ĐẤNG CHRIST VÀ ĐỜI SỐNG CỦA TÔI

MỤC LỤC

BÀI 1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CON NGƯỜI THEO NHÃN QUAN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Thi thiên 8:1-9.

CÂU GỐC: “Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến? Con loài người là chi, mà Chúa viếng thăm nó? Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút, đội cho người sự vinh hiển và sang trọng” (Thi thiên 8:4-5).

MỤC ĐÍCH: Minh chứng Đức Chúa Trời xem trọng mọi người.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài

(Sáng 1:26-31).

TH:

Chúa của công cuộc sáng tạo trời đất

(Thi thiên 8).

TB:

Mối liên hệ cá nhân với Đức Chúa Trời

(Thi thiên 23).

TT:

Được Đức Chúa Trời chăm sóc

(Thi thiên 103).

TN:

Tình thương của Đức Chúa Trời đối với con người

(Lu-ca 15:11-24).

TS:

Đức Chúa Trời bênh vực chúng ta

(Rô-ma 8:31-39).

TB:

Đức Chúa Trời quan tâm đến chúng ta

(Giăng 10:7-18).

Đứng trước vũ trụ bao la hùng vĩ, chúng ta thấy mình nhỏ bé quá. Song con người vốn quan trọng hơn cõi thiên nhiên. Vì thế thiên nhiên là những vật vô tri vô giác, không thể sánh với con người có thể xác, có tâm hồn tức là có trí khôn, có tình cảm, có ý chí và có linh hồn. Xem cách Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ và dựng nên con người thì sẽ rõ. Ngài chỉ dùng lời phán mà dựng nên cõi thiên nhiên, song khi dựng nên con người thì Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã họp một phiên trọng thể và tuyên bố: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình Ta và theo tượng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng…” (Sáng thế ký 1:26). Lại khi con người đã phạm tội, Chúa không bỏ mặc số phận của họ, song đã xuống trần gian để tìm và cứu họ.

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SANH MẠNG CON NGƯỜI.

Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa. Ngài là một vị Thẩm phán có suy tư, có cảm giác, có ý chí. Đức Chúa Trời đã dựng nên con người giống như Ngài để tương giao với Ngài. Đức Chúa Trời dựng nên con người cho Ngài, nên con người không bao giờ thỏa mãn nếu chưa có Ngài và thuộc về Ngài. Đức Chúa Trời yêu thương con người mà Ngài đã dựng nên, và Ngài mong họ cũng thương yêu Ngài. Chúa không bao giờ xem con người như bộ máy, như bù nhìn, song xem họ chỉ kém hơn Ngài một chút (Thi thiên 8:5). Con ngươi thật tương giao với Chúa, thật yêu thương Ngài và phục vụ Ngài là khi họ sử dụng ý chí tự do của họ mà tình nguyện làm việc đó. Song với ý chí tự do, con người có thể chống đối Ngài, lìa bỏ Ngài, và họ đã làm như thế. Vì vậy, con người có trách nhiệm khi sử dụng ý chí tự do của mình cách phải hay trái, đưa đến kết quả tốt hay xấu, để rồi được thưởng hay bị phạt.

Trong nhãn quan Đức Chúa Trời, con người rất quan trọng, nên Ngài rất thương yêu họ (Giăng 3:16; Rô-ma 5:8).

II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC CÁ NHÂN.

Trong câu 1 và 2, Đa-vít tôn xưng Đức Chúa Trời là Chúa của mình. Ông tung hô danh vinh hiển của Ngài, Ngài cai trị trên khắp trời và đất. Không những Đa-vít mà trẻ thơ và con đương bú cũng tung hô Ngài như vậy. Tất cả hiệp lại thành một sức mạnh, có tầm quan trọng lắm cho nên ma quỉ cũng phải nín lặng.

Câu 3-4: Đứng trước vũ trụ bao la hùng vĩ, Đa-vít thấy mình không có gì đáng kể vì cả nhân loại còn nhỏ bé quá, phương chi là cá nhân ông. Song ông phải ngạc nhiên mà la lên, vì Đức Chúa Trời không những nhớ đến loài người một cách chung, nhưng cũng nhớ đến từng cá nhân. Ngài nhớ đến chúng ta vì muốn tương giao với chúng ta. Hơn nữa, Chúa nhớ đến chúng ta để chăm sóc chúng ta.

Giữa vòng nhân loại xưa nay, có những vĩ nhân, anh hùng hào kiệt. Đó là những người được Chúa cho chí khí, khôn ngoan, năng lực, tài đức, làm họ trở nên lỗi lạc và xuất chúng. Nhưng bên cạnh những người như vậy, Chúa vẫn chăm sóc những người rất tầm thường, những con người ít ai biết đến hoặc không hề có ai biết. Ngài đã chăm sóc những người giàu có mặc áo tía bằng vải gai mịn, ăn ở rất sung sướng, thì Ngài cũng chăm sóc La-xa-rơ nằm ngoài của người giàu có. Cả hai đều quan trọng như nhau vì đều do Chúa dựng nên. Nếu Chúa đã chăm sóc từng đóa hoa mà mặc cho chúng những vẻ đẹp kỳ diệu, và nếu Chúa đã chăm sóc từng con chim sẻ mà không để cho một con nào rơi xuống vô cớ, thì Ngài chăm sóc chúng ta dường nào, vì chúng ta quan trọng hơn đóa hoa và chim sẻ biết bao (Ma-thi-ơ 10:29-31). Chúa đã nhớ đến A-đam khi ông phạm tội và trốn Chúa, Ngài thăm hỏi ông và chăm sóc ông. Chúa kêu A-đam và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Chúa vẫn kêu đích danh mỗi người trong chúng ta như vậy để thăm hỏi và chăm sóc.

Câu 5-8: Không những nhớ đến để chăm sóc, Chúa còn đội cho người sự vinh hiển làm mão miện và đặt con người lên địa vị quan trọng là cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân người. Song rất tiếc, con người không nhận biết giá trị của mình, nên thay vì tôn thờ Đấng Tạo hóa, cai trị muôn vật, thì con người đã tôn thờ loài thọ tạo, kể cả điểu thú, côn trùng (Rô-ma 1:22-23). Chúng ta hãy nhận biết rằng, con người của chúng ta dầu rất bé nhỏ song rất quan trọng. Dầu chúng ta nhận biết như vậy hay không, Đức Chúa Trời vẫn xem chúng ta là quan trọng hơn cả vũ trụ. Chính Chúa Jêsus đã lấy làm hãnh diện mặc lấy thân hình con người của chúng ta.

III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ CHÚ Ý ĐẾN TỪNG CÁ NHÂN.

Chỉ căn cứ vào Tin Lành Giăng, chúng ta cũng thấy rõ thế nào Chúa Jêsus đã hết sức quan tâm đến từng cá nhân. Chúa dành thì giờ chuyện trò thân mật với Ni-cô-đem, khi ông đến với Ngài vào lúc ban đêm (Giăng 3). Chúa đã tẻ đường để đến gặp một phụ nữ tội lỗi tại bên giếng nước ở Sikha (Giăng 4). Chúa đã đến chữa lành một người bại đang quằn quại bên ao Bêtếtđa (Giăng 5). Chúa đã chữa lành cho một người mù từ thuở sinh ra (Giăng 9). Chúa đã hiện ra với Thô-ma để cứu ông khỏi nghi ngờ về sự sống lại của Ngài (Giăng 20). Chúa đã hiện ra với Phi-e-rơ để yên ủi và xác nhận chức vụ của ông (Giăng 21).

Chúng ta tưởng rằng Đức Chúa Trời phải quan tâm chăm sóc toàn thể nhân loại, thì cá nhân của chúng ta nào có đáng kể gì? Không phải thế đâu! Chúa quan tâm đến từng cá nhân. Một bà mẹ có 10 con, bà biết tên tuổi, tánh tình, nhu yếu của mỗi con để chăm sóc họ một cách riêng. Chúa đối với chúng ta cũng vậy và còn chu đáo hơn muôn phần.

Vậy ai nấy hãy tạo cho Chúa cơ hội gặp chúng ta một cách riêng. Hãy khao khát Ngài bằng cách suy gẫm Kinh Thánh, cầu nguyện thiết tha. Gặp được Chúa, mỗi nan đề của chúng ta sẽ được giải quyết như ba bác sĩ đã tìm gặp Ngài (Ma-thi-ơ 2:10-11).

Nếu chúng ta biết tầm quan trọng của con người theo nhãn quan của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không tự ý mà ăn ở bê tha, trụy lạc, trái lại chúng ta sẽ thay đổi thái độ, chí hướng và nếp sống. Chúng ta phải có thái độ đoan chính, trang nghiêm, phải có ý chí cao thượng, thánh khiết, phải có nếp sống đạo đức, lễ nghĩa. Chúng ta sẽ tự giác mà hết lòng kính mến Chúa, biết ơn Ngài, ca ngợi Ngài như tác giả Thi thiên 8:9: “Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao!” Đồng thời chúng ta cũng thay đổi thái độ đối với mọi người, nhất là người tàn tật, dốt nát, nghèo nàn, hoặc gian trá, trụy lạc. Vì họ vẫn mang hình ảnh của Chúa, Ngài vẫn xem họ là quan trọng, Ngài vẫn yêu thương họ và đã chết vì họ. Chúa không muốn một ai hư mất, song muốn mọi người đều ăn năn, trong đó có cả người giàu lẫn nghèo, người tri thức lẫn người dốt nát, người đạo đức lẫn người gian ác. Chúng ta phải yêu thương mỗi người và truyền giảng cứu ân cho mọi người.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta biết con người là quan trọng hơn cõi thiên nhiên?

2. Con người được dựng nên theo hình tượng của Đức Chúa Trời có nghĩa gì?

3. Tại sao con người có trách nhiệm mà muôn vật không có?

4. Dầu con người bé nhỏ, song Chúa đối với con người như thế nào?

5. Chúa tôn trọng con người thế nào?

6. Làm sao chúng ta biết Chúa chăm sóc từng cá nhân?

7. Biết tầm quan trọng của con người, chúng ta nên có thái độ, chí hướng và nếp sống như thế nào?

8. Chúng ta phải có lòng thế nào đối với Chúa?

9. Chúng ta phải có lòng thế nào đối với tha nhân?

BÀI 2. ĐỨC CHÚA TRỜI NHẬP THỂ

KINH THÁNH: Giăng 1:1-14.

CÂU GỐC: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật, chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ Đức Chúa Trời đã đi xa như thế nào để tìm và cứu chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời nhập thể

(Giăng 1:1-14).

TH:

Sự khiêm hạ của Đấng Christ

(Phi-líp 3:4-8).

TB:

Đấng Christ tồn tại đời đời

(Giăng 17:1-8).

TT:

Tình thương của Đấng Christ

(Giăng 17:9-19).

TN:

Đức Chúa Trời nhập thế

(IGiăng 4:2-3; I Ti-mô-thê 3:16).

TS:

Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta

(Cô-lô-se 1:19-22).

TB:

Được phục hòa với Đức Chúa Trời

(Ê-phê-sô 2:13-22).

Đức Chúa Trời nhập thể làm người là một lẽ mầu nhiệm không tiền khoáng hậu (I Ti-mô-thê 3:16), song là một thực sự hiển nhiên. Nữ đồng trinh Ma-ri đã chịu thai một cách mầu nhiệm bởi quyền năng siêu việt của Đức Thánh Linh mà sanh ra Chúa Jêsus trước đây gần hai ngàn năm. Chúa Jêsus đã sống tại xứ Phalêtin 33 năm, chịu chết trên thập tự giá, sống lại rồi về trời là một sự kiện lịch sử không thể chối cãi được.

Đức Chúa Trời Ba Ngôi hiệp một là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Đức Chúa Cha đã sai Đức Chúa Con xuống trần gian làm người. Danh Ngài là Jêsus có nghĩa là Chúa Cứu thế (Ma-thi-ơ 1:21), tước vị của Ngài là Christ theo tiếng Hy-lạp, là Mê-si theo tiếng Hy-bá-lai, đều có nghĩa là Đấng được xức dầu để tôn làm Vua, Thầy Tế lễ, Tiên tri và Chúa Cứu thế. Ngài vừa là Đức Chúa Trời vừa là người, vì khi nhập thể làm người, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời.

Kinh Thánh tôn Chúa Jêsus bằng một danh khác là Ngôi Lời, hay là Đạo. Chúa vốn có từ ban đầu, từ trước vô cùng, đồng hiện hữu với Đức Chúa Trời. Chúa dựng nên muôn vật và loài người, nhưng loài người không biết Ngài, và khi Ngài đến thì họ không tiếp nhận Ngài.

I. MỤC ĐÍCH ĐỨC CHÚA TRỜI NHẬP THỂ.

Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người có tự do, song con người đã sử dụng sự tự do cách sai lầm, nên đã phạm tội. Theo luật công bình của Chúa thì không đổ huyết sẽ không có sự tha thứ (Hê-bơ-rơ 9:22). Vì mọi người đều đã phạm tội nên không ai có đủ tư cách chết thế loài người. Vậy Đức Chúa Trời phải nhập thể, làm một người hoàn toàn vô tội để chết đền tội loài người. Kinh Thánh giải thích rằng: “Đức Chúa Trời đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt” (Rô-ma 8:3). “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã làm nên sự rủa sả vì chúng ta” (Ga-la-ti 3:13). “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (IICôr 5:21). Vì thế khi sắp tắt hơi trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã long trọng tuyên bố: “Mọi sự đã trọn” (Giăng 19:30).

Chúng ta phải nhận thức rằng tội lỗi của chúng ta quá nhiều, sự hình phạt của chúng ta quá nặng, linh hồn của chúng ta quá đắt, nên không ai có thể thay thế, không có gì mua chuộc ngoài ra sự chết và huyết báu của Chúa Jêsus trên thập tự giá. Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời đã bị giết từ buổi sáng thế (Khải 13:8).

II. ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY ĐỨC CHÚA TRỜI NHẬP THỂ.

Đức Chúa Trời nhập thể là lẽ mầu nhiệm không tiền khoáng hậu, với mục đích cao quí vô cùng, với động cơ là tình yêu thương. Kinh Thánh chép: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài…” (Giăng 3:16). “Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

Để thực hiện tình thương đó, Ngôi Thứ hai được mệnh danh là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời đã từ bỏ mọi điều mình có, lấy hình thể một tôi tớ để phục vụ, trở nên giống như con người, rồi hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá (Phi-líp 2:6-8). Đối với con người, không có sự chết nào khổ nhục bằng sự chết trên thập tự giá, phương chi là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời. Ngài còn mang lấy hết thảy tội lỗi của chúng ta, uống cạn chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Ê-sai 53:6; Ma-thi-ơ 26:39,41).

Thiên đàng với trần gian cách biệt quá, Đức Chúa Trời với loài người xa nhau quá, thế mà Ngài đã nhập thể làm người để từ thiên đàng xuống trần gian. Chúa Jêsus đã bỏ hết mọi sự để đi xuống, đi xuống và Ngài đi xuống mãi. Từ ngôi vinh quang xuống máng cỏ chuồng bò, từ đó đến đồi Gô-gô-tha, đến thập giá, đến âm phủ. Trên đoạn đường đầy chông gai đá sỏi, Chúa Jêsus đã không dừng bước, cũng không tẻ bên hữu hoặc bên tả, Ngài đi tìm chúng ta cho kỳ được như người chăn đi tìm con chiên bị mất (Lu-ca 15:4).

Không ai có thể đem Chúa từ trời xuống đất, song Ngài tự nguyện làm việc đó chỉ vì yêu thương chúng ta. Không phải chúng ta xứng đáng được Chúa yêu, song Ngài cứ yêu chúng ta, vì Ngài là tình yêu (IGiăng 4:8).

III. KẾT QUẢ ĐỨC CHÚA TRỜI NHẬP THỂ.

Đức Chúa Trời đã chấp nhận của lễ đền tội mà Chúa Jêsus đã dâng trên bàn thờ thập tự giá vì chúng ta. Nhơn đó Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại và tôn Ngài làm Chúa Cứu thế của trần gian (Công vụ 2:36). Vì thế, ai tin Ngài sẽ.

1. Được tha thứ tội lỗi, không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Công vụ 3:19; Giăng 3:16).

2. Được đến gần Đức Chúa Trời và hòa thuận lại cùng Ngài (Ê-phê-sô 2:16-18; Cô-lô-se 1:21-22).

3. Được làm con cái Đức Chúa Trời (Giăng 1:12).

Trước lẽ mầu nhiệm về Đức Chúa Trời nhập thể, chúng ta hãy cung kính sấp mình thờ lạy. Trước tình thương kỳ diệu, Chúa đã chết và sống lại vì chúng ta, ai nấy hãy lớn tiếng ca ngợi cảm tạ Ngài cho đến đời đời. Bất cứ nơi nào và lúc nào, nếu có dịp hãy nói: “Jêsus là Chúa tôi, tôi vì Ngài mà bằng lòng bỏ mọi sự, xem mọi sự như rơm rác để được chính mình Ngài” (Phi-líp 3:8). Hãy tận hiến cho Ngài (Rô-ma 12:1).

Học viên có nhận biết Chúa yêu thương mình không? Có nhận biết sự chết của Chúa là đền tội cho mình không? Có hết lòng tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình chưa? Có thật được tha tội và trở nên con cái Chúa hay chưa? Hãy tin nhận Ngài ngay bây giờ đi!

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời nhập thể có nghĩa gì?

2. Đức Chúa Trời nhập thể bằng cách nào và bao lâu rồi?

3. Ngài đã sống cuộc đời làm người tại đâu và trong bao lâu?

4. Danh hiệu của Ngài là Jêsus và tước hiệu của Ngài là Christ, có nghĩa gì?

5. Tại sao Chúa phải nhập thể và để làm gì?

6. Động cơ nào thúc đẩy Chúa nhập thể?

7. Bạn quan niệm thế nào về sự chết của Chúa?

8. Sự chết của Ngài đem lại kết quả gì cho nhân loại?

9. Bạn đã nhận được phước gì do sự nhập thể của Chúa?

10. Chúng ta có thái độ nào trước tình thương của Chúa?

BÀI 3. GIĂNG BÁP-TÍT, NGƯỜI DỌN ĐƯỜNG

KINH THÁNH: Giăng 1:6-8; 19-34.

CÂU GỐC: “Chính người chẳng phải là sự sáng, song người phải làm chứng về sự sáng” (Giăng 1:8).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết, được làm chứng nhân cho Chúa Jêsus là một vinh dự lớn lao.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Giăng Báp-tít tự đánh giá mình

(Giăng 1:6-8; 19-34).

TH:

Vua Hê-rốt đánh giá Giăng Báp-tít

(Mác 14:20).

TB:

Vấn đề trọng đại của Giăng Báp-tít

(Ma-thi-ơ 11:1-6).

TT:

Chúa Jêsus đánh giá Giăng Báp-tít

(Ma-thi-ơ 11:7-14).

TN:

Lời chứng trung tín của Giăng Báp-tít

(Giăng 10:40-42).

TS:

Giăng Báp-tít là người giới thiệu

(Mác 1:1-8).

TB:

Sự khiêm hạ chân chính của Giăng Báp-tít

(Giăng 3:25-30).

TÔI LÀ AI? TÔI CÓ MẶT Ở ĐÂY ĐỂ LÀM GÌ? ĐIỀU GÌ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT CHO ĐỜI TÔI? Đó là những câu hỏi trọng đại mà chúng ta cố gắng tìm tòi để giải đáp.

Chúng ta tìm thấy lời giải đáp trong chức vụ của Giăng Báp-tít. Ông là nhân vật nổi bật sau Chúa Jêsus. Ông là một sứ giả được Đức Chúa Trời sai đi trước để dọn đường cho Chúa Jêsus. Ông giảng và làm phép Báp-têm để chuẩn bị cho mọi người sẵn sàng đón nhận Chúa Jêsus, rồi ông giới thiệu Ngài cho họ. Mỗi chúng ta đều nhận được vinh dự lớn lao như Giăng Báp-tít là giới thiệu Chúa Jêsus cho người khác. Đó là công việc quan trọng nhất, là đặc ân, đặc quyền Chúa dành cho chúng ta.

Bây giờ chúng ta xem xét để biết đời sống và chức vụ của Giăng Báp-tít đã được đánh giá ra sao.

I. GIĂNG BÁP-TÍT TỰ ĐÁNH GIÁ (Giăng 1:19-34).

Sự giảng dạy của Giăng đã lôi cuốn rất nhiều người từ thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê và vùng phụ cận đến xưng tội và chịu ông làm Báp-têm. Các lãnh tụ tôn giáo như thầy tế lễ, người Lê-vi đến hỏi Giăng: “Ông là ai? Có phải Đấng Christ? Có phải Ê-li? Có phải tiên tri không?” Ông trả lời: Không! Ông chỉ là tiếng kêu trong đồng vắng như tiên tri Ê-sai đã dự ngôn.

Đang khi có cơ hội để khoe khoang, Giăng rất nhún nhường. Ông không tự cao tự đại đánh giá mình. Đó là tinh thần của một người dọn đường cho Chúa.

Kế đó, ông giới thiệu cho họ một Đấng đến sau ông, song trổi hơn ông, ông không đáng mở dây giày Ngài, Đấng ấy sẽ cất tội lỗi thế gian đi, Đấng ấy sẽ làm Báp-têm bằng Đức Thánh linh, Đấng ấy là Con Đức Chúa Trời. Ông hạ mình xuống và biến mất để ai nấy chỉ nghe, chỉ thấy, chỉ hướng về Chúa Jêsus mà thôi. Đó là tinh thần của một người giới thiệu Chúa cho người khác. Vậy chúng ta hãy theo gương của Giăng Báp-tít để giới thiệu Chúa cho bà con, bạn hữu.

II. VUA HÊ-RỐT ĐÁNH GIÁ GIĂNG BÁP-TÍT (Mác 6:17-20).

Hê-rốt là một bạo quân đã lấy Hêrôđia, em dâu của mình để làm vợ. Trong đám quần thần không ai dám can ngăn, nhưng Giăng dám làm điều đó, mặc dầu ông biết mình có thể lâm nguy. Kết quả là Hê-rốt bắt Giăng cầm tù.

Hê-rốt căm giận Giăng, muốn giết ngay, song không thể, vì Hê-rốt rất sợ Giăng, biết Giăng là một người công bình và thánh.

Hê-rốt có lòng tàn ác, có uy lực trong tay, là con người rất đáng sợ trong thời đại phong kiến, song ông lại sợ Giăng. Không phải Giăng có uy lực hơn Hê-rốt, mà ông là người công bình và thánh. Dầu tàn ác, Hê-rốt còn có chút lương tri để nhận biết chân giá trị của con người. Hê-rốt sợ Giăng là kính sợ một người đạo đức. Đối diện với Giăng, nghe Giăng nói, Hê-rốt có cảm giác mình là một tội nhân đang đứng trước một quan tòa. Mỗi lần nghe Giăng, lòng ông luôn bối rối, song ông lại muốn nghe, vì biết Giăng nói thật. Giăng Báp-tít chỉ mong Hê-rốt ăn năn để được Đức Chúa Trời tha thứ.

Về việc chém đầu Giăng, có lẽ vua mắc mưu Hêrôđia và con gái của bà, vì “vua hằng gìn giữ người” (Mác 6:20), song cũng có lẽ họ âm mưu rồi dàn cảnh, vì “vua muốn giết Giăng, song sợ dân chúng, vì họ đều tôn Giăng là tiên tri” (Ma-thi-ơ 14:5). Dầu cố ý hay vô tình, Hê-rốt nhận mình đã giết Giăng (Lu-ca 9:9). Vì vậy khi nghe đồn Chúa Jêsus làm nhiều phép lạ thì Hê-rốt quả quyết đó là Giăng Báp-tít sống lại (Mác 6:14-15). Khi Giăng bị cầm tù mà Hê-rốt còn kính sợ Giăng, phương chi khi nghe Giăng sống lại, chắc ông còn kính sợ hơn nhiều.

Về phần Giăng, ông bị giết trong địa vị của một người công bình và thánh. Ông chết trong chức vụ một sứ giả của Đức Chúa Trời. Song về phần Hê-rốt mới thật đáng thương hại! Ông có cơ hội để ăn năn, đã không ăn năn mà còn giết một người công bình và thánh, một sứ giả của Đức Chúa Trời, để cứ miệt mài trong tội lỗi và bị hư mất đời đời.

III. QUẦN CHÚNG ĐÁNH GIÁ GIĂNG BÁP-TÍT (Giăng 10:40-42).

Sau khi Giăng qua đời, Chúa Jêsus đến bên kia sông Giô-đanh, chỗ Giăng đã đứng làm Báp-têm cho nhiều người, và ở lại đó. Khi đoàn dân tiếp xúc với Ngài, họ liền nhận biết hai điều: (1) Giăng không làm phép lạ nào, còn Chúa Jêsus làm nhiều phép lạ. (2) Những lời Giăng giới thiệu cho họ về Chúa Jêsus là thật. Tại đó có nhiều người tin Ngài.

Dầu đã chết, lời làm chứng của Giăng vẫn còn hiệu lực, vì đời sống của ông đã có ấn tượng mạnh trên quần chúng. Quần chúng đã đánh giá cao đời sống và chức vụ của ông. Chúa Jêsus chắc đã vui mừng lắm về kết quả lớn của người dọn đường cho Ngài. Ước gì đời sống và lời chứng của chúng ta có hiệu lực và ấn tượng mạnh trên mọi người đã từng quen biết chúng ta, để sớm hoặc muộn, họ sẽ biết về lời chứng của chúng ta là thật mà tin Chúa.

IV. CHÚA JÊSUS ĐÁNH GIÁ GIĂNG BÁP-TÍT (Ma-thi-ơ 11:2-11).

Khi Giăng còn bị tù, đã có lần ông sai môn đồ đến hỏi Chúa Jêsus: “Thầy là Đấng phải đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác?” Không phải ông nghi ngờ Chúa, song trong lúc đau buồn, Giăng thắc mắc tại sao Chúa không thi hành quyền bính của Ngài để giải cứu ông, tiêu diệt kẻ ác, chinh phục tội nhân? Chúa bảo họ về thuật lại cho Giăng những điều họ nghe và thấy, rồi Ngài kết thúc: “Phước cho kẻ không vấp phạm vì cớ Ta”. Chúa muốn nói rằng Ngài đã thi hành chức vụ Cứu Chúa, mà chưa thi hành chức vụ quan án của thế gian.

Khi các môn đồ của Giăng đã về, Chúa nói cho đoàn dân biết về giá trị của Giăng.

1. Ông là một tiên tri.

Giăng là một tiên tri, song còn hơn tiên tri nữa, là sứ giả dọn đường cho Cứu Chúa. Các tiên tri đã dự ngôn về Cứu Chúa, song chưa ai thấy được Ngài, chỉ Giăng được gặp Ngài và trực tiếp giới thiệu Ngài cho mọi người.

2. Những người do đàn bà sanh ra, không có ai cao trọng hơn Giăng.

Giăng là con người đạo đức cao trọng, thậm chí tàn ác như Hê-rốt còn phải kính sợ ông và muốn nghe ông. Dầu Giăng là người như chúng ta, song can đảm, ngay thẳng, xem thường nguy hiểm, chớ không giống như cây sậy bị gió rung. Dầu Giăng có cơ hội để được Hê-rốt biệt đãi, ăn mặc sung sướng trong đền vua, song ông thà ăn ở cách thanh bần. Tâm tình và tư cách của Giăng thật cao trọng.

Bạn có giới thiệu Chúa Jêsus cho ai chưa? Bạn không thể giới thiệu Chúa Jêsus nếu bạn chưa thật biết Ngài. Tội nhân thường ghét Chúa Jêsus và ghét luôn cả người giới thiệu Ngài cho họ như Hê-rốt ghét Giăng Báp-tít, song chúng ta cần phải can đảm thi hành chức vụ, trung tín làm chứng về Chúa cho mọi người, chắc chẳng sớm thì muộn sẽ có kết quả. Nguyện đời sống và chức vụ của chúng ta được Ngài đánh giá cao.

CÂU HỎI

1. Vinh dự lớn mà Chúa dành cho chúng ta là gì?

2. Trong khi được mọi người hoan nghinh thì Giăng có thái độ gì?

3. Bạo quân Hê-rốt đánh giá Giăng là người như thế nào?

4. Ông có lòng thế nào khi nghe Giăng làm chứng?

5. Giăng và Hê-rốt, ai là người đáng thương hại? Tại sao?

6. Tại sao chúng ta biết quần chúng đánh giá cao về Giăng?

7. Xin kể ra hai lý do mà Chúa Jêsus đánh giá cao về Giăng?

8. Giăng như một cây đuốc thế nào? Hình ảnh ấy có nghĩa gì?

9. Bạn có quyết định gì sau khi học bài này?

BÀI 4. NHỮNG NGƯỜI THEO CHÚA JÊSUS.

KINH THÁNH: Giăng 1:35-42; 6:66-69.

CÂU GỐC: “Trước hết người gặp anh mình là Si-môn, thì nói rằng: Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ)” (Giăng 1:41).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ mỗi người đều quan trọng và cần nghe Tin Lành.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Anh-rê đưa Phi-e-rơ đến với Chúa

(Giăng 1:35-42).

TH:

Anh-rê đưa một cậu bé đến với Chúa

(Giăng 6:1-14).

TB:

Anh-rê đưa mấy người Hy-lạp đến với Chúa

(Giăng 12:20-26).

TT:

Lời tôn xưng quan trọng của Phi-e-rơ

(Giăng 6:65-69).

TN:

Thất bại nặng nề của Phi-e-rơ

(Giăng 18:25-27).

TS:

Khám phá quan trọng của Phi-e-rơ

(Giăng 20:1-10).

TB:

Lời ủy thác trọng đại cho Phi-e-rơ

(Giăng 21:15-19).

Những người theo Chúa Jêsus thì nhiều, song hôm nay chúng ta học về hai người là Anh-rê và Phi-e-rơ. Hai anh em ruột có cá tánh và khả năng khác nhau, song đều được Chúa gọi, Chúa dùng mỗi người một việc.

Những người có khả năng khác nhau đều được Chúa dùng, miễn là họ tự nguyện theo Ngài và phục tùng Ngài. Các khả năng thiên phú rất là quí báu, nếu được dâng cho Chúa, Ngài sẽ đặt nó vào kế hoạch kỳ diệu của Ngài và chúng sẽ thành ích lợi lớn lao.

I. ANH-RÊ – NGƯỜI ĐI THEO.

Anh-rê là một người khao khát chân lý và hăng say đi tìm chân lý. Khi Giăng Báp-tít bắt đầu thu hút dân chúng đến với ông tại sông Giô-đanh, Anh-rê đã tạm bỏ công việc chài lưới đến nghe ông giảng, rồi theo ông. Một ngày kia, khi Giăng Báp-tít thấy Chúa Jêsus đi ngang qua, bèn chỉ vào Ngài mà nói rằng: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời”. Ông muốn nói: “Kìa, Đấng Cứu thế!” Anh-rê tức thì theo Ngài. Khi gặp Chúa, được ở với Ngài một thời gian ngắn, chắc Anh-rê cảm thấy thích thú và thỏa mãn vô cùng. Vì thế khi trở về, gặp anh mình là Si-môn Phi-e-rơ, Anh-rê nói ngay: “Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si, nghĩa là Đấng Christ”. Người liền dẫn Si-môn Phi-e-rơ đến cùng Chúa Jêsus.

Sau khi Anh-rê đã dứt khoát từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, thì một lần nọ, đoàn dân đông đến nghe Chúa giảng và trước khi giải tán để họ ra về, Chúa muốn cho họ ăn. Các môn đồ bối rối không biết tìm đâu đủ bánh cho năm ngàn người ăn. Anh-rê liền dẫn đến cho Chúa một cậu bé có năm cái bánh và hai con cá (Giăng 6:8).

Lại một lần khác có những người Hy-lạp muốn ra mắt Chúa Jêsus, nên họ tìm Phi-líp là người quen để nhờ hướng dẫn, song Phi-líp lại nhờ Anh-rê cùng làm việc đó với mình (Giăng 12:20-22).

Trong Kinh Thánh chỉ có ba lần đề cập đến công việc của Anh-rê, mà cả ba lần đều nói ông dẫn một hay nhiều người đến cùng Chúa. Ông có đức tính trầm tĩnh, ít nói, hay nhường lời cho người khác, nhưng có một đời sống đạo đức sâu nhiệm… Khả năng của ông là đem người khác đến cùng Chúa, nên ông trung tín, tận tâm làm công việc Chúa giao cho ông làm, ở đúng vị trí mà Chúa muốn ông ở. Ông không ghen tị với người khác có khả năng, làm một việc nổi bật hơn ông. Dầu ông không phải là một lãnh tụ của Hội Thánh, song vị lãnh tụ đầu tiên của Hội Thánh là Phi-e-rơ đã do ông dẫn đến cùng Chúa. A-na-nia cũng giống như Anh-rê, ông là một môn đồ tại thành Đa-mách được Chúa sai đi đặt tay cầu nguyện cho Sau-lơ. A-na-nia vâng lời Chúa, đến đặt tay trên mình Sau-lơ mà cầu nguyện, Sau-lơ được sáng mắt lại, đầy dẫy Thánh linh và chịu phép Báp-têm (Công vụ 9:10-18). Từ đó, Sau-lơ tức Phao-lô ngày càng nổi bật, còn A-na-nia thì không được nhắc đến nữa. Công tác vĩ đại của ông đã hoàn tất. Chúa dùng mỗi người một việc, và việc nào của Chúa cũng đều quan trọng.

II. PHI-E-RƠ – NGƯỜI LÃNH ĐẠO.

Chúa Jêsus đã nhìn thấy Phi-e-rơ có đức tánh và khả năng của một người lãnh đạo, nên Ngài đã chọn ông cho chức vụ ấy. Không phải Phi-e-rơ là người không sai lầm (vô ngộ) đâu. Trái lại ông là người sai lầm và thất bại. Ông đã ngăn cản Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá và bị Ngài quở trách nặng nề (Ma-thi-ơ 16:21-33). Ông đã chối Chúa ba lần là một tội rất lớn (Giăng 18:25-27). Song ông đã hết lòng ăn năn.

Sau bài giảng của Chúa Jêsus cho đoàn dân về Bánh Sự Sống, có nhiều môn đồ phàn nàn: “Lời này thật khó, ai nghe được?” (Giăng 6:60). Từ lúc đó có nhiều môn đồ trở lui, không đi với Ngài nữa. Thật là bi thảm, mọi sự dường như sụp đổ hoàn toàn. Đang khi đó Chúa Jêsus nhìn thẳng vào 12 sứ đồ mà phán rằng: “Còn các ngươi cũng muốn lui chăng?”

Đấy, chúng ta thấy rõ thái độ của Chúa Jêsus với những người theo Ngài. Ngài không muốn có những người theo Ngài tùy thời tùy buổi, vì lợi vì danh, đã ích kỷ lại hèn nhát, mới vừa thấy bóng thập tự giá đã vội vàng rút lại. Song Ngài muốn ai nấy chỉ vì biết Ngài, chỉ vì yêu Ngài mà tự nguyện theo Ngài trên mọi nẻo đường cho đến cuối cùng, bất luận nhục vinh sinh tử. Thiết tưởng ngày nay Chúa cũng đương nhìn vào thẳng chúng ta mỗi người và phán: “Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?”

