắc chắn thành công, khng cưn lo s gç caí. Nu chụng ta laìm vic mt mçnh thç cng việc của chúng ta sẽ bị ma quỉ phá hoại dễ dàng, song nếu chúng ta làm việc với Chúa, và công việc Ngài làm qua chúng ta thì ma quỉ phải bó tay. Trong 3 vòng truyền giáo cho thế giới, Phao-lô lấy làm sung sướng mà thuật lại thể nào Đức Chúa Trời đã đồng công với ông, làm việc của Ngài qua ông, nên nơi nào cũng kết quả (Công 14:27; 15:4; 21:19; Rô-ma 15:18; ICôr 15:10).

Đang khi “các dân làm việc cho lửa, các nước nhọc nhằn cho sự hư không” (Ha-ba-cúc 2:13), vì “đất và mọi công trình trên đó đều sẽ bị đốt cháy cả” (II Phi 3:10), thì chúng ta được làm việc với Chúa là việc còn lại đời đời, mà thời gian hoặc lửa không bao giờ hủy diệt được. Ở xứ lạnh, nhà nào cũng có lò sưởi. Vào mùa hạ, lò sưởi không dùng đến. Một vài con chim dại dột làm ổ mình trên chót lò sưởi. Mùa đông đến, lò sưởi đốt lên, ổ chim bị thiêu hủy. Vì dốt nát lời Chúa, chúng ta cũng đã từng làm ổ mình trên lò sưởi và bị thiệt hại. Song tạ ơn Chúa, Ngài đã nhiều lần dùng nhiều cách thức tỉnh chúng ta, để ai nấy biết cách sống, biết nơi làm ổ.

III. SỐNG CHO CHÚA.

Chúng ta “đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Ê-phê-sô 2:1). “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ” (Gal 2:20). Cho nên chúng ta không có quyền sống cho mình nữa, vì chúng ta đã chết. Bây giờ, chúng ta phải sống “vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (IICôr 5:15). Chúng ta “hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời” (Rô-ma 6:11). Phao-lô quả quyết: “Vì nếu chúng ta sống là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết là chết cho Chúa. Vậy, nếu chúng ta hoặc sống hoặc chết đều thuộc về Chúa cả” (Rô-ma 14:8).

1. SỐNG CHO CHÚA LÀ SỐNG ĐẸP LÒNG CHÚA:

Chúa Jêsus không làm đẹp lòng mình (Rô-ma 15:3), mà hằng làm đẹp lòng Đức Chúa Cha (Giăng 8:29). Chúng ta cũng chớ tìm sự đẹp lòng mình, nhưng phải luôn luôn cầu xin: “Lạy Chúa, Ngài muốn con làm chi?” (Công 22:10) Xin Chúa hành động trong con, để con vừa muốn vừa làm điều đẹp lòng Ngài (Phi-líp 2:13). Con nguyện dâng đời con cho Chúa để đẹp lòng Ngài (Rô-ma 12:1). Xin cho con chớ quên việc lành và lòng bố thí, để đẹp lòng Chúa (Hê-bơ-rơ 13:16). Xin cho con dâng hiến một cách rộng rãi và vui vẻ để đẹp lòng Chúa (IICôr 9:7). Xin cho con biết giữ thân thể mình thanh khiết và tôn trọng, vì đó là ý muốn của Chúa”. (ITê 4:3-4).

2. SỐNG CHO CHÚA LÀ SỐNG NHƯ CHÚA:

Chúa bảo “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta” (Mat 11:29) “Vì ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi” (Giăng 13:15). Các sứ đồ cũng khuyên “Vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (I Phi-e-rơ 2:21). “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm như Ngài đã làm” (IGiăng 2:6). “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Phi-líp 2:5).

Tại xứ kia, có 2 anh em trai mồ côi cha mẹ, họ sống chung với nhau. Người anh rất hiền hòa song người em rất bê tha, bạn bè với phường du đãng. Đêm nọ, vào lúc 12 giờ, người em hốt hoảng chạy về đập cửa. Anh vội vàng mở cửa, thấy áo em đầy vết máu. Em tho? hỗn hển: “Anh ơi, trong một cơn nóng giận, em đã lỡ tay giết người. Cảnh sát đang đuổi bắt em. Anh có cách nào cứu em không?”

Anh vội vàng: “Em hãy cởi áo em ra.” Vừa nói, anh cũng cởi áo mình. Hai bên trao đổi áo cho nhau. Anh mặc áo vấy máu của em, em mặc áo sạch sẽ của anh. Người em vào phòng ngủ. Đang khi đó, cảnh sát ùa vào, thấy người anh mặc áo vấy máu, thì hô lên: Tên sát nhân đây rồi, áo nó còn vấy máu đó. Tức thì, người anh bị bắt dẫn đi.

Theo luật, mạng đền mạng, tên sát nhân phải bị xử tử. Người ta hỏi: “Anh có muốn viết thơ về nhà không?” – “Muốn.” Người ta cho anh một mảnh giấy. Viết xong, anh nhờ người mang về cho em mình. Khi nhận thư anh, em mở ra xem, chỉ có một dòng chữ: “Em ơi, anh chết vì em!” Người em ngã lăn trên sàn, khóc lóc thê thảm: “Anh ơi, anh chết vì em!”.

Dầu Chúa Jêsus đã chết vì chúng ta, song Ngài đã sống lại. Bây giờ, Ngài muốn ngự trong lòng chúng ta để sống lại cuộc đời của Ngài, hầu cho chúng ta có thể sống cho Ngài, sống như Ngài. Để tất cả tín đồ đạt đến cuộc sống đó, Phao-lô kêu lên: “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con” (Ga-la-ti 4:19).

CÂU HỎI:

1. Đời sống tín đồ Đấng Christ là một đời sống như thế nào?

2. Ai có thể sống cuộc đời tín đồ Đấng Christ?

3. Cơ Đốc Nhân là người thế nào?

4. Tại sao khi Chúa ở với thì các môn đồ không có một đời sống đẹp đẽ bằng khi Thánh Linh giáng lâm?

5. Sống với Chúa có nghĩa gì?

6. Tại sao chúng ta sung sướng khi làm việc với Chúa?

7. Chúng ta bị kể là đã chết khi nào?

8. Xin kể ra những điều phải sống để đẹp lòng Chúa.

9. Làm sao chúng ta có thể sống như Chúa được?

10. Xin kể lại 3 điểm về cách sống của tín đồ.

BÀI 47:ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA Ở TRONG NGÀI

Kinh Thánh: Giăng 15:1-11.

Câu gốc: “Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta và những lời ta cứ ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn thì sẽ được điều đó” (Giăng 15:7).

Mục Đích: Dạy cho chúng ta biết những kết quả lạ lùng của một đời sống ở trong Đấng Christ.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy ở trong ta và ta ở trong các ngươi” (Giăng 15:4).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Lạy Chúa, xin dạy con biết ở trong Ngài, để con có thể sanh nhiều bông trái và được làm môn đồ Ngài” (Giăng 15:8).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

TRONG ĐẤNG CHRIST

(Giăng 15:1-17)

TH:

Ở TRONG NƠI KÍN ĐÁO CỦA ĐẤNG CHÍ CAO

(Thi 91:1-16)

TB:

MỜI ĐẤNG CHRIST NGỰ VÀO LÒNG BẠN

(Lu-ca 24:13-29)

TT:

KẾT QUẢ CỦA SỰ Ở TRONG ĐẤNG CHRIST

(IGiăng 2:3-28)

TN:

SANH BÔNG TRÁI

(Giăng 15:2,5,8; Gal 5:22-23)

TS:

TIẾP TỤC Ở TRONG ĐẤNG CHRIST

(Giăng 8:31; 15:9; II Tim 3:14; Công 14:22; Côl 1:23; 4:2)

TB:

MỘT CÂY SANH BÔNG TRÁI

(Thi 1:6)

Chúa đã ở với môn đồ, hơn nữa, Ngài muốn ở trong họ. Chúa hứa: “Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng Ta ở trong Cha Ta, các ngươi ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi”. “Nếu ai yêu mến Ta thì vâng giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ thương yêu người, chúng ta cùng đều đến cùng người và ở trong người” (Giăng 14:20,23).