Trước hoàn cảnh ấy, Phi-e-rơ dõng dạc thưa rằng: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời” (Giăng 6:66-69).

Câu trả lời của Phi-e-rơ tỏ ra ông có đức tánh và khả năng lãnh đạo. Ông là người kiên trì, rắn chắc, không theo phe đông, không làm nô lệ cho hoàn cảnh, không đo lường. Chúng ta có thể tưởng tượng Phi-e-rơ quì xuống, nắm chặt lấy tay Chúa mà thưa rằng: “Chúng tôi đi theo ai?” Ông thấy rằng dầu muốn theo ai cũng không có ai xứng đáng cho ông theo. Vì chỉ một mình Chúa có lời của sự sống đời đời, chỉ có một mình Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời. Thế là Phi-e-rơ đã cân nhắc kỹ càng trước khi nói. Chúng ta có lấy làm hãnh diện mà thưa với Chúa như Phi-e-rơ đã thưa hay không?

Chắc chắn, sự quyết định và lời tôn xưng của Phi-e-rơ bây giờ đã thức tỉnh một số người khác, nghĩa là đã cứu vãn tình trạng bi thảm của các môn đồ. Hội Thánh trải qua các thế hệ đã có những nhà lãnh đạo như Phi-e-rơ và trong tương lai Hội Thánh vẫn cần những người như ông.

Vì vậy, khi Chúa cảnh cáo Phi-e-rơ về tội chối Ngài, Chúa đã khích lệ ông: “Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Lu-ca 22:32). Và sau khi Chúa sống lại, Ngài đã phục chức cho Phi-e-rơ và ban Đức Thánh Linh cho ông (Giăng 21:15-19). Từ đó, Phi-e-rơ đã hành động đúng với tư cách một nhà lãnh đạo (Công vụ 2:14; 4:19; 5:20).

III. NGƯỜI NÀO CHỖ NẤY.

Dầu mỗi người đều có đức tánh và khả năng khác nhau, song Chúa cần tất cả, miễn họ sẵn sàng dâng cho Ngài. Tuy nhiên điều quan trọng không phải là những gì chúng ta làm cho Chúa, mà những gì Chúa làm cho chúng ta. Vì ngoài Chúa ra, chúng ta không thể làm gì xứng đáng được. Chúng ta là đất sét, Chúa là thợ gốm, Ngài nắn chúng ta thành những chiếc bình khác nhau, sử dụng vào những việc khác nhau, tùy theo nhu cầu của Ngài (II Ti-mô-thê 2:20-21).

Vậy chúng ta phải hoàn toàn phục tùng Chúa, vì Ngài biết chúng ta hơn chúng ta biết mình. Hãy yên lặng chờ đợi Chúa, hãy giữ vững vai trò Chúa giao, hãy tận tâm phục vụ Ngài. Chúa đã kêu gọi Anh-rê và Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ khiến các ngươi nên tay đánh lưới người”. Sau đó, Ngài dùng mỗi người vào mỗi việc xứng hiệp với đức tánh và khả năng của họ.

CÂU HỎI

1. Anh-rê có đức tánh gì?

2. Theo khả năng của Anh-rê, Chúa đã dùng ông vào việc gì?

3. Ba lần Kinh Thánh đề cập đến công việc của Anh-rê là công việc gì?

4. Tại sao chúng ta biết Phi-e-rơ không phải là vô ngộ, nghĩa là không sai lầm?

5. Tại sao Chúa dùng ông trong chức vụ lãnh đạo?

6. Trường hợp nào cho ta biết Phi-e-rơ có khả năng lãnh đạo?

7. Nhờ đâu Phi-e-rơ có thể lãnh đạo đúng?

8. Tại sao chúng ta phải hành động đúng với vai trò Chúa đặt mình?

BÀI 5. NI-CÔ-ĐEM, MỘT GIÁO SƯ LỖI LẠC CẦN ĐẾN CHÚA

KINH THÁNH: Giăng 3:1-21.

CÂU GỐC: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3:3).

MỤC ĐÍCH: Học hiểu cách đối xử của Chúa Jêsus đối với một người tuy học rộng biết nhiều, song lại thiếu hiểu biết và từng trải sự cứu rỗi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus tại Giê-ru-sa-lem

(Giăng 2:23-25).

TH:

Ni-cô-đem gặp Chúa Jêsus

(Giăng 3:1-9).

TB:

Lời giải thích cho Ni-cô-đem

(Giăng 3:10-21).

TT:

Của cải gây trở ngại

(Mác 10:7-22).

TN:

Tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về sự thánh thiện

(Rô-ma 2:1-16).

TS:

Mưu cầu về kinh nghiệm nội tâm

(Rô-ma 2:17-29).

TB:

Đối tượng của sự tái sanh

(I Phi-e-rơ 1:3-9).

Chúa Jêsus là Cứu Chúa của nhân loại nên mọi người đều cần đến Ngài. Đành rằng người nghèo, thất học… cần đến Chúa, song người giàu sang, thế lực, trí thức, đạo đức cũng cần đến Ngài. Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu hụt sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Hôm nay chúng ta học về một giáo sư lỗi lạc là Ni-cô-đem đã cần đến Chúa Jêsus.

I. CON NGƯỜI CỦA NI-CÔ-ĐEM (Giăng 3:1-10).

Kinh Thánh giới thiệu Ni-cô-đem là một nhân vật quan trọng trong dân Do thái.

1. Ni-cô-đem là người Pha-ri-si.

Pha-ri-si là một giáo phái tận tụy giữ kỹ mọi chi tiết của luật pháp Môi-se. Họ được kể là phần tử ưu tú của dân tộc. Ni-cô-đem là người đạo đức rất mực. Phao-lô cũng thuộc giáo phái này và đã giữ luật pháp một cách không chỗ trách được (Phi-líp 3:5-6). Luật sư Ga-ma-li-ên cũng là người Pha-ri-si (Công vụ 5:34).

2. Ni-cô-đem là một vị quan.

Ông là một trong 70 nghị viên tòa Công luận (Giăng 7:50-51). Ông là người có thế lực trong dân Do thái.

3. Ni-cô-đem là giáo sư luật, thuộc hạng trí thức, tài năng lỗi lạc.

4. Ni-cô-đem là người giàu.

Để dự phần khâm liệm thi hài của Chúa Jêsus, ông đem đến 100 cân một dược hòa với lư hội (Giăng 19:39).

Ni-cô-đem đã đến với Chúa trong ban đêm, có lẽ vì không muốn cho ai biết, cũng có lẽ vì thuận tiện.

II. CHÚA CHẨN MẠCH CHO NI-CÔ-ĐEM (Giăng 3:2-9).

Ni-cô-đem tỏ lòng tôn trọng Chúa, tôn Ngài là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến và được Đức Chúa Trời ở cùng. Rất tiếc là Ni-cô-đem chưa biết Chúa đúng mức, đáng lẽ ông cũng biết Ngài là Cứu Chúa của nhân loại.

Chúng ta không biết rõ động cơ nào đã thúc đẩy Ni-cô-đem đến với Chúa. Có lẽ ông là giáo sư dưới đất muốn đến thảo luận với giáo sư trên trời, hoặc ông biết mọi sự như giàu sang, thế lực, trí thức, đạo đức đã không làm cho ông được thỏa mãn, nên ông mới đến cùng Ngài. Một mình Chúa biết rõ động cơ của Ni-cô-đem (Giăng 2:25).

Chúa đã chẩn mạch và tuyên bố về bệnh của ông. Đó là bệnh chưa được tái sanh, chưa có sự sống thuộc linh, nên không thể nào thấy, không thể nào vào được nước Đức Chúa Trời. Bất luận ai, nếu chưa được tái sanh là chưa được cứu rỗi. Vì “hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt”. Bản tính xác thịt của tất cả mọi người từ tổ phụ A-đam truyền lại vẫn bại hoại như nhau. “Hễ chi sanh bởi linh là linh” (BNC). Chỉ có gì sanh bởi linh mới thuộc linh và có giá trị thích hiệp với nước Đức Chúa Trời là nước thuộc linh.

Dầu là một người trí thức từng nghiên cứu thần học, Ni-cô-đem đã phải lúng túng với lời phán của Chúa. Ông thốt ra những lời đầy ngạc nhiên: “Người đã già thì sanh lại làm sao được? Điều đó làm thế nào được?” (Giăng 3:4,9). Ông chưa hề kinh nghiệm sự tái sanh, chưa nghe nói tái sanh là gì, rồi khi Chúa giải thích, ông cũng không hiểu nổi.

Bệnh của Ni-cô-đem là bệnh chung của cả nhân loại. Trường hợp của Ni-cô-đem cũng là trường hợp chung của con người qua mọi thời đại, khắp mọi phương trời. Bệnh nhân không biết lý do của bệnh mình đang mang, không hiểu được nhu cầu của mình, ai nấy bị lúng túng trước vấn đề: Phải làm sao để được cứu rỗi?

Nhu cầu của Ni-cô-đem không phải là thêm giàu sang, thế lực, trí thức, đạo đức mà phải được tái sanh. Chúa phán: “Chớ lấy làm lạ về điều Ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại” (Giăng 3:7). Đó không phải là công việc của loài người làm cho mình, mà là công việc của Đức Chúa Trời làm cho loài người. Công việc ấy rất mầu nhiệm giống như “Gió muốn thổi đi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động, nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy” (Giăng 3:8). Nhu cầu của Ni-cô-đem là nhu cầu của mỗi người.

III. PHƯƠNG THUỐC CỨU CHỮA CHO NI-CÔ-ĐEM.

Ni-cô-đem là một giáo sư dạy luật pháp Môi-se, ông rất thông hiểu Cựu ước, nên Chúa Jêsus đã dùng một truyện tích trong đó để dạy ông. Đó là câu chuyện con rắn bằng đồng treo trên cây sào, ai bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng ấy thì được sống (Dân số ký 21:4-9).

Rắn là một loài vật bị rủa sả, vì đã phạm tội (Sáng thế ký 3:14). Nhân loại cũng bị rủa sả vì đã phạm tội. Nhân loại phải bị treo trên cây sào như hình ảnh con rắn bằng đồng đó. Song Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội đã bị treo trên thập tự giá thay cho nhân loại. Kinh Thánh chép: “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta” (Ga-la-ti 3:13).

“Hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời”. Người Y-sơ-ra-ên bị rắn cắn, đang bị nọc độc hành hạ, người ấy không thể nhờ cậy ai, nhìn xem ai ngoài ra nhìn con rắn bằng đồng treo trên cây sào để được sống, bằng không phải chết.

Muốn được tái sanh để có thể thấy nước Đức Chúa Trời, vào nước Đức Chúa Trời, Ni-cô-đem phải thành thật nhận mình là một tội nhân đang bị nọc độc của tội lỗi hành hạ và sẽ bị hình phạt như con rắn bị treo trên cây sào. Song Chúa Jêsus đã tự nguyện chịu hình phạt thay ông trên thập tự giá. Nếu ông tin Ngài thì sẽ được sự sống đời đời, tức là được tái sanh. Tất cả phương thuốc cứu sanh ấy chỉ do quyền năng và tình thương của Đức Chúa Trời. Con người tội lỗi chỉ tin thì được cứu.

Thiết tưởng Ni-cô-đem đã ngạc nhiên lại càng ngạc nhiên hơn. Ông đã cho mình thuộc vào hạng có điều kiện nhất để vào nước Đức Chúa Trời, ông chỉ hy vọng Chúa tỏ ra tôn trọng ông hay ít nữa nói lên một lời chấp nhận ông là con người đạo đức. Song trái lại mọi sự như sụp đổ tận nền móng. Những gì mà ông tin cậy, tự hào của một người Do thái chính tông, một người Pha-ri-si tích cực đã trở thành vô dụng đối với Đức Chúa Trời. Ông phải tự nhận mình là một tội nhân đáng chết, hạ mình tin cậy sự chết đền tội của Chúa Jêsus để được cứu. Đó không phải là công lao, cố gắng của ông, nhưng là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho ông. Chúng ta rất mừng vì Ni-cô-đem đã tin Chúa, mặc dù không ai biết rõ ông đã tin ngay ngày hôm đó hay về sau.

Trên đây là chân lý muôn đời, là phương pháp duy nhất của sự cứu rỗi, là thần dược chữa lành bệnh tội lỗi mà ai nấy đều có thể nhận được bởi đức tin. Song con người vốn ngoan cố, vô tín nên Chúa Jêsus phán thêm từ câu 17-21 về phước hạnh của người tin và sự xét đoán kẻ không tin. Đồng thời cũng nói lên lý do của sự vô tín là ai làm ác thì ưa sự tối tăm mà ghét sự sáng láng, còn ai làm thiện thì ưa sự sáng láng mà ghét sự tối tăm.

Ni-cô-đem đã cần Cứu Chúa thì bất luận bạn là ai, thuộc thành phần nào, có trình độ nào, cũng cần Ngài như Ni-cô-đem.

CÂU HỎI

1. Ông Ni-cô-đem là người như thế nào?

2. Tại sao ông đến với Chúa trong ban đêm?

3. Chúa cho Ni-cô-đem biết nhu cầu của ông là gì?

4. “Hễ chi sanh bởi xác thịt” có nghĩa gì?

5. Tại sao tái sanh là một công việc mầu nhiệm?

6. Muốn được tái sanh phải làm sao?

7. Vì sao Ni-cô-đem ngạc nhiên trước điều kiện để vào nước Đức Chúa Trời?

8. Ai là người cần đến với Chúa Jêsus?

9. Bạn đã đến với Chúa Jêsus chưa?

BÀI 6. CHÚA LÀ THIẾT HỮU CỦA TỘI NHÂN.

KINH THÁNH: Giăng 4:1-30.

CÂU GỐC: “Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời và biết người nói: “Hãy cho Ta uống” là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống” (Giăng 4:10).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ tầm quan trọng của việc noi gương Chúa Jêsus trong việc đem Tin Lành cho người bị mọi người khinh dể.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Người đàn bà tại giếng Gia-cốp

(Giăng 4:1-30).

TH:

Người đàn bà trong bữa ăn tối

(Lu-ca 7:36-50).

TB:

Những kẻ cần thầy thuốc

(Lu-ca 5:29-32).

TT:

Thiết hữu của tội nhân

(Lu-ca 7:1-35).

TN:

Chúa yêu thương kẻ chết mất

(Lu-ca 15:1-10).

TS:

Đứa con hoang đàng trở về

(Lu-ca 15:11-24).

TB:

Cơ đốc nhân không nên tây vị

(Gia-cơ 2:1-7).

Chúng ta cần tự xét nếp sống của mình. Chúng ta thường lo cho tiếng tăm của mình hơn là lo đem Tin Lành cho người khác. Nếu chúng ta thật lòng yêu Chúa và yêu người như Chúa đã dạy thì mối quan tâm đầu tiên của chúng ta là đem Tin Lành cho mọi người kể cả những người chống đối, khinh mạn Cơ đốc giáo, cũng như những người nghèo nàn, tội lỗi thuộc hạng mạt lưu của xã hội, vì con cái của Chúa cũng là thiết hữu của tội nhân.

Hãy xem Chúa chúng ta đã làm gì cho tội nhân.

I. CHÚA TÌM KIẾM TỘI NHÂN (Giăng 4:1-6).

Khi Chúa từ Giu-đê là miền nam về Ga-li-lê là miền bắc thì Ngài phải qua Sa-ma-ri. Người Giu-đa chẳng bao giờ chịu tiếp xúc với người Sa-ma-ri, mặc dầu Sa-ma-ri là một phần đất trong lãnh thổ của Giu-đa. Vì trước kia Sa-ma-ri là thủ đô của nước Y-sơ-ra-ên, song khi thủ đô này mất thì đế quốc A-si-ri bắt dân Y-sơ-ra-ên lưu đày rồi đem các dân tộc khác đến thay vào. Vì vậy dân tại Sa-ma-ri không còn là dân Y-sơ-ra-ên chánh tông. Đó là lý do dân Giu-đa khinh khi và ghét dân Sa-ma-ri.

Song Chúa Jêsus rất thương yêu dân Sa-ma-ri, nên đã dừng bước tại giếng Gia-cốp, thuộc thành Sikha, trong địa phận Sa-ma-ri vào lúc giữa trưa, khi các môn đồ của Ngài ra chợ mua thức ăn. Ngài biết lòng dân Sa-ma-ri rất khao khát Chúa Cứu thế, nên Ngài tìm đến họ, vì Ngài là Thiết Hữu của họ.

II. CHÚA CHẨN MẠCH CHO TỘI NHÂN (Giăng 4:7-20).

Một phụ nữ Sa-ma-ri mang vò ra giếng múc nước. Tại sao bà đi múc nước giữa trưa? Bà không muốn gặp ai và không muốn ai gặp bà. Cuộc đời bà đã từ thất bại này đến thất bại khác, bà bị đau đớn ê chề. Vì bà đã có năm đời chồng, còn người chồng bà đang có không phải là chồng của bà. Mặc dầu bà đã lấy làm hãnh diện mà khoe mình là dòng dõi của Gia-cốp, và dân tộc bà đã thờ phượng Đức Chúa Trời trên núi, song các điều đó không thể cứu bà khỏi nếp sống bại hoại.

Chúa Jêsus đã khai mào câu chuyện bằng một lời xin: “Hãy cho Ta uống”. Đó là lời mở đầu hay nhất. Đành rằng Chúa đang khát, song Ngài không khát nước bằng mong ước bà ấy được cứu rỗi. Bà ngạc nhiên thấy người Giu-đa này không giống như bao nhiêu người Giu-đa khác, vì muốn tiếp xúc với bà là người Sa-ma-ri.

Chúa lại bảo bà rằng, nếu bà biết Ngài là ai thì bà sẽ xin Ngài và Ngài sẽ cho bà nước sống. Bà lại ngạc nhiên hơn, vì không hiểu tại sao người Giu-đa này có nước sống. Chúa vừa giải thích vừa chỉ xuống giếng: “Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi, nhưng uống nước Ta cho thì chẳng hề khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời”. Bà mừng rỡ quá, xin Chúa cho bà nước ấy. Chúa sẵn lòng ngay với điều kiện là phải về kêu chồng bà ra. Bà không thể nào được nước sống, nếu bà chưa xưng tội lỗi của mình. Tội lỗi trong lòng làm tắt nghẽn nguồn nước sống.

Bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa phán rằng bà nói đúng, trước đó bà có năm đời chồng, nhưng bây giờ bà không có chồng vì người chồng hiện có là chồng của người khác. Chúa bày tỏ Ngài là đại danh y, đồng thời Ngài bày tỏ bà là một bệnh nhân trầm trọng; Ngài là Chúa Cứu thế, còn bà là đại phạm nhân.

Bà thưa: “Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri”. Bà nhận rằng Chúa nói đúng. Bà vốn thật vậy. Bà chỉ nói với Chúa phân nửa sự thật tức là đời bà trong hiện tại, còn phân nửa về dĩ vãng thì bà không đề cập đến, song Chúa vẫn biết hết.

Phải chăng giữa vòng chúng ta có những đời sống như phụ nữ Sa-ma-ri trên đây. Chúng ta đã sống cuộc đời thất bại, làm nô lệ cho ma quỉ và tội lỗi, “đáng bị người ta ghét và tự chúng ta cũng ghét lẫn nhau” (Tít 3:3). Mặc dầu chúng ta cũng hãnh diện về ông bà cha mẹ chúng ta đã từng là người theo Chúa, phục vụ Ngài, gây dựng Hội Thánh của Ngài, còn chính chúng ta đã từng ở trong ban hát nhi đồng, thanh thiếu niên… Song chúng ta đã sa cơ trụy lạc và đang sống với một tấm lòng tan nát. Nếu ai sống trong cảnh đó, nên nhớ rằng Chúa đang tìm kiếm mình như Ngài đã từng kiếm phụ nữ Sa-ma-ri kia. Chúa biết hết, song chúng ta hãy thú thật cùng Ngài, không giấu chi cả. Hãy nói như Đa-vít: “Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi”. Tôi nói: “Tôi sẽ xưng các vi phạm tôi với Đức Giê-hô-va, còn Chúa tha tội ác của tôi” (Thi thiên 32:5).

III. CHÚA CHỮA TRỊ CHO TỘI NHÂN (Giăng 4:21-26).

Ngài nói cho bà biết rằng sự thờ phượng không phải tại trên núi Garisim hay tại thành Giê-ru-sa-lem mà tại trong lòng, tức là bằng tâm thần và lẽ thật.

Nếu Đức Chúa Trời chỉ ngự trên núi Garisim hay trong thành Giê-ru-sa-lem mà không ngự trong lòng chúng ta, thì chúng ta hoàn toàn vô phước và thất bại. Điều quan trọng nhất là chúng ta được Ngài ngự trị trong lòng, và chúng ta thờ phượng Ngài bằng tâm thần và lẽ thật. Khi dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời thì họ phải làm thật đúng như Chúa đã dạy trong lời của Ngài là lẽ thật. Họ phải lấy làm tâm thần mà đến gần Đức Chúa Trời và giao thông với Ngài.

Dường như mắt của bà sáng lên, lòng của bà mở ra, bà nói với tất cả niềm tin: “Tôi biết rằng Chúa Cứu thế phải đến, khi Ngài đến sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta”. Chúa đáp: “Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó”. Ngài trực tiếp nói cho bà biết rằng Ngài là Chúa Cứu thế mà các tiên tri đã dự ngôn, muôn dân đang trông đợi. Ngài là Đấng phải đến, và đã đến.

IV. KẾT QUẢ CÔNG TÁC CỦA CHÚA (Giăng 4:27-30).

Trong lúc tuyệt vọng mà gặp được Chúa Cứu thế, như bệnh nặng gặp thuốc hay, như sắp chết đuối gặp thuyền, người đàn bà Sa-ma-ri vui mừng khôn xiết. Bà quên việc múc nước, quên cả cái vò, chạy vội vào trong thành Sikha nói với mọi người: “Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm, há không phải Chúa Cứu thế sao?” Ai nấy trong thành ra và đến cùng Chúa, xin Ngài vào trọ nơi họ, và Ngài ở lại đó hai ngày. Số người tin Ngài càng đông hơn. Kết quả thật lớn lao!

Học viên có gặp Chúa Jêsus một cách riêng để trò chuyện cùng Ngài như bà Sa-ma-ri này chưa? Có xưng tội lỗi của mình mà xin Ngài tha thứ và ngự trị lòng mình chưa? Có nhận được bình an và vui vẻ đến nỗi quên mọi việc khác mà chỉ lo việc đem Tin Lành cho mọi người không?

Xin Chúa cho chúng ta có lòng thương xót tội nhân và khao khát thấy họ được cứu rỗi, đồng thời ý thức trách nhiệm đem Tin Lành cho mọi người. Đem Tin Lành cho mọi người là công tác trọng đại hơn cả.

CÂU HỎI

1. Chúa dừng chân bên giếng Gia-cốp là tình cờ hay có mục đích gì?

2. Ngoài Chúa Jêsus ra thì còn ai là thiết hữu của tội nhân?

3. Chúa xin nước nơi người đàn bà Sa-ma-ri là có ý gì?

4. Điều kiện mà bà được nước sống là gì?

5. Điều gì ngăn trở chúng ta được phước?

6. Nếu chúng ta ở trong một hoàn cảnh như người đàn bà Sa-ma-ri thì nên làm gì?

7. Tại sao chúng ta biết bà rất vui mừng?

8. Đời sống của bà đã được kết quả gì?

9. Mối quan tâm đầu tiên của tín đồ là gì?

10. Công tác trọng đại hơn hết của chúng ta là gì?

BÀI 7. ĐÁP ỨNG VỚI TIN LÀNH

KINH THÁNH: Giăng 6:1-15;22-69.

CÂU GỐC: “Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài” (Giăng 6:29).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ tín hữu dâng trọn đời sống mình cho Chúa, bất chấp phải trả giá nào.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Bánh và cá

(Giăng 6:1-15).

TH:

Bài học về các ổ bánh

(Giăng 6:22-40).

TB:

Chỗ khó của bài học

(Giăng 6:41-69).

TT:

Giá phải trả để theo Chúa Jêsus

(Lu-ca 9:23-26).

TN:

Những kẻ theo Chúa Jêsus nửa chừng

(Lu-ca 9:57-62).

TS:

Sự tự do làm nô lệ

(Rô-ma 6:15-19).

TB:

Sự đáp ứng của lòng biết ơn

(Rô-ma 12:1,2).

Trọng tâm của Tin Lành không phải là những tổ chức từ thiện, những cơ quan cứu tế, thậm chí cũng không phải là những giáo huấn cao siêu của Chúa Jêsus, bèn là chính mình Ngài. Theo Chúa là theo chính mình Ngài, không phải để được những gì riêng rẽ ngoài Ngài, mà là được chính mình Chúa.

Đáp ứng với Tin Lành không phải là hoan nghinh, chấp nhận những gì của Tin Lành, bèn là dâng mình trọn vẹn cho Chúa Jêsus. Ngày kia, một Truyền đạo nói: “Thế gian này có thể thấy Đức Chúa Trời và công tác của Ngài qua một người dâng trọn mình cho Ngài”. Một thanh niên nghe vậy, cuí đầu cầu nguyện: “Lạy Chúa, con sẽ là người đó”. Quả thật, chàng thanh niên ấy đã trở thành một nhà chinh phục linh hồn lừng danh trong thế giới.

I. SỰ ĐÁP ỨNG NÔNG NỔI (Giăng 6:1-15).

Một đoàn dân đông theo Chúa Jêsus, vì đã thấy phép lạ Ngài làm cho kẻ bệnh. Ngài muốn cho họ thấy một phép lạ khác để chứng minh Ngài là Chúa Cứu thế phải đến trần gian.

Ngài dùng năm cái bánh mạch nha và hai con cá là phần ăn của một người mà hóa ra cho năm ngàn người ăn no nê và còn dư 12 giỏ đầy.

Khi đoàn dân thấy vậy, họ không suy nghĩ gì sâu xa hơn về Chúa, mà chỉ cho Ngài là một tiên tri, và họ muốn ép Ngài làm vua của họ. Họ muốn lợi dụng Ngài để được chữa lành khi đau ốm, được bữa ăn khi đói, mà không phải trả tiền.

Chủ đích của Chúa hóa bánh không phải để nuôi đoàn dân, vì suốt ba năm chức vụ, Ngài chỉ làm việc đó hai lần trong hai trường hợp đặc biệt. Chủ đích của Chúa là hướng linh hồn họ đến với Ngài là Chúa Cứu thế qua phép lạ đó. Song tiếc thay, họ chỉ hướng về bánh mà không hướng về Đấng làm ra bánh. Đối với họ, Ngài là ai mặc kệ, họ không cần biết, họ chỉ biết có bánh là đủ rồi. Họ đáp ứng với Ngài một cách quá nông nổi.

Chúa đã dùng các tổ chức từ thiện, các cơ quan cứu tế để bày tỏ tình yêu của Ngài. Song nếu ai theo Ngài chỉ để được hưởng các việc từ thiện, các tặng phẩm cứu tế, là không đáp ứng đúng với sự kêu gọi của Tin Lành.

II. ĐÁP ỨNG SỰ ĐÒI HỎI SÂU XA (Giăng 6:20-58).

Sáng hôm sau, đoàn dân đông ấy lại lũ lượt đi tìm Chúa Jêsus và khi gặp Ngài, họ nói: “Lạy Thầy, Thầy đến bao giờ?” Họ đoán rằng hành động và thái độ của họ làm cho Chúa vui lắm. Song Ngài nghiêm nét mặt mà trách họ rằng họ tìm Ngài không phải vì thấy các phép lạ, song vì được ăn bánh no nê.

Chúa từ thiên đàng xuống trần gian đâu phải để chỉ cho họ cơm no áo ấm, vì trước khi Ngài xuống trần gian, họ vẫn được cơm no áo ấm. Chúa chẳng bao giờ kêu gọi ai theo Ngài để được cơm no áo ấm mà được những gì vô cùng cao quí hơn.

Kế đó, Chúa bảo họ làm việc chớ vì đồ ăn hay hư nát, song vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời mà Ngài sẽ cho họ. Họ chỉ hướng về nhu cầu xác thịt tạm thời, song Chúa hướng họ đến nhu cầu tâm linh đời đời. Con người có xác thể mà cũng có tâm linh, cho nên có nhu cầu xác thể thì cũng có nhu cầu tâm linh. Nhu cầu xác thể đã có sẵn trong trần gian, song nhu cầu tâm linh chỉ có trong Chúa Jêsus.

Rồi họ hỏi Chúa, vậy phải làm chi cho được làm công việc của Đức Chúa Trời? Ngài đáp: “Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến”.

Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta tin nhận Con Độc sanh của Ngài. Nhu cầu tâm linh của chúng ta là sự sống đời đời, mà Chúa Jêsus là sự sống ấy. Vì vậy, tin Chúa Jêsus là công việc quan trọng hơn cả.

Dầu đã được giải thích như vậy, đoàn dân vẫn chưa hiểu. Họ đòi Chúa làm phép lạ, ban bánh cho họ ăn mỗi ngày như tổ phụ của họ đã được mana trong 40 năm. Họ cứ hướng về vật chất, dường như đối với họ chỉ có vật chất là cần yếu.

Chúa bảo họ rằng tổ phụ của họ chưa hề ăn bánh từ trời xuống đâu, vì những kẻ đã ăn mana rồi cũng chết. Song bánh của Đức Chúa Trời xuống, ban sự sống cho mọi người. Họ liền thưa: “Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn”. Họ chỉ hiểu bánh theo nghĩa thông thường, nên nếu được bánh đó luôn, họ sẽ theo Ngài mãi mãi.

Chúa phán: “Ta là Bánh Của Sự Sống; ai đến cùng Ta chẳng hề đói, ai tin Ta chẳng hề khát”.

Từ đó Ngài hướng dẫn tư tưởng của đoàn dân đông đến với chính mình Ngài là Đấng từ trời xuống, dâng thịt làm thức ăn, huyết làm thức uống cho mọi người. Ma-na xưa chỉ là tượng trưng, chính mình Ngài mới là bánh thật từ trời xuống, ban sự sống đời đời cho kẻ tin nhận Ngài. Tin nhận Chúa là đáp ứng với Tin Lành.

III. ĐÁP ỨNG VỚI TIN LÀNH THÌ PHẢI PHÂN RẼ THẾ GIAN (Giăng 6:59-69).

Nhiều người, kể cả môn đồ của Chúa cũng lằm bằm là không hiểu nổi sự dạy dỗ của Ngài. Họ không hiểu nổi là phải, vì họ hướng về xác thịt, trong khi Chúa nói về thần linh; họ hướng về sự sống tạm thời, trong khi Chúa nói về sự sống đời đời. Không những môn đồ, mà ngay trong vòng sứ đồ cũng có người không hiểu, không tin. Họ không đáp ứng sự kêu gọi của Ngài, vì xu hướng của họ không thích hiệp với sự kêu gọi đó.

“Từ lúc đó có nhiều môn đồ trở lui không đi với Ngài nữa”. Có lẽ về sau họ đã hiệp với một số người mà la lên rằng: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá”. Thật, nên phân rẽ khỏi những người như vậy. Đó là lý do Chúa phán với 12 sứ đồ: “Còn các ngươi cũng muốn lui chăng?”

Số còn lại tuy ít, song được vững vàng hơn, tiến bộ hơn, dám công khai tuyên bố rằng: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời”.

Một lần nữa, chúng ta kinh nghiệm câu: “Trong khi hoạn nạn mới biết bạn mình. Biển dậy sóng cồn mới biết tài thủy thủ, nỗi nguy cảnh khổ mới biết lòng thương yêu”.

Chúng ta tự xét mình theo Chúa có đáp ứng tiếng gọi của Ngài không? Theo Ngài vì thức ăn hay hư nát hay vì thức ăn còn lại đến đời đời? Theo Ngài vì lợi lộc trần gian hay vì cơ nghiệp trên trời? Theo Ngài vì ham mê xác thịt hay vì biết Chúa và hết lòng yêu Ngài? Chúng ta tận hiến đời mình để Chúa hoàn toàn chiếm hữu, hay chúng ta lợi dụng danh nghĩa của Ngài để mưu cầu lợi ích cho riêng mình? Tóm lại chúng ta có sẵn sàng trả bất cứ giá nào để đáp ứng lời kêu gọi của Chúa không?

Nên nhớ rằng Đấng từ trời xuống đời không phải để ban cho chúng ta cơm no áo ấm, hoặc tiền tài, địa vị, danh vọng, hay bất cứ lợi lộc nào của trần gian, mà để ban cho chúng ta chính mình Ngài, để nhờ Ngài chúng ta được sự sống đời đời. Đó là nhu cầu thiết yếu nhất của con người, nếu muốn sống hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.

CÂU HỎI

1. Chủ đích của Chúa Jêsus khi làm các phép lạ là gì?

2. Đoàn dân đã đáp ứng thế nào khi ăn bánh của Chúa hóa ra?

3. Hội Thánh đã dùng các tổ chức từ thiện và cơ quan cứu tế để làm gì?

4. Công việc quan trọng mà Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải làm là gì?

5. Ma-na của dân Y-sơ-ra-ên ăn trong đồng vắng là tượng trưng cho bánh gì hôm nay?

6. Tâm linh của chúng ta được sống bởi thứ bánh nào?

7. Tại sao một số môn đồ trở lui trên đường theo Chúa?

8. Tại sao Chúa thấy cần để cho họ trở lui?

9. Chúng ta phải trả giá thế nào để theo Chúa?

BÀI 8. SỰ PHÁN XÉT CÔNG BÌNH.

KINH THÁNH: Giăng 8:1-11.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy, đi đừng phạm tội nữa” (Giăng 8:11).

MỤC ĐÍCH: Chứng minh Chúa Jêsus đã hòa hợp sự thánh khiết và thương yêu trong cách đối xử với tội nhân, và chỉ một mình Ngài có quyền phán xét.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus với đảng Hê-rốt

(Ma-thi-ơ 22:15-22).

TH:

Chúa Jêsus với người Sađuxê

(Ma-thi-ơ 22:23-33).

TB:

Chúa Jêsus với người Pha-ri-si

(Ma-thi-ơ 22:34-46).

TT:

Sự thánh khiết của Chúa Jêsus

(Giăng 8:34-37).

TN:

Chúa chứng minh sự thánh khiết của Ngài

(Giăng 2:13-22).

TS:

Chúa chứng minh tình thương của Ngài

(Giăng 13:1-15).

TB:

Sự khôn ngoan, thanh khiết, thương yêu của Chúa

(Giăng 8:1-11).

Chúng ta không đủ phương tiện và khả năng để phán xét ai. Về phương tiện thì chúng ta không đủ hồ sơ, chứng cứ để biết rõ sự thật. Về khả năng thì chúng ta không hội đủ các đức tính cần thiết như khôn ngoan, thánh khiết, thương yêu để xét đoán cách công bình. Ngay các tòa án, dầu có nhiều phương tiện, vẫn còn sai lầm. Vì vậy, Phao-lô đã khuyên: “Chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến…” (ICôr 4:5). Chúa Jêsus cũng khuyên: “Các ngươi chớ xét đoán ai để mình khỏi bị xét đoán” (Ma-thi-ơ 7:1). Chỉ một mình Chúa có thẩm quyền xét đoán và xét đoán cách công bình. Tuy nhiên, chúng ta có thể giải quyết những vấn đề thông thường để gìn giữ trật tự, điều hoa công tác, hầu giúp đỡ lẫn nhau.

Chúng ta nhận sự dạy dỗ đó qua câu chuyện một thiếu phụ ngoại tình bị bắt quả tang, được đem đến Chúa Jêsus để chịu xét đoán.

I. SỰ PHÁN XÉT CỦA CON NGƯỜI (Giăng 8:1-5).

Vừa sáng sớm, Chúa Jêsus đã đến đền thờ, ngồi xuống dạy dỗ dân chúng. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si dẫn lại Ngài một thiếu phụ bị bắt quả tang về tội ngoại tình. Họ đặt thiếu phụ ấy giữa đám đông như một phạm nhân trước vành móng ngựa. Họ là nguyên cáo, Chúa là Quan An. Họ thưa với Chúa rằng luật pháp Môi-se truyền ném đá những người như thiếu phụ này, còn Ngài thì nghĩ sao?

Họ muốn khoe khoang là người tôn trọng luật pháp, bảo vệ công lý, bênh vực sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Kỳ thật, họ âm mưu đưa Chúa Jêsus vào một thế kẹt, tiến thối lưỡng nan. Nếu Ngài bảo nên thi hành luật pháp Môi-se mà ném đá bà ấy, thì họ cho Chúa không phải là thiết hữu của tội nhân, Ngài không giúp gì cho họ được và Ngài không phải là Chúa Cứu thế. Ngoài ra, họ còn tố cáo Ngài lạm quyền, vì chỉ có chính quyền La-mã mới có thể thi hành án tử hình. Nếu Ngài bảo nên tha thứ bà ấy, thì họ cho là Ngài phạm luật Môi-se, dung túng tội ác, và Ngài không phải là Đấng mà Đức Chúa Trời sai đến.

Hành động trên đây của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si không phải là hành động của những con người thánh thiện, yêu Đức Chúa Trời, bênh vực chánh nghĩa của Ngài, bèn là hành động của những con người đạo đức giả. Họ không đau buồn, không thương hại cho một chị em đã lỡ lầm phạm tội, song dường như họ vui mừng chụp được cơ hội tốt, triệt để khai thác sự việc ấy để gài bẫy Chúa Jêsus. Họ lợi dụng luật pháp Môi-se, danh nghĩa của Đức Chúa Trời, chức vụ của họ để thực hiện một âm mưu đen tối, bỉ ổi. Dầu vậy, hành động cũng như cớ tích của họ không qua được con mắt của Đấng “tự thấu hiểu mọi điều trong lòng người ta” (Giăng 2:25).

Chúng ta có thể bị cám dỗ mà hành động như các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Đó là một hành động rất gớm ghiếc trước mặt Chúa. Hãy coi chừng động cơ thúc đẩy chúng ta làm mọi việc. Nếu động cơ đó là ghen ghét, đắng cay, thù hận, chỉ mưu đồ cho xác thịt, thì nên bỏ ngay, mặc dầu nó mang cái lốt đạo đức đến đâu cũng vậy.

II. CÁC ĐỨC TÍNH CỦA ĐẤNG PHÁN XÉT CÔNG BÌNH (Giăng 8:6-11).

Chúa Jêsus tỏ ra không hài lòng về hành động của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, nên Ngài không nói gì mà chỉ cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Họ cứ hỏi mãi thì Ngài đứng dậy mà bảo rằng: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người”. Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất. Chúng nghe vậy thì lần lượt rút lui, người có tuổi đi trước.

Không ai biết Chúa Jêsus đã viết gì, chỉ phỏng đoán. Có người tưởng Chúa viết chữ “bội đạo” để cảnh cáo cuộc sống của họ đã xa cách Chúa, chỉ còn hình thức mà thôi, hành động của họ đã đi ngược đường lối của Ngài. Có người tưởng Chúa viết câu: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người”. Ngài thách đố họ là kẻ rêu rao tội ác của người khác, kẻ huênh hoang là công nghĩa, là thánh khiết để xét đoán người khác, họ có dám nhận mình là vô tội mà ném đá thiếu phụ ấy không? Họ mong muốn Chúa kết án thiếu phụ, song Chúa kết án họ.

Trước lời đinh thép của Chúa cũng như trước cặp mắt dò xét của Ngài, bọn thông giáo và Pha-ri-si không còn chỗ đứng để tố cáo, nên phải ra về. Có lẽ người già làm đầu, tổ chức, nên rút lui trước. Họ tưởng đắc thắng vẻ vang, không ngờ thất bại chua cay, sỉ nhục chưa từng có.

Sau khi ai nấy ra về, Chúa phán với người thiếu phụ ấy: “Không ai định tội ngươi sao?” Nàng thưa: “Lạy Chúa, không ai hết”. Chúa phán: “Ta cũng không định tội ngươi, hãy đi, đừng phạm tội nữa”. Chúa đến thế gian không phải để xét đoán, song để cứu vớt (Giăng 3:17). Song Chúa đã nghiêm trọng cảnh cáo bà, chắc từ đó bà trở nên người tốt.

Trong câu chuyện này chúng ta thấy ba đức tánh của Chúa.

– Ngài là Đấng rất khôn ngoan. Chúa đã dựng nên con người, Ngài biết rõ họ, không có âm mưu thâm độc nào của họ làm hại Ngài được. Con người đã đào hầm và sụp hầm họ đã đào.

– Chúa là Đấng rất thánh khiết. Ngài không xem nhẹ tội lỗi, không dung túng tội nhân, song cứu vớt tội nhân. Ngài hoàn toàn vô tội, có quyền xét đoán mọi người một cách công bình. Trong thời đại ân điển, Ngài khiến tội nhân trở nên thánh nhân.

– Chúa là Đấng rất thương yêu. Ngài đã cứu thiếu phụ ấy khỏi chết, mà còn làm cho bà trở nên người tốt. Tình thương đó đã chinh phục bà, cứu bà khỏi tội lỗi, khỏi nếp sống bê tha trước kia.

III. KẾT QUẢ CỦA SỰ PHÁN XÉT CÔNG BÌNH.

Thiếu phụ bị tố cáo là đã phạm tội đáng chết lại được tha thứ và không còn phạm tội nữa, còn thầy thông giáo và người Pha-ri-si là kẻ tố cáo lại cứ miệt mài trong tội và cuối cùng họ đã giết Chúa Jêsus.

Trước mặt Chúa tất cả chúng ta đều là tội nhân. Ai xứng đáng hơn ai để tố cáo ai? Xưa nay đã có kẻ tố cáo rồi: “Vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời…” (Khải huyền 12:10). Tố cáo là công tác chuyên môn của quỉ Sa-tan, hắn đã kinh nghiệm mấy ngàn năm rồi. Hắn đã tố cáo từ ông Gióp cho đến thầy tế lễ Giê-hô-sua (Xa-cha-ri 3:1-2).

Trái lại, Đức Chúa Trời đã không tố cáo, cũng chẳng chống nghịch chúng ta. Ngài đã sai Con Độc sanh chịu chết, sống lại để đền tội chúng ta và đang cầu thay cho chúng ta nữa. Vậy xin đừng có ai làm cái việc nguy hiểm là chống lại với Đức Chúa Trời, đừng chiếm vị Ngài mà xét đoán ai, nhưng hãy nhường quyền ấy cho Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao con người không thể nào xét đoán công bình?

2. Chúa Jêsus và Phao-lô đã khuyên thế nào?

3. Người Pha-ri-si và thầy thông giáo đã tố cáo ai?

4. Họ tố cáo với mục đích gì?

5. Chúa bịt miệng họ bằng cách nào?

6. Chúa đã đến thế gian để làm gì?

7. Chúa đối xử thế nào với một thiếu phụ đã phạm tội?

8. Tố cáo anh em mình là công việc của ai?

9. Kết quả khác nhau của người tố cáo và người bị tố cáo là thế nào?

BÀI 9. NĂNG LỰC CỦA CÔNG TÁC CÁ NHÂN CHỨNG ĐẠO.

KINH THÁNH: Giăng 9:1-41.

CÂU GỐC: “Tôi chỉ biết một điều, là tôi đã mù mà bây giờ được sáng” (Giăng 9:25).

MỤC ĐÍCH: Chứng minh rằng đời sống được biến cải là chứng cớ hiển nhiên nhất để thuyết phục người ta về quyền năng của Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chữa lành một người mù

(Giăng 9:1-12).

TH:

Phép lạ bị chống đối

(Giăng 9:13-34).

TB:

Chúa Jêsus ra mắt

(Giăng 9:35-41).

TT:

Lời chứng của đời sống bạn

(Ma-thi-ơ 5:14-16).

TN:

Năng lực của sự làm chứng bằng đời sống

(I Phi-e-rơ 3:1-2).

TS:

Năng lực của lời chứng cá nhân

(IGiăng 1:1-4).

TB:

Phần thưởng cho việc làm chứng đạo

(Ma-thi-ơ 10:26-33).

Tin Lành là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Chinh phục tội nhân bằng lý luận không kết quả bằng quyền năng của Chúa trong đời sống mình. Hãy chứng minh quyền năng cứu rỗi của Chúa qua kinh nghiệm bản thân của chúng ta. Chúng ta hãy học hỏi anh mù trong câu chuyện này. Lý luận mạnh mẽ nhất của anh ta là: “Tôi đã mù mà bây giờ lại sáng”.

I. CON NGƯỜI THỰC HIỆN CÔNG TÁC CÁ NHÂN CHỨNG ĐẠO.

Các môn đồ có quen biết một người mù từ thuở mới sinh ra vẫn thường ngày đi ăn xin đây đó. Họ quan niệm rằng tất cả các tật bệnh đều do tội lỗi mà ra. Vì thế khi gặp lại người mù ấy, họ hỏi Chúa: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người hay cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?”

Chúa không trả lời thẳng câu hỏi của họ về nguyên do gây cho người ấy bị mù, Ngài chỉ nói: “Chẳng phải tại người hay cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người”. Ngài muốn nói rằng đây không phải là thì giờ để biết nguyên nhân do bệnh tật của người này, song là cơ hội để giúp đỡ người. Chung quanh chúng ta có bao nhiêu người đang đau khổ cần được chúng ta giúp đỡ. Hãy làm ngay đang khi có dịp tiện, “tối lại thì không ai làm việc”.

Nói xong, Ngài nhổ nước miếng xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn và đem xức mắt cho người mù, rồi bảo đến ao Silôê mà rửa. Người mù đi rửa và được thấy rõ. Nước miếng trộn thành bùn không phải là thuốc chữa bệnh mù. Chúa không muốn người mù tin cậy vào thuốc, mà tin cậy vào chính mình Ngài. Người mù được chữa lành không phải nhờ nước miếng trộn thành bùn, cũng không phải nhờ nước ao Silôê, mà nhờ vâng lời Chúa. Tổng binh Na-a-man được lệnh xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần thì lành bệnh phung, không phải nhờ nước sông Giô-đanh trong hơn nước các sông khác, song chỉ nhờ vâng lời (IICác 5:10).

Chúng ta được cứu là nhờ tin cậy và vâng lời Chúa. Đời sống Cơ Đốc nhân là đời sống tin cậy và vâng lời Chúa. Khi nào một người không tin cậy và vâng lời Chúa thì không còn là một Cơ Đốc nhân nữa.

II. CÔNG TÁC CÁ NHÂN CHỨNG ĐẠO (Giăng 9:8-34).

Được chữa lành một cách mau lẹ và hoàn toàn, người mù vui mừng khôn xiết, tung tăng đi lại tự do chớ không còn mò mẫm từng bước như trước, đó là cơ hội tốt nhất cho anh làm chứng về Chúa.

1. Làm chứng cho người lân cận (9:8-12).

Những người đã thấy anh hằng ngày đi xin ăn, thì ngạc nhiên hỏi nhau: “Có phải anh mù đó chăng?” Người thì nói: “Ấy là hắn”, kẻ lại nói: “Không, đó là người nào giống hắn”. Phép lạ xảy ra đột ngột làm cho họ bối rối, khó tin quá. Anh lên tiếng ngay: “Chính tôi đây”.

Họ hỏi: “Tại sao anh được sáng?” Anh giải thích: “Chúa Jêsus đã chữa lành cho tôi”. Họ hỏi: “Chúa Jêsus bây giờ ở đâu?” Anh đáp: “Tôi không biết”. Vì khi anh đi rửa tại ao Silôê thì Chúa Jêsus đã đi nơi khác.

Đời sống anh em có đổi mới không? Cách ăn ở mới mẻ và đẹp đẽ của anh em có làm cho người lân cận ngạc nhiên không? Có phải trước kia anh em tham lam, dối trá, hung ác, xấu xa; bây giờ ngay thẳng, thật thà, hiền lành, tử tế? Anh em có thể nói: “Chính tôi đây”, hay không?

2. Làm chứng cho người Pha-ri-si (Giăng 9:13-17).

Người ta dẫn anh mù được chữa lành đến người Pha-ri-si, là hàng giáo phẩm Dothái. Trước mặt người Pha-ri-si, anh ta thuật lại thể nào mình được chữa lành. Một số người nói: “Người này (Jêsus) không phải từ Đức Chúa Trời đến, vì không giữ ngày Sabát”. Người khác cãi lại: “Một kẻ có tội thì làm phép lạ như vậy thế nào được”. Họ chia ra hai phe chống đối nhau. Anh mù được chữa lành quả quyết người đã cứu anh là một tiên tri.

Đối với người Pha-ri-si, giữ ngày Sabát là không làm gì hết. Đối với Chúa, giữ ngày Sabát là cứu giúp người đau khổ. Thờ phượng Đức Chúa Trời không phải là hành động tiêu cực, ai chết mặc ai mà phải là hành động tích cực, lo nghĩ đến nhau.

3. Làm chứng cho gia đình (Giăng 9:18-23).

Một phép lạ sờ sờ như vậy, nhưng những người ngoan cố vẫn không tin, họ cho mời cha mẹ anh mù tới. Cha mẹ anh mù xác nhận thật con họ đã mù từ thuở mới sinh ra, bây giờ lại được sáng, việc xảy ra thế nào xin hỏi nó. Lại một dịp tiện cho anh làm chứng trước mặt cha mẹ về phép lạ Chúa đã cứu anh.

4. Làm chứng cho người Pha-ri-si một lần nữa (Giăng 9:24-34).

Đây là một cuộc đấu trí rất hào hứng giữa anh mù từ thuở sanh ra vừa được chữa lành với các nhà thần học Do thái.

Lần này người Pha-ri-si buộc anh phải chối Chúa Jêsus là Đấng đã chữa lành cho anh, vì Ngài có tội. Bực tức về sự ngoan cố và ngụy biện của người Pha-ri-si, anh đáp lại với giọng châm biếm: “Tôi chẳng biết người có phải là kẻ có tội chăng, chỉ biết một điều là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng”.

Họ lại hỏi anh một lần nữa: “Người đã làm gì cho ngươi? Mở mắt ngươi thế nào?” Họ muốn anh nói đi nói lại nhiều lần để xem có chỗ nào sơ hở, hầu bắt bẻ anh. Anh đáp lại bằng một giọng mỉa mai: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông chẳng nghe tôi. Cớ sao các ông lại muốn nghe lại lần nữa? Há cũng muốn làm môn đồ Ngài chăng?”

Họ mắng nhiếc anh, cho anh là môn đồ của Chúa Jêsus, còn họ là môn đồ của Môi-se. Họ không biết Chúa Jêsus bởi đâu đến. Một lần nữa anh châm biếm họ: “Người đã mở mắt tôi mà các ông chẳng biết người bởi đâu đến, ấy là sự lạ lắm”. Anh muốn nói rằng anh rất ngạc nhiên về những nhà thần học, những nhà thông thái, những giáo sư như người Pha-ri-si mà lại không biết một sự việc như thế. Rồi anh trưng dẫn nguyên tắc cầu nguyện để minh chứng Chúa Jêsus vô tội, nên đã được Đức Chúa Trời nhậm lời. Cuối cùng anh quả quyết Chúa Jêsus từ Đức Chúa Trời đến, nên mới có thể mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra. Đuối lý, người Pha-ri-si chế nhạo anh là con người không xứng đáng dạy dỗ họ, rồi đuổi anh ra ngoài.

Trong thời đó, một người mù từ thuở sanh ra không được học hành. Song khi được Chúa chữa lành, người ấy có bằng chứng mạnh mẽ, có lý lẽ cứng rắn mà các nhà thần học Do thái phải chịu thua. Sự chống đối của người Pha-ri-si làm cho đức tin anh ngày càng vững mạnh, làm chứng càng hăng say. Không ai chinh phục nổi một tội nhân đã được Chúa cứu. Sự bắt bớ không đáng sợ, sự công kích không đáng lo, miễn là mình có thực chứng sự cứu rỗi.

III. CHÚA GIÚP CHO NGƯỜI LÀM CHỨNG BIẾT NGÀI RÕ HƠN (Giăng 9:35-41).

Nhà hội là nơi sinh hoạt cộng đồng của người Do thái với ba mục đích: Thờ phượng, giáo dục và chính trị. Một người bị đuổi khỏi nhà hội là bị dứt phép thông công, bị mất nhiều quyền lợi, bị rủa sả. Vì vậy, cha mẹ anh mù sợ liên hệ với anh mà bị đuổi khỏi nhà hội, và nhiều người khác cũng sợ như vậy (Giăng 12:42; 16:2). Song anh mù đã được chữa lành sẵn sàng chấp nhận điều ấy.

Khi nghe anh bị đuổi ra, Chúa Jêsus liền đến gặp anh. Ngài muốn khích lệ và thêm đức tin cho anh. Ngài rất hài lòng có những người như anh. Được gặp Đấng chữa lành cho mình, chắc anh sung sướng vô cùng. Anh sấp mình trước mặt Ngài, thưa rằng: “Lạy Chúa, tôi tin”. Anh tin Ngài là Con Đức Chúa Trời, Chúa Cứu thế.

Khi xa người thì được gần Chúa. Khi bị người xua đuổi vì có Danh Chúa thì được Ngài tiếp nhận. Những mất mát của anh không đáng kể, những nguy hiểm của anh không đáng lo. Được cứu là được mọi sự. Có Chúa là có mọi sự.

Chúng ta có sẵn sàng trả một giá đắt để làm chứng cho Chúa không? Có sẵn sàng chấp nhận hy sinh để tôn vinh Ngài không? Có sẵn sàng kể rằng nhận biết Chúa và được Chúa là quí tột bực mà xem mọi sự khác như rơm rác không? Chúng ta không thể thua anh mù từ thuở sanh ra này.

CÂU HỎI

1. Nhờ đâu mà anh mù được chữa lành?

2. Anh đã làm chứng cho ai?

3. Tại sao người Pha-ri-si đã hỏi anh nhiều lần?

4. Nhờ đâu anh đắc thắng cuộc đối thoại với người Pha-ri-si?

5. Sự chống đối của người Pha-ri-si đã làm cho đức tin anh thế nào?

6. Chúa đã gặp anh để làm gì?

7. Anh phải trả giá thế nào để tin Chúa và làm chứng cho Ngài?

BÀI 10. GIÚP ĐỠ NGƯỜI HOẠN NẠN

KINH THÁNH: Giăng 11:1-44.

CÂU GỐC:“Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là Sự Sống lại và Sự Sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).

MỤC ĐÍCH: Nhấn mạnh tầm quan trọng về sự giúp đỡ người lâm cơn hoạn nạn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Một cơn khủng hoảng nặng nề

(Giăng 11:1-16).

TH:

Lòng ưu ái của Chúa Jêsus

(Giăng 11:17-37).

TB:

Chiến thắng sự chết

(Giăng 11:38-44).

TT:

Sự yên ủi trong cơn hoạn nạn

(I Phi-e-rơ 4:12-14).

TN:

Nên yên ủi nhau

(IICôr 1:3-7).

TS:

Sự yên ủi trong cơn thử thách

(Gia-cơ 1:1-8,12).

TB:

Được giải thoát khỏi sự sợ hãi

(Hê-bơ-rơ 2:14-15).

Trong cuộc sống của con người trên trần gian không thể nào không gặp hoạn nạn. Hoạn nạn lớn nhất là sự chết. Mỗi người trong chúng ta đều từng trải nỗi đau buồn sâu xa khi có người thân yêu qua đời. Chúng ta học tập để biết cách đứng vững trước sự hoạn nạn hầu giúp người khác cũng đứng vững như vậy.

I. MỘT GIA ĐÌNH LÂM CƠN HOẠN NẠN (Giăng 11:1-16).

Một gia đình nọ yêu thương Chúa Jêsus và được Chúa yêu, gồm có một anh trai và hai người em gái. Ngày kia, La-xa-rơ, người anh trai lâm bệnh nặng. Hai chị em Ma-thê và Ma-ri đã vội vàng sai người đến báo tin cho Chúa Jêsus: “Lạy Chúa, kẻ yêu Chúa mắc bệnh”. Hai bà nghĩ rằng, khi được tin đó thể nào Chúa Jêsus cũng đến ngay và chữa lành cho La-xa-rơ. Song vì yêu họ nên Chúa ở nán lại hai ngày. Câu 5-6 (bản nhuận chánh) “Vả, Chúa thương yêu Ma-thê cùng em gái nàng và La-xa-rơ, nên khi nghe người đau yếu, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở”.

Thử hỏi: Nếu yêu thương họ, tại sao Chúa không đến ngay, chữa lành cho La-xa-rơ, mà Ngài ở nán thêm hai ngày để chờ ông ấy chết rồi mới đến? – Vì quá yêu thương họ nên Chúa không muốn chữa cho người đau được lành, mà muốn kêu kẻ chết sống lại, để thêm đức tin cho họ. Gia đình này đã biết Chúa Jêsus có quyền trên ma quỉ, trên bão tố, trên tật bịnh, trên tội lỗi; nhưng họ chưa biết rằng Ngài có quyền trên cả sự chết. Đúng như Martin Luther, nhà cải chánh giáo hội đã nói: “Khi chúng ta xin bạc, Chúa cho vàng”.

Trên đây là đường lối đặc biệt mà Chúa đã áp dụng cho con cái Ngài. Vì rất thương yêu chúng ta, Chúa muốn làm việc lớn lao cho chúng ta. Để làm việc lớn cho chúng ta, Chúa để chúng ta gặp hoạn nạn lớn, đến nỗi gần như tuyệt vọng, nên có câu: “Sự tuyệt vọng của loài người là dịp tiện của Đức Chúa Trời. Những tại sao của chúng ta hôm nay là những Halêlugia của chúng ta ngày mai”.

II. LỜI HỨA BAN SỰ SỐNG TRONG CƠN HOẠN NẠN (Giăng 11:17-27).

Khi Chúa Jêsus đến thăm thì La-xa-rơ đã được chôn bốn ngày rồi. Có phải Chúa đến chỉ để chia buồn với tang gia như bao nhiêu người khác đã làm không? – Không! Chúa đến để ban lời hứa về sự sống. Chúa phán với Ma-thê: “Anh ngươi sẽ sống lại”. Vì bà tưởng Chúa phán về sự sống lại cuối cùng của con người, nên Chúa đã phán tiếp: “Ta là Sự Sống Lại và Sự Sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết” (c. 25-26).

Câu 25 ứng dụng cho trường hợp của La-xa-rơ và những tín đồ đã chết. Họ chắc sẽ sống lại và sống mãi mà La-xa-rơ là đại biểu. Câu 26 ứng dụng cho trường hợp của Ma-thê, Ma-ri và những tín đồ đang sống, họ sẽ chẳng hề chết. Đối với tín đồ là những người có Chúa tức là có sự sống lại và sự sống đời đời thì sự chết đã mất hết ý nghĩa, mất hết nọc độc. “Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng” (ICôr 15:54). “Sự chết chỉ là một giấc ngủ” (ICôr 15:20; ITê 4:13). Chúa phán: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời Ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ” (Giăng 8:51).

Chúng ta luôn luôn nghĩ về sự sống và sự chết thuộc thể, song Chúa thì nghĩ về sự sống và sự chết thuộc linh. Khi vào một nghĩa trang, chúng ta nói đây là những người chết, song nếu họ là những tín đồ thì Chúa phán: Đây là những người đang sống. Khi vào một khu chợ, chúng ta nói đây là những người đang sống, song nếu họ không phải là tín đồ thì Chúa phán: Đây là những người đã chết. Vì vậy, Phao-lô đã viết: “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Ê-phê-sô 2:1). Khi con trai hoang đàng trở về thì người cha nói: “Vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống” (Lu-ca 15:24).

III. LỜI AN ỦI TRONG CƠN HOẠN NẠN (Giăng 11:28-37).

Khi Chúa Jêsus đến thăm thì Ma-thê và Ma-ri đều khóc. Họ thưa với Chúa: “Lạy Chúa, nếu có Chúa ở đây thì anh tôi không chết”. Họ ngụ ý than phiền Chúa chậm trễ, đồng thời tỏ ra đức tin yếu đuối của họ. Vì nếu Chúa cứu La-xa-rơ thì cần gì Ngài phải đến tận nơi, Ngài chỉ phán một lời cũng đủ rồi.

Tuy nhiên, Chúa không quở trách họ mà còn thương cảm họ, vì biết rằng hằng giờ hằng phút họ chờ Ngài đến trong khi nhìn anh yêu dấu của họ lần lần mỏi mòn tắt hơi. Đó là nỗi đau đớn tan lòng nát dạ. Nếu có Chúa trong giờ phút đó, họ được yên ủi vô cùng. Ngài khóc không phải Ngài bó tay trước tử thần, song Ngài “vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc”, Ngài cảm thương sự đau buồn của con cái Ngài. Ma-thê, Ma-ri được an ủi là dường nào! Kinh Thánh chép: “Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ” (Ê-sai 63:9). “Chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu” (Ca thương 3:33). Vậy nên khi dân Ngài bị đày qua Ba-by-lôn, Ngài ở đó với họ, khi ba thanh niên Hê-bơ-rơ bị quăng vào lò lửa hực, Ngài cũng ở đó với họ.

Con cái đau bao nhiêu, cha mẹ cũng đau bấy nhiêu, cha mẹ còn cảm xúc nỗi đau hơn con. Tình mẫu tử được mô tả như sau:

“Con cười, mẹ cũng cười cho,

Con khóc mẹ cũng buồn xo lo lường,

Nhọc nhằn cực khổ trăm đuờng,

Vậy con tưởng đến mến thương hết lòng”.

IV. GIÚP ĐỠ ĐỂ ĐẮC THẮNG HOẠN NẠN (Giăng 11:38-44).

Chúa đến không những ban lời hứa quí báu, sự yên ủi lớn lao, mà còn đổi đau buồn ra vui vẻ, đổi hoạn nạn ra phước hạnh, đổi thất bại ra chiến thắng… Chữa lành một kẻ đau, sao bằng kêu một kẻ chết sống lại. “Vì sự giận của Ngài chỉ trong một lúc, còn ơn của Ngài có trọn một đời, sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng” (Thi thiên 30:5).

Sự sống lại của La-xa-rơ cho chúng ta biết rằng: “Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài”. Đó là niềm tin và hy vọng vững vàng của chúng ta. Trong mọi cơn hoạn nạn kể cả sự chết cũng chỉ là một cơn khủng hoảng tạm thời, chúng ta được yên ủi và khích lệ qua lời của Ngài. Vì thế, chúng ta hãy đến yên ủi bao nhiêu người khác quanh mình.

CÂU HỎI

1. Sự hoạn nạn lớn nhất mà con người từng gặp là gì?

2. Tại sao Chúa nghe La-xa-rơ đau mà Ngài đợi ông chết mới đến thăm?

3. Khi nào Chúa mới có thể làm việc lớn cho chúng ta?

4. Tại sao sự chết không còn đáng sợ đối với tín đồ?

5. Về sự sống và sự chết, ý nghĩ của loài người khác hơn ý nghĩ của Đức Chúa Trời là thế nào?

6. Khi Chúa đến, Ngài làm gì để yên ủi Ma-thê và Ma-ri?

7. Chúa chiến thắng sự chết đã đem lại gì cho gia đình Của La-xa-rơ?

8. Chúng ta có phải làm gì cho bao người lâm nạn chung quanh mình?

BÀI 11. CƠ ĐỐC NHÂN KẾT QUẢ

KINH THÁNH: Giăng 15:1-17.

CÂU GỐC: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:5).

MỤC ĐÍCH: Nhấn mạnh sự cần thiết phải hiệp một với Chúa Jêsus để được quyền năng sống cuộc đời Cơ Đốc nhân kết quả.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kết quả cho Chúa

(Giăng 15:1-17).

TH:

Trái của Thánh Linh

(Ga-la-ti 5:22-26).

TB:

Lời làm chứng được Đức Chúa Trời hướng dẫn

(I Phi-e-rơ 4:10-11).

TT:

Sự hiện diện và ngự trị của Chúa

(Ma-thi-ơ 28:16-20).

TN:

Quyền năng vận hành trong chúng ta

(Ê-phê-sô 3:14-21).

TS:

Chủ đích sự sửa trị của Đức Chúa Trời

(Hê-bơ-rơ 12:3-11).

TB:

Phần thưởng cho việc chứng đạo

(ITê 2:17-20).

Chúa có một chủ đích đối với các môn đồ xưa và chúng ta ngày nay. Chủ đích đó là chúng ta phải sống cuộc đời Cơ Đốc nhân kết quả. Muốn kết quả chúng ta phải giữ hai mặt của đời sống. Mặt này là mối tương giao mật thiết liên tục với Chúa, mặt kia là làm chứng nhân cho Chúa giữa mọi người.

Mối tương giao mật thiết liên tục với Chúa như đường thẳng đứng; còn làm chứng cho Chúa giữa mọi người như một đường thẳng ngang. Hai đường này hiệp thành một thập tự giá. Một đời sống Cơ Đốc nhân kết quả là một đời sống đã bị đóng đinh trên thập tự giá như Phao-lô đã mô tả (Ga-la-ti 2:20).

I. MỘT CUỘC ĐỜI KẾT QUẢ (Giăng 15:1-2).

Chủ đích của người trồng nho là được kết quả. Nhánh nho bị đòi hỏi phải cung cho người trồng nho không phải là lá mà là trái. Cũng vậy đời sống Cơ Đốc nhân phải sanh trái cho Đức Chúa Trời. Trái đó là gì? – Có hai thứ: Bên trong và bên ngoài. Trái bên trong là Yêu thương, Vui mừng, Bình an, Nhịn nhục, Nhơn từ, Hiền lành, Trung tín, Mềm mại, Tiết độ (Ga-la-ti 5:22). Trái bên ngoài là làm chứng cho Chúa để dắt đem người khác về với Ngài như Anh-rê đã dắt đưa anh là Phi-e-rơ, Phi-líp đã dắt đưa bạn là Na-tha-na-ên (Giăng 1:40-49).

II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÓ ĐỜI SỐNG KẾT QUẢ (Giăng 15:2-14).

Một nhánh nho muốn được kết quả phải hội đủ ba điều kiện: Chịu tỉa sửa, ở trong gốc và vâng lời luôn.

Đời sống Cơ Đốc nhân muốn được kết quả cũng phải như vậy.

1. Chịu tỉa sửa (c.2).

Phải cắt đi những cành lá rườm rà chỉ gây trở ngại cho sự kết quả. Cũng vậy, cuộc sống xa hoa, ích kỷ, kiêu căng, háo danh, ham lợi giống như hột giống rơi vào bụi gai, bị nghẹt ngòi không thể nào kết quả được (Ma-thi-ơ 13:22), nên Đức Chúa Trời phải tỉa sửa bằng những sự ốm đau, bắt bớ, đói khát, nghèo nàn, nói chung là hoạn nạn, để làm cho đời sống chúng ta được kết quả (Hê-bơ-rơ 12:11).

2. Ở trong gốc (c.4-c.8).

Chúa chỉ ra sự bất lực hoàn toàn của chúng ta, là ngoài Ngài chúng ta không làm chi được, giống như nhánh nho không ở trong gốc thì chỉ có ném ra ngoài để héo khô rồi bị đốt. Nhưng như nhánh nho ở trong gốc thì có trái, nhiều trái và nhiều trái lắm, chúng ta ở trong Chúa thì cũng như vậy. Ở trong Chúa có nghĩa là bám chặt vào Ngài, tin cậy Ngài, nương nhờ Ngài, hoàn toàn lệ thuộc Ngài, phó thác cho Ngài, phục tùng Ngài để chúng ta nhận được từ nơi Ngài Sự Sống, Sự Sáng và tất cả mọi nhu cầu, hầu cuộc đời có kết quả. Chúng ta phải thành kính thưa rằng: “Các suối tôi đều ở trong Ngài” (Thi thiên 87:7). “Ngài là Chúa tôi, trừ Ngài ra, tôi không có phước gì khác” (Thi thiên 16:2).

3. Vâng lời luôn (c.9-c.11).

Nhánh nho giữ một thái độ yên lặng và vâng lời trọn vẹn để được kết quả, thì đời sống của chúng ta cũng phải như vậy. Vâng lời là dấu hiệu của sự thương yêu. Con cái yêu thương cha mẹ thì muốn vâng lời cha me. Con cái càng vâng lời cha mẹ thì càng được thương yêu. Con cái Chúa vâng lời Ngài vì thương yêu Ngài thì đời sống đó chắc chắn được kết quả.

III. ĐỜI SỐNG KẾT QUẢ LÀ HOÀN TẤT CHỦ ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Bức tranh gốc nho và nhánh là hình ảnh đẹp nhất về sự hiệp một giữa chúng ta với Chúa và giữa chúng ta với nhau.

“Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh”. Chúa muốn nói: “Như gốc nho với nhánh nho là một, thì Ta với các ngươi cũng vậy”. Nhánh nho thuộc về gốc, thì gốc nho cũng thuộc về nhánh. Ai đụng đến nhánh nho là đụng đến gốc nho, ai đụng đến gốc nho là đụng đến nhánh nho. “Ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi mắt Ngài” (Xa-cha-ri 2:8). Ai đụng đến Chúa là đụng đến chúng ta.

Nếu các nhánh nho hiệp một với gốc nho thì chúng ta cũng hiệp một với nhau. Nếu chúng ta hiệp một với Chúa thì chúng ta cũng hiệp một với nhau. Vì trong một cây nho, dầu có bao nhiêu nhánh cũng ở cùng chung trong một gốc, cùng hưởng một thứ mủ nhựa, cũng có mục đích là kết quả. Trong Hội Thánh dầu có bao nhiêu tín đồ thì cũng cùng ở trong Chúa, cùng hưởng sự sống của Chúa để cùng kết quả cho Chúa.

Chúng ta ở trong Chúa và Chúa ở trong chúng ta, như nhánh nho ở trong gốc và gốc nho ở trong nhánh thì sẽ đem lại ích lợi hỗ tương. Nhánh nho không thể nào ra trái nếu không nhờ gốc nho, gốc nho cũng không thể nào ra trái nếu không nhờ nhánh. Chúng ta cần đến Chúa và Chúa cần đến chúng ta. Ngài bày tỏ công việc của Ngài qua đời sống chúng ta, miễn là chúng ta phải tận hiến cho Ngài.