Sau đó, Chúa mượn sự tương quan sống động và mật thiết giữa gốc nho và nhánh nho để giải thích thế nào Chúa ở trong các môn đồ và các môn đồ ở trong Chúa. Qua thí dụ này, Chúa không dạy về sự cứu rỗi mà dạy về sự hầu việc, là hầu việc làm sao cho được kết quả, nên Chúa đá dùng đến 8 lần chữ “kết quả”. Có những đời sống đã được cứu song hầu việc Chúa không kết quả, giống như những nhánh nho không trái bị chặt (câu 2), bị ném ra ngoài, khô đi và quăng vào lửa (câu 6). Những đời sống đó không bị hư mất, song không được phần thưởng (ICôr 3:10-15).

Bí quyết của sự hầu việc Chúa được kết quả là ở trong Chúa.

I. Ở TRONG CHÚA THÌ ĐƯỢC SỐNG.

“Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong Ta, thì cũng không kết quả được” (Giăng 15:4).

Nhánh nho không thể sống độc lập, mà phải tùy thuộc vào gốc nho, gốc nho không thể không có nhánh, vì từ nhánh mà ra trái. Niềm hãnh diện của gốc nho là nhánh nho. Chúa muốn nói rằng chúng ta cần có Ngài mới sống, và Ngài cần chúng ta hầu việc Ngài mới kết quả.

Nhánh lúc nào cũng kêu la, đòi hỏi mủ nhựa. Vì nhánh không thể sống, nếu không có mủ nhựa. Nhưng nhánh không làm ra mủ được, mà chỉ nhận từ nơi gốc. Để nhận được mủ nhựa, không có cách nào khác hơn là nhánh phải ở trong gốc, tùy thuộc vào gốc, hiệp nhất với gốc. Cũng vậy, nhu cầu của chúng ta là sự sống, và chúng ta không thể sống, nếu không ở trong Chúa. Cứ ở có nghĩa là tiếp tục ở mãi, tùy thuộc mãi, hiệp nhất mãi, không bao giờ bị gián đoạn. Nếu chúng ta cứ ở trong Chúa, thì Ngài sẵn sàng cung cấp đầy đủ sự sống để chúng ta cứ sống và kết quả.

II. Ở TRONG CHÚA THÌ ĐƯỢC KẾT QUẢ.

“Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sanh ra lắm trái, vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:5).

Thường có những nhánh cây ít kết quả, hoặc không kết quả gì hết hoặc ngày một héo hon, tàn tạ. Nếu quan sát kỹ lưỡng, chúng ta sẽ tìm thấy nguyên do. Nguyên do đó là một hoặc nhiều con sâu đã đục khoét nhánh cây ấy, làm cho mủ nhựa từ gốc không lưu thông đến nhánh được. Hình ảnh này là một đời sống hoặc một Hội Thánh không tiến bộ, hay tiến bộ rất chậm. Ai nấy hoạt động một cách uể oải, cố gắng một cách miễn cưỡng. Nguyên do là một hay nhiều tội lỗi đã xen vào bên trong một đời sống, hoặc một Hội Thánh, làm cho nguồn phước bị bế tắc, sức sống bị ngăn chặn. Trong trường hợp đó, nếu không nhận biết thực trạng của mình mà cứ đổ cho hoàn cảnh khó khăn, thì không giải quyết được nan đề của đời sống và của Hội Thánh. Tội nhân phải ăn năn. Nếu tội nhân ngoan cố thì phải theo như Kinh Thánh dạy: “Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (ICôr 5:13).

Khi đã trừ được con sâu đục khoét thì gốc sẽ tự do truyền đạt mủ nhựa cho nhánh, bây giờ nhánh sẽ có lá xanh, trái sai, đẹp mắt, ăn ngon. Một đời sống ở trong Chúa “sẽ như cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo, mọi sự người làm đều sẽ được thạnh vượng” (Thi 1:3).

III. Ở TRONG CHÚA THÌ ĐƯỢC NHẬM LỜI CẦU NGUYỆN.

“Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta, và những lời Ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó” (Giăng 15:7).

Đây là một hình thức khác trong bí quyết của một đời sống được kết quả. Muốn sống cuộc đời kết quả, phải được Chúa nhậm lời cầu nguyện, phải cứ ở trong Chúa. Ai cứ ở trong Chúa, lời cầu nguyện của người đó đẹp lòng Chúa nên được Chúa nhậm. Một đời sống được Chúa nhậm lời, chắc chắn được kết quả.

Phao-lô là người có đời sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Ông hiệp tác với Ba-na-ba hầu việc Chúa một năm tại An-ti-ốt, Hội Thánh được tiến bộ (Công 11:25-26). Ông thực hiện 3 vòng truyền giáo, nơi nào cũng có người tin Chúa (Công 14:27; 21:19). Cùng vượt biển qua Rô-ma với 276 người, nhờ ông cầu nguyện mà họ thoát khỏi chết chìm và chắc trong số đó có người được cứu rỗi (Công 27). Bị tù tại La-mã, ông cũng đem Ônêsim về với Chúa (Phi-lê-môn 8:10).

Nói chung một lời, bất luận ai, ở thời đại nào, phương trời nào, hễ cứ ở trong Chúa thì có đời sống đẹp lòng Ngài mà cầu nguyện. Vì vậy, họ đã làm nên những việc lớn cho Chúa. Chúa đã phán: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin Ta cũng sẽ làm việc Ta làm, lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha” (Giăng 14:12).

Làm sao cùng một lúc chúng ta ở trong Chúa và Chúa ở trong ta?

1. Gốc nho và nhánh nho là một thí dụ rất dễ hiểu. Nhánh nho ở trong gốc thì cùng một lúc gốc nho cũng ở trong nhánh, tức là mủ nhựa của gốc nho tuôn chảy vào các nhánh nho.

2. Nếu lấy một chiếc bình không, mở nắp ra rồi ném bình xuống một dòng sông, thì bình ở trong nước, song cùng lúc đó, nước cũng ở trong bình.

3. Nếu lấy một thỏi sắt bỏ vào lò lửa. Bấy giờ, sắt ở trong lửa mà lửa cũng ở trong sắt. Khi nào chúng ta đắm chìm và biến mất trong Cha thì ngay lúc đó Ngài đầy dẫy trong chúng ta.

Làm sao chúng ta biết mình ở trong Chúa?

Chúng ta biết mình đang ở trong Chúa không nhờ cảm xúc mà nhờ đức tin. Khi chúng ta vâng lời Chúa, thì tin rằng Ngài thực hiện lời hứa của Ngài. Chúng ta đang ở trong nhà mỗi ngày, dầu khi chúng ta không cảm xúc gì hết về việc đó, quên cả mình đang ở đâu thì chúng ta vẫn ở trong nhà. Chúng ta ở trong Chúa cũng như vậy.

CÂU HỎI

1. Gốc nho hay nhánh nho ra trái?

2. Nhờ đâu nhánh nho có thể ra trái?

3. Đành rằng chúng ta phải làm việc, song nhờ đâu mà có kết quả?

4. Ở trong Chúa có nghĩa là gì?

5. Cứ ở là làm sao?

6. Tại sao có những nhánh không kết quả mà tàn tạ?

7. Điều gì làm cho một đời sống hay một Hội Thánh không kết quả mà tàn tạ?

8. Chúng ta phải giải quyết như thế nào về một đời sống hay một Hội Thánh không có kết quả?

9. Một đời sống cứ ở trong Chúa thì được đặc ân gì?

10. Làm sao chúng ta đồng thời ở trong Chúa mà Chúa cũng ở trong chúng ta?

BÀI 48: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA THEO NGÀI

Kinh Thánh: Mác 10:28-31.

Câu gốc: “Nếu ai hầu việc Ta thi phải theo Ta” (Giăng 12:26).

Mục Đích: cho chung ta thấy rằng nếu muốn thanh cong trong dời sống cơ dốc nhan thi phải theo chua giexu.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy theo ta, ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay danh lưới người” (Ma-thi-ơ 4:19).