Trên đây là ý nghĩa một đời sống giao thông mật thiết liên tục với Chúa và với nhau, đồng thời là một đời sống làm chứng cho Chúa giữa mọi người. Hãy để Sự Sống Dư Dật, Sự Sống Thánh Khiết, Yêu thương, Vui mừng, Bình an của Ngài tràn ngập tâm linh chúng ta. Hãy để Ngài tự do sống lại cuộc đời quyền năng của Ngài trong chúng ta hầu Ngài hoàn tất chủ đích của Đức Chúa Trời trong chúng ta.

Bởi sự hiệp một với Chúa, Ngài không gọi chúng ta là đầy tớ Ngài mà là bạn hữu Ngài (c. 15-17). Chúng ta không đi một mình, không làm việc một mình; song đi với Chúa và với nhau, làm việc với Chúa và với nhau. Chúa cùng hiệp một với chúng ta trong sự cầu xin để lời cầu xin của chúng ta được nhậm, đời sống chúng ta được kết quả. “Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau”.

CÂU HỎI

1. Chúa muốn mỗi chúng ta sống cuộc đời Cơ Đốc nhân như thế nào?

2. Hình ảnh gì tượng trưng cho mối tương giao của Cơ Đốc nhân với Chúa và đời sống làm chứng của họ với mọi người?

3. Một cuộc đời Cơ đốc kết quả gồm có mấy thứ trái? Những trái đó là gì?

4. Muốn sống cuộc đời kết quả, phải hội đủ các điều kiện nào?

5. Hãy giải thích ba điều kiện ấy?

6. Hình ảnh gốc nho và nhánh nho dạy chúng ta về điều gì?

7. Sự tương quan giữa gốc nho và nhánh nho tỏ ra bí quyết của một đời sống kết quả là gì?

8. Tại sao chúng ta biết mình không đi và không làm việc một cách lẻ loi?

9. Điều răn mà Chúa lặp đi lặp lại và muốn chúng ta vâng theo là gì?

BÀI 12. CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA ĐỨC TIN

KINH THÁNH: Giăng 20:19-31.

CÂU GỐC: “Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin thì nhờ Danh Ngài mà được sống” (Giăng 20-31).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ ràng Đức Chúa Trời đã đưa ra nhiều chứng cớ hiển nhiên trong Lời của Ngài để chiến thắng mọi nghi ngờ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chuyển giao quyền uy

(Giăng 20:19-23).

TH:

Niềm tin được tái tạo

(Giăng 20:24-31).

TB:

Những câu nói thành thật

(Lu-ca 7:18-23).

TT:

Tiếng nói của uy quyền

(Mác 1:21-28).

TN:

Cơ nguy của sự nghi ngờ

(Gia-cơ 1:5-8).

TS:

Quyền lựa chọn

(Giăng 1:9-13).

TB:

Lời chứng trong lòng cho chân lý

(IGiăng 5:6-12).

Chúng ta không tin nhảm, tin càn, nhưng chúng ta tin những điều có chứng cớ hiển nhiên. Chúng ta biết điều mình tin và Đấng mình tin, Phao-lô khuyên Ti-mô-thê: “Về phần con hãy đứng vững trong những sự con đã đem lòng tin chắc mà nhận lấy” (II Ti-mô-thê 3:14). Kinh Thánh đã đặt một nền tảng vững chắc cho đức tin của chúng ta. Nếu trên đường theo Chúa phải đương đầu với những mối nghi ngờ, chúng ta hãy tìm câu giải đáp trong Kinh Thánh.

Có hai người đi xe đạp đường xa. Khi đến một con sông, chẳng may cầu đã bị sập. Người thứ nhất nói: “Rất tiếc, thế là tôi phải trở lại”. Nói xong người này vội vàng quay xe trở lại. Người thứ hai nói: “Để tôi cố gắng thử xem”. Nói xong anh vác xe lên vai, chậm chạp bước xuống nước, dò từng bước một, anh cảm thấy nước không sâu lắm, đất cứng. Thế là anh vượt qua được, rồi cứ tiếp tục lên đường. Trên linh trình chúng ta thường gặp hai người này.

I. CHÚA SỐNG LẠI LÀ CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA ĐỨC TIN (Giăng 20:19-21).

Trước đó hai ngày, khi Chúa bị đóng đinh, các môn đồ đã sợ hãi và chạy trốn. Sáng ngày Chúa phục sinh, một vài người đã gặp Ngài, song còn nghi ngờ. Tối lại họ họp nhau trong một phòng, có lẽ là phòng cao mà Chúa với họ đã dự lễ Vượt qua. Các cửa phòng đều được đóng kỹ, vì họ sợ dân Do thái. Chắc họ ngồi sát vào nhau, mặt mày hốc hác, lòng dạ áy náy. Một tiếng động bên ngoài khiến họ cứ tưởng như tiếng của nhân viên Tòa Công luận đến bắt họ! Chưa ai bỏ tù họ, song chính họ lại bỏ tù mình.

Sau khi sống lại, thân thể của Chúa Jêsus không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian, không còn bị vật chất hạn chế, nên không cần mở cửa, Chúa đã vào phòng một cách dễ dàng. Đứng giữa họ, Chúa phán: “Bình an cho các ngươi”. Ngài muốn bảo họ đừng sợ hãi, đừng hoang mang, hãy thản nhiên lấy lại can đảm.

Chúa biết họ nghi ngờ thần linh của Chúa hiện ra chứ không phải chính Ngài, nên Ngài giơ tay và sườn cho họ xem để chứng minh Ngài thật đã sống lại. Lu-ca 24:36-43 chép rõ hơn nữa là Chúa bảo họ đến rờ Ngài, bảo họ đem thức ăn cho Ngài, rồi Ngài ăn trước mặt họ. Bấy giờ các môn đồ không còn sợ hãi, chẳng còn hoang mang nữa vì họ đã có chứng cớ hiển nhiên về sự sống lại của Chúa.

Kế đó, Chúa ban bình an cho họ một lần nữa để họ ra đi chia sẻ đức tin, niềm vui và bình an cho kẻ khác. Sau khi biết Chúa đã sống lại, họ không thể tọa hưởng phước đó cho riêng mình, nếu vậy họ sẽ thành người ích kỷ. Họ phải ra đi. Ngày nay chúng ta cũng phải ra đi như họ. Chúa truyền lệnh: “Cha đã sai Ta thể nào. Ta cũng sai các ngươi thể ấy”. Chúa Jêsus đã xem hai sự ra đi giống nhau, có giá trị như nhau. Sự cứu rỗi phải được các môn đồ tiếp tục ra di truyền giảng cho mọi người. Ngày nay chúng ta phải tiếp tục công tác của các môn đồ cho đến khi Chúa tái lâm. Đó là thiên chức Chúa dành cho mọi người. Chúa Jêsus là sứ giả từ Đức Chúa Trời sai đến, các sứ đồ và tín đồ trải qua các đời là sứ giả Chúa Jêsus sai đi để ban bình an và truyền giảng cứu ân cho nhân loại.

II. UY QUYỀN THIÊN THƯỢNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN LÀ CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA ĐỨC TIN (Giăng 20:22,23).

Sứ giả phải có uy quyền để thi hành sứ mệnh. Vì vậy Chúa đã hà hơi trên môn đồ mà phán rằng: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh”. Sự nhận lãnh lần này là chuẩn bị cho ngày lễ Ngũ tuần mà ai nấy đều được đầy dẫy.

Sau khi nhận Đức Thánh Linh, các môn đồ có uy quyền truyền giảng cứu ân cho nhân loại. Ai ăn năn tin nhận Chúa Jêsus làm Chúa Cứu thế thì tội sẽ được tha, ai không ăn năn tin nhận Ngài thì tội sẽ bị cầm lại (Mác 16:15-16; Lu-ca 24:46-47).

Ngoài Đức Chúa Trời, không ai có quyền tha tội cho người khác. Hội Thánh nói chung, cá nhân tín đồ nói riêng được đặc quyền và đặc ân truyền giảng Tin Lành và áp dụng lời hứa của Chúa mà tuyên bố tha tội cho kẻ ăn năn và cảnh cáo những người không chịu ăn năn. Các môn đồ đã thi hành mệnh lệnh trên đây bắt đầu từ lễ Ngũ tuần, Phi-e-rơ đã tuyên bố sự tha tội cho 3.000 người ăn năn và làm báp-têm cho họ, để họ được gia nhập Hội Thánh (Công vụ 2:37-41). Ê-tiên đã cảnh cáo mạnh mẽ những người cứng cổ, cứng lòng, bịt tai không chịu ăn năn (Công vụ 7:51-53).

Vậy mỗi chúng ta là tín đồ, hãy nhờ Thánh Linh mà thi hành sứ mệnh truyền giảng để đem nhiều người đến sự ăn năn, làm cho họ được tha tội.

III. GẶP CHÚA JÊSUS LÀ CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA ĐỨC TIN (Giăng 20:24-29).

Không thể không có sự nghi ngờ, song chúng ta không nên giữ kín sự nghi ngờ trong lòng, mà phải giải tỏa nó bằng cách tìm hiểu sự thật để tin. Đó là hành động của Thô-ma. Thô-ma đã không có mặt tại phòng cao khi Chúa hiện ra, nên khi nghe người khác thuật lại, ông nghi ngờ bởi việc đó vượt quá trí hiểu biết của ông. Tuy nhiên, ông không giữ sự nghi ngờ trong lòng để rút lui, bỏ chức vụ; trái lại, ông ước ao được như các môn đó khác là thấy dấu đinh trong bàn tay Chúa, đặt ngón tay vào dấu đinh và đặt bàn tay vào sườn Ngài, thì ông sẽ tin. Để giải tỏa sự nghi ngờ của Thô-ma, Chúa hiện ra với ông giống như Ngài đã hiện ra với các môn đồ trước đó. Ngài bảo ông hãy xem bàn tay Ngài, hãy đặt bàn tay vào sườn Ngài. Chúa cảnh cáo ông: “Chớ cứng lòng, song hãy tin”. Không còn lý do gì để nghi ngờ, song có đủ chứng cớ hiển nhiên để tin, Thô-ma thưa: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi”. Ngày nay chúng ta không có phép đòi hỏi như Thô-ma, vì hoàn của ông khác hơn chúng ta. Nhưng Kinh Thánh có đủ chứng cớ để chúng ta tin. Chúa phán: “Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin như vậy”.

Nếu có một người cố tạo ra những luận điệu nghi ngờ để từ chối theo Chúa, hoặc không theo Ngài nữa, thì chúng ta không thể làm gì ngoài ra cầu nguyện cho người đó. Song Kinh Thánh không hề thiếu chứng cớ của đức tin tương quan đến sự cứu rỗi cũng như chứng cớ về sự sống lại của Chúa Jêsus.

Chúa Jêsus đã làm nhiều phép lạ khác nữa để cho các môn đồ có đủ những chứng cớ hiển nhiên về sự sống lại của Ngài, và Kinh Thánh đã ghi chép mọi sự đó để đặt một nền tảng vững chắc cho đức tin của chúng ta, hầu chúng ta có thể căn cứ vào đó mà hành động và không hề sợ sai lầm (Giăng 20:30,31).

CÂU HỎI

1. Tại sao các môn đồ lại sợ hãi và hoang mang?

2. Để giải tỏa sự nghi ngờ của các môn đồ, Chúa Jêsus đã làm gì?

3. Sau khi biết Chúa Jêsus thật đã sống lại, các môn đồ phải làm gì?

4. Để các môn đồ có đủ uy quyền thi hành mệnh lệnh, Chúa đã làm gì?

5. Tại sao Thô-ma nghi ngờ?

6. Chúa Jêsus đã làm gì để giải tỏa sự nghi ngờ của Thô-ma?

7. Mỗi khi gặp sự nghi ngờ, chúng ta phải làm sao?

8. Các chứng cớ của đức tin chúng ta được lập ở đâu?

9. Phao-lô đã khuyên Ti-mô-thê thế nào về đức tin (II Ti-mô-thê 3:14)?

BÀI 13. ĐƯỢC PHỤC HỒI ĐỊA VỊ SAU KHI SA NGÃ

KINH THÁNH: Giăng 21:1-29.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta hơn những kẻ này chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn những chiên con Ta” (Giăng 21:15).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ những người đã sa ngã tiếp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời và bắt đầu lại mọi sự một cách mới.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chuyển bại thành thắng

(Giăng 21:1-14).

TH:

Phi-e-rơ được phục hồi nguyên vị

(Giăng 21:15-19).

TB:

Tội lỗi xưng ra và được tha thứ

(IGiăng 1:5-9).

TT:

Cầu xin sự tha thứ và phục hưng

(Thi thiên 51:1-19).

TN:

Tiến luôn

(Phi-líp 3:12-16).

TS:

Cơ Đốc nhân thành thật cố gắng

(Cô-lô-se 1:24-29).

TB:

Trách nhiệm

(I Phi-e-rơ 5:1-5).

Khi có một người đã vấp phạm sa ngã, người ấy chán nản và thất vọng. Người ấy không ngờ mình yếu đuối và tệ hại như thế. Trong trí người ấy có một câu hỏi được nêu lên: “Chúa có tha tội cho tôi hay không? Tôi có thể được tha thứ chăng?”

Câu chuyện của Phi-e-rơ sau đây là một bài học vô giá cho chúng ta về cách Chúa đối xử với một người đã vấp phạm và sa ngã, cung cách người đó phải làm để được tha thứ trọn vẹn, được phục hồi nguyên vị.

I. SỰ SA NGÃ CỦA CÁC MÔN ĐỒ (Giăng 21:1-3).

Chúa Jêsus đã sống lại và hai lần hiện ra với các môn đồ, họ không còn lý do nghi ngờ về việc đó. Song tâm trạng của các môn đồ, nhất là Phi-e-rơ, rất là dao động. Đành rằng Chúa đã sống lại, Ngài sai đi, song Ngài có tha thứ cho một kẻ phản bội đã ba lần chối không biết Ngài, mặc dầu kẻ đó đã ăn năn?

Không ai trả lời được câu hỏi đó nên Phi-e-rơ buồn chán quá. Ông nói với các bạn: “Tôi đi đánh cá!” Chắc ông muốn nói: “Tôi trở về nghề cũ. Tôi không còn xứng đáng làm môn đồ của Chúa Jêsus”. Cảm thông với Phi-e-rơ trong trạng huống ấy, sáu môn đồ khác đồng thanh hưởng ứng: “Chúng tôi đi với anh”. Họ liền xuống thuyền đi đánh cá.

Chúa đã trực tiếp kêu gọi Phi-e-rơ và ông đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Ông thuộc vào hạng môn đồ thân tín của Chúa. Ông là người phát ngôn của các môn đồ. Ông đã từng đi bộ trên biển với Chúa… Nhưng Phi-e-rơ là con người đơn sơ, nóng nảy, ít chú ý và tự tin. Ông tôn xưng Chúa là Chúa Cứu thế, Con Đức Chúa Trời hằng sống, song lại can Ngài bỏ ý định chịu chết trên thập tự giá. Nhất là khi được Chúa cảnh cáo, ông đã quả quyết: Dầu mọi người vấp phạm thì ông cũng không bao giờ vấp phạm. Dầu phải chết với Chúa đi nữa, ông cũng chẳng chối Ngài đâu.

Bây giờ sự thật quá phủ phàng, làm cho Phi-e-rơ vô cùng chán nản. Ông đành trở về với việc đánh lưới cá thay vì đánh lưới người. Vì thế, chúng ta phải hằng ngày biết mình rất yếu đuối, thiếu thốn. Điều quan trọng không phải là chúng ta không hề vấp ngã mà phải đứng dậy sau khi vấp ngã, không phải là chúng ta không hề phạm tội, mà phải ăn năn ngay sau khi phạm tội.

II. CHÚA PHỤC HỒI CHO CÁC MÔN ĐỒ (Giăng 21:4-14).

Thảm hại thay, các môn đồ đã đánh cá suốt đêm mà không được chi cả. Đã chán nản họ lại chán nản hơn… Nhưng thình lình, Chúa xuất hiện trên bờ biển. Ngài thân mật và vồn vả hỏi họ: “Hỡi các con, không có chi ăn hết sao?” Chúa đã biết mọi sự, song Ngài muốn chính họ nói ra sự thất bại và nhu cầu của mình. Đồng thời đang khi tâm trạng họ héo hon, lạnh buốt, câu hỏi của Chúa khiến họ tươi mới, ấm áp làm sao! Chúa lo nghĩ đến kẻ thuộc về Ngài, cả tâm hồn lẫn thể xác của họ. Chúa biết tất cả nhu cầu của họ. Ngài đã xuất hiện kịp thời và đúng lúc để nâng đỡ, dạy dỗ họ. Chúa bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì các con sẽ được”. Vâng lời Chúa, họ được 153 con cá lớn đến nỗi không thể kéo lên nữa, dầu vậy lưới vẫn không đứt. Đêm qua, Chúa đã ra lệnh cho tất cả cá vùng đó di tản nơi khác hết, sáng nay Chúa lại ra lệnh 153 con cá tập trung lại và vào lưới của các môn đồ. Cá dưới nước cũng như chim trên trời đều thuộc quyền điều khiển của Chúa chúng ta. Không có Chúa, theo ý riêng thì chúng ta chỉ gặp thất bại, chán nản. Có Chúa, vâng lời Ngài, thì chúng ta thành công trong mọi sự và đầy lòng vui vẻ.

Khi các môn đồ lên bờ, thấy Chúa đã dự bị đủ cả, như lửa, than, cá, bánh. Chúa bảo: “Hãy lại ăn” vì biết họ đói lắm. Ngài đã đem bánh và cá đến tận tay họ. Thật là một bữa ăn ngon lành, thân mật. Chúa không hề có nửa lời quở trách họ, song đầy lời âu yếm và thái độ thương yêu đối với họ. Nhìn lại những ngày qua, chúng ta há không thấy trên đây cũng là cách Chúa đối xử với chúng ta hay sao? Thật cảm tạ Chúa vô cùng.

III. CHÚA BAN CHO CÁC MÔN ĐỒ SỰ ỦY THÁC MỚI (Giăng 21:15-19).

Sau bữa ăn là một cuộc đối thoại lý thú giữa Chúa và Phi-e-rơ. Ba lần Chúa hỏi Phi-e-rơ: “Ngươi yêu Ta chăng?” Chúa không hỏi Phi-e-rơ đã dâng cho Ngài bao nhiêu tiền? Làm cho Ngài bao nhiêu việc? Điều kiện tiên quyết mà Ngài đòi hỏi ông là: “Ngươi yêu Ta chăng?” Chúa cũng đang đòi hỏi mỗi chúng ta như vậy.

Ba lần Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa”. Dầu ông hấp tấp, quá tự tin mà phải vấp phạm và sa ngã, song ông vẫn yêu Chúa. Chắc không có lời nào đẹp hơn mà Chúa muốn nghe bằng những lời: “Tôi yêu Chúa”. Ngài cũng muốn nghe chúng ta nói như vậy tự đáy lòng mình.

Ba lần Chúa bảo: “Hãy chăn chiên Ta”. Điều đó có nghĩa là Chúa phục hồi địa vị của Phi-e-rơ là người hầu việc Ngài, người chăn chiên của Ngài, vì Ngài đã hoàn toàn tha thứ cho ông. Có người tưởng Chúa hỏi ông ba lần vì ông đã chối Chúa ba lần. Dầu có vậy đi nữa thì Ngài nhắc lại tội lỗi của ông để ông xưng ra, hầu Ngài tha thứ. Đồng thời Chúa muốn ông ba lần xác nhận ông yêu Chúa, để cũng ba lần Ngài xác nhận phục hồi địa vị của ông.

Giả định khi Chúa hỏi: “Ngươi yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ thưa rằng: “Tôi không yêu Chúa”. Thì chắc Ngài đã không phán: “Hãy chăn chiên Ta”. Vì Chúa không bao giờ giao bầy chiên mà Ngài yêu thương cho người không yêu Ngài, vì người đó sẽ hủy hoại bầy chiên của Ngài. Không yêu Chúa thì không ai có thể hầu việc Ngài. Chúa đã ủy thác bầy chiên mà Ngài yêu thương cho Phi-e-rơ là người yêu Ngài, và cho mọi người yêu Chúa như ông. Nói cách khác, người có lòng yêu Chúa, lúc nào cũng sẵn sàng và đủ tư cách hơn hết để nhận lấy trách nhiệm hầu việc Ngài.

Chúa nói với Phi-e-rơ: “Hãy theo Ta”. Nghe lệnh đó, ông không còn chán nản và buồn rầu nữa, không còn lo âu và sợ hãi, vì mọi nan đề đã được giải quyết thỏa đáng. Chỉ còn một việc: Hãy theo Chúa. Từ đó, Phi-e-rơ theo Ngài một cách mới, phục vụ Ngài một cách mới với tấm lòng tràn đầy tin yêu và hy vọng. Nguyện mỗi lòng chúng ta đều thành thật thưa với Chúa: “Tôi yêu Chúa”, để có thể hát bài thánh ca số 389, song đổi tất cả chữ “theo” ra chữ “yêu”.

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa đã hiện ra hai lần mà Phi-e-rơ còn muốn trở về nghề cũ là đánh cá?

2. Nhược điểm của Phi-e-rơ là gì?

3. Tại sao các môn đồ đánh cá suốt đêm mà không được gì, rồi chỉ một lần mà được 153 con?

4. Chúa xuất hiện lúc ấy để làm gì?

5. Điều kiện tiên quyết mà Chúa đòi Phi-e-rơ là gì?

6. Làm sao chúng ta biết được Chúa đã tha tội và phục hồi địa vị của Phi-e-rơ?

7. Điều kiện của người hầu việc Chúa là gì?

8. Nếu chúng ta vấp phạm và sa ngã thì nên làm gì?

BÀI 14. CHÚA JÊSUS, ĐẤNG ĐÁNG ĐƯỢC TÔN THỜ

KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 1,2.

CÂU GỐC: “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn qui, vinh hiển và ngợi khen” (Khải huyền 5:12).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Chúa Jêsus là Đấng đáng được tôn thờ, vì Ngài làm thỏa mãn mọi khát vọng về Đức Chúa Trời trong mỗi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Vẻ oai nghiêm và sự hạ mình của Chúa Jêsus

(Hê-bơ-rơ 1,2).

TH:

Đấng cao cả đáng được tôn thờ

(Khải huyền 1; Giê-rê-mi 10:6,7).

TB:

Công việc của nhà tiên tri

(IICác 17:7-13).

TT:

Vua của các vua

(Ê-sai 9:7; Giê. 23:5; Đa-ni-ên 7:14; I Ti-mô-thê 6:15).

TN:

Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm trọn vẹn

(Hê-bơ-rơ 4:14; 5:10).

TS:

Thầy Tế Lễ bất biến

(Hê-bơ-rơ 8:1,2).

TB:

Lời hứa ban sự mãn nguyện cho linh hồn

(Ma-thi-ơ 11:25-30).

Dân tộc nào, quốc gia nào cũng có những vị anh hùng, tức là những người tài năng xuất chúng. Song các vị đó đều bất toàn, khiếm khuyết khiến ai nấy phải thất vọng.

Loài người luôn khao khát một người trọn vẹn mọi bề, không chỗ trách được, để mình tận tâm tôn thờ, tận hiến đời mình, tận trung phục vụ người đó. Người đó là Chúa Jêsus. Ngoài Ngài chúng ta không thể tìm đâu ra một người như vậy. Chúa Jêsus làm thỏa mãn mọi khát vọng của loài người. Mỗi tín đồ phải học biết Chúa của mình là thế, để ai nấy đều đồng thanh với Phao-lô mà nói rằng: “Tôi biết Đấng tôi đang tin” (II Ti-mô-thê 1:12).

Đời Cựu ước có ba chức vị được Đức Chúa Trời xức dầu là tiên tri, thầy tế lễ và vua. Chức vị Chúa Cứu thế gồm cả ba chức vị đó, nên Chúa Jêsus được gọi là Đấng được xức dầu.

I. CHÚA JÊSUS LÀ MỘT TIÊN TRI TRỌN VẸN (Hê-bơ-rơ 1:1,2).

Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các tiên tri để phán dạy dân sự Ngài (xin các học viên kể tên các tiên tri).

Các tiên tri không nhất thiết phải báo trước những điều sẽ xảy ra, nhưng họ là những nhà Truyền đạo cho những người đồng thời của mình. Các tiên tri truyền giảng về công việc của Đức Chúa Trời cũng như đức tính của Ngài. Các tiên tri cảnh cáo mọi người về sự hình phạt của Chúa và kêu gọi họ ăn năn tội để được Ngài tha thứ. Các tiên tri còn đem chính đời sống của mình làm bài giảng trước mặt mọi người.

Song các tiên tri đều là những người yếu đuối, thiếu thốn, nên Đức Chúa Trời đã hứa với Môi-se sẽ dấy lên một tiên tri cho dân sự Ngài (Phục truyền 18:18). Thánh Linh đã xác nhận tiên tri đó là Chúa Jêsus (Công vụ 3:22; 7:37).

Chúa Jêsus là một tiên tri trọn vẹn. Ngài đã giải bày Đức Chúa Trời, không phải chỉ cho dân Y-sơ-ra-ên mà cho cả loài người, cảnh cáo mọi tội nhân, kêu gọi họ ăn năn, đồng thời Ngài báo trước những việc quan trọng sẽ xảy ra từ ngày đó cho đến tận thế. Chúa Jêsus đã dùng chính huyết Ngài đóng ấn cho lời phán của Ngài. Chính Ngài là sự mặc khải trọn vẹn của Đức Chúa Trời cho loài người. Chức vị tiên tri của Ngài đã đạt đến tuyệt đỉnh… Ngài là vị tiên tri đáng tin cậy, đáng tôn thờ, đáng phục vụ cho đến đời đời.

II. CHÚA JÊSUS LÀ THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM DUY NHẤT (Hê-bơ-rơ 2:14-18).

Sau khi đã phạm tội, loài người cần dâng tế lễ chuộc tội. Để dâng tế lễ, cần có thầy tế lễ. Có thầy tế lễ gia đình, có thầy tế lễ quốc gia, có thầy tế lễ chung cho cả loài người.

Đời thượng cổ thì gia trưởng làm thầy tế lễ của gia đình như Nô-ê, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp (Sáng thế ký 8:20; 22:7,8; 46:1; Gióp 1:5).

Đến đời Môi-se thì A-rôn và con cháu ông thuộc chi phái Lê-vi làm thầy tế lễ của quốc gia Y-sơ-ra-ên (Xuất 28:1; 40:13-15). Thầy tế lễ có ba bổn phận: Phục vụ Chúa trong đền thờ, dạy luật pháp của Chúa cho dân sự và cầu hỏi thánh ý của Chúa mỗi khi cần.

Tất cả các thầy tế lễ đều yếu đuối, sai lầm và hay chết, nên không ai giữ được chức tế lễ lâu dài mà phải theo luật cha truyền con nối. Vì vậy Đức Chúa Trời đã hứa ban cho loài người một thầy tế lễ thượng phẩm trọn vẹn theo ban Mên-chi-xê-đéc, tức là thầy tế lễ đời đời (Thi thiên 110:4). Chúa Jêsus là thầy tế lễ đó. Ngài là Đấng Trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người (I Ti-mô-thê 2:5). Ngài không dâng tế lễ bằng con sinh, song bằng chính thân thể Ngài, nên Ngài cũng không dâng tế lễ hằng ngày, mà chỉ dâng một lần đủ cả để chuộc tội lỗi cho loài người. Ngài không chết nên không cần có người thay thế, song Ngài hằng sống để cầu thay cho chúng ta. Ngài đã hủy diệt công việc của ma quỉ nên chúng ta không còn sợ hãi. Ngài là thầy tế lễ hay thương xót và trung tín mà loài người cần có. Nhờ Ngài chúng ta được dẫn đến gần Đức Chúa Trời trong nơi chí thánh chớ không như dân Y-sơ-ra-ên đời xưa chỉ ở hành lang của đền thờ.

III. CHÚA JÊSUS LÀ VUA ĐỜI ĐỜI (Hê-bơ-rơ 1:8-12).

Mỗi nước đều có một vua hoặc một quốc trưởng, tức là người đứng đầu cai trị dân một cách tạm thời. Song Chúa Jêsus là Vua đời đời, cai trị không phải chỉ một nước mà cả thế gian, cả vũ trụ, vì chính Ngài đã dựng nên trời đất và muôn vật. Rồi trong ngày sau rốt, trời đất và muôn vật sẽ hư đi, Ngài sẽ dựng nên trời mới và đất mới, muôn vật đều mới, và Ngài vẫn là Vua.

Trước khi giáng sanh cũng như sau khi giáng sanh, Chúa Jêsus được giới thiệu là Vua của dân Y-sơ-ra-ên. Song dân Y-sơ-ra-ên từ chối Vua của mình nên họ đã đội cho Ngài cái mão gai thay cho vương niệm, mặc cho Ngài chiếc áo điều thay cho vương bào, và để trong tay Ngài một cây sậy thay cho vương trượng. Khi đóng đinh Ngài trên thập tự giá, Phi-lát còn mỉa mai cho làm một tấm bảng treo trên đó với hàng chữ: “JÊSUS NGƯỜI NA-XA-RÉT LÀ VUA DÂN GIU-ĐA”. Bảng đó viết bằng chữ Hê-bơ-rơ, Latinh và Hy-lạp, ba thứ chữ này thuộc về ba quốc gia quan trọng thời bấy giờ. Hê-bơ-rơ là chữ của tôn giáo, vì Cựu ước được chép bằng chữ đó. Latinh là chữ của luật pháp và chánh trị, chữ của đế quốc La-mã, Hy-lạp là chữ của văn chương và mỹ thuật. Ba thứ chữ này rất phổ thông nên mọi người đều đọc được: “JÊSUS LÀ VUA”. Chúa Jêsus đã sống lại. Ngài thật là Vua đời đời của loài người, vì Ngài đã đắc thắng cả sự chết là kẻ thù chung của loài người.

Hiện nay Chúa Jêsus là Vua của thánh dân Ngài. Ngôi của Ngài là lòng họ. Ngài sẽ tái lâm từ trời để cai trị họ một cách hiển nhiên mà “mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đâm Ngài cũng sẽ trông thấy” (Khải huyền 1:7).

Phước cho ai tận hiến đời mình cho Chúa Jêsus để được Ngài ngự trị làm vua đời đời. Người đó làm công dân của một nước đời đời, công bình, chính trực. Người đó được dự phần trong sự đắc thắng của Vua mình, là đắc thắng tội lỗi, ma quỉ, thế gian và sự chết.

“Lạy Chúa Jêsus là Tiên Tri trọn vẹn của con, là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm duy nhất của con, là Vua Chí Cao đời đời của con, con xin tận hiến đời con cho Ngài để tôn thờ, phục vụ chỉ một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

CÂU HỎI

1. Loài người đang khát vọng gì?

2. Đời xưa, các chức vụ nào được Đức Chúa Trời xức dầu?

3. Tại sao Chúa Jêsus là Đấng được xức dầu?

4. Chức vị tiên tri của Chúa Jêsus khác hơn chức vị của các tiên tri khác như thế nào?

5. Tại sao loài người cần có thầy tế lễ?

6. Chúa Jêsus đã dâng tế lễ bằng gì?

7. Tại sao gọi Chúa Jêsus là Vua đời đời?

8. Ngôi của Chúa Jêsus ở đâu?

9. Chúa đang cai trị dân Ngài như thế nào?

10. Chúa Jêsus đã đắc thắng các kẻ thù nào?

BÀI 15. CHÚA JÊSUS LÀ CỨU CHÚA

KINH THÁNH: Rô-ma 10:1-17.

CÂU GỐC: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu. Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi” (Rô-ma 10:9-10).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ cho mỗi học viên thấy Chúa Jêsus là Cứu Chúa của họ, đưa họ đến với Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Loài người bị chết mất

(Sáng thế ký 23:1-19).

TH:

Tình trạng tội lỗi của loài người

(Rô-ma 3:10-18).

TB:

Tội lỗi của loài người và phương thức của Đức Chúa Trời

(Rô-ma 3:19-26).

TT:

Chúa Jêsus giải thích luậtpháp

(Ma-thi-ơ 5:17-48).

TN:

Con đường cứu rỗi

(Rô-ma 10:1-17).

TS:

Con đường tái sanh

(Giăng 3:1-21).

TB:

Con đường phục hồi

(Lu-ca 15:11-24).

Đối với Đức Chúa Trời, không có vấn đề nào trọng đại bằng sự cứu rỗi tội nhân. Từ khi loài người phạm tội, Đức Chúa Trời Ba Ngôi đã nhất quyết về chương trình cứu rỗi như sau: Đức Chúa Trời hoạch định, Đức Chúa Con thực hiện và Đức Thánh Linh áp dụng.

Khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời đã sai Đức Chúa Con đến thế gian với trọng tâm công tác là thực hiện chương trình cứu rỗi nhân loại. Vì thế Đức Chúa Con đã giáng sinh, đã sống cuộc đời chí thánh để giải bày sự cứu rỗi, rồi phó mình chịu chết vì nhân loại, sống lại khỏi mộ phần và thăng thiên đúng như chương trình Đức Chúa Cha đã họach định. Trên thập tự giá, Đức Chúa Con đã long trọng tuyên bố: “Mọi sự đã được trọn” và “Xong rồi”. Không ai có thể thêm hoặc bớt một ly, một tí gì trong công tác cứu rỗi đã được hoàn thành đó.

Vì vậy, trong ngày lễ Ngũ tuần, khi Đức Thánh Linh giáng lâm để áp dụng sự cứu rỗi cho nhân loại thì sứ đồ Phi-e-rơ đã dõng dạc kêu lên: “Vậy cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus này mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá làm Chúa và Đấng Christ”. Rồi trước toà Công luận, ông lại xác nhận: “Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy (Chúa Jêsus) lên bên hữu Ngài, làm Vua và làm Cứu Chúa để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên” (Công vụ 2:36; 5:31).

I. LÝ DO CON NGƯỜI CẦN CỨU CHÚA.

1. Vì mọi người đều đã phạm tội (Rô-ma 3:23).

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”. Cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời. Người Do thái có luật pháp của Chúa thì cũng phạm tội như chúng ta là người không có luật pháp của Ngài. Loài người đã phạm tội vì lòng người bại hoại, “dối trá hơn mọi vật và rất xấu xa”. Loài người đã bại hoại ngay từ khi tổ phụ loài người phạm tội. Như vậy không phải vì phạm tội mà mọi người bị kể là tội nhân, song mọi người đã là tội nhân nên mới phạm tội. Chúng ta là tội nhân từ khi ông A-đam và bà Ê-va ăn trái cấm, vì bấy giờ chúng ta đang ở trong ông bà. Đa-vít nói: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi thiên 51:5).

Loài người không thể làm lành vì đã hưởng thụ bản tánh bại hoại của tổ phụ truyền lại cho mình, nên bẩm sinh là tội nhân. “Người Ê-thi-ô-pi (da đen) có thể đổi được da mình hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ quen làm dữ, sẽ làm lành được” (Giê-rê-mi 13:23). Đó là việc bất năng cho người Ê-thi-ô-pi, cho con beo và cho tội nhân.

2. Hậu quả của tội lỗi.

Hậu quả của tội lỗi thật là khủng khiếp.

a. Phân rẽ loài người với Đức Chúa Trời và loài người với nhau.

Sau khi phạm tội bất tuân mà ăn trái cấm, A-đam và Ê-va đã trốn Chúa, rồi cuối cùng bị đuổi khỏi vườn Ê-đen. Tội lỗi đã đào một hố sâu, xây một tường cao phân rẽ loài người bại hoại với Đức Chúa Trời Chí Thánh (Ê-sai 59:1-2). Cũng từ khi phạm tội, A-đam tố cáo vợ mình: “Người đàn bà mà Chúa để gần bên tôi cho tôi ăn trái đó và tôi đã ăn” (Sáng 3:12). Tiếp theo đó, Ca-in giết A-bên, tức là đã phân rẽ từ gia đình chí xã hội, từ quốc gia chí quốc tế như có ngày nay.

b. Gây thù giữa loài người với Đức Chúa Trời và giữa loài người với nhau.

Khi hái trái cấm mà ăn, A-đam và Ê-va đã hành động chống đối Đức Chúa Trời. Vì thế khi nghe Chúa gọi, A-đam thưa: “Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ…” (Sáng 3:10). Từ đó nhân loại cứ tiếp tục cuộc sống chống đối, phản loạn Đức Chúa Trời, mặc dầu Ngài không ngớt kêu gọi: “Hỡi con cái bội nghịch, hãy trở lại!… Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, vậy hãy trở lại cùng Đấng mà các ngươi đã dấy loạn” (Giê-rê-mi 3:22; Ê-sai 31:6). Cũng từ khi A-đam, Ê-va phạm tội, nhân loại không ngớt oán hận nhau. Dân này dấy nghịch dân khác, nước nọ nghịch nước kia, anh nộp em, cha nộp con, con cái dấy nghịch cha mẹ, gây nên cảnh tương tàn.

Tội lỗi đã phá hủy, đã cướp mất mối tương giao mật thiết, tình tương thân tương ái giữa loài người với Đức Chúa Trời và giữa loài người với nhau.

c. Tiền công của tội lỗi là sự chết, chết đời đời.

Đó là hậu quả cuối cùng và khủng khiếp hơn hết.

II. CHÚA JÊSUS LÀ CỨU CHÚA CỦA CON NGƯỜI.

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài… Đức Chúa Jêsus đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội… Đức Chúa Trời chứng tỏ tình thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là con người có tội thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”.

Chúng ta ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời và thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc làm của mình, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài mà khiến chúng ta hoà lại với Ngài. Chính Chúa Jêsus không những là sự hòa lại giữa chúng ta với nhau, nhưng Ngài cũng đã phá hủy bức tường ngăn cách giữa dân Do thái với dân ngoại và giữa các dân ngoại với nhau. Thập tự giá là phương pháp duy nhất làm cho nhân loại hòa lại với Đức Chúa Trời và hòa lại với nhau. Trong Chúa Jêsus, nhân loại đều là anh em trong một đại gia đình mà Đức Chúa Trời là Cha.

III. PHƯƠNG PHÁP ĐỂ TIẾP NHẬN CỨU CHÚA.

Chúa Jêsus là Cứu Chúa. Hễ ai tin Ngài thì không bị hư mất, mà được sự sống đời đời. Hễ ai nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời.

“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus… Nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người được dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới… Vậy nếu miệng ngươi xưng Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì người sẽ được cứu”.

Vậy thử hỏi: Các bạn có nhận mình là tội nhân từ khi còn trong lòng mẹ không? Có nhận hậu quả của tội lỗi là kinh khủng hơn hết không? Có biết Chúa Jêsus đã chịu chết vì mình không? Có hết lòng ăn năn tội mà tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của riêng mình không? Có được tái sanh và có nếp sống mới không?

CÂU HỎI.

1. Đức Chúa Trời Ba Ngôi đã nhất quyết thế nào về chương trình cứu rỗi nhân loại?

2. Chúa Jêsus đã thực hiện chương trình đó ra sao?

3. Tại sao con người không thể làm lành?

4. Hậu quả của tội lỗi là gì?

5. Tại sao mọi tội nhân có thể được cứu?

6. Muốn được cứu tội nhân phải làm gì?

7. Dấu hiệu của một người được cứu là gì?

BÀI 16. CHÚA, TÔI VÀ NGƯỜI KHÁC.

KINH THÁNH: Lu-ca 19:1-10; 5:27-32.

CÂU GỐC: “Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta” (IICôr 5:18).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thế nào là một người nhờ Chúa Jêsus được phục hồi địa vị xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời và loài người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Con đường hoà giải

(Lu-ca 19:1-10; Rô-ma 5:1-11).

TH:

Thiết hữu của tội nhân

(Lu-ca 5:27-32).

TB:

Tại nhà người Pha-ri-si

(Lu-ca 7:36-50).

TT:

Làm chứng cho người khác

(IICôr 5:17-21).

TN:

Làm gương cho người khác

(I Ti-mô-thê 4:12-16).

TS:

Cộng tác với người khác

(ICôr 12:4-27).

TB:

Thông công với người khác

(Hê-bơ-rơ 1:22-25).

Trong hai bài học vừa qua, chúng ta thấy Chúa Jêsus vô cùng cao quí và vinh hiển đã chết vì chúng ta để đem chúng ta trở lại cùng Đức Chúa Trời, phục hồi địa vị xứng đáng của chúng ta trước mặt Ngài. Trong bài này, Chúa Jêsus còn phục hồi địa vị xứng đáng của chúng ta trước mặt mọi người.

Chúng ta hãy vận dụng trí lực để suy nghĩ các câu hỏi sau đây và tìm câu trả lời: Đức Chúa Trời nghĩ gì về chúng ta? Chúng ta nghĩ gì về chính mình? Người khác nghĩ gì về chúng ta? Chúng ta nghĩ gì về người khác?

I. CHÚA ĐÁNH GIÁ CHÚNG TA.

Những người trong thành Giê-ri-cô thấy Xachê chỉ là một người thu thuế, một người sâu dân mọt nước để làm giàu, một người đáng gớm ghiếc đến nỗi không ai muốn vào nhà ông và dùng bữa với ông. Hơn nữa, ông đang làm trò cười cho mọi người là leo lên cây sung để tìm xem Chúa Jêsus sắp đi ngang qua đó. Họ nhìn ông bằng cặp mắt vừa khinh miệt vừa thù ghét.

Chúa Jêsus biết rõ đời sống bỉ ổi của Xachê, nghe rõ tiếng lằm bằm trong đám đông về ông ấy, thấy rõ thái độ bất mãn của mọi người đối với ông. Nhưng Ngài không lầm lạc một chút nào khi nhìn lên Xachê đang ngồi trên cây sung. Ông là một tội nhân như bao tội nhân khác, ông đang ở trong số phận hư mất như bao người hư mất khác. Song Xachê là một con người có lòng ao ước được cứu rỗi, có đức tin để được tái tạo trở nên con cái Đức Chúa Trời. Xachê là một tội nhân, nhưng một tội nhân ăn năn. Vì cớ đó, Chúa Jêsus vào nhà ông và tuyên bố: “Người này cũng là con cháu Áp-ra-ham”.

Trước mặt Đức Chúa Trời, tất cả nhân loại đều là tội nhân. Nhưng Chúa thương yêu tội nhân nên đã sai Con Độc sanh của Ngài giáng thế, chịu chết để cứu tội nhân. Ai cũng có thể được cứu, miễn là phải ăn năn.

II. CHÚA THAY ĐỔI CÁCH CHÚNG TA ĐÁNH GIÁ MÌNH.

1. Chúng ta đánh giá mình quá thấp.

Xachê thấy mình bị mọi người chung quanh khinh miệt thì nghĩ rằng, nếu ông được chức cao hơn, có tiền nhiều hơn sẽ được họ quí mến. Song từ khi ông làm quan trưởng thu thuế và giàu có, ông lại bị mọi người khinh miệt hơn. Ông thất vọng, xem như mình hoàn toàn vô dụng.

Trái lại, từ khi ông tiếp nhận Chúa Jêsus, sẵn sàng lấy nửa gia tài mình có mà cho kẻ nghèo, và nếu có làm thiệt hại ai thì ông đền gấp tư, thì ông trở nên một con người có giá trị mà chính ông cũng không ngờ. Ma-thi-ơ cũng là một người thu thuế như Xachê, nhưng khi được Chúa gọi, Ma-thi-ơ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Ông mở một tiệc lớn, mời bạn bè và thân thích đến dự để ông giới thiệu Chúa cho họ. Cả hai ông đều là những con người có giá trị từ khi gặp Chúa.

2. Chúng ta đánh giá mình quá cao.

Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si cũng là những tội nhân như Xachê mà Ma-thi-ơ. Nhiều lần Chúa đã quở trách họ là kẻ giả hình, kiêu căng, gian ác. Song họ đánh giá mình quá cao, xem mọi người là xấu xa, không ai bằng mình. Họ là bệnh nhân không biết mình có bệnh, nên không cần đến Chúa là thầy thuốc. Họ sống cô lập để chuốc lấy sự hư mất.

Tinh thần tự tôn, tự đại làm cho mình mù lòa, không thấy được hiện trạng của mình. Vậy không có cách nào tốt hơn là chúng ta cứ ở dưới chân Chúa, sống trong hiện diện Ngài, để chúng ta nhìn thấy mình đúng như mình vốn có.

III. CHÚA THAY ĐỔI CÁCH NGƯỜI KHÁC ĐÁNH GIÁ CHÚNG TA.

Khi chúng ta tin Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời đã thay đổi cách đánh giá của Ngài đối với chúng ta, Ngài xem chúng ta là quí báu, là xứng đáng như những người thánh khiết. Song Đức Chúa Trời cũng muốn người khác thay đổi sự đánh giá của họ đối với chúng ta mà xem chúng ta là những con người đạo đức gương mẫu đáng cho họ bắt chước (I Ti-mô-thê 4:12). Điều này không phải dễ dàng và mau lẹ được. Người khác chỉ có thể thay đổi cách họ đánh giá chúng ta khi nào họ thấy rõ nếp sống của chúng ta được thay đổi.

Sau khi Xachê tiếp nhận Chúa; ông lấy phân nửa gia tài bố thí cho kẻ nghèo, đền gấp tư cho người nào trước đây bị ông làm thiệt hại, và ông kiếm sống bằng một nghề lương thiện. Từ đó gia đình của ông không còn phồn vinh, cuộc sống của họ không còn xa hoa. Tuy nhiên, con người của ông và cả gia đình ông ngày càng thanh cao, hạnh phúc, tâm hồn lúc nào cũng lâng lâng nhẹ nhàng. Ban đầu các bạn đồng nghiệp của ông không khỏi cho ông là ngu dại và ngược đãi ông, song lần lần mọi người đều thay đổi thái độ đối với ông, đánh giá ông rất cao, nhận biết ông là một người mới từ khi ông gặp Chúa Jêsus.

Chúng ta không ao ước được như Xachê để tôn vinh Chúa mà đưa dắt người khác đến với Ngài sao? “Danh tiếng tốt còn hơn tiền của nhiều; ơn nghĩa quí hơn vàng và bạc” (Châm ngôn 22:1).

IV. CHÚA THAY ĐỔI CÁCH CHÚNG TA ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC.

“Suy bụng ta ra bụng người”. Chúng ta là những tội nhân mà được Chúa yêu, được Chúa cứu, được Chúa phục hồi địa vị xứng đáng trước mặt Ngài và mọi người, thì chúng ta phải biết rằng người khác cũng có thể được như chúng ta. Chúng ta không có gì hơn ai, không ai có gì kém chúng ta. Ngày nay trong Hội Thánh cũng vậy, không ai có phép xem mình hơn người khác mà tưởng mình có thể làm việc kia việc nọ cho Chúa mà người khác không làm được. Mọi người không có cùng một địa vị và chức vụ, vì mọi người không có cùng một ân tứ như nhau. Tuy nhiên, mọi người đều là con cái của Chúa, nên mọi chúng ta phải coi người khác hơn mình (Phi-líp 2:3b). Hiệp một thờ phượng Đức Chúa Trời với sự thừa nhận chân giá trị như nhau là phướng pháp hữu hiệu nhất để đưa người khác đến với Chúa.

Đức Chúa Trời không hề xem ai là không đáng kể, song Ngài quí trọng mọi người, thương yêu mọi người; và muốn mọi người đều được cứu để làm con cái Ngài, được thông công mật thiết với Ngài và cuối cùng được đồng trị với Ngài cho đến đời đời.

Hãy sống thế nào để khích lệ người khác đến với Chúa như chính mình đã đến với Ngài.

CÂU HỎI

1. Người trong thành Giê-ri-cô đánh giá Xachê như thế nào?

2. Đức Chúa Trời đánh giá Xachê như thế nào?

3. Xachê đánh giá chính mình như thế nào?

4. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tự đánh giá họ thế nào?

5. Khi nào người chung quanh thay đổi cách đánh giá của họ đối với chúng ta?

6. Chúng ta phải làm gì để thay đổi cách đánh giá của người chung quanh?

7. Chúng ta phải đánh giá người khác thế nào?

8. Chúng ta có thái độ nào đối với anh em trong Hội Thánh?

BÀI 17. CHỦ ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG

KINH THÁNH: Công vụ 26:13-20.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã định cho anh được biết ý muốn Chúa, được thấy Đấng Công bình và nghe lời nói từ miệng Ngài. Vì anh sẽ làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người, về những việc anh đã thấy và nghe” (Công vụ 22:14-15).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Chúa Jêsus hướng dẫn đời sống chúng ta và có một chủ đích cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chủ đích của Đức Chúa Trời trong chúng ta

(Ê-phê-sô 1:4-12).

TH:

Chấp nhận chủ đích của Đức Chúa Trời

(Phi-líp 3:7-14).

TB:

Chủ đích của Đức Chúa Trời qua chúng ta

(Công vụ 26:13-20).

TT:

Kết quả

(Giăng 15:15-17).

TN:

Cuộc đua trước mắt chúng ta

(Hê-bơ-rơ 12:1-2).

TS:

Chủ đích của Đức Chúa Trời được thành tựu

(II Ti-mô-thê 4:16-18).

TB:

Phần thưởng

(II Ti-mô-thê 4:6-8).

Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta, Ngài đã cứu chuộc chúng ta, Ngài có chủ đích cho mỗi đời sống của chúng ta. Vì vậy, chúng ta không được phép sống một cách mù quáng, vô nghĩa, theo thói quen, mà phải sống đúng với chủ đích của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, Đức Chúa Trời có một chương trình cho mọi đời sống chúng ta, chương trình đó “tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn”.

Khi Phao-lô gặp Chúa trên đường Đa-mách, Ngài đã sai A-na-nia đến gặp ông và cho ông biết chương trình của Đức Chúa Trời định cho Phao-lô là được biết ý muốn Ngài, được thấy Đấng Công bình, được nghe tiếng Ngài và được làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người.

I. TÌM BIẾT CHỦ ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO ĐỜI SỐNG MÌNH.

Trước khi gặp Chúa Jêsus, Phao-lô là một con người có nhiều đặc ân và đặc quyền: Ông thuộc dòng Y-sơ-ra-ên, chi phái Bên-gia-min, người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ, phe Pha-ri-si, sốt sắng về truyền thống của tổ phụ. Song ông sống hoàn toàn cho mình và tôn giáo của mình, nên lúc nào cũng thẳng tay trừng trị bất cứ ai không đồng quan điểm với mình. Phao-lô vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết… Phao-lô tàn hại Hội Thánh, sấn vào nhà bắt đàn ông và đàn bà mà bỏ tù. Phao-lô luôn ngăm đe và chém giết tín đồ của Chúa. Ông đến thành Đa-mách, có trọn quyền bắt bất cứ ai theo Chúa Jêsus, trói lại và giải về Giê-ru-sa-lem để trị tội (Công vụ 8:1-3; 9:1,2).

Dọc đường gặp Chúa, ông thưa: “Lạy Chúa, Chúa là ai?” Ông tưởng Chúa Jêsus đã chết. Bây giờ ông mới biết Ngài vẫn sống, và sống trong vinh quang của Đức Chúa Trời. Về sau ông thú nhận: “Ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót vì ta làm những sự đó đương lúc ta ngu muội chưa tin” (I Ti-mô-thê 1:13).

Từ đó, ông hoàn toàn đầu phục Chúa, thưa rằng: “Lạy Chúa, tôi phải làm chi?” (Công vụ 22:10). Ông sẵn sàng đi nơi nào Chúa muốn ông đi, làm việc chi Chúa muốn ông làm và chịu điều chi Chúa muốn ông chịu, miễn là Ngài thực hiện chương trình tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Ngài trong ông. Nhờ dó Chúa đã hoàn thành chương trình của Ngài.

Chúa chưa thể bày tỏ chủ đích của Ngài đối với chúng ta cho đến chừng nào chúng ta hạ mình xuống nhận sự sai lầm của mình và phục tùng Ngài trọn vẹn như Phao-lô. Chúng ta hãy lớn tiếng xưng nhận Ngài là Chúa của chúng ta và thưa rằng: “Lạy Chúa, con phải làm chi?”

II. THẤU HIỂU CHỦ ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO ĐỜI SỐNG MÌNH.

Đức Chúa Trời đã phác họa chủ đích của Ngài trong đời sống của Phao-lô một cách tổng quát, song chi tiết thì chưa có. Vì thế mỗi ngày, Phao-lô phải tìm hiểu chủ đích của Đức Chúa Trời qua sự bày tỏ của Chúa Jêsus, trước hết là.

1. Phao-lô được cứu rỗi.

Ngay trong giờ phút gặp Chúa, Phao-lô đã ăn năn, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và hoàn toàn đầu phục Ngài. Chúa đã tha cho ông, phán dạy ông những điều phải làm, đã mở mắt ông, đã ban cho ông đầy dẫy Thánh Linh.

2. Phao-lô được dùng để cứu người khác.

Ngay sau đó, Phao-lô đã bắt đầu giảng đạo một cách hăng say, song ông cảm thấy mình còn thiếu thốn quá, cần phải biết rõ Chúa hơn. Ông chưa hiểu chân lý một cách đầy đủ và chính xác. Nhu cầu của đời sống và chức vụ ông là phải nhận thêm sự khải thị mới mẻ của Chúa. Vì vậy, ông đã giã từ thành Đa-mách qua xứ Ảrập. Có lẽ đó là nơi Môi-se, Ê-li và các vĩ nhân của Đức Chúa Trời đã từng gặp Ngài một cách riêng và nhận được sự khải thị một cách đặc biệt của Ngài. Sau ba năm, Phao-lô từ xứ Ảrập trở về, ông đã giảng một cách đầy quyền năng về những chân lý kỳ diệu (Ga-la-ti 1:18).

Cuộc đời còn lại của ông đã tận hiến cho Chúa để đem Tin Lành cho mọi người ở khắp mọi nơi và thành lập Hội Thánh của Ngài tại đó. Chúa luôn luôn theo dõi ông để đồng công, hướng dẫn và khích lệ ông, nhắc lại chủ đích của Ngài đối với đời sống của ông (Công vụ 9:15; 26:17-18; 18:9,10; 23:11; 27:23-24).

Dầu Phao-lô đã được đem lên từng trời thứ ba (IICôr 12:1-4), song dường như suốt đời, lúc nào ông cũng nói rằng: “Cho đến nỗi tôi được biết Ngài” (Phi-líp 3:10). Ông khao khát biết Chúa và biết chủ đích của Ngài đối với mình để làm theo.

III. THẮNG HƠN TRỞ NGẠI ĐỂ ĐẠT CHỦ ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO ĐỜI SỐNG CỦA MÌNH.

Trên con đường đến đích có rất nhiều trở ngại, nên chúng ta phải cố gắng vượt qua mọi trở ngại. Sau khi biết rõ chủ đích của đời mình, Phao-lô đã vượt qua lắm trở ngại.

1. Trở ngại bên trong.

Phao-lô không bàn với thịt và máu. Trong ông có những cám dỗ về quyền lợi của một người Do thái chánh tông, theo phe Pha-ri-si, một học giả lừng danh, một công dân La-mã. Bây giờ theo Chúa Jêsus, tận hiến đời mình cho Ngài, Phao-lô phải mất hết. Nhưng ông có con mắt đức tin như Môi-se, đặt mọi sự trên chiếc cân đời đời. Môi-se đã bỏ danh hiệu mình là con trai công chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tận hưởng sự vui sướng của tội lỗi, coi sự sỉ nhục vì Đấng Christ là quí hơn châu báu xứ Ê-díp-tô. Phao-lô coi mọi sự như là sự lỗ, vì biết Chúa Jêsus là quí tột bực, coi mọi sự như rơm rác hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài (Phi-líp 3:7-8).

2. Trở ngại bên ngoài.

Trở ngại bên ngoài thì đủ thứ: Nào là bị khó nhọc, tù rạc, đòn vọt, ném đá, chìm tàu. Nào là nguy hiểm trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong đường phố, nguy trong đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối, phải thức đêm, chịu đói khát, chịu lạnh lùng và lõa lồ.

Trước những trở ngại bên trong và bên ngoài, Phao-lô đều vượt qua hết. Ông không bao giờ lui bước hoặc chùn chân, không bao giờ xoay qua bên hữu hoặc bên tả, ông tiến và cứ tiến mãi đến mục đích Chúa đặt trước mặt mình. Ông không kể sự sống mình làm quí, miễn là chạy cho xong cuộc đua và chức vụ ông đã lãnh nơi Chúa. Ngày gần qua đời ông đã viết: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin”.

Mỗi chúng ta há không ao ước một đời sống như Phao-lô sao? Chúng ta bằng lòng chạy bá vơ và đánh gió sao? Mỗi người chạy đua và bị loại vì không chạy đúng đường, không tới đích thì há không hổ thẹn sao? Vô số người đang chết mất nên ai nấy hãy dấn thân vào cuộc đua mà Chúa đặt trước mắt mình.

CÂU HỎI

1. Chúa đã cứu chúng ta để làm gì?

2. Phải làm sao để tìm được chủ đích của Chúa cho đời mình?

3. Sau khi được cứu, chúng ta có bổn phận làm gì?

4. Suốt đời chúng ta phải khao khát gì hơn hết?

5. Trở ngại bên trong của Phao-lô là gì?

6. Trở ngại bên ngoài của Phao-lô là gì?

7. Ông làm sao để vượt qua mọi trở ngại?

8. Phao-lô viết gì khi gần qua đời?

Bài 18. CHÚA JÊSUS LÀ GIÁO SƯ CỦA TÔI.

KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 11:28-30.

CÂU GỐC: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi, mắt Ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi” (Thi thiên 31:8).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng sự dạy dỗ có một không hai của Chúa Jêsus chuẩn bị cho chúng ta cuộc sống mà Ngài muốn chúng ta sống.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Vị giáo sư tối cao

(Giăng 6:59-68; Ma-thi-ơ 11:28-30).

TH:

Những lời giáo huấn cũ và mới

(Ma-thi-ơ 5:17-26).

TB:

Dạy bằng lời kể chuyện

(Lu-ca 15:11-32).

TT:

Dạy bằng nêu gương tốt

(Giăng 13:1-17).

TN:

Dạy bằng phép lạ

(Mác 6:1-10; 14-21).

TS:

Dạy bằng cách so sánh

(Giăng 10:1-18).

TB:

Nền tảng để ban thưởng

(Ma-thi-ơ 25:14-30).

Sinh hoạt Cơ Đốc nhân bao hàm sự học tập, tăng trưởng và phát triển không ngừng. Học tập cũng như ăn uống, nếu không ăn uống thì không thể nào tăng trưởng và phát triển để đạt đến bậc thành nhân. Mỗi Cơ Đốc nhân tiến bộ phải học tập bài này sang bài khác và học tập suốt đời.

Khi học, chúng ta muốn có giáo sư giỏi, tốt, để việc học của chúng ta đươc tiến bộ. “Vì nếu học sinh thất bại trong việc học là tại giáo sư thất bại trong việc dạy”. Nếu chúng ta học môn sinh hoạt Cơ Đốc nhân thì vị giáo sư giỏi và tốt nhất mà chúng ta tìm được là Chúa Jêsus.

I. NHỮNG ĐIỀU CHÚA JÊSUS DẠY.

Câu gốc hôm nay vô cùng quí báu: “Ta sẽ dạy dỗ các ngươi”. Phước biết bao cho chúng ta có được Chúa Jêsus là giáo sư. Ngài dạy chúng ta những gì?

1. Chúa Jêsus giải đáp thắc mắc.

Trước mọi câu hỏi của con người, không bao giờ Chúa quay đi và bảo: “Ta không trả lời được”. Chúa đã dựng nên con người và Ngài biết tất cả những gì của con người. Chúa không bao giờ bàn đến những vấn đề không quan trọng, những vấn đề chỉ làm thỏa mãn tính hiếu kỳ của con người. Nhưng Chúa đề cập đến những vấn đề quan trọng và hướng dẫn con người vào tâm điểm của vấn đề để giúp họ hiểu một cách chính xác và được ích lợi.

Ví dụ: Một ngày kia, khi các thầy thông giáo đang gây cho mọi người hoang mang vì họ đã quan trọng hóa những nghi thức nhỏ nhặt bên ngoài như phải rửa tay trước khi ăn… thay vì phải thực hiện phần chính yếu của luật pháp, thì một thầy thông giáo hỏi Chúa: “Trong luật pháp, điều răn nào lớn hơn hết?” Chúa Jêsus liền tóm tắt luật pháp và lời tiên tri thành hai điều răn: Ngươi phải hết lòng yêu Chúa và yêu người lân cận như mình (Ma-thi-ơ 22:34-40).

Kinh Thánh có đầy đủ những câu giải đáp cho mọi vấn đề tương quan đến sự cứu rỗi con người.

2. Chúa Jêsus dạy về những vấn đề trọng đại.

Các thầy thông giáo hiểu Lời Chúa một cách nông nổi, đơn sơ, nên khi họ giải thích Lời Chúa thì không có gì mới mẻ và gây hứng thú cho người nghe. Song khi Chúa giải thích thì Ngài vạch rõ ý nghĩa sâu xa và tươi mới của những Lời Chúa. Ví dụ: Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa đã trích dẫn nhiều sự dạy dỗ trong Cựu ước như các thầy thông giáo thường làm, như câu: “Ngươi chớ phạm tội tà dâm”. Nhưng Chúa giải thích cách cao sâu: “Ai ngó đàn bà mà động tình ham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi”. Đồng thời Chúa nêu ra phương pháp đắc thắng sự cám dỗ đó bằng cách triệt tiêu những gì có thể xui cho mình phạm tội. Sự giải thích như vậy làm cho ai nấy có một quan điểm chính xác thế nào là tội, và ý thức rõ rệt cái hậu quả khủng khiếp của tội mà thiết tưởng người có lòng kính sợ Chúa phải rung động (Ma-thi-ơ 5:27-30).

II. PHƯƠNG PHÁP DẠY CỦA CHÚA JÊSUS.

Câu gốc hôm nay là lời hứa của Chúa cho chúng ta: “Ta sẽ… chỉ dạy ngươi con đường phải đi”. Chúa dạy rõ ràng, đầy đủ, bằng nhiều phương pháp khác nhau.

1. Chúa dạy bằng kể chuyện (Lu-ca 15:11-32).

Chuyện con trai hoang đàng trở về nhà cha là một bức tranh tuyệt diệu miêu tả tội lỗi của con người và tình thương của Đức Chúa Trời. Câu chuyện đó thích hợp với mọi lứa tuổi, nói lên sự đau buồn về tội lỗi, mối cảm kích về tình thương của cha, và niềm vui khôn tả của con khi vào nhà cha. Câu chuyện đó ai nấy gần thuộc lòng, song chưa ai hiểu hết ý nghĩa sâu xa của nó, về đại cương cũng như tiểu tiết. Trải qua 20 thế kỷ, câu chuyện này đã cảm động hằng triệu người bỏ tội lỗi mà trở về cùng Đức Chúa Trời.

2. Chúa dạy bằng phép lạ (Mác 8:1-10; 14-21).

Trong ba năm chức vụ, Chúa chỉ hóa bánh hai lần vào hai trường hợp đặc biệt và rất cần thiết. Ngài không muốn dân chúng theo Ngài chỉ vì được bánh. Hai lần đó, Chúa muốn dạy hai điều: Tình thương và quyền năng của Ngài. Chúa thương xót đoàn dân, không muốn họ nhịn đói mà về nhà, e bị xỉu vì đường xa. Đồng thời Chúa muốn chứng minh Ngài là Chúa Cứu thế, có quyền năng và ân sủng dư dật, có thể cung cấp mọi nhu cầu cho kẻ thuộc về Ngài, mặc dầu nhu cầu của họ lớn lao đến đâu, trong trường hợp khó khăn mức nào cũng vậy. Học được bài này, các môn đồ đã thêm lòng yêu mến Chúa và tin cậy Ngài.

3. Chúa dạy bằng cách so sánh (Giăng 10:1-18).

Người Do Thái rất quen với bầy chiên và người chăn. Vì thế, Chúa mượn hình ảnh ấy để so sánh kẻ theo Ngài như người chăn để miêu tả sự chăm sóc, dẫn dắt, nuôi nấng, giữ gìn của Ngài đối với kẻ theo Ngài. Đồng thời nói lên mối thông công mật thiết giữa đôi bên như chiên quen tiếng người chăn, người chăn biết tên từng con chiên, người chăn thương yêu bầy chiên, hy sinh vì bầy chiên và lo đem nhiều chiên lạc về ràn.

Sự so sánh trên đây khiến chúng ta rất dễ hiểu và chịu cảm động về tấm lòng và thái độ của Chúa đối với chúng ta. Ai nấy lấy làm vui sướng được thuộc về bầy chiên của Chúa mà chính Ngài là Đấng Chăn Chiên Hiền Lành.

4. Chúa dạy bằng gương sống (Giăng 13:1-17).

Để dạy về sự khiêm nhường, sẵn sàng làm đầy tớ lẫn nhau, Chúa đã rửa chân cho các môn đồ của Ngài. Rửa chân là công việc của một đầy tớ làm cho chủ và cho khách hoặc môn đồ làm cho thầy. Song Chúa Jêsus vừa là Chủ vừa là Thầy lại rửa chân cho đầy tớ, cho môn đồ. Các môn đồ của Chúa chưa bao giờ nghĩ đến một hành động như thế, nên Phi-e-rơ đã ngạc nhiên kêu lên: “Chúa ơi, chính Chúa lại rửa chân cho tôi sao?” Ông rút chân lại, không dám để Chúa rửa chân cho ông. Song Chúa bảo ông phải đưa chân cho Ngài rửa để Ngài dạy ông một bài học.

Rửa chân cho môn đồ xong, Chúa phán: “Vậy nếu Ta là Chúa, là Thầy mà rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau. Vì Ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như Ta đã làm cho các ngươi”.

Chắc chắn các môn đồ chẳng bao giờ quên được bài học này. Lời nói và việc làm của Chúa đã ấn tượng mạnh vào trí, vào lòng họ. Ngài không giống như các thầy thông giáo và người Pha-ri-si là những người nói mà không làm (Ma-thi-ơ 21:1-3). Đó cũng là lý do Ngài dạy họ một cách có quyền chớ không giống như họ. Dân Do thái nghe các thầy thông giáo dạy, rồi nghe Chúa Jêsus dạy, họ nhận thấy có sự khác nhau rõ rệt, một bên không có quyền, một bên lại có, một đàng chỉ có chữ làm cho chết, một đàng có Thánh Linh làm cho sống.

Chúng ta rất sung sướng được học với Chúa Jêsus. Chúng ta phải sống cuộc đời Cơ Đốc nhân như Ngài dạy cho chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta cũng dạy như Ngài để những người học với chúng ta cảm thấy sung sướng.

CÂU HỎI

1. Cơ Đốc nhân phải luôn luôn làm gì?

2. Tại sao chúng ta cần phải học tập?

3. Trước hết chúng ta phải học với ai?

4. Chúa Jêsus đã dạy những gì?

5. Chúa thường dùng những phương pháp nào để dạy?

6. Bạn thích nhất phương pháp nào? Tại sao?

7. Sự dạy dỗ của các thầy thông giáo với sự dạy dỗ của Chúa khác nhau chỗ nào?

BÀI 19. CHÚA JÊSUS LÀ GƯƠNG TỐT CHO TÔI

KINH THÁNH: I Phi-e-rơ 2:11-24.

CÂU GỐC: “Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (I Phi-e-rơ 2:21).

MỤC ĐÍCH: Giúp cho học viên biết Chúa Jêsus nêu cho chúng ta một mẫu mực và Ngài mong mỏi chúng ta noi theo để sống.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus là gương tốt của chúng ta

(I Phi-e-rơ 2:11-24).

TH:

Ánh sáng của thế gian

(Ma-thi-ơ 5:14-16).

TB:

Chủ đích của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi chúng ta

(Rô-ma 8:26-29).

TT:

Gương phục vụ của Chúa Jêsus

(Giăng 13:1-17).

TN:

Đồng nhất hóa với Chúa để phục vụ

(Ma-thi-ơ 10:24-33).

TS:

Lòng trung tín được kết quả

(Ma-thi-ơ 17:14-21).

TB:

Lúc nào cũng tha thứ

(Ma-thi-ơ 18:21-35).

Nhân loại không những cần có một gương sống tốt mà còn cần một Chúa Cứu thế để cứu mình khỏi tội và giúp mình ăn ở theo gương tốt đó. Chúa Jêsus có cả hai. Ngài vừa là Chúa Cứu thế, vừa là gương tốt vô song. Ngài đã sống cuộc đời trên đất suốt 33 năm để làm gương cho chúng ta và chết trên thập tự giá để đền tội cho chúng ta.

Đoạn Kinh Thánh nêu trên đây dạy chúng ta noi gương Chúa sống xứng đáng đối với người lân cận, đối với nhà cầm quyền và đối với chủ. Song chúng ta không thể nào noi gương Chúa mà chết đền tội cho nhân loại và sống lại như câu 23b. Đó là công việc chỉ một mình Chúa làm được và Ngài đã làm trọn.

I. GƯƠNG TỐT ĐỐI VỚI NGƯỜI LÂN CẬN (I Phi-e-rơ 2:11-12).

Phi-e-rơ nài khuyên tín đồ một cách âu yếm rằng, họ phải cư xử như “người ở trọ, kẻ đi đường”. Cuộc sống của chúng ta ở trần gian là tạm thời và chóng qua. Trải các đời, những người hết lòng theo Chúa đều có thái độ đó (I Sử ký 29:15; Hê-bơ-rơ 11:9,13). Vì thế, về phương diện tiêu cực: Chúng ta “phải kiêng những điều xác thịt ưa thích là điều chống trả với linh hồn”. Bản tánh của xác thịt (cũng gọi là người cũ) luôn ưa thích những điều xấu xa mà Phao-lô đã kể trong Ga-la-ti 5:19-21. Những điều đó làm hại và giết chết linh hồn con người.