Lời Cầu Nguyện Để Dâng Lên: “Xin dẫn dắt tôi nhân danh Chúa” (Thi Thien 31:3).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐI THEO ĐẤNG CHRIST

(Giăng 1:35-51)

TH:

ĐI THEO TIẾNG PHÁN CỦA NGÀI

(Giăng 10:1-15)

TB:

ĐI THEO ĐỂ TRỞ THÀNH TAY ĐÁNH LƯỚI NGƯỜI

(Mác 1:16-20; Mat 4:18-25)

TT:

ĐI THEO ĐẤNG CHRIST MỘT CÁCH HOÀN TOÀN

(Lu-ca 14:25-33)

TN:

NHỮNG NGƯỜI ĐI THEO CHÚA

(Ê-phê-sô 5:1-17)

TS:

ĐI THEO ÁNH SÁNG

(Giăng 1:1-13; 8:22)

TB:

PHẦN THƯỞNG CHO NHỮNG NGƯỜI THEO CHÚA

(Mác 10:23-31)

Chúng ta theo Chúa giống như một du khách qua vùng đất lạ. Kinh Thánh gọi chúng ta là lữ khách và kiều dân trên đất (Hêb 11:13; I Phi-e-rơ 2:11). Khi được giải phóng khỏi cảnh nô lệ tại xứ Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên qua Biển đỏ và vào đồng vắng là con đường họ chưa bao giờ đi, nhưng Chúa bảo họ “cứ đi” (Xuất 14:15). Ban ngày Chúa dùng trụ mây, ban đêm Chúa dùng trụ lửa hướng dẫn họ trên con đường đó một cách an toàn.

Chúa đã giải cứu chúng ta khỏi sự tối tăm, khỏi ách nô lệ của ma quỉ và tội lỗi, Chúa cũng bảo chúng ta cứ đi theo Ngài. Chúa sẽ hướng dẫn chúng ta suốt cuộc đời qua vùng đất xa lạ là trần gian này. Điều chi Chúa đã hứa, Ngài cũng làm. “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi, mắt Ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi… Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đằng sau mình rằng: Nầy là đường đây, hãy noi theo” (Thi 32:8; Ê-sai 30:21).

Khi một du khách muốn đi tham quan một nơi nào thì phải nhờ người hướng dẫn. Để được hướng dẫn, du khách phải theo 3 điều kiện sau đây:

1. Phải để người hướng dẫn đi trước.

2. Phải chăm chú nhìn xem người hướng dẫn.

3. Phải ở gần người hướng dẫn.

Để được Chúa hướng dẫn trên linh trình xa lạ, chúng ta cúng phải theo 3 điều kiện ấy.

I. PHẢI ĐỂ CHÚA ĐI TRƯỚC HƯỚNG DẪN MÌNH.

Một số người thẫn thờ không biết cách nào để được Chúa hướng dẫn. Kỳ thật, họ đã tự hướng dẫn hơn là xin Chúa hướng dẫn mình. Họ đã đi trước Chúa, đặt một chương trình đi theo ý riêng, rồi cầu nguyện Chúa ban phước cho chương trình của mình. Chúa không thể hướng dẫn một người như vậy. Phải để Chúa đi trước, tức là chờ đợi Ngài. Chúa đi mau, chúng ta theo mau, Chúa đi chậm, chúng ta theo chậm. Chúa dừng lại, chúng ta dừng lại. Dân Y-sơ-ra-ên đã đi như vậy trong đồng vắng. “Họ đi theo chương trình của Đức Giê-hô-va” (Xuất 40:36- 38; Dân 9:17-23; 10:11-12).

Kinh Thánh nhiều lần khuyên chúng ta chờ đợi Chúa, chờ đợi Ngài cách bền lòng. “Tôi nhịn nhục trông đợi Đức Giê-hô-va. Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va” (Thi 40:1; 27:14).

Chờ đợi là một điều rất khó chịu. Chúng ta đã từng khó chịu mà chờ đợi một chuyến tàu, một người bạn đến trễ, càng khó chịu hơn khi chúng ta đau mà chờ đợi thuốc, khi chúng ta đói mà chờ đợi đồ ăn, khi chúng ta lâm nguy mà chờ đợi sự giải cứu. Nhưng càng khó chịu biết bao khi chúng ta phải chờ đợi một cách kiên nhẫn. Vì thế chữ kiên nhẫn cũng đồng nghĩa với chữ đau đớn. Vì vậy, lắm khi chúng ta không đủ kiên nhẫn mà chờ đợi sự kiên nhẫn của Chúa, lại vội vàng hành động cách dại dột để hứng chịu hậu quả không lường được.

Môi-se đã vội vàng giải phóng dân Y-sơ-ra-ên bằng sức riêng của mình khi chưa có lệnh của Chúa, nên ông phải chịu sự thất bại (Xuất 2:11-15).

Vua Sau-lơ đã phải chờ đợi tiên tri Sa-mu-ên đến dâng của lễ thiêu. Song Sau-lơ không đủ kiên nhẫn để chờ đợi khi Sa-mu-ên đến trễ, nên đã miễn cưỡng dâng của lễ thiêu là việc ông không có phép làm. Vừa dâng xong, Sa-mu-ên đến. Sa-mu-ên nói: “Ngươi thật có làm ngu dại, không vâng theo mạnh lệnh Đức Giê-hô-va… bây giờ nước ngươi không bền lâu” (I Sa-mu-ên 13:6-14).

Vua Y-sơ-ra-ên đem quân đi đánh vua Giu-đa. A-sa, vua Giu-đa vội vã đem vàng bạc cầu cứu nơi vua Sy-ri. Tiên tri Ha-na-ni nhân danh Chúa quở trách vua A-sa: ” Bởi vì vua nương cậy nơi vua Sy-ri, không nương cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, nên đạo quân Sy-ri đã thoát khỏi tay vua… Trong việc này, vua có cư xử cách dại dột… ” (II Sử ký 16:1-10).

Nhưng ai chờ đợi Chúa không hề bị hổ thẹn (Thi 25:3), Chúa không để cho ai thất vọng, cũng không hề trễ nãi. Chúa phán: “Ta, Đức Giê-hô-va sẽ nôn nả làm điều ấy trong kỳ nó” (Ê-sai 60:22). “Sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định… Nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi, bởi nó chắc đến, không chậm trễ” (Ha-ba-cúc 2:3).

II. PHẢI CHĂM CHÚ NHÌN XEM CHÚA.

Lắm khi du khách phải dán mắt vào người hướng dẫn, theo người ấy từng bước vì một chỗ hẹp và tăm tối. Trên linh trình, chúng ta phải chăm chú nhìn xem Chúa như vậy. Nhìn xem Chúa là nhìn xem cách ăn ở của Ngài trong 33 năm tại trần gian. Chúa đã nói, đã làm như thế nào?

Ngài không nói theo ý mình, nhưng nói theo như Đức Chúa Trời muốn Ngài phải nói, đến nỗi không phải Ngài nói, bèn là Đức Chúa Trời ở trong Ngài đã nói và làm mọi việc (Giăng 12:49; 14:10). Vậy, nhìn xem Chúa là chúng ta phải nói như Ngài đã nói.

Ngài không thể làm việc gì theo ý mình, mà làm mọi việc theo ý Đức Chúa Cha, làm y như Đức Chúa Cha đã làm. Ngài luôn luôn làm đẹp lòng Đức Chúa Cha trong mọi việc, hoàn toàn tin cậy và vâng phục cho đến chết (Giăng 5:19; 8:29). Vậy, nhìn xem Chúa là chúng ta phải làm như Ngài đã làm.

Mỗi khi gặp một việc gì phải nói, phải làm, chúng ta hãy nghĩ đến Chúa Jêsus. Trong một hoàn cảnh tương tự như hoàn cảnh của chúng ta, Chúa đã nói và làm thể nào, đồng thời chúng ta hết lòng xin Chúa dạy dỗ, hướng dẫn mọi lời nói và việc làm của mình để đẹp lòng Ngài. Chúa có thân thể như chúng ta, mặc dầu hoàn toàn vô tội, Ngài “đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trãi sự buồn bực biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem” (Ê-sai 53:3). Tất cả những nỗi khổ đau mà chúng ta đang gặp và sẽ gặp, thì Chúa đã gặp. Vì thế, mỗi khi chúng ta chăm chú nhìn xem Ngài, chúng ta được an ủi lắm đến nỗi không có sự khổ đau nào mà Chúa không an ủi được, và chúng ta không cần “mỏi mệt sờn lòng” (Hê-bơ-rơ 12:2-3).