Về phương diện tích cực, chúng ta “phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại”, tức là giữa đồng bào địa phương, “hầu cho họ vẫn là kẻ gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành của anh em thì… họ ngợi khen Đức Chúa Trời”. Xưa cũng như nay, hễ nơi nào Tin Lành truyền đến và có người tiếp nhận thì thế nào cũng có sự hiểu lầm do phong tục, tập quán và óc địa phương gây nên. Hậu quả là tín đồ bị mắng nhiếc, bắt bớ, vu oan. Trong thời Phi-e-rơ, khi Tin Lành truyền đến các nước thuộc đế quốc La mã (I Phi-e-rơ 1:1), thì người bản xứ hiểu lầm Tin Lành là của người Do thái vì Chúa Jêsus mang lấy thân xác một người Do thái, các sứ đồ cũng là người Do thái, nên họ cho Tin Lành là của dân ngoại, không phù hợp với phong tục tập quán của họ. Họ cho Tin Lành ăn thịt uống huyết người, vì mỗi lần dự tiệc thánh thì nhắc lời Chúa: “Này là thân thể Ta, vì các ngươi mà phó cho; này là chén giao ước mới trong huyết Ta”. Họ còn cho Tin Lành là chống chính phủ như không chịu thờ lạy và thắp hương cho hoàng đế, cũng không chịu tôn hoàng đế là chúa, mà chỉ tôn Chúa Jêsus là Chúa.

Để biện minh cho các việc ấy, Phi-e-rơ bảo rằng chỉ có một cách là “ĂN Ở NGAY LÀNH”. Chúa Jêsus cũng dạy: “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy để họ thấy những việc lành của các ngươi mà ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16). Phao-lô cũng lấy ý đó mà dạy cả Hội Thánh (IICôr 8:21; Phi-líp 2:15; Tít 2:8).

Phao-lô cũng nêu lên chính gương của Chúa Jêsus để khích lệ tín đồ (I Phi-e-rơ 2:22-23a).

Chúa đã từng bị vu không là nhờ “chúa quỉ mà trừ quỉ” (Ma-thi-ơ 9:34), “là người ham mê ăn uống, bạn bè với người thâu thuế và kẻ xấu nết” (Ma-thi-ơ 11:19).

II. GƯƠNG TỐT ĐỐI VỚI NHÀ CẦM QUYỀN (I Phi-e-rơ 2:13-17).

Phi-e-rơ cũng như Phao-lô đều khuyên tín đồ “vì cớ Chúa” hãy thuận phục nhà cầm quyền để làm những công dân tốt. Chúa là “Đấng Chí Cao cai trị trong nước của loài người và Ngài muốn ban nó cho ai tùy ý” (Đa-ni-ên 4:17,25). Chính Ngài “thay đổi thì giờ và mùa, bỏ và lập các vua…” (Đa-ni-ên 2:21). “Ngài hạ kẻ này xuống, nhắc kẻ kia lên” (Thi thiên 75:7). Nhà cầm quyền có bổn phận “phạt kẻ làm dữ, khen người làm lành”, và tín đồ phải là những người làm lành.

Nhà cầm quyền là vua và các quan. Mặc dầu dưới thời đại quân chủ chuyên chế, các hoàng đế La-mã đã vu khống hoặc hiểu lầm mà bắt bớ, hà hiếp tín đồ đến độ tàn sát, song Phi-e-rơ khuyên: “Anh em làm điều lành để ngăn miệng kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời”. Đó là cách tốt nhất để biện minh tinh thần thuận phục của tín đồ đối với nhà cầm quyền.

Tuy nhiên thuận phục đây không có nghĩa là trái mạng lịnh của Đức Chúa Trời.

1. Ba thanh niên Do thái bị bắt làm tù binh tại Ba-by-lôn.

Họ hoàn toàn thuận phục pháp luật của nước ấy, nên đã được vua Nê-bu-cát-nết-sa lập lên cai trị tỉnh Ba-by-lôn. Nhưng khi vua Nê-bu-cát-nết-sa buộc họ phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng của vua, thì họ dứt khoát khước từ. Khi vua bắt tội và quăng họ vào lò lửa hực thì họ hoàn toàn thuận phục, không hề có một hành động hoặc một lời lẽ chống đối.

2. Đa-ni-ên vâng phục nhà cầm quyền:

Từ địa vị một tù binh, Đa-ni-ên được cất nhắc làm một trong ba vị thượng thơ của đế quốc Mê-đô Ba-tư, vì ông là người trung thành, trong ông chẳng có lỗi lầm, chẳng có sự xấu xa nào. Nhưng ngày nọ, vua Đa-ri-út ban bố một cấm lịnh nghiêm nhặt trong ba mươi ngày, hễ ai cầu nguyện với vị thần nào hoặc người nào ngoài vua, kẻ ấy sẽ bị quăng vào hang sư tử. Đa-ni-ên cứ thản nhiên, một ngày ba lần, quì gối cầu nguyện và cảm tạ Đức Chúa Trời như vẫn làm khi trước. Vua Đa-ri-út bắt tội Đa-ni-ên và quăng ông vào hang sư tử, ông hoàn toàn thuận phục, chẳng hề có một hành động hay lời lẽ chống đối.

3. Các sứ đồ vâng phục nhà cầm quyền:

Khi tòa Công luận Do thái bắt các sứ đồ hạ ngục vì tội giảng về Chúa Jêsus thì các sứ đồ thuận phục mà vào tù. Sáng hôm sau, các sứ đồ bị điệu đến trước tòa Công luận để chịu thẩm vấn: “Chúng ta đã cấm ngặt các ngươi không được lấy Danh đó mà dạy dỗ song các ngươi lại làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình”. Chính Phi-e-rơ đã đáp: “Thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta”. Các sứ đồ liền bị đánh đòn rồi đuổi ra, song lại cứ giảng về Chúa Jêsus.

Phi-e-rơ đã nêu gương của Chúa Jêsus để khích lệ chúng ta (I Phi. 2:22-23a). Mặc dầu Chúa nộp thuế cho chính phủ La-mã và đã phán: “Hãy trả cho Sêsa vật gì của Sêsa; và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời”, nhưng Ngài vẫn bị vu khống là xúi dân làm loạn, cấm nộp thuế cho Sêsa (Lu-ca 23:2).

III. GƯƠNG TỐT ĐỐI VỚI CHỦ (I Phi-e-rơ 2:18-23).

Trong thời đại của Phi-e-rơ, đế quốc La-mã có ít nữa là 60 triệu nô lệ, hầu hết là các tù binh bắt được trong các cuộc chinh chiến. Vì thế, trong vòng họ có cả bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhạc sĩ, ca sĩ và nhiều tín đồ. Người La-mã không kể nô lệ là người nữa, song kể như là con vật. Người nô lệ không có quyền lợi chi cả, luật pháp không có chỗ nào dành để bảo vệ nô lệ. Vì vậy, có nhiều nô lệ bị bạc đãi, hàm oan một cách khốn nạn, mặc dầu cũng có người may mắn được biệt đãi.

Phi-e-rơ không gọi những người ấy là nô lệ mà là tôi tớ trong nhà. Ông khuyên họ hãy lấy lòng kính sợ mà thuận phục cả chủ hiền lành lẫn chủ khó tánh. Vì cớ Chúa mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức là ân điển của Chúa. Ân điển đó cho chúng ta sức mạnh để thản nhiên chấp nhận mọi bất công. Trong cảnh huống bi thảm đó, chúng ta cứ làm lành để chứng minh ân điển của Chúa là kỳ diệu dường nào.

Phi-e-rơ tiếp: “Anh em đã được gọi đến sự đó”, tức là gọi đến để chịu khổ như Chúa mình. Vì Ngài đã chịu khổ không những cho chúng ta mà cũng để làm gương cho chúng ta. Gương của Chúa là Ngài chịu đau đớn một cách bất công nhưng Ngài không cay đắng, không báo thù, không phản đối, mà còn yêu thương và chết thay cho kẻ làm hại Ngài. Đó là sức mạnh vô địch đã chiến thắng và chinh phục hàng triệu triệu người trải qua hơn hai mươi thế kỷ và còn chinh phục nữa.

CÂU HỎI

1. Chúa Jêsus đã hội đủ hai điều kiện nào?

2. Chúng ta phải ăn ở thế nào để bịt miệng kẻ gièm chê?

3. “Vì cớ Chúa”, hãy thuận phục kẻ cầm quyền, có nghĩa gì?

4. Tôi tớ thuận phục chủ tốt còn chủ xấu thì sao?

5. Ân điển của Chúa làm gì cho chúng ta?

6. Hãy nêu gương Chúa Jêsus là một người tốt với kẻ lân cận, một công dân tốt với nhà cầm quyền, và tôi tớ tốt với chủ.

BÀI 20. NGƯỜI BẠN TÔI CẦN.

KINH THÁNH: Giăng 14:15-27.

CÂU GỐC: “Ta đã gọi các ngươi là bạn hữu Ta, vì Ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều Ta đã nghe nơi Cha Ta” (Giăng 15:15).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Chúa Jêsus thích được kết bạn với chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kết bạn với Đức Chúa Trời

(Giăng 14:15-27).

TH:

Nền tảng của tình bạn

(Giăng 15:12-17).

TB:

Các bạn thân của Chúa Jêsus

(Giăng 11:1-11,36).

TT:

Một bạn chung thủy

(Châm ngôn 17:17; 18:24; 27:17; Giăng 13:1).

TN:

Một người bạn của Đức Chúa Trời

(Sáng 12;1-3; Ê-sai 41:8-13; Gia-cơ 2:23).

TS:

Một gương về tình bạn

(I Sam. 16:1; 20:41,42; II Sam. 1:26).

TB:

Một bạn không thay lòng

(Ê-sai 43:2; Ma-thi-ơ 28:19,20).

Khi được một tin vui, ta muốn nói cho bạn biết. Khi gặp một tin buồn, ta muốn tỏ cho bạn hay. Bạn hữu là những người chia vui sẻ buồn để yên ủi lẫn nhau. Tuy nhiên, rất khó tìm được một bạn tri kỷ. Khi có bạn tri kỷ thì người ấy không thể gần gũi với ta luôn. Ngoài ra lại có những người bạn thiếu khôn ngoan và không thành tín.

Song phước thay cho chúng ta được làm bạn với Chúa Jêsus. Ngài là người bạn tốt nhất mà chúng ta cần. Ngài là bạn tri kỷ, người bạn luôn luôn hiện diện, người bạn chung thủy, người bạn khôn ngoan, người bạn lúc nào cũng yên ủi chúng ta. Ngài không thẹn mà gọi chúng ta là bạn của Ngài.

I. NGƯỜI BẠN TRI KỶ (Giăng 14:15-16).

Chúng ta rất buồn nếu có người bạn không hiểu chúng ta. Đó là do chúng ta không đủ lời tâm sự với họ, hoặc họ không hiểu nổi cảnh ngộ của chúng ta, như trường hợp Gióp và các bạn của ông.

Song Chúa Jêsus là người bạn tri kỷ. Ngài biết hết mọi sự về chúng ta. Ngài biết chúng ta rõ hơn chính chúng ta biết mình. Khi Chúa sắp từ giã môn đồ thì họ bối rối, lo âu cảnh cô đơn của họ. Dầu họ chưa nói ra, Chúa đã biết hết, nên Ngài phán: “Ta sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác để ở với các ngươi đời đời… Ta không để các ngươi mồ côi đâu. Ta sẽ đến cùng các ngươi”.

Chúa chúng ta là Đấng toàn tri. Ngài biết trước mọi sự từ đầu đến cuối. Chúa là Đấng hằng hữu, đối với Ngài thì không có quá khứ, chẳng có tương lai, cả cõi đời đời là hiện tại. Chúa đã dựng nên chúng ta, nên Ngài biết hết nhu cầu của chúng ta. Chúng ta há không sung sướng vì có một người bạn như thế sao? Chúng ta há không yêu mến một người bạn như thế sao?

II. NGƯỜI BẠN LUÔN LUÔN HIỆN DIỆN (Giăng 14:19-24).

Chúng ta có rgể có người bạn tri kỷ, song rất tiếc người bạn đó không ở bên cạnh chúng ta luôn, hoặc người bạn đang ở xa, mà khi chúng ta cần thì người không hiện diện.

Chúa Jêsus không phải thế, Ngài phán: “Vì Ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống”. Ngày nay qua thân vị của Đức Thánh Linh, Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con đều ở trong chúng ta cũng như chúng ta ở trong Ngài. Chúa Jêsus không còn bị giới hạn tại một địa điểm nào trong không gian như lúc Ngài ở trong thân xác. Lúc đó ai nấy phải chen nhau đến gần để được nghe Ngài giảng, để được chữa lành, thậm chí phải kêu la như người mù Batimê để được sáng mắt (Lu-ca 8:40-48, Mác 10:46-53), phải trèo lên sung như Xachê để được thấy Chúa (Lu-ca 19:1-10). Bây giờ, Ngài hiện diện cùng một lúc tại khắp mọi nơi, trong rừng, trên núi, dưới biển, lớp học, sở làm, nhà riêng… Các con cái Ngài trong khắp thế giới, nói bằng hằng ngàn thứ tiếng khác nhau, ở tại hàng triệu địa điểm khác nhau, đều có thể đến với Ngài, trò chuyện cùng Ngài bất cứ lúc nào, cả ngày lẫn đêm (24/24). Chúng ta sung sướng hơn những người đã sống trong thời Chúa Jêsus còn ở trần gian rất nhiều.

Chúa phán thêm: “Ai có các điều răn của Ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến Ta, người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu lại, Ta cũng sẽ yêu người và tỏ cho người biết Ta”. Ai vâng giữ lời Chúa là người yêu mến Chúa, ai yêu mến Chúa là bạn hữu của Chúa. Ai là bạn hữu của Chúa thì được Ngài tỏ mình ra cho. Trái lại, Chúa không thể hiện diện với bất cứ ai, nếu người ấy không vâng giữ lời Ngài, không yêu mến Ngài, không phải là bạn hữu của Ngài và cũng không biết Ngài. Khát vọng của mỗi chúng ta là cứ sống trong sự hiện diện của Chúa.

III. NGƯỜI BẠN KHÔN NGOAN (Giăng 14:25-26).

Hãy coi chừng người bạn kém khôn ngoan. Rô-bô-am nối ngôi cha là vua Sa-lô-môn, nhưng đã mất quyền cai trị trên 10 chi phái vì những người bạn như thế (ICác 12:8-11). “Hãy nói cho tôi biết anh chơi với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là người thế nào”. “Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt” (ICôr 5:33).

Chúa Jêsus là người bạn không tiền khoáng hậu. Ngài không bao giờ lầm lẫn, nên cũng không bao giờ hối tiếc. Sự dạy dỗ của Ngài là hoàn toàn, Ngài là giáo sư của mọi người thuộc mọi thời đại. Chẳng hề có một nan đề nào mà Ngài không thể giải quyết. Ngài là câu giải đáp của mọi nan đề.

Qua thân vị của Thánh Linh, Chúa Jêsus đã tiếp tục dạy dỗ các sứ đồ (Công vụ 1:2), nên Hội Thánh đầu tiên đã được thành lập và tăng trưởng một cách thích nghi, đúng lúc. Cho đến ngày nay, Chúa vẫn tiếp tục dạy dỗ chúng ta lời phải nói, việc phải làm, ý phải nghĩ. Không những dạy dỗ mà Ngài còn ban quyền năng và ân điển để chúng ta thành công mỹ mãn trên bước đường theo Chúa.

IV. NGƯỜI BẠN LUÔN KHÍCH LỆ (Giăng 14:27).

“Bằng hữu thương mến nhau luôn luôn, và anh em sanh ra để giúp đỡ trong lúc hoạn nạn” (Châm ngôn 17:17). Song không có bằng hữu nào thương mến chúng ta bằng Chúa Jêsus, không có anh em nào giúp chúng ta trong lúc hoạn nạn như Ngài. Giữa cảnh bối rối và sợ hãi, môn đồ nghe Chúa phán một lời yên ủi quí báu vô cùng (Giăng 14:27). Ngài về trời để lại cho các môn đồ một di sản là sự bình an, là nhu cầu thiết yếu cho con người. Sự bình an là linh dược, còn bối rối là độc dược. Sự bình an của Chúa vượt quá trí hiểu biết của con người. Sự bình an đó đánh tan sự bối rối, như ánh sáng đánh tan tối tăm. Thế gian chỉ chúc suông chớ làm gì có sự bình an để ban cho ai (Ê-sai 48:22; 57:21; 59:8).

Ai nấy hãy mời Chúa ngự trị lòng mình, Ngài sẽ đem theo sự bình an đời đời vì Ngài là Chúa Bình an. Xưa hoàng tử Giô-na-than đã kết bạn với Đa-vít là một gã chăn chiên. Giô-na-than yêu thương Đa-vít như mạng sống mình, cởi áo choàng mặc cho Đa-vít, trao cho Đa-vít cả gươm, cung và đai. Cảm kích tình thương đó, Đa-vít đã nói: “Hỡi Giô-na-than, anh tôi, nghĩa bầu bạn của anh quí hơn tình thương của người nữ” (II Sa-mu-ên 1:26). Đa-vít lấy làm hãnh diện biết bao vì được kết bạn với Giô-na-than, nhưng làm sao sánh được với chúng ta là những kẻ được kết bạn với Hoàng tử của Đức Chúa Trời, cũng là Chúa của các chúa, Vua của các vua.

CÂU HỎI

1. Tại sao chúng ta gọi Chúa Jêsus là bạn tri kỷ?

2. Theo Giăng 14:21, ai được kể là bạn hữu của Chúa?

3. Tại sao chúng ta kể mình là sung sướng hơn những người đã sống trong thời gian Chúa còn ở thế gian?

4. Rô-bô-am mất quyền cai trị trên 10 chi phái vì cớ nào?

5. Vì sao chúng ta biết Chúa là người bạn khôn ngoan nhất?

6. Chúa về trời để lại cho môn đồ di sản nào?

7. Tại sao chúng ta kể mình sung sướng hơn Đa-vít?

BÀI 21. ĐẮC THẮNG SỰ CÁM DỖ.

KINH THÁNH: Lu-ca 4:1-14.

CÂU GỐC: “Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu, nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được” (ICôr 10:13).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Chúa Jêsus là bạn thiết của họ. Ngài vẫn đứng cạnh để giúp đỡ họ đắc thắng sự cám dỗ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự thử thách

(Gia-cơ 1:2-7).

TH:

Sự cám dỗ và sa ngã

(Sáng thế ký 3:1-24).

TB:

Sự cám dỗ và chiến thắng

(Lu-ca 4:1-14).

TT:

Lối thoát

(ICôr 10:1-15; Hê-bơ-rơ 2:12; 4:15).

TN:

Sự thử thách đức tin

(I Phi-e-rơ 1:1-25).

TS:

Thánh Phao-lô gặp thử thách

(IICôr 21:1-18).

TB:

Thánh Phi-e-rơ gặp thử thách

(Ma-thi-ơ 26:69-75).

Chúa Jêsus đã gặp và thắng hơn sự cám dỗ. Cám dỗ cũng đến với mỗi chúng ta, song chúng ta phải thắng nó, Chúa sẽ giúp chúng ta thắng sự cám dỗ và Đức Chúa Trời luôn mở một lối thoát cho chúng ta ra khỏi sự cám dỗ.

Chuyện tích Chúa Jêsus chiến thắng cám dỗ chỉ cho chúng ta phương pháp hữu hiệu để chúng ta cũng chiến thắng cám dỗ như vậy. Song đây không có nghĩa là một kinh nghiệm bên ngoài, vì không có núi nào cao đủ để thấy “mọi nước trong thế gian”, ma quỉ cũng không đem Chúa lên nóc đền thờ Giê-ru-sa-lem đâu. Mọi sự đó chỉ đến với Ngài trong tư tưởng mà thôi.

Cám dỗ không phải bao giờ cũng đến với chúng ta dưới hình thức mong ước làm điều xấu mà trái lại dưới hình thức mong làm điều tốt, song bằng một phương tiện xấu. Chúng ta có thể mong ước được phục vụ Chúa, được phước của Chúa, song bằng một đường lối riêng chứ không phải bằng đường lối của Chúa. Đó là cách ma quỉ cố thuyết phục Chúa Jêsus, song nó đã thất bại.

Kẻ cám dỗ có nhiều phương pháp khác nhau, song chung qui chỉ có ba phương pháp chính là: Sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời (IGiăng 2:16).

I. ĐẮC THẮNG SỰ CÁM DỖ THỎA MÃN NHU CẦU THUỘC THỂ MỘT CÁCH BẤT CHÍNH (c. 1-4).

Sau khi kiêng ăn 40 ngày, Chúa đói lắm, ma quỉ cám dỗ Ngài dùng quyền năng vốn có để hóa đá thành bánh mà ăn, không cần phải chịu đói, đồng thời cũng tự chứng minh Ngài là Con Đức Chúa Trời.

Chúa có quyền năng thực sự. Trong 3 năm chức vụ, Ngài đã hai lần hóa bánh để nuôi gần một vạn người. Song tại đây, Ngài chống lại sự cám dỗ bằng cách trưng dẫn Kinh Thánh trong Phục truyền 8:3 “Loài người sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi…” Đành rằng nhu cầu thực tế của Chúa lúc bấy giờ là bánh vì Ngài có thân thể như chúng ta. Song Ngài chờ đợi Đức Chúa Trời chu cấp cho Ngài, mà không chịu nghe lời ma quỉ để sử dụng quyền năng của Ngài trong trường hợp như vậy. Đồ ăn của Ngài là làm theo ý muốn Đức Chúa Trời. Dùng đường lối bất chính để thỏa mãn nhu cầu thuộc thể là thua sự cám dỗ, làm mất mối tương giao với Đức Chúa Trời, phá hủy lòng tin cậy Ngài. Sống yên lặng, nhẫn nại chờ đợi Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu của mình là điều tốt nhất.

Hai thiếu niên của một Hội Thánh kia mang tiền ra chợ mua bánh mì cho các bạn ăn trưa để ở lại tập hát. Đi đường, hai em băn khoăn không biết mua thế nào cho đủ mọi người ăn, vì số tiền họ có trong tay ít quá. Bỗng một em cúi xuống đường lượm lên một tờ giấy bạc của ai đánh rơi. Hai em vui mừng, rối rít cám ơn Chúa: “Thế là Chúa cho chúng ta có đủ tiền mua bánh cho mọi người”. Trở về hai em vui vẻ thuật lại. Vị Truyền đạo dịu dàng giải thích cho hai em và cả ban hát biết đó không phải là Chúa ban phước bèn là sự cám dỗ. Đáng lẽ hai em phải tìm người đánh rơi tiền mà trả lại. Dầu không biết tiền của ai để trả thì không nên xem đó là cách Chúa ban phước.

Hãy coi chừng ma quỉ cám dỗ chúng ta sử dụng đường lối bất chính để được tiền bạc của cải. Nhiều tín đồ đã ăn trộm tiền phần mười của Chúa (Ma-la-chi 3:8-9). Ghê-ha-xi đã nói dối để xin vàng của Na-a-man (IICác 5:19-27).

II. ĐẮC THẮNG SỰ CÁM DỖ THI HÀNH Ý CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI BẰNG ĐƯỜNG LỐI RIÊNG (Lu-ca 4:3-8).

Chúa Jêsus đã đến để lập nước Đức Chúa Trời tại trần gian. Ma quỉ đề nghị Ngài không cần phải chịu nhục hình thảm khốc trên cây thập tự mà chỉ cần thỏa hiệp với nó, thờ lạy nó, thì nó sẽ cho Ngài mọi sự. Chúa thừa biết ma quỉ là đứa nói dối, các nước không thuộc về nó, không có con đường nào tốt hơn cho Ngài để đạt đến đích ngoài ra con đường thập tự giá, nên Ngài đã dùng Kinh Thánh để chống lại sự cám dỗ đó: “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Phục truyền 6:13).

Nhờ người thi giùm, hối lộ để được bằng cấp là đã thua sự cám dỗ. Thà cố gắng học hành, theo con đường ngay thẳng để đỗ đạt thành tài, dầu chậm song vững. Gia-cốp biết Chúa đã hứa ban phước cho ông: “… đứa lớn phải phục đứa nhỏ” (Sáng thế ký 25:23). Song thay vì nhẫn nại chờ đợi Chúa ban phước cho mình, Gia-cốp đã âm mưu với mẹ cướp phước của anh là Ê-sau. Hậu quả thật tai hại (Sáng thế ký 27:41). Một chức viên của Hội Thánh nọ làm chứng đại ý như sau: Tôi xin gì Chúa cũng cho, chỉ có một điều tôi xin mà Chúa vẫn chưa cho là tôi xin Chúa cho trúng độc đắc để xây nhà thờ…

Đó là những sự cám dỗ hiểm nghèo. Chúng ta phải kiên nhẫn chấp nhận con đường thập tự giá của Chúa Jêsus. Còn nếu chúng ta chọn con đường dễ dàng và mau lẹ thì chẳng khác nào chúng ta thỏa hiệp với ma quỉ mà thờ lạy nó để được lợi lộc, danh vọng hão huyền. Trên đường chúng ta theo Chúa lúc nào cũng có cạm bẫy như thế (II Ti-mô-thê 4:10).

III. ĐẮC THẮNG SỰ CÁM DỖ THỬ NGHIỆM QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Lu-ca 4:9-13).

Ma quỉ lại dùng cả Kinh Thánh để khiêu khích Chúa Jêsus thử nghiệm quyền năng của Đức Chúa Trời bằng cách lên nóc đền thờ rồi gieo mình xuống. Khi Ngài được bình an đúng như Thi thiên 91:11,12 có hứa thì ai nấy sẽ theo Ngài, và Ngài không cần phải đi con đường thập tự giá. Chúa đã chống trả sự cám dỗ bằng Lời Kinh Thánh trong Phục truyền 6:1: “Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi”. Đành rằng Đức Chúa Trời hứa gìn giữ con cái Ngài trong trường hợp nguy nan, song không ai được phép lợi dụng lời hứa ấy để thỏa mãn tính kiêu căng của mình.

Ví dụ: Một học sinh biếng nhác, song khi đi thi thì hết sức cầu nguyện xin Chúa cho mình thi đậu hoặc một nông phu không siêng năng gì cả trong công việc đồng áng mà hi vọng Chúa nhậm lời cầu nguyện cho mình được nhiều kết quả; hay là một người buôn lậu xin Chúa cho mình khỏi bị khám phá. Cả ba người đều sai. Đức Chúa Trời không bao giờ giữ gìn, phù hộ những việc như vậy.

Trong Thi thiên 91 Chúa hứa giữ gìn, giải cứu những kẻ thuộc về Ngài khỏi mọi tai họa nếu họ ở nơi kín đáo của Đấng Chí cao, ở dưới bóng của Đấng Toàn năng (c. 1). Nếu vì theo Chúa, chúng ta bị bắt buộc phải bước với sư tử và rắn hổ mang, thì Chúa sẽ ở cùng, giải cứu và tôn vinh chúng ta (c.13-15).

Chúa cho sự cám dỗ đến để thử thách chúng ta hầu sau khi đắc thắng, chúng ta trở nên mạnh mẽ như Chúa Jêsus đã được thêm quyền phép (Thi thiên 18:34, Lu-ca 4:14). Hãy tận dụng khí giới của Đức Chúa Trời để chống trả sự cám dỗ và xin Chúa cho mình đắc thắng sự cám dỗ.

CÂU HỎI

1. Sự cám dỗ lợi hay hại? Xin giải thích.

2. Tại sao chúng ta biết sự cám dỗ đã đến với Chúa Jêsus không bằng hình thức bên ngoài mà chỉ trong tư tưởng?

3. Đời xưa ai đã dùng đường lối bất chính để được của cải? Trong đời này thì ai đã làm điều đó?

4. Tại sao chúng ta không nên dùng đường lối dễ dàng để thi hành ý chỉ của Chúa? Cho những gương chứng?

5. Tại sao chúng ta không nên lợi dụng lời hứa của Chúa cho việc bất chính của mình? Cho bằng cớ?

6. Làm cách nào để thắng hơn sự cám dỗ?

7. Câu gốc của bài học dạy ta thế nào về sự cám dỗ?

BÀI 22. SỨC MẠNH ĐỂ THI HÀNH NHIỆM VỤ.

KINH THÁNH: II Ti-mô-thê 2:1-13.

CÂU GỐC: “Nhưng dân sự biết Đức Chúa Trời mình sẽ mạnh mẽ mà làm” (Đa-ni-ên 11:32).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết rằng Chúa Jêsus giao nhiệm vụ cho những người theo Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Thái độ phải có đối với tội lỗi

(II Sa-mu-ên 12:1-14; Thi thiên 51).

TH:

Được kêu gọi và thanh tẩy

(Ê-sai 6).

TB:

Nguồn sức mạnh

(Thi thiên 27).

TT:

Sự yếu đuối thuộc linh

(Lu-ca 22:31-34; Mác 14:32-38).

TN:

Năng lực thuộc linh

(IICôr 12:1-21).

TS:

Sức mạnh đưa tới sức mạnh

(Khải huyền 3:7-13).

TB:

Sức mạnh để chịu đựng

(II Ti-mô-thê 2:1-13).

Tín đồ là người có nhiệm vụ. Nhiệm vụ đó do Chúa giao, không phải nhiệm vụ giết người mà là cứu người. Vì thế sức mạnh mà ta cần để thi hành nhiệm vụ không phải là sức mạnh xác thịt đến từ người, bèn là sức mạnh thuộc linh đến từ Đức Chúa Trời.

Đồng bào không muốn tin Chúa, nếu họ thấy tín đồ sống cuộc đời yếu đuối, thất bại, cũng phạm tội như họ. Song khi chúng ta được sức mạnh của Chúa để sống cuộc đời đắc thắng, họ sẽ được khích lệ và muốn theo Chúa như chúng ta.

Phải nhận rằng nhiệm vụ Chúa giao vượt xa khả năng của chúng ta. Không hề có ai nhờ sức riêng mình mà thi hành nổi nhiệm vụ Chúa giao. Vì thế hễ Chúa giao nhiệm vụ cho ai, Ngài cũng ban sức mạnh cho người đó để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng có khi chúng ta lại thất bại. Tại sao như thế? Chúng ta thất bại vì hai lẽ.

– Không biết tánh cách trọng đại của nhiệm vụ đã được giao phó.

– Không biết mình yếu đuối để hạ mình nhờ sức toàn năng của Chúa, lại cứ gắng gượng thi hành nhiệm vụ.

I. TÍNH CÁCH TRỌNG ĐẠI CỦA NHIỆM VỤ (II Ti-mô-thê 2:1-7).

Nhiệm vụ của chúng ta rất trọng đại mà chính chúng ta chưa hiểu đúng. Để giúp chúng ta hiểu được, Phao-lô đã dùng ba hình ảnh khác nhau là người lính, lực sĩ và người làm vườn.

1. Người lính.

Không có người lính nào được miễn chịu khổ, song phải sẵn sàng chịu khổ, nhất là người lính giỏi của Chúa Jêsus. Người lính không được phép để việc riêng chi phối thì giờ và năng lực của mình, song phải tập trung thì giờ và năng lực để thi hành nhiệm vụ. Người lính phải phục tùng trọn vẹn, không được thắc mắc, như Chúa rửa chân cho môn đồ (Giăng 13:7). Người lính phải trung thành, nếu cần cũng phải hi sinh, miễn là đẹp lòng Chúa mình.

2. Lực sĩ.

Muốn trở thành lực sĩ, lại là lực sĩ đắc thắng, thì người ấy phải tập luyện chuyên cần, đúng giờ giấc, đúng phương pháp chớ không thể tập luyện qua loa, tùy thời tùy hứng. Ngoài ra tập luyện còn phải biết tranh tài đúng luật mới mong được mão triều thiên.

3. Người làm ruộng.

Muốn làm ruộng để được hoa lợi, chúng ta phải chịu lao khổ như thức khuya, dậy sớm, làm việc hết lòng, miễn sao cho kịp thời đúng lúc. Phải chân lấm tay bùn, cày sâu cuốc bẩm, dầm sương dãi nắng mới mong được mùa.

Cơ Đốc nhân là những người được Chúa giao nhiệm vụ bồi đắp, duy trì, phát triển Hội Thánh về mọi mặt, để Hội Thánh trở nên như một lâu đài nguy nga tráng lệ, như một con người tầm thước trọn vẹn. Vì vậy, Cơ Đốc nhân phải như người lính đắc thắng, lực sĩ đạt mão triều thiên, nông phu được mùa phong phú.

II. PHẢI CHỊU ĐỰNG ĐỂ THI HÀNH NHIỆM VỤ (II Ti-mô-thê 2:4-7).

Người hầu việc Chúa phải là người chịu đựng gian lao.

1. Người lính phải can đảm.

Có can đảm mới sẵn sàng chịu khổ, tận tâm phục vụ, triệt để phục tùng, trung thành cho đến chết.

Tánh tự nhiên của con người là ích kỷ, hèn nhát, lánh nặng tìm nhẹ, không bao giờ chịu dấn thân vào chỗ nguy, chỗ chết để thi hành nhiệm vụ. Tiên tri Na-than đã dám mạo hiểm để vấn tội vua Đa-vít. Nếu Đa-vít không phục thiện, không ăn năn, chắc Na-than đã bị xử tử (II Sa-mu-ên 12:1-14). Giăng Báp-tít cũng đã can vua Hê-rốt như vậy, song Hếrốt không ăn năn, và Giăng Báp-tít bị chém đầu (Ma-thi-ơ 14:1-12).

2. Lực sĩ phải có kỷ luật.

Nếu một lực sĩ lại sống bê tha, bừa bãi thì thất bại là phần chắc. Kỷ luật trong nếp sống hằng ngày và kỷ luật trong đấu trường là bí quyết khiến lực sĩ thành công. Bởi Thánh Linh, Sam-sôn vốn là một lực sĩ vô địch, thắng cả đạo quân Phi-li-tin, song Sam-sôn đã sống cuộc đời bê tha, bừa bãi, vô kỷ luật, nên cuối cùng ông đã thua một người đàn bà.

3. Người làm ruộng phải kiên nhẫn.

Người làm ruộng không phải chịu khó trong một thời gian nào đó mà suốt cả năm, nghĩa là phải kiên nhẫn. Nếu không kiên nhẫn, người làm ruộng không thể có một mùa phong phú mà chỉ có một mùa lúa lép. Cơ Đốc nhân là người bị đòi hỏi phải chịu đựng mọi lao khổ, nhọc nhằn cả thể xác lẫn tâm hồn mới có kết quả.

III. SỨC LỰC ĐỂ CHỊU ĐỰNG VÀ THI HÀNH NHIỆM VỤ (II Ti-mô-thê 2:8-13).

Trong câu 1, Phao-lô khuyên Ti-mô-thê hãy mạnh mẽ trong ân điển của Chúa. Để khích lệ Ti-mô-thê mạnh mẽ luôn luôn, Phao-lô đưa ra ba điều phải nhớ:

1. Nhớ đến Chúa Jêsus (c. 8).

Chúa đã sanh ra làm người tại trần trong 33 năm. Ngài là một lính giỏi, một lực sĩ thành công, một nông phu kiên nhẫn. Ngài biết các nhược điểm và nhu cầu của chúng ta, Ngài sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Ngài đã từ kẻ chết sống lại, đắc thắng kẻ thù số một của loài người. Ngài đang sống, hành động và đồng công với chúng ta. Nhờ Ngài, chúng ta nắm chắc phần thắng (Rô-ma 8:35-37). Khi nào kiệt sức, ngã lòng, lo sợ, chúng ta nhớ đến Chúa.

2. Nhớ đến Phao-lô (c.9-10).

Ông đã chịu khổ vì Tin Lành. Người ta đã trói ông như trói một tên gian ác. Chúa Jêsus cũng đã bị trói như vậy (Giăng 18:30). Các tín đồ cũng bị xem như người gian ác (I Phi-e-rơ 2:12).

Nhưng Tin Lành của Chúa không hề bị trói. Người ta có thể trói Phao-lô mà không thể trói Tin Lành, có thể lưu đày Giăng mà không thể lưu đày chân lý, có thể bỏ tù Phi-e-rơ mà không thể bỏ tù sứ điệp của ông, có thể giết chết Ê-tiên mà không thể giết chết Lời Chúa. Sứ điệp lớn hơn sứ giả, chân lý lớn hơn người giảng ra nó. Nếu loài người có thể tiêu diệt Tin Lành thì Tin Lành đã bị tiêu diệt từ lâu rồi. Nhưng loài người không thể tiêu diệt cái gì bất diệt.

Trái lại nhờ Phao-lô chịu khổ mà Tin Lành được kết quả và tiến bộ (Phi-líp 1:12-14). Vậy chúng ta há không được khích lệ mạnh mẽ để thi hành nhiệm vụ khi nhớ lại Phao-lô sao?

3. Nhớ đến kết quả (C. 11-13).

Chúng ta nhớ đến kết quả của hai hạng người theo Chúa và hầu việc Chúa: Bất trung và trung tín.

a. Bất trung.

Nếu chúng ta bất trung, phản bội mà chối Ngài, thì Chúa cũng sẽ chối chúng ta (Ma-thi-ơ 10:32,33). Đê-ma đã đi con đường đó. Chúa sẽ chối Đê-ma với lời này: “Hỡi kẻ gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:23).

“Nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được”. Nếu chúng ta thất tín không theo Ngài nữa thì Ngài vẫn thành tín mà phán rằng: “Hỡi kẻ gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta”. Lời này chắc chắn lắm.

b. Trung tín.

“Nếu chúng ta chết với Ngài, thì chúng ta cũng sẽ sống với Ngài; nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì chúng ta sẽ cùng Ngài đồng trị”. Nếu chúng ta trung tín chịu đựng mọi thử thách, chịu bắt bớ vì Chúa cho đến chết, thì chúng ta sẽ sống lại với Ngài và trị vì với Ngài. Đó là kết quả của người trung tín. Lời này chắc chắn lắm.

Vậy hãy nhớ kết quả của hai hạng người này để được mạnh mẽ mà thi hành nhiệm vụ Chúa giao.

CÂU HỎI

1. Nhiệm vụ Chúa giao cho mỗi chúng ta là gì?

2. Tại sao chúng ta không thể nhờ sức riêng để thi hành nhiệm vụ?

3. Nhiệm vụ của chúng ta được Phao-lô ví sánh như gì?

4. Người lính, lực sĩ, nông phu muốn thành công phải sống thế nào?

5. Muốn được thêm sức mạnh, chúng ta phải nhớ đến ai?

6. Giải thích tại sao phải nhớ đến Chúa, đến Phao-lô và đến kết quả của hai hạng người theo Chúa?

BÀI 23. ĐỨNG VỮNG VÌ CHÂN LÝ.

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 1,3.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi… Dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng” (Đa-ni-ên 3:17-18).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ sự cần thiết phải sống vì đức tin của chúng ta, dầu phải trả bất cứ giá nào.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Niềm tin của Đa-ni-ên

(Đa-ni-ên 1).

TH:

Các thanh niên Hê-bơ-rơ bị thử thách

(Đa-ni-ên 3:1-12).

TB:

Lập trường của các thanh niên Hê-bơ-rơ

(Đa-ni-ên 3:13-30).

TT:

Sự khôn ngoan từ trên cao

(Lu-ca 21:10-19).

TN:

Lòng can đảm của Phi-e-rơ và Giăng

(Công vụ 4:16-31).

TS:

Làm đẹp lòng Đức Chúa Trời

(ITê 2).

TB:

Một ông quan không có lập trường

(Giăng 18:28-40).

Mỗi xã hội đều thiết lập các luật lệ để bảo vệ và phát triển khả năng con người trong cộng đồng dân tộc. Mỗi cá nhân trong xã hội đều bị đặt dưới các luật lệ ấy và họ có thể bị trừng phạt nếu họ vi phạm. Nếu các luật lệ của xã hội đặt ra đều hoàn hảo thì trải qua các thời đại, nhiều người đã tránh được biết bao cảnh thương tâm. Nhưng vì thỉnh thoảng các luật lệ của loài người lập ra đã va chạm với ý chí của Đức Chúa Trời, chứ không được như Chúa Jêsus đã phán: “Hãy trả cho Sêsa vật gì của Sêsa, và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời”, nên những kẻ muốn theo ý chỉ của Đức Chúa Trời phải chọn lựa. Nếu chọn lựa ý chỉ của Đức Chúa Trời, họ phải gánh chịu các hậu quả từ loài người.

Niềm tin Cơ Đốc giáo là niềm tin vào chân lý muôn đời, vì Chúa Jêsus là Chân Lý (Giăng 14:5). Ngài thực hữu từ trước vô cùng, đã giáng sanh làm người, đã chịu chết đền tội, đã sống lại, đã về trời và sẽ tái lâm. Giá trị đích thực của một con người là có niềm tin và đứng vững trong niềm tin của mình.

I. TIN QUYẾT ĐỂ ĐỨNG VỮNG VÌ CHÂN LÝ (Đa-ni-ên 1).

Thanh niên Đa-ni-ên và ba bạn của ông bị lưu đày từ Y-sơ-ra-ên qua Ba-by-lôn. Thế là họ mất hết mọi sự. Song họ không mất Đức Chúa Trời và không mất niềm tin nơi Ngài. Họ phải thay đổi mọi sự, từ cách ăn mặc, nói năng, học hành cho đến tên họ. Song niềm tin của họ đối với Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Nê-bu-cát-nết-sa muốn biến những thanh niên này trở thành những người thờ hình tượng như ông. Song ông đã thất bại.

Đa-ni-ên và ba bạn Hê-bơ-rơ tin Đức Chúa Trời vô sở bất tại, hằng hữu nên họ vẫn giữ lòng kính mến Ngài khi ở Ba-by-lôn cũng như ở quê nhà là Y-sơ-ra-ên. Họ tin Ngài là Đấng Thánh khiết nên quyết định không chịu ô uế bởi đồ ăn ngon vua ăn và rượu ngon vua uống vì đã dâng hiến cho thần tượng. Họ tin Ngài là Chúa toàn năng, nên dám đề nghị được ăn rau uống nước và quả quyết rằng họ sẽ được mạnh khỏe, trẻ trung như bao thanh niên khác ăn đồ ngon của vua.

Kết quả niềm tin đó đã đem họ đến gần Đức Chúa Trời và đem Đức Chúa Trời đến gần họ, đã tạo cho Ngài cơ hội thi hành quyền năng tuyệt đối của Ngài trong họ. Nhờ vậy, họ được mạnh khỏe trẻ trung, nhất là thông minh đỉnh ngộ mười lần hơn các thanh nhiên khác chung quanh họ.

Trong hoàn cảnh đổi thay, mất mát, thất thế, cô đơn, phải đương đầu với luật lệ khắt khe, phong tục tập quán trái nghịch, nếu họ đã hèn nhát và sa ngã, họ có đủ lý do để biện minh và không ai dám chê trách họ. Song họ đã không làm như vậy.

Chúng ta thấy Đa-ni-ên có thái độ rất mực ôn hòa, nhã nhặn, không làm phật ý ai, nhất là đối với hoàng đế Ba-by-lôn. Tuy nhiên ông rất cương quyết giữ vững lập trường của một người tôn thờ Đức Chúa Trời. Ông nhu mì mà không nhu nhược.

II. CAN ĐẢM ĐỂ ĐỨNG VỮNG VÌ CHÂN LÝ (Đa-ni-ên 3:1-18).

Nê-bu-cát-nết-sa đã chinh phục các lân bang, thống nhất các dân tộc dưới quyền vua. Bây giờ vua muốn thống nhất các tôn giáo. Đó là lý do vua cho đúc một pho tượng bằng vàng, là tượng của chính mình vua để “các dân, các nước, các thứ tiếng” thờ lạy.

Ba thanh niên Hê-bơ-rơ bị tố cáo phạm tội khi quân, “không kiêng nể vua một chút nào”, dám chống đối mạng lịnh của vua mà không thờ các thần của vua, và chẳng thờ lạy tượng của vua đã dựng.

Đang khi chung quanh họ hàng hàng lớp lớp người sấp mình thờ lạy pho tượng vàng, ba thanh niên này lại đứng sừng sững thì mọi người thấy quá dễ, cũng dễ gây lòng ganh tỵ và bực tức của người khác. Song họ đã hành động như vậy là vì muốn giữ vững niềm tin. Họ thừa biết rằng họ phải chấp nhận mọi hậu quả, và số phận dành cho họ là lò lửa hực. Họ sẵn sàng trả mọi giá.

Vua Nê-bu-cát-nết-sa nổi thạnh nộ truyền dẫn họ đến ngay. Chắc trong đời vua chưa hề có ai dám hành động như thế. Song vua rất khoan hồng với ba thanh niên này và mở cho họ một lối thoát, bảo rằng họ không có ý làm vậy. Vua vừa dụ dỗ là sẽ tha thứ, vừa cảnh cáo là đừng có mong thần nào cứu được khỏi tay vua.

Trước những lời ngăm đe, thách đố, khoe khoang, phạm thượng đó, ba thanh niên đã dõng dạc khẳng định lập trường của họ (c. 17-18). Họ muốn nói rằng Đức Chúa Trời của họ mà họ đã phục vụ là Đấng Toàn năng, có quyền cứu họ khỏi lò lửa hực và khỏi tay vua. Tuy nhiên Đức Chúa Trời không bị bắt buộc lúc nào cũng phải hành động như nhau. Ý tưởng và đường lối của Ngài cao hơn ý tưởng và đường lối của loài người như trời cao hơn đất. Nếu Ngài không cứu chúng ta bằng cách này, thì Ngài cứu chúng ta bằng cách khác. Vì thế chúng ta hoàn toàn tin cậy và phục tùng Ngài, thà chết chứ chẳng thể phạm tội.

Bây giờ họ không biết việc gì sẽ xảy ra, chỉ cầm chắc sự chết trong tay. Họ là những con người nhỏ tuổi, yếu đuối, song to gan lớn mật, là những anh hùng đức tin dám “tắt ngọn lửa hừng” (Hê-bơ-rơ 11:34).

Chúng ta phải có đức tin như ba bạn Hê-bơ-rơ này. Dầu Cha chúng ta là Toàn năng, Toàn ái, chúng ta không ép buộc Ngài phải cho chúng ta được sống vinh thân phì gia, lúc nào cũng an phận tọa hưởng điều phước. Trái lại, nếu Ngài đẹp lòng để chúng ta phải chịu khổ, chịu chết vì Danh Ngài, thì cũng đừng thắc mắc mà nói rằng: “Đức Chúa Trời nào nỡ vậy”. Chúa không thuê chúng ta tin cậy và phục vụ Ngài. Chúng ta làm điều đó vì yêu Chúa như con yêu cha. Đừng bao giờ bị cám dỗ mà nghĩ rằng Chúa phải giữ gìn tài sản, con cái và sanh mạng của tôi, thì tôi sẽ tin cậy và phục vụ Ngài, bằng không tôi sẽ chối bỏ Ngài. Phải nói như Gióp: “Dầu Chúa giết tôi, tôi vẫn tin cậy nơi Ngài” (Gióp 13:15).

III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐỨNG VỮNG VÌ CHÂN LÝ (Đa-ni-ên 3:19-30).

Ba bạn Hê-bơ-rơ không ngờ Đức Chúa Trời giải cứu mình như vậy. Điều gì đẹp ý Ngài thì Ngài đã làm, không ai ngăn trở được.

Kết quả của việc đó đã khiến Nê-bu-cát-nết-sa tôn vinh Chúa, khâm phục lòng can đảm, chí hi sinh của ba bạn Hê-bơ-rơ. Vua ban chiếu chỉ cấm không ai nói phạm đến Đức Chúa Trời và thăng chức cho họ. Toàn dân trong nước ngưỡng mộ Chúa và có cảm tình với ba bạn Hê-bơ-rơ. Từ đó đến nay đã hơn 2500 năm, gương sống của họ đã ban phước và gây niềm phấn khích cho vô số người.

Tuy nhiên, chúng ta phải giựt mình khi nghĩ rằng nếu họ hèn nhát sa ngã mà chối Chúa, cúi đầu và sấp mình thờ lạy tà thần thì sao? Nếu Martin Luther đã rút lui thì sao? Kết quả đã trái hẳn và chúng ta không thể lường hết tai hại của nó. Nếu ngày nay quí vị và các bạn sa ngã thì sao? Chỉ phải hối tiếc đời đời. Chúng ta phải tha thiết cầu xin Chúa cho chúng ta biết Chúa, tin Chúa, yêu Chúa và phục vụ Ngài như Đa-ni-ên và ba bạn của ông.

Khi nhà văn Disraeli được hỏi về bằng cớ nào ông tin có Đức Chúa Trời, ông đáp: “Người Do thái”. Lịch sử của toàn dân Do thái là lời làm chứng về quyền năng và sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Ngày nay lịch sử của Cơ Đốc giáo cũng như đời sống của cá nhân tín đồ phải là lời làm chứng hiệu lực nhất về Đức Chúa Trời.

CÂU HỎI

1. Tại sao Đa-ni-ên và ba bạn của ông phải bị lưu đày qua Ba-by-lôn?

2. Vua Ba-by-lôn muốn biến họ trở nên người như thế nào?

3. Đa-ni-ên tin Đức Chúa Trời là Đấng thế nào?

4. Tại sao vua Nê-bu-cát-nết-sa lập pho tượng vàng?

5. Ba thanh niên Hê-bơ-rơ bị tố cáo phạm tội gì?

6. Họ thừa biết làm vậy là bị quăng vào lò lửa, nhưng tại sao họ vẫn làm?

7. Đức Chúa Trời giải cứu họ thế nào?

8. Kết quả ra sao?

BÀI 24. SỐNG XỨNG ĐÁNG

KINH THÁNH: A-mốt 5:6-15; Xa-cha-ri 8:16-23.

CÂU GỐC: “Hỡi ngươi, Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi, há chẳng phải là làm sự công bình, và sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao? (Mi-chê 6:8).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ học viên nhờ Chúa để sống xứng đáng với chính mình và người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sống trong thời kỳ gian ác

(A-mốt 5:6-15).

TH:

Sự bất công bị lên án

(A-mốt 8:4-8; 11-12).

TB:

Công bằng chứ không phải của lễ

(Mi-chê 6;1-16).

TT:

Con đường hạnh phúc

(Giô-ên 2;12-27).

TN:

Thiết lập công bằng

(Mi-chê 4:1-5; Ha-ba-cúc 2:14).

TS:

Người ta trông mong gì nơi Cơ Đốc nhân

(Xa-cha-ri 8:16-23).

TB:

Tiêu chuẩn duy nhất

(Ma-thi-ơ 5:33-37; Giă. 17:15-18).

Ngay trong thời các tiên tri, xã hội Do thái đã đầy dẫy bất công, thối nát dưới nhiều hình thức khác nhau. Biết Đức Chúa Trời là Đấng cai trị các nước của loài người, và Ngài là Đấng Thánh khiết, công nghĩa, chánh trực, không chịu được tội lỗi; nên các tiên tri đã hết lòng cảnh cáo và kêu gọi mọi người ăn năn. Ai nấy phải ghét điều dữ ưa điều lành, nhìn nhận tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời muốn mình phải sống và hướng dẫn người khác sống như mình.

Những lời cảnh cáo như sấm sét của các tiên tri thời xưa có tương quan với chúng ta ngày nay. Chúng ta có bổn phận phải đứng vững vì chân lý và đưa dẫn mọi người đến chân lý.

I. NHỜ CHÚA ĐỂ SỐNG XỨNG ĐÁNG (A-mốt 5:6-10).

“Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va thì các ngươi sẽ sống…” Người ta đã ăn ở bất công, bất nghĩa đến độ miệt mài trong tội lỗi, vì đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, xa cách Ngài. Chúa là mặt trời, là ánh sáng của thế gian, nên lìa bỏ Ngài, người ta đã quờ quạng trong tối tăm, không còn biết đâu là đường phải đi. Vì vậy, tiên tri đã kêu gọi hãy tìm kiếm Chúa, tức là quay lại để đối diện với mặt trời.

Chúa ở không xa nên chúng ta không cần phải đi tìm Ngài. “Đức Giê-hô-va ở gần những người có lòng đau thương, và cứu kẻ nào có tâm hồn thống hối… Đức Giê-hô-va ở gần người cầu khẩn Ngài tức ở gần mọi người có lòng thành thực cầu khẩn Ngài” (Thi thiên 34:18; 145:18). Thành thật ăn năn, hạ mình kêu cầu Chúa là gặp Ngài ngay.

“Các ngươi sẽ sống” không có nghĩa là sống lâu, bèn là sống thánh khiết, công nghĩa. Vì “về phần kẻ ưa sự vui chơi, thì dầu sống cũng như chết” (I Ti-mô-thê 5:6). “Hãy tìm kiếm Đấng dựng nên sao rua và sao cày, đổi bóng tối ra ban mai, đổi ngày ra đêm thẳm, gọi nước biển mà đổ nó ra trên đất! Danh Ngài là Giê-hô-va”. Đó là Đấng Toàn năng đã dựng nên vũ trụ và cai quản nó. Chúng ta có thể trông mong Ngài ở với chúng ta, nhậm lời cầu nguyện của chúng ta, giải cứu chúng ta khỏi điều dữ, ban cho chúng ta làm điều lành. Những gì bất năng cho chúng ta đều khả năng cho Ngài.

Trái lại nếu chúng ta “đổi sự ngay thẳng ra ngải cứu và ném sự công bình xuống đất”, nếu chúng ta ghét người “trách móc nơi cửa thành, và gớm ghiếc kẻ nói ngay thẳng” thì hãy coi chừng, “Ngài sẽ như ngọn lửa thiêu đốt… không ai tắt được”. Ấy chính Ngài làm cho kẻ mạnh thình lình bị diệt vong, đến nỗi sự hủy hoại đến trên đồn lũy.

Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy (Ga-la-ti 6:7).

II. SỐNG XỨNG ĐÁNG VỚI CHÍNH MÌNH (A-mốt 5:11-15).

Giữa những người “hiếp đáp kẻ nghèo, hiếp đáp kẻ công bình, nhận hối lộ nơi cửa thành, làm cong lẽ ngay thẳng của người nghèo” thì chúng ta nên làm gì? Chúng ta buông xuôi theo dòng đời để được sống dễ dàng, để được lợi ích, hoặc thế nào xong thôi? – Không, Chúa không kêu gọi chúng ta vào cuộc sống dễ dàng, ích kỷ, tắc trách, vô tâm. Chúa kêu gọi chúng ta sống thánh khiết, đứng vững vì chân lý, vì công lý. Chúng ta phải sống theo tiêu chuẩn của Chúa chứ không phải theo tiêu chuẩn của đời. Về phương diện tiêu cực, “người khôn ngoan sẽ làm thinh, vì là thời khốn nạn” nghĩa là yên lặng và vững vàng, không dự phần vào việc ác hoặc chung hay riêng cũng vậy. Về phương diện tích cực thì “hãy tìm điều lành và đừng tìm điều dữ… Hãy ghét điều dữ và ưa điều lành; hãy lập sự công bình nơi cửa thành”.

Các câu trên đây nhấn mạnh sự ưa thích và tìm kiếm điều lành mà gớm ghiếc và xa lánh điều dữ. Có như vậy, chúng ta mới sống cuộc đời đáng sống, sống đẹp lòng Chúa, sống tôn vinh Ngài. Đối với chúng ta, dễ dàng hay khó khăn, thuận cảnh hay nghịch cảnh, không phải là mối quan tâm hàng đầu. Mối quan tâm hàng đầu của chúng ta là sống thế nào để đẹp lòng Chúa, tôn vinh Ngài, hầu được Ngài ở với chúng ta.

Nếu trái lại, thì “những nhà bằng đá vuông này mà các ngươi đã xây nên, các ngươi sẽ không được ở. Các ngươi đã trồng những vườn nho ngon ngọt, nhưng sẽ không uống rượu đó”.

Điều đáng khích lệ hơn hết cho dân Do thái thời đó là Chúa sẽ “làm ơn cho những kẻ còn sống sót của Giô-sép”. Sống xứng đáng, chúng ta không những được ơn mà còn chia ơn cho người khác; chúng ta không những được phước mà còn đem phước cho người khác. Đồng bào của chúng ta sẽ được ơn phước của Chúa hay không, một phần lớn tùy vào nếp sống hằng ngày của chúng ta. Hãy nhất định sống xứng đáng, Chúa Toàn năng sẽ giúp đỡ chúng ta thành công.

III. SỐNG XỨNG ĐÁNG VỚI NGƯỜI KHÁC (Xa-cha-ri 8:16-27).

Lòng người dối trá hơn mọi vật và rất xấu xa. Dầu ai nấy đều nhận rằng ăn ở ngay thẳng, nói năng thật thà là tốt, song với tấm lòng dối trá và rất xấu xa, con người làm sao ăn ở ngay thẳng, nói năng thật thà được? Tuy nhiên, lúc nào họ cũng ước ao có nhiều người ngay thẳng, nói năng thật thà. Thử hỏi: Họ có thể ước ao điều đó nơi Cơ Đốc nhân, là người có Chúa Cứu thế ngự trong lòng hay không?

Ngày xưa, khi tiên tri Xa-cha-ri đối diện với một trường hợp như vậy, ông đã kêu lên: “Nầy là những sự các ngươi phải làm; ai nấy khá lấy điều thật nói cùng kẻ lân cận mình; hãy làm sự chân thật và sự phán xét bình an trong cửa thành các ngươi”. Đồng thời ông cảnh cáo: “Chúa ghét kẻ tính toan sự dữ và kẻ ưa sự nói dối”. Đành rằng ăn ở ngay thẳng, nói năng thật thà có thể bị hại về vật chất, song được bù lại bằng tinh thần nhẹ nhàng, bình an, vui vẻ là những điều vật chất không thể nào mua được. Khi một người sống đẹp lòng Đức Chúa Trời thì không sợ thiếu thốn gì, vì chắc sẽ được Ngài ban phước lớn.

Sự kiêng ăn sẽ đem lại kết quả mừng rỡ, hớn hở cho dân của Chúa. Song điều quan trọng là không phải chỉ có hình thức. Sự kiêng ăn thật là bẻ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, tha cho kẻ bị ức hiếp được tự do… là chia bánh cho kẻ đói, đem những kẻ nghèo đã bị đuổi đi về nhà mình, khi thấy kẻ trần truồng thì mặc cho, và chớ hề trớ trinh những kẻ cốt nhục mình (Ê-sai 58:6,7).

Tiên tri Xa-cha-ri nói rằng nếu dân Do thái ăn ở như trên thì sẽ thu hút được các dân từ bốn phương đến tìm kiếm Chúa và nài xin ơn Ngài. Vì họ biết rằng chỉ Chúa Toàn năng, Toàn ái mới có thể khiến dân Ngài ăn ở như vậy.

Chúa Jêsus đã từng sống trong một xã hội bất công, gian ác như xã hội Do thái, song Ngài đã ăn ở một cách xứng đáng. Bây giờ Ngài muốn tái diễn cuộc đời của Ngài qua mỗi chúng ta. Nếu ai nấy để Ngài bước vào đời sống mình, ngự trị lòng mình, thì họ sẽ có một đời sống xứng đáng theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Được vậy, đồng bào của chúng ta sẽ tìm kiếm Chúa để được ơn phước của Ngài như bị lôi cuốn vào sức mạnh thần quyền.

CÂU HỎI

1. Trong thời các tiên tri A-mốt, Xa-cha-ri thì xã hội Do thái như thế nào?

2. Các tiên tri ấy đã làm gì?

3. Tại sao mỗi người phải tìm kiếm Chúa?

4. Làm sao để gặp được Chúa?

5. Chúng ta phải có thái độ nào đối với tội lỗi?

6. Tại sao người đời hi vọng Cơ Đốc nhân không sống như họ?

7. Bí quyết nào giúp chúng ta có thể sống cuộc đời xứng đáng giữa thế gian?

BÀI 25. SỐNG SUNG MÃN.

KINH THÁNH: Cô-lô-se 3:1-17.

CÂU GỐC: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi; và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20).

MỤC ĐÍCH: Giúp các tín hữu ý thức trách nhiệm của họ là phải dâng mọi sự cho Chúa để Ngài ban cho họ một đời sống sung mãn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là sự sống của tôi

(Cô-lô-se 3:1-17).

TH:

Đời sống sung mãn

(Giăng 10:10; Ê-phê-sô 3:17-19).

TB:

Sống là Christ

(Phi-líp 1:12-21).

TT:

Đấng Christ ngự trong lòng

(Cô-lô-se 1:25-29).

TN:

Gốc nho và nhánh

(Giăng 15:1-11).

TS:

Sống cho Đức Chúa Trời

(Rô-ma 6:11-23).

TB:

Hy vọng tràn đầy

(Rô-ma 8:28-39).

Không ai muốn sống cuộc đời cằn cỗi, nửa sống nửa chết, song muốn sống cuộc đời sung mãn. Con đường đạt đến cuộc sống sung mãn là hoàn toàn phục tùng Chúa. Có người nghĩ một cách sai lầm tai hại rằng nếu làm vậy chúng ta sẽ mất cả nhân cách, tự do và phải hủy bỏ chương trình tốt đẹp của mình. Trái lại chỉ khi nào chúng ta tận hiến đời mình cho Chúa thì nhân cách mới phát triển, tự do mới thiết thực và chương trình của chúng ta mới thành đạt. Chúa Jêsus đã phán: “Ta đã đến để cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật”.

Có một người nọ lần thứ nhất đi du lịch vòng quanh thế giới. Ông mua vé và xuống tàu. Khi tàu đã ra biển được 5 ngày thì có một hành khách hỏi ông: “Ông mắc bệnh chi mà có vẻ buồn như vậy?” Đáp: “Tôi không đau ốm chi cả, song thức ăn tôi mang theo không đủ ăn trong nhiều ngày”. Người khách vừa bật cười vừa thương hại nói: “Trong vé tàu có tính luôn tiền ăn của ông suốt những ngày ông sống trên tàu. Ông cứ vào phòng và ăn đi, muốn bao nhiêu tùy ý”.

Về phương diện thuộc linh, chúng ta đã sống cuộc đời cằn cỗi như nhà du lịch này, trong khi đó Đức Chúa Trời là nguồn suối vô tận của chúng ta, Chúa Jêsus là đầy đủ trọn vẹn cho chúng ta.

I. BÍ QUYẾT CỦA CUỘC ĐỜI SUNG MÃN (Cô-lô-se 3:1-4).

1. Kể mình đã đồng chết và đồng sống lại với Chúa.

Điểm Phao-lô muốn nhấn mạnh là “anh em đã bởi phép báp-têm được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Đức Chúa Trời” (2:12). Khi chịu báp-têm, chúng ta kể mình đã chết và chôn trong nước, rồi từ trong nước lại lên chúng ta kể mình đã sống một đời mới. Bởi đức tin, chúng ta được hiệp nhất với Chúa Jêsus trong sự chết và chôn, cũng được hiệp nhất với Ngài trong sự sống lại (Rô-ma 6:5). Phao-lô đại diện cho chúng ta mà tuyên bố rằng: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi”, nên tại đây ông kết luận: “Vậy nếu anh em đã được sống lại với Đấng Christ…”, thì anh em không thể sống như trước nữa, cũng như Đấng Christ, sau khi sống lại thì Ngài được cất lên trời, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.

2. Sống trong đời mới.

Như khi Chúa Jêsus từ kẻ chết sống lại, Ngài được cất lên bên hữu Đức Chúa Trời, thì chúng ta được sống lại với Ngài, chúng ta cũng “hãy tìm các sự trên trời… ham mến các sự trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất”. Chúng ta có mức sống tâm linh cao mà trần gian không kịp với. Tư tưởng và tâm trí của chúng ta hướng về trời. Ước vọng của chúng ta vượt khỏi phạm vi hữu hạn bước sang vô hạn. Chúng ta đánh giá và đo lường mọi sự bằng quan niệm đời đời. Mặc dầu chúng ta còn sống tại trần gian, song tương quan với thiên đàng, gieo dưới đất mà gặt trên trời, làm việc cho hiện tại mà phần thưởng ở tương lai. “Sự sống của chúng ta giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời”. Khi nào Đấng Christ tái lâm, chúng ta sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển.

Nếu mỗi chúng ta bởi đức tin chấp nhận chân lý này là chúng ta đã nắm được bí quyết của cuộc sống sung mãn.

II. TƯ CÁCH CỦA NGƯỜI SỐNG SUNG MÃN (Cô-lô-se 3:5-14).

Bởi đức tin, chúng ta kể mình đã chết với Chúa về người cũ, thì bây giờ phải:

1. Đoạn tuyệt với người cũ (c. 5-11).

“Hãy làm chết các chi thể…”, tức là làm tê liệt, đoạn tuyệt hoàn toàn với chúng, kể như chúng không còn nữa. Đó là cách đối xử với người cũ.

Công việc của người cũ là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa, tham lam, thạnh nộ, buồn giận, hung ác, nói dối, nói hành, nói tục. Ăn ở như vậy thì chỉ chuốc lấy cho mình cơn giận của Đức Chúa Trời mà thôi. “Nhưng bây giờ anh em đã từ bỏ hết mọi sự đó… lột bỏ người cũ cùng công việc nó mà mặc lấy người mới”.

2. Sống theo người mới (c. 12-14).

Bởi đức tin chúng ta kể mình đã sống lại với Chúa, thì bây giờ sống theo tư cách của người mới. Người mới là người được chọn của Chúa, người thánh và rất yêu dấu của Ngài. Một người như thế phải thương xót, nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, tha thứ và yêu thương.

“Đấng Christ là mọi sự và trong mọi sự” (c.11c). Ngài là Đấng Tạo hóa, Chúa Cứu thế, là sự sống dư dật, là ánh sáng đời đời. Ngài ở trong chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi sự sống cũ, ban cho chúng ta sự sống mới cách dư dật để chúng ta có đủ tư cách sống cuộc sống sung mãn.

III. DẤU HIỆU CỦA MỘT NGƯỜI CÓ SỰ SỐNG SUNG MÃN (Cô-lô-se 3:15-17).

1. Sự bình an của Chúa ngự trị trong lòng.

Có sự sung mãn là có sự bình an của Chúa. Đó là sự bình an vượt quá trí hiểu. Khi Chúa sắp bị nộp cho kẻ ác để bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài vẫn phán: “Ta đã báo các ngươi những điều đó hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong Ta” (Giăng 16:33). Sự bình an của Ngài như con sông, dòng nước nó tuôn tràn không dứt làm vui đền thờ của Đức Chúa Trời (Thi thiên 46:4).

2. Lời của Chúa đầy dẫy trong lòng.

Người có sự sống sung mãn lúc nào cũng nghe, đọc, nghiên cứu, suy gẫm, nhất là thực hành Lời Chúa. Người ấy để Lời của Chúa kiểm soát, hướng dẫn hành động, ngôn ngữ, tư tưởng của mình. Người ấy giấu Lời Chúa trong lòng mình (Thi thiên 119:11). Giấu có nghĩa là tích trữ để được giàu có, xem Lời Chúa quí hơn vàng (Thi thiên 19;10; 119:72,127).

3. Ca ngợi Chúa luôn luôn.

Có sự sống sung mãn là có lòng đầy ơn Chúa, nên lúc nào cũng vui vẻ, tuôn tràn lời ca tiếng hát để tôn vinh Ngài. Không những hát trong nhà thờ và nhà riêng mà cũng hát trong rừng, trên núi, tại vùng kinh tế mới, trong bệnh viện, trên giường chết. Đây không phải là sự vui mừng của đời do hoàn cảnh tạo nên, giống như hàn thử biểu khi lên khi xuống tùy khí hậu bên ngoài. Song sự vui mừng này là của Chúa, không tuỳ thuộc hoàn cảnh bên ngoài, nó giống như máy điều nhiệt giữ được nhiệt độ cao luôn.

4. Tạ ơn Chúa trong mọi sự.

Có sự sống sung mãn thì lúc nào và làm gì cũng tạ ơn Chúa. Biết rằng Chúa đang tể trị mọi sự, khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho mình. Chúa thấu rõ mọi sự từ đầu đến cuối, không có gì đột xuất cho Ngài cả. Chúa làm được mọi sự, không có gì quá khó cho Ngài. Chúa có mọi sự, không có nhu cầu nào của chúng ta là lớn quá cho Ngài. Halêlugia.

Hãy để Chúa Jêsus tuôn tràn sự sống dư dật, sức mạnh vô cùng của Ngài vào lòng chúng ta, hầu cho ai nấy đều có một đời sống sung mãn.

CÂU HỎI

1. Nhờ đâu chúng ta hy vọng có cuộc sống sung mãn?

2. Bí quyết của cuộc sống sung mãn là gì?

3. Tại sao gọi lễ báp-têm là sự đồng chết và đồng sống lại với Chúa?

4. Sống trong đời mới có nghĩa gì?

5. Đoạn tuyệt với người cũ là làm sao?

6. Hãy kể các dấu hiệu của một người có sự sống sung mãn?

7. Hãy giải nghĩa các dấu hiệu đó?

BÀI 26. CUỘC ĐỜI PHƯỚC HẠNH.

KINH THÁNH: Giăng 17:1-26.

CÂU GỐC: “Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được” (Giu-đe 24).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Chúa Jêsus đã đến để ban cho tôi cuộc đời phước hạnh.

Bài học này ôn lại 12 bài trước đây. Thay vì đọc các đoạn Kinh Thánh mới, xin học viên ôn lại 12 bài cũ. Không những ôn lại song cũng tìm những sự dạy dỗ mới cho riêng mình để chia sẻ cho người khác hầu nhiều người được phước.

Khi một người không biết đọc và viết mà phải lãnh một số tiền hoặc một văn kiện quan trọng thì buộc người lãnh phải lăn dấu tay. Đức Chúa Trời dựng nên con người kỳ diệu vô cùng là không hề có hai người có dấu tay giống nhau. Mỗi người có dấu tay khác, khuôn mặt khác, cá tính khác và nhu cầu khác. Song Chúa Jêsus đã đến trong thế gian vì mọi người. Ngài yêu mọi người, cứu mọi người và trọng dụng mọi người, làm cho cuộc đời của người tiếp nhận Ngài trở nên thật phước hạnh.