III. PHẢI LUÔN LUÔN Ở GẦN CHÚA.

“Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy” (Ê-sai 53:6). Chiên lạc là tại đi xa người chăn. Du khách có thể bị lạc nếu đi xa người hướng dẫn. Chúng ta phải tập ở gần Chúa để lúc nào cũng thấy Ngài, nghe Ngài, biết đường lối của Ngài. Để hướng dẫn chúng ta, Chúa thường dùng 3 cách:

1. Chúa phán dạy trong lòng.

2. Chúa phán dạy qua Kinh thánh.

3. Chúa phán dạy qua hoàn cảnh chung quanh…

Nếu chúng ta ở gần Chúa, giữ tâm hồn yên tịnh thì rất dễ nghe tiếng Chúa phán êm dịu trong lòng mình. Nhưng Ngài không phán qua chiêm bao hay dị tượng (như khi Kinh Thánh chưa được đầy đủ) mà phán qua Kinh thánh. Chúa nhắc lại lời Ngài, soi sáng cho chúng ta hiểu, giục giã chúng ta làm theo. Ngài cũng dùng hoàn cảnh xung quanh để thức tĩnh chúng ta theo Ngài. Đời xưa, dân Y-sơ-ra-ên đã ở tại Ê-díp-tô gần 400 năm, song họ không nghĩ gì đến việc trở về đất hứa là Ca-na-an. Chúa cho phép một cơn bắt bớ dữ dội xảy ra làm cho họ thức tỉnh mà kêu cầu Ngài và được giải cứu (Xuất Ê-díp-tô ký 2:23, Dân 20:16). Để được Chúa hướng dẫn, chúng ta phải xin Ngài ngự trị trong lòng mình, hằng ngày học hỏi Kinh Thánh và cầu nguyện không thôi. Kết quả của người theo Chúa là hướng dẫn người khác theo Ngài. Nhờ phần thưởng vô giá đó, chúng ta có thêm hằng trăm lần nhiều hơn về nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, với sự bắt bớ và sự sống đời đời (Mác 10:28-31).

CÂU HỎI

1. Muốn theo Chúa và được Ngài hướng dẫn, chúng ta phải theo 3 điều nào?

2. Trên con đường đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên phải theo sự hướng dẫn của Chúa như thế nào?

3. Tại sao bền lòng chờ đợi Chúa là khó chịu lắm?

4. Xin kể ra 3 trường hợp của 3 người không bền lòng chờ đợi Chúa?

5. Người chờ đợi Chúa thì được gì?

6. Nhìn xem Chúa có nghĩa gì?

7. Chúng ta làm sao để gọi là nhìn xem Chúa?

8. Nhìn xem Chúa thì chúng ta được gì?

9. Làm sao để chúng ta nghe được tiếng Chúa?

10. Kết quả của người theo Chúa là gì?

BÀI 49: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA CAN ĐẢM

Kinh Thánh: Giô-suê 1:1-9.

Câu gốc: “Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, hãy vững lòng bền chí. phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va” (thi thiên 27:14).

Mục Đích: giúp chúng ta phát huy lòng can đảm và biết sống cho Đấng Christ.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy vững lòng, bền chí, chớ run sợ chớ kinh khủng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Giô-suê 1:9).

Lời Cầu Nguyện Dâng Lên: “Lạy Chúa, xin giúp con được vững lòng bền chí” (Phục 31:6).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

SỰ CAN ĐẢM CỦA ĐA-NI-ÊN

(Đa-ni-ên 1:8-20; 6:1-23)

TH:

BA THANH NIÊN CAN ĐẢM

(Đa-ni-ên 3:8-20)

TB:

MỘT NGƯỜI GIÀ CAN ĐẢM

(Giô-suê 14:6-15)

TT:

SỰ CAN ĐẢM CỦA GHÊ-ĐÊ-ÔN

(Các quan xét 7:1-25)

TN:

SỰ CAN ĐẢM CỦA Ê-XƠ-TÊ

(Ê-xơ-tê 3:13; 4:1,2,12-16; 5:1-14)

TS:

SỰ CAN ĐẢM CỦA ĐA-VÍT

(I Samuên 17:1-58)

TB:

LÒNG CAN ĐẢM PHI THƯỜNG NHẤT

(Giăng 19:1-20)

Con cái Chúa không thể là người hèn nhát, mà phải là người can đảm. Trên thiên đàng không có chỗ nào dành cho những kẻ hèn nhát, “phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Đó là sự chết thứ hai” (Khải 21:8).

Để phát huy và tôi luyện lòng can đảm của chúng ta, Đức Chúa Trời thường cho phép những va chạm, những thử thách và bắt bớ xảy ra. Đọc thánh sử, chúng ta thấy nhan nhản các nam nữ anh hùng đức tin, can đảm qua những việc như thế. Vì thế, chúng ta không cần ngạc nhiên, chẳng chút nản lòng khi gặp thử thách, bắt bớ, mà phải can đảm.

I. CAN ĐẢM LÀM CÔNG VIỆC KHÓ KHĂN NHƯ CA-LÉP (GIÔ-SUÊ 14:6-15).

Hơn một triệu người đã ra khỏi Ê-díp-tô nhưng suốt 40 năm, họ đã chết lần hồi trong đồng vắng, chỉ có con cháu họ được vào Ca-na-an. Nhưng trong số hơn một triệu người đó, có Giô-suê và Ca-lép còn sống. Bây giờ, Ca-lép đã 85 tuổi mà vẫn khoẻ mạnh như lúc mới ra khỏi Ê-díp-tô. Ông có thể xin Giô-suê một nơi đã bình định để an hưởng tuổi già. Song trái lại, ông xin đi chiếm một ngọn núi là chỗ trú ẩn vững bền của dân A-na-kim, nổi tiếng là giềnh giàng đáng sợ. Nhờ đâu Ca-lép có lòng can đảm đó? – Ông nhìn xem Chúa Toàn năng đang ở với ông và ông nắm chắc lời hứa của Ngài: “Quả thật, đất mà chân ngươi đạp đến sẽ thuộc về ngươi và con cháu ngươi làm sản nghiệp đời đời, vì ngươi trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta” (Giô-suê 14:9; Phục 1:36).

Chỉ có kẻ can đảm mới làm được việc lớn cho Chúa, chỉ có kẻ làm được việc lớn cho Chúa mới tôn vinh Chúa, chỉ có kẻ tôn vinh Ngài mới được tôn vinh.

II. CAN ĐẢM ĐƯƠNG ĐẦU VỚI KẺ THÙ NHƯ ĐA-VÍT (I SA-MU-ÊN 17:1-51).

Có lẽ Gô-li-át thuộc dòng dõi dân A-na-kim nên có sức mạnh vượt hẳn mọi người. Trước mặt Gô-li-át, hết thảy tướng sĩ của Sau-lơ đều chạy trốn, nên anh ta không tiếc lời thách đố và sỉ nhục dân Y-sơ-ra-ên.

Nghe lời của Gô-li-át, thấy thái độ hống hách của anh ta, Đa-vít nổi giận hỏi: “Người Phi-li-tin này, kẻ không chịu cắt bì này là ai mà lại dám sỉ nhục đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống?” (Câu 26). Trước mặt Sau-lơ, Đa-vít nói: “Xin chớ ai ngã lòng về người Phi-li-tin kia! Kẻ tôi tớ vua sẽ đi đấu địch cùng hắn”. Sau-lơ đáp: “Ngươi chẳng thể đi đấu địch cùng người Phi-li-tin kia, vì ngươi chỉ là một đứa trẻ, còn hắn là một tay chiến sĩ từ thuở còn thơ”. Đa-vít thưa: “Đức Giê-hô-va đã giải cứu tôi khỏi vấu sư tử và khỏi cẳng gấu, ắt sẽ giải cứu tôi khỏi tay người Phi-li-tin kia”. Sau-lơ đáp: “Hãy đi! Nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi” (Câu 31-37). Kết quả, Gô-li-át bị giết, đạo quân Phi-li-tin bị tiêu diệt.

Nhờ đâu Đa-vít có lòng can đảm và được thành công một cách lạ lùng như vậy? – Nhờ đức tin đến Đức Chúa Trời vạn quân (Câu 45-47). Có đức tin thì trẻ như Đa-vít cũng can đảm bằng già như Ca-lép.

III. CAN ĐẢM CHỐNG LẠI TÔI LỖI NHƯ ĐA-NI-ÊN VÀ BA BẠN CỦA ÔNG.

1. ĐA-NI-ÊN VÀ BA BẠN NHẤT ĐỊNH KHÔNG ĂN CỦA CÚNG (1:8-20).

Mặc dầu đồ ăn, thức uống của vua là ngon lắm, song đã dâng làm của cúng thần tượng. Mặc dầu lòng tốt của vua, song trái ý Chúa, nên họ nhất định chối từ, mà chỉ ăn rau uống nước. Dù ăn rau uống nước, họ dám cam kết rằng mặt mày của họ sẽ tươi tắn, đầy đặn hơn của những người ăn thức ngon của vua. Kết quả, không những thể xác của họ được như vậy mà tâm trí của họ còn khôn ngoan, sáng suốt gấp 10 lần những người khác. Họ dám hành động can đảm nên thành công vượt mức là nhờ tin cậy Đức Chúa Trời hằng sống.

2. BA BẠN CỦA ĐA-NI-ÊN NHẤT ĐỊNH KHÔNG THỜ LẠY HÌNH TƯỢNG (3:1-30).

Dầu là mạng lịnh của vua cho tất cả các quan, các dân tộc thuộc quyền đế quốc Ba-by-lôn phải tuân hành, nếu ai dám cưỡng lại sẽ lập tức bị quăng vào lò lửa hực. Thế mà đang khi mọi người xung quanh đều sấp mình trước pho tượng vàng của vua đã dựng, thì ba bạn của Đa-ni-ên vẫn đứng thẳng một cách thản nhiên. Vua Nê-bu-cát-nết-sa tức giận, song vừa vỗ về vừa đe dọa: “Các ngươi sẵn sàng sấp mình xuống đất để quì lạy pho tượng mà ta đã làm nên thì được, nhưng nếu các ngươi không quì lạy thì chính giờ đó các ngươi sẽ bị quăng vào lò lửa hực. Rồi thần nào có thế giải cứu các ngươi khỏi tay ta?” Hãy nghe lời họ đáp lại: “Hỡi vua, Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi khỏi tay vua. Dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng, chúng tôi không hầu việc các thần của vua và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng” (Câu 15-18).

Kết quả: Nê-bu-cát-nết-sa đã ca ngợi Đức Chúa Trời và ra lệnh cho toàn dân trong đế quốc không được phép nói phạm đến Danh Đức Chúa Trời, vì chỉ một mình Ngài có thể giải cứu.

3. ĐA-NI-ÊN KHÔNG CHỊU BỎ SỰ CẦU NGUYỆN VỚI CHÚA (6:1-28).

Vua Đa-ri-út của nước Mê-đô-Ba-tư đã ban một cấm lịnh trong 30 ngày, hễ ai cầu xin với thần nào khác ngoài vua, thì sẽ bị quăng vào hang sư tử. Khi cấm lịnh đã được phổ biến, Đa-ni-ên thản nhiên một ngày ba lần quì gối cầu nguyện, cảm tạ Đức Chúa Trời như vẫn thường làm.

Kết quả: Lòng can đảm của Đa-ni-ên sanh ra từ đức tin đến Đức Chúa Trời đã bịt mồm sư tử, cũng như ba bạn của ông đã tắt ngọn lửa hừng. Đa-ri-út đã ban chiếu chỉ cho toàn dân trong cả đế quốc phải run rẩy kính sợ Đức Chúa Trời hằng sống của Đa-ni-ên.

IV. CAN ĐẢM NHẬN LẤY TRÁCH NHIỆM NHƯ GIÔ-SUÊ (GIÔ-SUÊ 1:1-19).

Sau khi Môi-se qua đời, Đức Chúa Trời kêu gọi Giô-suê hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an. Trách nhiệm đó thật lớn và khó, nên ba lần Chúa bảo ông “Hãy vững lòng bền chí”, nghĩa là hãy mạnh mẽ và can đảm. Bốn mươi năm phục vụ Chúa bên cạnh Môi-se, Giô-suê đã học tập cùng kinh nghiệm ân điển và quyền năng của Ngài. Bây giờ là lúc ông phải mạnh mẽ và can đảm hơn bao giờ hết để hoàn thành công tác của Chúa đã giao cho. Giô-suê không phải chỉ can đảm trong một biến cố đặc biệt, mà can đảm suốt đời trong chức vụ lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên vào đất hứa, phân chia sản nghiệp cho mỗi chi phái một cách chu toàn.

Trong bài từ giã của Giô-suê có câu: “Nhưng tôi và nhà tôi sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:15).

Nếu các nhân vật kể trên đã tìm một nơi an toàn, khuất phục kẻ thù, ăn của cúng thờ hình tượng, không dám cầu nguyện, thoái thác trách nhiệm thì họ có thể viện nhiều lý do: Trường hợp của tôi là bất đắc dĩ, trường hợp của tôi là đáng thông cảm, vì tôi muốn sống để hầu việc Chúa lâu dài… Nhưng họ không hèn nhát như thế. Họ thà chết chứ không phạm tội. Hoặc sống hoặc chết, họ đều muốn tôn vinh Chúa, làm đẹp lòng Ngài, lúc nào cũng tỏ ra là can đảm.

“Hãy nhớ lại những lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn về những sự đau đớn: phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách. Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù và vui lòng chia của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn. Vậy, chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho” (Hê-bơ-rơ 10:32-35).

CÂU HỎI

1. Tại sao Đức Chúa Trời cho phép chúng ta gặp bắt bớ thử thách?

2. Nhờ đâu chúng ta biết được lòng can đảm của Ca-lép?

3. Tại sao Đa-vít dám đánh với Gô-li-át?

4. Tai sao Đa-ni-ên và ba bạn của ông không chịu nhận đồ ngon của vua?

5. Họ ăn rau uống nước vì kính sợ Đức Chúa Trời thì được kết quả gì?

6. Trước sự chết trong lò lửa và thờ lạy hình tượng, ba bạn Hê-bơ-rơ chọn bên nào?

7. Đối với Đa-ni-ên thì bị quang vào hang sư tử với không cầu nguyện, việc nào nguy hơn?

8. Vua Nê-bu-cát-nết-sa và vua Đa-ri-út đã làm gì khi Đa-ni-ên và ba bạn của ông đã bởi đức tin để bịt mồm sư tử, tắt ngọn lửa hừng?

9. Khi Giô-suê lãnh trách nhiệm dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an, Chúa dặn ông thế nào?

10. Người hèn nhát thường viện lý do gì?

BÀI 50: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA THA THỨ NHAU

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 6:11-15; 18:21-35.

Câu gốc: “Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy” (êphêsô 4:32).

Mục Đích: Khuyên mỗi chúng ta nên có tinh thần tha thứ.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình” (Lu-ca 6:37b)

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

LUẬT THA THỨ

(Mat 6:14;15; 18:21-35; Mác 11:25,26; Lu 11:4)

TH:

SỰ THA THỨ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Thi 103:10-13; Ê-sai 1:18; 43:25; Giê 31:34; Mi-chê 7:18,19)

TB:

SỰ THA THỨ NHỜ THẬP TỰ GIÁ

(Ê-sai 53:5,6; IICôr 5:21; Ê-phê-sô 1:7)

TT:

SỰ THA THỨ TRÊN THẬP TỰ GIÁ

(Lu-ca 23:32-43)

TN:

LỜI CẦU XIN THA THỨ

(Đa-ni-ên 9:4-10; 17-19)

TS:

MỨC ĐỘ THA THỨ

(Lu-ca 17:3-5; Ê-phê-sô 4:32; Cô-lô-se 3:!3)

TB:

NHỮNG GƯƠNG THA THỨ

(ISa 24; Công 6:8-15, 7:54-60; Sáng 45:1-15)

Thương yêu nhau và tha thứ nhau là hai điều quan trọng trong nếp sống hằng ngày của tín đồ. Tấm lòng khắt khe, cố chấp, căm giận làm cho đời người khô khan như sa mạc, vì sự không tha thứ như một cái nút chặn khiến nguồn phước bị bế tắc hoàn toàn. Trái lại, sự tha thứ làm cho lòng người ngọt ngào, thư thái như một dòng sông trong lành êm chảy, chảy đến đâu đem sinh lực đến đó, khiến cho cây cối cũng như muôn loài đều vui sướng. Vậy trước khi học bài này, chúng ta để ít phút thầm nguyện: “Xin Chúa tha thứ con và cho con biết tha thứ người khác. Xin cho con tình thương của Chúa để chúng con thương yêu nhau.”

I. ĐỨC CHÚA TRỜI THA THỨ.

1. SỰ THA THƯ CỦA CHÚA:

Chúa tha thứ trọn vẹn, mãi mãi. Ngài không còn thấy, không còn nhớ tội lỗi chúng ta, Ngài phiếu trắng lòng chúng ta như tuyết, xem chúng ta như chưa từng phạm tội.

Chúa tha thứ như vậy không phải tại chúng ta có một chút gì xứng đáng, vì chúng ta không thể trả bất cứ một giá nào để được tha thứ. Song Con Độc Sanh của Ngài đã tình nguyện hy sinh đến giọt huyết cuối cùng để làm của lễ chuộc tội chúng ta. “Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội theo sự dư dật của ân điển Ngài” (Ê-phê-sô 1:7). Tội lỗi chúng ta nặng nề quá. Giá chuộc tội lỗi chúng ta đắt quá! Nếu không nhờ Chúa Jêsus, không có một người nào được cứu cả.

2. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CHÚA THA THỨ:

Sự chuộc tội đã xong, công cuộc cứu rỗi đã hoàn thành, nhưng tại sao nhân loại vẫn chưa được tha thứ, vẫn còn sống trong đau khổ triền miên? – Chỉ vì con người ngoan cố, miệt mài trong cuộc truy hoan mà không chịu ăn năn, không chịu tin nhận Jêsus làm Cứu Chúa của mình. Đức Chúa Trời rất muốn tha thứ chúng ta hơn chúng ta muốn được Ngài tha thứ. Ngài như người Cha nhân từ, lúc nào cũng mở rộng vòng tay chờ đón đứa con phóng đãng trở về. Đối với anh trộm cướp biết ăn năn và kêu xin Chúa Jêsus khi anh bị đóng đinh bên cạnh Ngài thì Ngài đã đáp lời ngay: “Quả thật ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong Lạc viên”. Đức Chúa Trời vẫn đang kêu gọi: “Bây giờ hãy đến cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các con như hồng điều sẽ trở nên trắng như tuyết”.

II. CÁC GƯƠNG THA THỨ.

Trong Kinh Thánh có rất nhiếu tấm gương tha thứ:

1. GIÔ-SÉP:

Được cha yêu thương, bị các anh ganh ghét, Giô-sép phải đương đầu với sự bắt bớ mỗi ngày một hơn. Sáng thế ký 37:1-11 có đến 4 lần chép các anh ganh ghét Giô-sép. Họ định giết chàng và cơ hội đã đến.

Gia-cốp sai Giô-sép đi tìm các anh khi họ chăn chiên ngoài đồng. Thay vì giết em, họ liệng Giô-sép xuống hố cho chết. Kế đó, có đoàn con buôn qua Ê-díp-tô, họ kéo Giô-sép lên bán cho đoàn con buôn. Dầu bị đối xử một cách tệ bạc và tàn nhẫn như vậy, Giô-sép vẫn kính sợ Chúa. Do lòng kính sợ Chúa, Giô-sép đã tha thứ các anh mình, không làm một điều gì hại đến họ mặc dầu ông có cơ hội làm điều đó. Các anh rất sợ Giô-sép trả thù, song ông đáp: “Các anh toan hại tôi nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi” (Sáng 50:20). Đoạn, Giô-sép an ủi các anh bằng những lời êm dịu.

2. Ê-TIÊN:

Vì đầy dẫy Thánh Linh, Ê-tiên được bầu làm chấp sự, cũng được đầy ân điển và quyền năng, ông làm nhiều phép lạ dấu kỳ và nhất là đầy dẫy Lời Chúa nên đứng trước công hội Do thái, Ê-tiên đã giảng một bài rất dài và cảm động. Khi ông chưa dứt lời, đồng bào ông nghiến răng, bịt tai, la lớn, kéo ông ra ngoài thành để ném đá giết ông. Ê-tiên quỳ xuống cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội này cho họ” (Công vụ 8:60).

Tinh thần tha thứ của Ê-tiên đã cảm động thanh niên Sau-lơ, mà sau trở nên sứ đồ Phao-lô. Sự tha tội là một sức mạnh chinh phục nhiều người. Chắc Ê-tiên đã nhận thấy tinh thần tha thứ trong Cứu Chúa khi Ngài chịu chết trên Thập tự giá (Lu-ca 23:34). Gương tha thứ của Chúa Jêsus muôn đời vẫn sáng rực như mặt trời lúc giữa trưa.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI BẢO CHÚNG TA THA THỨ NHAU.

1. BÀI CẦU NGUYỆN CHUNG:

“Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ dùng. Xin tha tội lỗi chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi” (Ma-thi-ơ 6:11,12).

Chúng ta phải cầu xin mỗi ngày hai điều nầy:

a. Đồ ăn cho thân thể.

b. Sự tha thứ cho linh hồn –

Vì đó là nhu cầu thiết thực nhất của mỗi người. Thân thể không được thiếu đồ ăn, linh hồn không được thiếu sự tha thứ. Đành rằng Chúa đã tha thứ chúng ta một lần đủ cả khi chúng ta ăn năn, tin nhận Ngài, song hằng ngày chúng ta vẫn cần được tha thứ những lỗi lầm trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Vì như thân thể, dầu chúng ta không dầm mình trong vũng bùn lấm, thì mỗi ngày cũng phải tắm một lần thật sạch. Linh hồn cũng vậy, mỗi ngày vẫn nhờ “huyết của Chúa Jêsus làm sạch mọi tội chúng ta” (IGiăng 1:7).

Muốn được tha thứ để lúc nào cũng được sạch, chúng ta phải tha thứ nhau. Chúa phán: “Nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi” (Ma-thi-ơ 6:14). Đây là luật lệ của Nước Trời.

2. CẦU NGUYỆN THA THỨ (MA-THI-Ơ 18:21-35):

Phi-e-rơ muốn biết phải tha thứ nhau đến mức độ nào, có phải đến 7 lần chăng? Chúa đáp: “Ta không nói cùng ngươi rằng 7 lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy”. Người Do thái cho rằng tha thứ nhau đến 3 lần là đủ. Vì thế Phi-e-rơ cho rằng mình tha thứ đến 7 lần là rộng lượng lắm rồi. Song Chúa bảo phải 490 lần. Chúa muốn nói rằng tha thứ là vô giới hạn, bao nhiêu lần cũng phải tha.

Chúa nói thí dụ về một vua kia khởi tính sổ với các đầy tớ. Có người mắc nợ vua một vạn ta lâng, nhưng không có chi để trả, bèn hết lòng nài xin vua tha nợ cho. Khi người đó về nhà, dọc đường gặp một người bạn mắc nợ mình chỉ một trăm đơ-ni-ê, tức là một phần triệu so với số nợ người đó mắc nợ vua. Người đó liền nắm cổ bạn mình, dầu bạn có kêu xin gì cũng không được, cứ việc bắt bỏ tù cho đến chừng trả hết nợ. Khi vua nghe vậy, bèn đòi người đó đến và nói: “Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi vì ngươi cầu xin ta, ngươi há chẳng thương xót bạn ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? “Vua nổi giận, bỏ nó vào ngục cho đến khi nào trả hết nợ. Chúa kết luận: “Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng xử các ngươi như vậy”.

Phao-lô khuyên: “Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy” (Ê-phê-sô 4:32).

Tha thứ nhau, quên hết lỗi lầm của nhau cũng chưa đủ, mà còn phải hết lòng yêu nhau. Không làm hại nhau vẫn chưa đủ, song còn phải làm lợi cho nhau. Chúa không những đã tha thứ, song vẫn cứ ban ơn cho chúng ta.

CÂU HỎI

1. Một người tha thứ và một người cố chấp khác nhau như thế nào?

2. Đức Chúa Trời tha thứ chúng ta thế nào?

3. Tội nhân phải làm sao để được Chúa tha thứ?

4. Hãy kể lại một tấm gương tha thứ.

5. Trong bài cầu nguyện chung có dạy hai điều gì?

6. Tại sao chúng ta vẫn cần sự tha thứ mỗi ngày?

7. Muốn được tha thứ, chúng ta phải làm gì?

8. Nếu không tha thứ nhau thì Chúa sẽ xử thế nào?

9. Chúng ta tha thứ đến mức độ nào?

10. Tha thứ vẫn chưa đủ, còn phải làm gì nữa?

BÀI 51: ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN CHÚNG TA VÂNG PHỤC

Kinh Thánh: Sáng Thế Ký 12:1-3; Xuất 20:1-11; Hê-bơ-rơ 5:8,9.

Câu gốc: “Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy thì các ngươi là bạn hữu ta” (Giăng 15:14).

Mục Đích: Giúp tín hữu biết vâng phục Đức Chúa Trời là điều tối quan trọng.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta” (Công vụ 5:29).

Lời Cầu Nguyện Dâng Lên: “Chúng tôi sẽ vâng theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.” (Giê-rê-mi 42:6).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

(Xuất 20:1-11; Công vụ 5:17-29)

TH:

VÂNG PHỤC CHA MẸ

(Xuất 20:12; Ê-phê-sô 6:1-3; Cô-lô-se 3:20)

TB:

NÔ-Ê VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

(Sáng 6:8,22; 7:1,5; 8:1;15-19; 9:1)

TT:

SA-MU-ÊN VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

(I Sa-mu-ên 3:1-21)

TN:

ÁP-RA-HAM VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

(Sáng 12:1-9; Hê-bơ-rơ 11:8)

TS:

PHAO-LÔ VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

(Công vụ 26:1-23)

TB:

ĐẤNG CHRIST VÂNG PHỤC

(Rô-ma 5:19; Phil 2:5-8; Hê-bơ-rơ 5:8-10)

Sự vâng phục là đức tính tốt nhất của con cái đối với cha mẹ, của học trò đối với thầy cô giáo, của công dân đối với luật lệ nhà nước.

Sự vâng phục mà Kinh Thánh dạy không giống như sự vâng phục của một nô lệ đối với chủ, tức là không phải vâng phục vì sợ hãi trước một uy quyền, thế lực nào, nhưng vâng phục vì yêu thương Jêsus Christ là Thầy, là Chúa chúng ta, Đấng đã liều thân để cứu chúng ta. Vì biết ơn Ngài, vì kính mến Ngài, chúng ta sẵn sàng vâng phục cho đến chết. Tình yêu phải là động cơ mạnh nhất thúc đẩy chúng ta vâng phục Đức Chúa Trời.

I. VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG.

Trời đất muôn vật, nói chung là thiên nhiên giới rất đẹp đẽ, vì tất cả đều vâng phục Đức Chúa Trời. Ngài ban cho mỗi chiếc lá, mỗi cành hoa một hình dạng, một màu sắc khác nhau, song thảy đều đẹp đẽ. Chim bay trên trời, cá lội dước nước, thú đi trên đất, loại nào cũng đẹp đẽ trọn vẹn. Thân thể của con người còn tuyệt vời hơn cả chiếc lá, cành hoa và mọi loài động vật. Song thật tiếc loài người đã lợi dụng sự tự do Chúa cho mà không vâng phục Ngài. Vì thế trong tâm giới, Đức Chúa Trời không thể làm gì cho loài người. Đó là lý do loài người đau khổ.

Trong bài cầu nguyện chung có câu: “Xin ý Cha được nên ở đất như trời”. Trên trời ý Cha được nên lập tức và trọn vẹn. Dưới đất ý Cha chưa được nên như vậy, vì sự bất phục của loài người. Nếu chấp sự Phi-líp không vâng phục Đức Chúa Trời mà đi ngay đến Ga-xa thì đã bỏ lỡ mất dịp tiện hướng dẫn hoạn quan Ê-thi-ô-pi về cùng Chúa (Công vụ 8:26,27).

Dưới đất có nhiều kẻ không vâng phục Đức Chúa Trời lại còn xui giục kẻ khác không vâng phục Ngài nữa (Rô-ma 1:32). Nê-bu-cát-nết-sa, Đarút, chính quyền Do thái và La-mã đã hành động như vậy. Nếu gặp trường hợp đó, chúng ta phải đồng thanh với Phi-e-rơ và Giăng mà nói rằng: “Thà vâng lời Đức Chúa Trời, còn hơn vâng lời người ta” (Công vụ 5:29). Dầu hậu quả ra sao, chúng ta cũng phải can đảm, để cho Đức Chúa Trời có cơ hội thi hành quyền năng siêu việt của Ngài, hầu danh Ngài được vinh hiển.

II. NHỮNG TẤM GƯƠNG VÂNG PHỤC.

1. ÁP-RA-HAM: (SÁNG 12:1-3; HÊ-BƠ-RƠ 11:8).

Chúa bảo ông ra khỏi quê hương, vòng bà con, nhà cha ông mà đến một xứ xa, rồi Ngài sẽ ban phước lớn cho ông. Phước lớn thật song sự vâng phục cũng khó thật. Nhưng Áp-ra-ham đã sẵn sàng ra đi, mặc dầu ông không biết mình đi đâu. Ông không biết song Chúa biết, nên ông chỉ vâng phục Ngài, còn Chúa dẫn dắt và lo liệu mọi sự cho ông.

Không phải Áp-ra-ham chỉ vâng phục chừng đó. Về sau, ông vâng phục Chúa mà đem con trai một rất yêu dấu của mình là Y-sác lên núi Mô-ri-a dâng làm của lễ thiêu cho Ngài (Sáng 22:1-19).

2. MÔI-SE (XUẤT 3:1-14; HÊ-BƠ-RƠ 11:27).

Môi-se đã thực hiện một công tác rất vĩ đại là giải phóng hơn một triệu người Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay độc ác của hoàng đế nước Ê-díp-tô. Môi-se là một người chăn chiên, trong tay chỉ có cây gậy, còn hoàng đế nước Ê-díp-tô có cả lực lượng của một cường quốc. Môi-se chống với Pha-ra-ôn như châu chấu chống với xe, như trứng chọi vào đá. Thế mà binh mã Ê-díp-tô bị tiêu diệt, Môi-se hoàn toàn thắng, buộc Pha-ra-ôn phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Thật ra, không phải Môi-se chống với Pha-ra-ôn mà Pha-ra-ôn chống với Đức Chúa Trời. Pha-ra-ôn chống với Đức Chúa Trời như châu chấu chống với xe, như trứng chọi vào đá. Môi-se thành công chỉ vì ông vâng phục Đức Chúa Trời.

Ngoài ra, Môi-se làm sao mà nuôi nổi hơn một triệu người Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng suốt bốn mươi năm? Mọi sự đó có Chúa lo, ông chỉ vâng phục Ngài là đủ. Chúa làm mưa Ma-na từ trời cho họ ăn, khiến hòn đá tuôn ra nước cho họ uống, che phủ họ ban ngày bằng một đám mây, soi sáng họ ban đêm bằng một trụ lửa. Ngài dẫn dắt họ từng bước, cung cấp chọ họ đầy đủ mọi nhu cầu. “Phải, Chúa nuôi dưỡng chúng bốn mươi năm trong đồng vắng, chúng chẳng thiếu thốn chi cả, quần áo chúng không cũ rách, và chân chúng chẳng phù lên” (Nê-hê-mi 9:21).

3. CÁC MÔN ĐỒ (MA-THI-Ơ 28:18-20).

Chúa bảo các môn đồ làm một việc mà sức người không ai làm nổi. Họ lại là những người quá tầm thường, suốt đời chưa hề ra khỏi xứ, bị kể là thành phần dốt nát, vô học, thế mà họ phải khiến muôn dân trở nên môn đồ của Chúa. Chúa bảo như vậy không phải vô lý đâu, vì Ngài đã phán: “Và này, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Chúa cũng đã hứa với Môi-se câu đó (Xuất 3:12). Họ ngu dại, song Chúa khôn ngoan, họ yếu đuối, song Chúa mạnh mẽ, họ vô quyền, song Chúa toàn quyền, họ không có gì cả, song Chúa có đủ mọi sự. Họ chỉ cần vâng phục, bao nhiêu việc khác, Chúa sẽ làm và làm trổi hơn mọi điều họ cầu xin và suy tưởng. Lịch sử chứng minh các môn đồ đã thành công.

Ngày nay, phạm vi trách nhiệm của chúng ta là truyền giảng Tin lành cho trên bảy mươi triệu đồng bào Việtnam. Chúng ta phải làm sao? Nếu chúng ta vâng phục Đức Chúa Trời như Áp-ra-ham, như Môi-se, như các sứ đồ, chắc chắn Chúa sẽ bày tỏ quyền năng vô cùng của Ngài để thực hiện công tác truyền giảng, cứu vớt tội nhân và danh Chúa được vinh hiển. Nguyện Chúa cho chúng ta thảy đều một lòng, một miệng nói lên: “Lạy Chúa, con xin vâng phục Ngài!”

III. KẾT QUẢ CỦA SỰ VÂNG PHỤC.

A-đam không vâng phục, chẳng những mang họa vào đời sống của ông mà còn gây tai họa cho muôn vàn con cháu trải qua các đời. Chắc A-đam không ngờ, và cho đến bây giờ, không ai có thể lường hết tai họa đó. Thế mà ngày nay cũng còn lắm bậc ông bà cha mẹ không cẩn thận về cách ăn ở của mình. Dẫu đã tin Chúa, nhiếu người đang sống cuộc đời không vâng phục nên họ sẽ hối tiếc đời đời khi thấy con cháu mình phải chịu họa lây.

Chúa Jêsus là A-đam cuối cùng đã vâng phục trọn vẹn, nên sự chết đền tội và sự sống lại của Ngài làm cho Ngài trở thành đầu của nhân loại mới, tức là một dòng dõi công bình. Ơn phước tràn ra từ sự vâng phục của Chúa Jêsus thật không xiết kể, đem nhân loại mới trở lại thời đại A-đam trước khi phạm tội. Những gì A-đam đã làm mất do sự bất phục của ông, chúng ta tìm lại được do vâng phục của Chúa Jêsus. Vì vậy, Ngài đã “trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho những kẻ vâng lời Ngài” (Hê-bơ-rơ 5:8,9). Chúng ta không được kể là dòng dõi của Chúa Jêsus, nếu chúng ta không vâng phục.

Có rất nhiều phần thưởng dành cho kẻ vâng phục. Chúng ta biết nhiều lần Chúa buồn rầu vì sự không vâng phục của nhân loại trong đời Nô-ê, của dân Y-sơ-ra-ên, của Sau-lơ và của Hội Thánh ngày nay (Ê-phê-sô 4:30). Nếu yêu Chúa, chúng ta không nỡ nào làm cho Ngài buồn rầu, mà phải làm cho Ngài vui (Lu-ca 15:7,10,23,24,32).

Các phước lành của Chúa dành cho kẻ vâng phục Ngài. Đó là một đời sống hạnh phúc, một đời sống thành công, một đời sống phong phú, một đời sống thánh khiết, một đời sống bất diệt trên trời.

Tôi sống để vâng phục Chúa.

CÂU HỎI

1. Đức tính tốt nhất của môt người là gì?

2. Tại sao muôn loài vạn vật được đẹp đẽ?

3. Tại sao loài người vẫn đau khổ?

4. Hãy thuật lại gương vâng phục của Áp-ra-ham?

5. Hãy thuật lại gương vâng phục của Môi-se?

6. Hãy thuật lại gương vâng phục của các môn đồ?

7. Bí quyết thành công của họ là gì?

8. Tại sao con cháu của A-đam bị khổ?

9. Tại sao dòng dõi của Chúa Jêsus được phước?

10. Sau khi học bài này, chúng ta có quyết định gì?

BÀI 52: NHỮNG ĐÒI HỎI MỖI ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC NHÂN

Kinh Thánh: II Ti-mô-thê 3:15-17.

Câu gốc: “Cho nên, kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm thì phạm tội” (Gia-cơ 4:17).

Mục Đích: Khuyến khích tín hữu dâng đời mình để theo Chúa và chấp nhận những đòi hỏi của Ngài.

Mệnh Lệnh Để Vâng Theo: “Ngài bảo chi hãy vâng theo cả” (Gi 2:5).

Lời Cầu Nguyện Dâng Lên: “Đức Chúa Trời bình an… khiến anh em nên trọn vẹn trong mọi sự lành, đặng làm thành ý muốn Ngài và làm ra sự đẹp ý Ngài, sự vinh hiển đáng về Ngài đời đời vô cùng. Amen” (Hê-bơ-rơ 13:21).

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

ĐỌC KINH THÁNH VÀ CẦU NGUYỆN

(II Tim 2:15; 3:15-17; Ma-thi-ơ 26:41)

TH:

DÂNG MÌNH CHO CHÚA VÀ ĐI TRUYỀN GIẢNG

(Lu-ca 6:38; Công vụ 1:8; 20:35; Mác 16:15; IICôr 9:6,7)

TB:

YÊU THƯƠNG LẪN NHAU

(Giăng 15:12-17)

TT:

SỐNG CHO CHÚA JÊSUS

(Rô-ma 12:1-16)

TN:

Ở TRONG ĐẤNG CHRIST

(Giăng 15:1-16)

TS:

THEO CHÚA VÀ GIỮ LÒNG CAN ĐẢM

(Giô-suê 14:5-14)

TB:

THA THỨ VÀ VÂNG PHỤC

(Ma-thi-ơ 18:21-35; Công 5:17-29)

Suốt một năm qua, chúng ta đã học nhiều điều rất quý báu, song học để cho biết thì không đủ, mà phải làm theo. Học và hành là hai điều luôn luôn đi đôi với nhau. Sau khi học, chúng ta phải làm theo. Nhờ làm theo, chúng ta kinh nghiệm điều mình học, ghi nhớ nó một cách lâu dài, như không hề quên được, làm như vậy, chúng ta sẽ thấy đời sống thuộc linh của mình ngày càng lớn mạnh, có thêm giá trị, đạt được kết quả khả quan.

Chúng ta là Cơ Đốc Nhân, tức là tín đồ Đấng Christ. Vậy, Đấng Christ đã sống thế nào? Và Ngài đòi hỏi chúng ta phải sống thế nào?

1. Làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời (Giăng 5:30).

2. Học lời của Đức Chúa Trời (Lu-ca 24:27).

3. Cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời (Mác 1:35).

4. Dâng đời mình cho Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 20:28).

5. Đi truyền giảng Tin lành (Giăng 8:42).

6. Yêu thương lẫn nhau (Giăng 15:12,13).

7. ở trong Đấng Christ (Giăng 15:10).

8. Đi theo Đấng Christ (Giăng 4:34).

9. Phải can đảm (Giăng 18:4-8).

10. Tha thứ kẻ khác (Lu-ca 23:34).

11. Vâng phục Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 5:8).

Đến thì giờ cho mỗi tín hữu làm chứng kết quả của sự học Lời Chúa trong năm qua, hay 3 tháng cuối cùng này. Trong khi đem lời Chúa ra thực hành, nếu có gì trở ngại, tín hữu nên nêu lên để nhờ người có trách nhiệm giải đáp.

BÀI TẬP:

Những tín hữu viết được nên làm bài giải đáp hai câu hỏi sau đây và nhờ người có trách nhiệm hoặc Chủ tọa Hội Thánh chấm.

1. Chúng ta biết điều chi Chúa ban cho và đòi hỏi. Vậy làm sao chúng ta có thể sống như Chúa đã đòi hỏi?

2. Chúng ta phải hành động thế nào để người chung quanh hưởng được phước hạnh do đời sống theo Chúa của chúng ta?

Lên đầu trang