I. CHÚA GIÚP TÔI BIẾT NGÀI VÀ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI (Giăng 17:1-5).

Nhu cầu sâu xa nhất của con người không phải là cơm ăn, áo mặc, nhà ở, vì đó mới chỉ là nhu cầu của thể xác. Nhu cầu tâm linh mới thật sâu xa, vì là sự nhận biết Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus để được sự sống đời đời.

1. Biết Đức Chúa Trời và biết Con độc sanh Ngài.

Qua công cuộc tạo hóa, loài người biết có Đức Chúa Trời là Đấng Quyền năng, song không ai có thể biết đúng các thuộc tính của Ngài. Ai nấy quờ quạng trong bóng tối, kẻ tưởng Đức Chúa Trời như thế này, người tưởng Đức Chúa Trời như thế khác, giống như 5 người mù rờ một con voi. Dân Do thái đã được Đức Chúa Trời tự bày tỏ bằng chiêm bao, dị tượng, thiên sứ… nhưng họ vẫn còn lầm lạc cho đến khi Chúa Jêsus xuống đời, vì Ngài là Con Một ở trong lòng Cha, Đấng giải bày Cha cho chúng ta biết (Giăng 1:18). Chúa Jêsus phán: “Ngoài Cha không ai biết Con, ngoài Con và người nào Con muốn tỏ ra cùng thì cũng không ai biết Cha” (Ma-thi-ơ 11:27).

Biết Chúa Jêsus là điều rất quan trọng, để qua Ngài chúng ta được biết Đức Chúa Trời. Các môn đồ đã theo Chúa Jêsus suốt ba năm, nhờ đó lần hồi họ biết Ngài hơn. Cuối cùng, họ biết Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Thế, nên họ đã quyết định sống chết cũng hết lòng theo Ngài.

Đối với Phao-lô, Chúa Jêsus không phải là Đấng như ông tưởng, vì ông đã chống đối và bắt bớ Ngài cho đến khi ông gặp Ngài trên con đường Đa-mách. Khi biết Chúa, ông xem Ngài là quí tột bực, bỏ hết mọi sự để theo Ngài.

2. Được sự sống đời đời.

Đây là sự sống của Đức Chúa Trời. Sự sống này không có ban đầu cũng không có kết thúc. Phẩm chất của sự sống này là thánh khiết, vinh hiển, bình an, phước hạnh trọn vẹn. Chúng ta nhận được sự sống này ngay khi chúng ta được tái sinh nhờ tin Chúa Jêsus là Cứu Chúa (Giăng 3:16,36; 5:24; 6:47). Bởi sự sống này chúng ta được hiệp thông với Chúa, tôn thờ Ngài, phục vụ Ngài và đem lại sự thỏa mãn cho tâm hồn chúng ta.

II. CHÚA CHỈ CHO TÔI CÁCH SỐNG (Giăng 17:6-10).

Sau khi biết Chúa và được sự sống của Ngài, chính Chúa dạy chúng ta cách phải sống như Ngài đã sống. Ngài đã giữ lời Cha và tôn vinh Cha.

1. Giữ lời Chúa (c.6).

Lời Chúa là ngọn đèn cho chân chúng ta, là ánh sáng cho đường chúng ta. Nếu không có lời Ngài, chúng ta chẳng khác kẻ đi đêm không đèn, không ánh sáng.

Lời Chúa là thức ăn cho linh hồn chúng ta trong đời này như mana là thức ăn cho dân Do thái suốt 40 năm trong đồng vắng. Nếu chúng ta không có lời Chúa, thì như dân Do thái không có mana, tất cả đều phải chết.

Chúng ta không thể nào nói mình yêu Chúa mà lại không giữ lời Ngài. Ai yêu Chúa phải giữ lời Chúa. Ai yêu Chúa thì được Chúa ở cùng và ở trong người ấy (Giăng 14:23).

Nếu chúng ta giữ Lời Chúa thì được Lời Chúa giữ chúng ta, yên ủi chúng ta, soi sáng chúng ta, bổ sức chúng ta, gây dựng chúng ta. Vì Lời Chúa được vững lập đời đời. Trời đất sẽ qua đi, song Lời Chúa không bao giờ qua đâu.

2. Tôn vinh Chúa (c.10).

Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời vinh hiển, Ngài vốn bình đẳng với Đức Chúa Trời về mọi mặt. Nhưng vì yêu chúng ta, Ngài đã giáng trần mang lấy hình thể con người, làm một đầy tớ, vâng phục cho đến chết để cứu chúng ta.

Chúng ta được cứu không phải để sống cuộc đời vinh thân phì gia, tọa hưởng điều phước. Không, chúng ta được cứu với một chủ đích là tôn vinh Chúa. Nếu chúng ta sống mà không tôn vinh Chúa là đã sống sai chủ đích. Mỗi ngày chúng ta phải tự nhủ, tôi phải sống tôn vinh Chúa, làm cho nhiều người cảm tạ và ca ngợi Ngài (Ma-thi-ơ 5:16; Phi-líp 2:15; II Phi-e-rơ 2:12).

III. CHÚA GIAO TRÁCH NHIỆM CHO TÔI (Giăng 17:11-19).

Chúa Jêsus đã tha thiết cầu xin Cha gìn giữ chúng ta trong Danh của Cha Ngài. Trong Danh của Đức Chúa Trời tức là trong chính mình Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã gìn giữ đức tin của chúng ta, hi vọng của chúng ta, sự sống của chúng ta, giữ gìn chúng ta khỏi sa vào chước cám dỗ. Chúng ta phải có trách nhiệm:

1. Đứng vững trong Ngài.

Dầu Chúa muốn gìn giữ chúng ta để không có ai có thể cướp chúng ta khỏi tay Ngài, song Ngài không cướp quyền tự do của chúng ta. Chúng ta có quyền cứ ở trong Ngài để được Ngài gìn giữ; chúng ta cũng có quyền từ chối Ngài, lìa bỏ Ngài để trở nên “đứa con của sự hư mất” (c.11-12).

Đứng vững trong Chúa là lánh khỏi điều ác (c.15). Đức Chúa Trời gìn giữ chúng ta khỏi điều ác. Muốn được vậy, chúng ta phải có lòng gớm ghiếc điều ác, lánh xa điều ác, chống cự điều ác, xem điều ác như kẻ thù chẳng đội trời chung. Vì vậy trong bài cầu nguyện này, Chúa đã lặp lại 4 lần chữ “giữ gìn” (c.11,12,15).

2. Làm sứ giả của Ngài.

Đức Chúa Trời sai Chúa Jêsus xuống thế gian để cứu rỗi nhân loại. Chúa Jêsus đã hoàn thành nhiệm vụ “tôn vinh Cha trên đất, và làm xong công việc Cha giao cho làm”. Chúa đã bị thế gian ghen ghét, bạc đãi, vu oan, giết chết. Khi Chúa Jêsus sắp về trời. Ngài sai các môn đồ đi khắp thế gian, làm sứ giả của Ngài để truyền sứ điệp của Ngài cho thế gian. Chúa biết thế gian đối với Ngài thế nào thì cũng đối với kẻ thuộc về Ngài thể ấy (Giăng 16:18-20;17:14).

Trách nhiệm rất nặng nề, giữa hoàn cảnh rất khó khăn, không ai có thể tự sức làm được, nên Chúa tha thiết cầu nguyện cho môn đồ của Ngài, cho Hội Thánh của Ngài để ai nấy cứ đứng vững trong Ngài, làm trọn trách nhiệm của Ngài giao cho.

IV. CHÚA BAN PHẦN THƯỞNG ĐỜI ĐỜI CHO TÔI (Giăng 17:20-26).

Phần thưởng đó là được hiệp một với Đức Chúa Trời và Đức Chúa Con và được hiệp một với nhau.

1. Được hiệp một với Cha và với Con.

Đây là sự hiệp một sống động: “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha; lại để họ ở trong chúng ta… Con ở trong họ và Cha ở trong Con để họ hoàn toàn làm một” (c.21,23). Sự hiệp một này không giống như bất cứ một tổ chức nào của đời. Sự hiệp một này giống như liên hiệp giữa đầu với các chi thể của một thân, giữa gốc và các nhánh của một cây. Giữa Chúa với chúng ta có một mối tương quan chặt chẽ, khắng khít và mật thiết vô cùng.

Được hiệp một dường ấy với Đức Chúa Trời Toàn ái, Toàn năng, Hằng hữu thì không còn gì phước hạnh bằng.

2. Được hiệp một với nhau.

Tại đây Chúa đã lặp lại 4 lần sự hiệp một với nhau: “Để cho họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy” (c.11). “Để cho ai nấy hiệp làm một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (c.21). “Để họ hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một” (c.22). “Để cho họ toàn vẹn hiệp làm một” (c.23).

Nếu chi thể này làm hại chi thể khác thì toàn thân đều bị đau, nhất là đầu. Nếu các chi thể đều hiệp một thì toàn thân mạnh khỏe. Được hiệp một với Chúa và hiệp một với nhau thì không còn phước hạnh nào bằng.

Trong Chúa Jêsus, cuộc đời chúng ta thật phước hạnh.

CÂU HỎI

1. Nhu cầu sâu xa nhất của con người là gì?

2. Làm sao chúng ta biết được Đức Chúa Trời?

3. Làm sao chúng ta được sự sống của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời?

4. Tại sao chúng ta phải giữ Lời Chúa?

5. Chủ đích của đời sống chúng ta là gì?

6. Trách nhiệm của chúng ta trong thế gian là gì?

7. Phần thưởng lớn nhất Chúa dành cho chúng ta là gì?

BÀI 27. CHÚA JÊSUS BIẾN CẢI ĐỜI TÔI.

KINH THÁNH: Giăng 3:1-18.

CÂU GỐC: “Những hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự tái sanh là cần thiết để trở nên con cái Đức Chúa Trời và được vào thiên đàng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ni-cô-đem với sự tái sanh

(Giăng 3:1-21).

TH:

Sự dốt nát thuộc linh của chúng ta

(I Cô 2:1-16).

TB:

Tội lỗi của chúng ta

(Rô-ma 1:19-25; 3:9-18).

TT:

Chúng ta không thể tự tạo sự tha tội

(Ga-la-ti 3:1-14).

TN:

Sự tha tội bởi ân điển của Chúa

(Rô-ma 5:1-11).

TS:

Nền tảng của đời sống mới

(IGiăng 1:1-10).

TB:

Một lời chứng cá nhân

(Phi-líp 3:7-15).

Một cậu bé bị ho luôn trong nhiều ngày và đau ngực, chiều nào cũng lên cơn sốt. Cậu đến xin bác sĩ cho cậu thuốc ho, đau ngực và sốt rét. Sau khi chẩn mạch rồi chiếu điện, bác sĩ bảo cậu: “Cậu không thể nào hết ho, hết đau ngực và hết sốt cho đến chừng nào trị tận gốc bệnh lao, vì cậu bị lao phổi. Cậu hãy nghe lời tôi vào bệnh viện ngay, nếu trễ, cậu sẽ chết”.

Chúng ta hết thảy đều mắc một bệnh hiểm nghèo, hiểm nghèo hơn cả bệnh lao phổi hay ung thư. Bệnh đó là tội lỗi. Chúng ta bẩm sinh đã là tội nhân, đã hưởng thụ bản chất tội lỗi của tổ phụ lưu truyền. Vì vậy, chúng ta không thể nào tu tâm dưỡng tánh, cải thiện cách ăn nết ở của mình, mà phải trị tận gốc căn bệnh tội lỗi, là được biến cải.

Kinh Thánh dùng nhiều cách khác nhau để mô tả sự biến cải như “được dựng nên mới” (II Cô-rinh-tô 5:17), “được sự sống đời đời” (Giăng 3:16), “được cứu” (Công vụ 16:31), “được tái sanh” (Giăng 3:3,5).

I. LÝ DO CẦN ĐƯỢC BIẾN CẢI (Giăng 3:1-3).

Ni-cô-đem là một nhà lãnh đạo của Do thái giáo, một nhân viên của công hội, một giáo sư luật, một người trong phái Pha-ri-si. Theo quan điểm của con người thì ông không cần biến cải. Nhưng một đêm nọ, ông đến với Chúa Jêsus, Ngài phán với ông ngay: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”.

Ni-cô-đem cũng như bất cứ người nào đều phải được Đức Chúa Trời sanh lại để làm con cái của Ngài, dự phần bản tánh của Ngài, được thông công với Ngài và được vào thiên đàng. Nếu không được sanh lại thì chúng ta là những tội nhân xa cách Đức Chúa Trời, thù nghịch cùng Ngài, chết mất trong tội lỗi. Chúa xem chúng ta là người ngoại, là khách lạ, không có niềm tin, không còn hi vọng, thuộc về ma quỉ. Sanh lại là một vấn đề trọng đại, tương quan đến số phận đời đời của chúng ta. Được sanh lại là được cứu rỗi. Không được sanh lại là bị hư mất.

II. Ý NGHĨA CỦA SỰ BIẾN CẢI (Giăng 3:4-8).

Ni-cô-đem rất lúng túng trước vấn đề sanh lại. Ông thưa: “Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ để sanh lại sao?” Chúa bảo ông phải nhờ nước và Thánh linh mà được sanh lại. Nước chỉ về Lời của Chúa, nước cũng chỉ về lễ Báp-têm của Giăng, vì Giăng làm Báp-têm về sự ăn năn tội để tin Chúa Jêsus (Công 19:4). Đức Thánh Linh dùng Lời của Đức Chúa Trời để cảnh cáo tội nhân khiến họ ăn năn, tin nhận Jêsus mà được sanh lại.

“Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt, hễ chi sanh bởi Thánh Linh là linh”. Dầu cha mẹ có tin kính, đạo đức đến đâu cũng chỉ là xác thịt, nên sanh con là xác thịt, chỉ có Thánh Linh sanh lại chúng ta mới là linh. Sanh lại một người là công việc chỉ có Thánh Linh mới làm được mà thôi.

Công việc của Thánh Linh làm trong lòng tội nhân để khiến họ sanh lại thật là mầu nhiệm, song thiết thực. Chúa Jêsus đã ví sánh việc ấy như: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động nhưng không biết gió đến từ đâu và đi đâu”. Ai cũng biết có gió vì công việc của gió rất hiển nhiên và mạnh mẽ. Song phương pháp hoạt động của gió rất bí mật. Cũng vậy, không ai giải thích nổi Thánh Linh làm thế nào trong lòng của một tội nhân để khiến người được sanh lại. Song ai nấy đều có thể thấy cái kết quả hiển nhiên là người đó được đổi mới trong cách ăn nết ở, được thông công với Đức Chúa Trời. Tóm một lời là người đó đã được cứu. “Người chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy” (Giăng 1:13).

III. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC BIẾN CẢI (Giăng 3:9-18).

Ni-cô-đem vẫn còn lúng túng, nói: “Điều đó làm thế nào được?” Ông lúng túng là phải vì ông vẫn còn thấy mình là một giáo sư, một nhà mô phạm đạo đức, một nhân viên công hội, một người Pha-ri-si, tức là một nhân vật quan trọng đáng được vào nước Đức Chúa Trời. Ông chưa thấy mình là một tội nhân khốn nạn, đáng bị rủa sả.

Chúa Jêsus đã dùng điển tích về con rắn đồng bị treo trên cây sào, rồi dẫn ông đến thập tự giá, chỉ cho ông thấy rằng ông như một con rắn là con vật bị rủa sả và Chúa Jêsus là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời đã chịu rủa sả thế ông để ông tin Ngài mà được sự sống đời đời thay vì bị hư mất (Giăng 3:14-16). Điều đó hoàn toàn do tình thương của Đức Chúa Trời chứ không phải do công đức của chúng ta, do sự ban cho của Đức Chúa Trời chứ không do việc làm của chúng ta. Chúng ta được sanh lại khi nhận mình là một tội nhân khốn nạn, đáng bị rủa sả mà tin nhận Chúa Jêsus là Đấng đã chịu rủa sả thay chúng ta.

Đức Chúa Trời đã sai Con Độc sanh của Ngài đến thế gian không phải để đoán xét thế gian hay định tội thế gian song để tha tội cho thế gian. Vì vậy ai tin Chúa Jêsus thì không có sự định tội nào dành cho mình cả. Trái lại nếu không tin Ngài thì đã bị định tội rồi (c. 17-18). Đức Chúa Trời tha tội cho chúng ta, sanh lại chúng ta qua công tác của Thánh Linh căn cứ trên nền tảng duy nhất là sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá.

Công tác nêu trên đã biến cải mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, chúng ta không còn xa cách mà được gần gui với Ngài, không còn thù nghịch mà được thuận hòa với Ngài, không còn bị tuyệt giao mà được tương giao với Ngài, không còn là người ngoài hoặc khách lạ mà là con cái trong gia đình của Ngài, không còn chết trong tội lỗi mà sống trong sự thánh khiết, không bị hư mất mà được sự sống đời đời.

Các bạn được sanh lại hay chưa? Mọi liên lạc giữa bạn với Đức Chúa Trời đã được biến cải hay chưa? (Xin để vài phút cho mỗi học viên cúi đầu thầm nguyện hoặc cảm tạ Chúa vì đã được sanh lại hoặc xin tiếp nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa để được sanh lại ngay trong giờ phút này).

CÂU HỎI

1. Vì sao nào bạn cần được biến cải?

2. Sự biến cải là gì?

3. Điều kiện để bạn được biến cải là gì?

4. Nếu có người nói: “Tôi chưa được cứu, song ngày nào tôi cũng cầu nguyện xin Chúa cứu tôi”. Câu đó sai ở chỗ nào? Xin chứng minh bằng Kinh Thánh.

5. Nếu có người nói: “Tôi đang cố gắng làm con cái Chúa”. Câu đó sai ở chỗ nào? Chứng minh bằng Kinh thánh.

6. Nếu có người nói: “Tôi đang làm rất nhiều việc cho Hội Thánh, như sốt sắng nhóm lại, dâng tiền rộng rãi… nên chắc chắn tôi sẽ vào thiên đàng”. Ý kiến của bạn thế nào? Xin dùng Kinh Thánh chứng minh.

BÀI 28. CHÚA JÊSUS GIÚP TÔI TĂNG TRƯỞNG.

KINH THÁNH: Ê-phê-sô 4:11-16; I Phi-e-rơ 2:1-5.

CÂU GỐC: “Nhưng… lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ” (Ê-phê-sô 4:15).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ chủ đích của Đức Chúa Trời đối với mọi con cái Ngài là người ấy phải càng ngày càng trở nên giống như Chúa Jêsus.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Nguồn mạch của sự tăng trưởng

(I Phi-e-rơ 2:1-10).

TH:

Tăng trưởng nhờ liên hệ với Chúa Jêsus

(Giăng 15:1-11).

TB:

Nhờ hiệp một với Chúa Jêsus

(Cô-lô-se 3:1-17).

TT:

Tăng trưởng cho đến lúc trưởng thành

(Ê-phê-sô 4:11-32).

TN:

Tăng trưởng nhờ nương cậy Đức Chúa Trời

(IICôr 12:6-10).

TS:

Nhờ Đức Thánh Linh

(Công vụ 1:5-8; 2:1-4).

TB:

Nhờ hy vọng Chúa tái lâm

(Tít 2:11-14).

Mọi người đều vui vẻ khi thấy một em bé mạnh khỏe, tươi cười, nhưng nếu ba năm sau, chúng ta lại gặp em bé ấy và thấy nó chẳng tăng trưởng chút nào, chắc chúng ta sẽ không vui, nhất là cha mẹ em đó sầu khổ lắm!

Sau khi được sanh lại trong gia đình Đức Chúa Trời như bài trước chúng ta đã học, thì chúng ta cần được tuần tự tăng trưởng cho đến khi thành nhân. Kinh Thánh gọi đó là “trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ” (Cô-lô-se 1:28). Nếu chúng ta được sanh lại mà không tăng trưởng bình thường, thì con người thuộc linh của chúng ta thành ra kỳ quái. Điều đó làm buồn cho Cha chúng ta không ít. Ngài muốn chúng ta tăng trưởng đều đặn, đúng mức.

I. CÁC CHỨC VỤ LÀM CHO TÍN ĐỒ TĂNG TRƯỞNG (Ê-phê-sô 4:11).

Chúa lập các chức vụ trong Hội Thánh để làm cho các tín đồ tăng trưởng như: Sứ đồ, tiên tri, thầy giảng, mục sư, giáo sư.

1. Sứ đồ, thầy giảng.

Sứ đồ, thầy giảng ngày xưa cũng như mục sư, truyền đạo lưu hành ngày nay, là những người chuyên lo truyền giáo, mở mang Hội Thánh mới. Phao-lô, Ba-na-ba, Si-la là đoàn truyền giáo đầu tiên đã thành công mỹ mãn. Không những mở mang Hội Thánh mới, họ còn lo cho tín hữu tại địa phương có chỗ họp lại, cử các trưởng lão hướng dẫn các buổi thờ phượng để Hội Thánh được tăng trưởng (Công vụ 14:23; Tít 1:5).

2. Tiên tri.

Tiên tri ngày xưa cũng như mục sư lưu hành chuyên việc gây dựng Hội Thánh ngày nay. Chức vụ của họ là khi nào được Đức Thánh Linh cảm động, họ đến thăm các Hội Thánh tại một địa phương để phân phát sứ điệp của Chúa, như Giu-đe và Si-la (Công 15:22-23), hoặc như Agabút (Công 21:10-11). Ngoài ra cũng có các tiên tri phục vụ tại Hội Thánh địa phương như con gái của Phi-líp (Công 21:8-9). Tất cả đều có trách nhiệm làm cho Hội Thánh được gây dựng, được tăng trưởng (IICôr 14:3-4).

3. Mục sư, giáo sư.

Đây là những người trực tiếp hướng dẫn, dạy dỗ, yên ủi các Hội Thánh. Họ thường xuyên ở với Hội Thánh. Nếu Hội Thánh nào không có mục sư, giáo sư thì có các trưởng lão như các chấp sự ngày nay. Hội Thánh tăng trưởng mau hay chậm tùy thuộc sự chăn nuôi của các mục sư, giáo sư. Phao-lô và Phi-e-rơ lấy chính mình làm gương và khuyên lơn những người giữ chức vụ chăn bầy của Chúa phải trung tín hầu việc Ngài (Công 20:28; I Phi-e-rơ 5:2-3).

Các chức vụ kể trên hết sức quí, vì được Chúa lập (ICôr 12:28-29), được Chúa cho (Ê-phê-sô 4:11). Cũng như vàng rất quí, nên có vàng thật và vàng giả, nên trong thời đó cũng không tránh khỏi “sứ đồ giả” (IICôr 11:13-15), “tiên tri giả và giáo sư giả”

(II Phi-e-rơ 2:1). Các Hội Thánh đã phải điêu đứng vì cớ họ.

II. BIỂU HIỆN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC TĂNG TRƯỞNG (Ê-phê-sô 4:12-16).

1. Phát triển để thành nhơn (c. 12-13).

Khi được sanh ra, em bé đã là một người, song cơ thể và trí não chưa được phát triển. Phải có một thời gian để em bé mới được sanh ra có thể phát triển đều đặn, hầu đạt đến bậc thành nhơn, tức là một người có thân thể và trí não nẩy nở đầy trọn.

Cũng vậy, khi chúng ta đã được sanh lại làm một em bé của Đức Chúa Trời, thì phải phát triển đều mực về đức tin, sự thông biết Chúa, phục vụ Chúa cho đến khi có tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Ngài.

2. Không còn bị lung lạc (c. 14).

Con trẻ rất dễ bị dỗ dành, dễ bị lừa gạt, dễ bị dọa nạt. Về phương diện thuộc linh cũng vậy, nếu chúng ta cứ ở trong tình trạng con trẻ thì rất dễ bị dỗ dành, lừa gạt bởi tà giáo, bởi mưu chước của người đời. Tình trạng đó giống như một chiếc thuyền đang đi bị bão làm cho quay cuồng, giống như sóng biển bị gió đẩy đưa, dồi dập. Người đó không đủ tri thức thuộc linh để nhận định chân, giả, không biết đâu là con đường phải đi, việc chi phải làm. Tình trạng đó thật là bi đát, vì bối rối, sợ hãi. Trái lại, người tăng trưởng là người đã được phát triển khả năng, tri thức đạt đến bậc thành nhơn, nên không còn bị lung lạc như vậy.

3. Ngày càng mạnh mẽ và vững vàng (c. 15-16).

“Trong Đấng làm Đầu, tức là Đấng Christ”. Chính Chúa điều khiển, gây dựng chúng ta ngày càng mạnh mẽ và vững vàng một cách mực thước, chứ không phải ngang nhiên, kỳ quái. Nếu muốn được ngày càng mạnh mẽ và vững vàng, chúng ta phải hành động và nói năng bằng tình thương chân thật. Ngoài ra, chúng ta còn phải được ràng buộc, gắn bó với Chúa và với nhau như các chi thể trong một thân, liên kết nhau bởi những lắt léo.

Trên đây là hình thức và ý nghĩa của sự tăng trưởng.

III. PHƯƠNG CÁCH ĐỂ ĐƯỢC TĂNG TRƯỞNG (I Phi-e-rơ 2:1-5).

Muốn thân thể tăng trưởng, trước nhất phải trừ bệnh tật, kế đó là ăn uống bổ dưỡng, điều độ, cuối cùng hoạt động thường xuyên.

1. Trừ bệnh tật (2:1).

Bệnh tật của linh hồn là độc ác, gian xảo, giả dối, ghen ghét, nói hành. Các bệnh này làm cho linh hồn tê liệt, không phát triển được. Đấy là tình trạng đáng thương của một số con cái Chúa trong Hội Thánh. Nếu ai mắc bệnh đó mà không sớm nhờ Chúa chữa lành thì suốt đời gầy còm, mòn mỏi. Vậy chúng ta phải nhất quyết từ bỏ tội lỗi, xem nó là kẻ thù chí tử và nhờ Chúa cứu chữa.

2. Ham thích sữa (2:2-3).

Một em bé mới sinh ra mà ham thích sữa mẹ thì lớn lên mau chóng, mạnh mẽ, đẹp đẽ, vui vẻ, dễ thương là dường nào. Một linh hồn được sinh lại mà ham thích lời Chúa thì cũng như vậy. Không có cách nào khác cho một em bé tăng trưởng nếu em không ham thích sữa; cũng không có cách nào khác cho một con cái Chúa lớn lên nếu người đó không ham thích lời của Ngài. Nếu một em bé chán sữa thì chắc em sẽ mắc bệnh, và nếu không sớm được chữa lành, chắc em sẽ chết. Nếu một con cái Chúa chán chê lời Chúa thì chắc người ấy chờ chết. Lời Chúa làm cho chúng ta chán chê tội lỗi, tội lỗi làm cho chúng ta chán chê lời Chúa.

Nếu chúng ta nếm biết Chúa là ngọt ngào, dịu dàng, nhân hậu thì lời của Ngài cũng ngon ngọt cho linh hồn chúng ta như mật ong trong miệng vậy (Thi thiên 19:10; 109:103).

3. Hoạt động thường xuyên (2:4-5).

Đến với Chúa Jêsus là Vầng Đá Sống, chúng ta được trở nên những viên đá sống dùng xây đền thờ của Đức Chúa Trời. Trong đền thờ đó, Chúa Jêsus làm thầy tế lễ thượng phẩm, chúng ta làm chức tế lễ thánh, để dâng tế lễ thiêng liêng cho Đức Chúa Trời. Ai nấy, dầu mới sanh lại cũng phải bắt đầu phục vụ để tôn vinh Chúa, đồng thời để được tăng trưởng.

Một em bé mới sinh đã bắt đầu làm việc như là khóc, tay chân cử động luôn. Nhờ đó, em thở mạnh, máu chảy đều, em biết đói biết khát, ăn no, uống nhiều, và mau lớn. Nếu một em bé ra khỏi lòng mẹ mà nằm yên, bất động, chắc chắn em sẽ chết. Người mới được sanh lại mà không làm gì hết cũng vậy.

Không hề có một em bé nào không muốn được tăng trưởng. Con trai rất muốn mau lớn để được giống cha, con gái cũng rất muốn mau lớn để được giống mẹ. Nếu thật là con cái Chúa, chúng ta rất muốn được tăng trưởng để được càng ngày càng giống như Chúa chúng ta trong sự công bình và thánh khiết.

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa muốn chúng ta tăng trưởng?

2. Chúa dùng ai giúp chúng ta tăng trưởng?

3. Chúng ta phải tăng trưởng cho đến khi nào?

4. Tăng trưởng giúp chúng ta ra khỏi tình trạng nào?

5. Điều gì ngăn trở sự tăng trưởng?

6. Làm sao để được tăng trưởng?

7. Tại sao em bé mới sanh cũng phải làm việc?

8. Sự hầu việc Chúa giúp ích cho sự tăng trưởng như thế nào?

BÀI 29. CHÚA JÊSUS CHO TÔI SỰ HIỂU BIẾT.

KINH THÁNH: Ê-phê-sô 1:3-14.

CÂU GỐC: “Vì ai đã biết ý Chúa, đặng dạy dỗ Ngài? Nhưng phần chúng ta thì có ý của Đấng Christ” (ICôr 2:16).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Đức Chúa Trời có những chương trình đời đời cho nhân loại và Ngài đã mặc khải những điều đó cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kế hoạch Đức Chúa Trời

(Sáng 3:8-19).

TH:

Một bức tranh về kế hoạch Đức Chúa Trời

(Xuất 12:1-13).

TB:

Kế hoạch của Đức Chúa Trời phải do Ngài tiết lộ

(I Cô 1:18-31).

TT:

Con người không tự mình hiểu nổi

(I Cô 2:1-14).

TN:

Kế hoạch của Đức Chúa Trời được thực hiện

(Ma-thi-ơ 27;33-50).

TS:

Truyền bá Tin lành

(Ma-thi-ơ 28:18-20; Công 1:1-8).

TB:

Tóm tắt kế hoạch của Đức Chúa Trời

(Giăng 3:14-20).

Nhìn vào nhà của một người, chúng ta có thể biết được vài điều về người ấy, nhưng chỉ sau khi gặp mặt và chuyện trò cùng người ấy, chúng ta mới biết được người ấy nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu người ấy không bày tỏ tư tưởng của mình thì chúng ta không tài nào biết được.

Cũng vậy, khi nhìn vào công cuộc sáng tạo kỳ diệu của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể biết Ngài khôn ngoan vô cùng, quyền năng vô hạn. Nhưng chúng ta không thể biết nhiều hơn về các thuộc tính của Ngài, nhất là chương trình vĩ đại đời đời của Ngài, nếu không được Ngài bày tỏ cho chúng ta. Chúng ta biết rằng qua lời của Ngài cũng như qua Con Độc sanh của Ngài, Đức Chúa Trời đã mặc khải tư tưởng huyền diệu của Ngài cho chúng ta, vì Ngài muốn chúng ta hiểu. Tuy nhiên, Ngài không tiết lộ tất cả ý định của Ngài mà chỉ mặc khải những điều có liên quan đến chúng ta thôi.

I. HIỂU BIẾT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO NHÂN LOẠI.

Đức Chúa Trời biết mọi sự từ trước sáng thế đến sau tận thế. Đối với Ngài, không có việc gì là đột xuất, ngẫu nhiên cả. Cõi đời đời là hiện tại của Ngài, không có quá khứ, chẳng có tương lai. Vì vậy Ngài đã hoạch định chương trình cứu chuộc nhân loại qua sự hi sinh của Con Một Ngài. “Chiên con đã bị giết từ buổi sáng thế” (Khải 13:8). Dù lúc bấy giờ, Chúa Jêsus chưa giáng sinh, chưa chịu chết, song Đức Chúa Trời kể như việc đã rồi, bởi Ngài quyết định như thế, từ đó Đức Chúa Trời lần hồi bày tỏ chương trình của Ngài cho nhân loại bằng lời hứa trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc bằng hình ảnh tượng trưng.

Lời hứa về Đấng Cứu thế sẽ từ dòng dõi người nữ (Sáng 3:15), dòng dõi Áp-ra-ham (Sáng 18:18), chi phái Giu-đa (Sáng 49:10), ngồi trên ngôi Đa-vít (Ê-sai 9:6), sanh tại Bết-lê-hem (Mi-chê 5:1) bởi một trinh nữ (Ê-sai 7:14).

Hình ảnh tượng trưng về Đấng Cứu thế chịu chết thì có: Chiên con bị giết của A-đam, chiên con dâng tế lễ của A-bên, tàu của Nô-ê, Áp-ra-ham dâng Y-sác, chiên con lễ Vượt qua, chiên con làm sinh tế, huyết của các sinh tế.

Muốn được cứu rỗi, nhân loại không thể chờ đợi hoặc thiết lập một chương trình cứu rỗi nào khác, nhưng phải chấp nhận chương trình mà Đức Chúa Trời đã thực hiện gần 2000 năm qua tại đồi Gô-gô-tha của nước Do thái. Ngoài Chúa Jêsus, không có sự cứu rỗi nào khác (Công vụ 4:12).

II. HIỂU BIẾT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO TÍN ĐỒ.

Đức Chúa Trời có một chương trình rất tế nhị cho Hội Thánh nói chung, và cho mỗi tín đồ nói riêng mà bài này chỉ nêu lên một phần rất nhỏ.

1. Được lựa chọn để làm nên thánh (1:4).

Đó là chương trình của Chúa, công việc của Chúa. Người ta có thể cố gắng đạt đến một địa vị trong xã hội, hoặc cố gắng trở nên giàu có, học thức, song không ai có thể cố gắng để đạt đến sự nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời.

Sự nên thánh này có nghĩa là được biệt riêng ra cho Chúa. Đền thờ là thánh, thầy tế lễ là thánh, dân Y-sơ-ra-ên là thánh… Các người các vật đó được nên thánh vì đã biệt riêng ra để thờ phượng, phục vụ Chúa. Cũng vậy, Chúa đã lựa chọn và biệt riêng chúng ta ra cho Ngài nên Ngài làm cho chúng ta nên thánh không chỗ trách được…

2. Được định trước để làm con nuôi Ngài (1:5).

“Con nuôi” là một từ ngữ đặc biệt Phao-lô dùng vì ông mượn luật lệ hiện hành của La-mã để áp dụng. Luật lệ ấy cho phép một con nuôi có đủ giấy tờ hợp pháp được hưởng mọi đặc quyền y như con ruột (Rô-ma 8:15; 8:23; Ga-la-ti 4:5). Phao-lô muốn nhấn mạnh điểm này: Chúng ta được hưởng danh phận con cái Đức Chúa Trời, không phải là đặc quyền chúng ta vốn có, vì chúng ta là con cái bội nghịch, con cái của sự thạnh nộ, song chỉ nhờ ân điển dư dật của Chúa. Không phải chúng ta có gì xứng đáng mà được như thế, song Chúa đã định như thế trong chương trình đời đời của Ngài vì tình thương và ý tốt Ngài đối với chúng ta.

3. Được cứu chuộc và được tha tội (1:7).

Chúng ta được lựa chọn để làm nên thánh, được định trước để làm con nuôi là căn cứ trên việc chúng ta được cứu chuộc và tha tội. Nếu không có hai điều sau thì cũng không có hai điều trước.

“Được cứu chuộc bởi huyết Ngài”. Cứu chuộc có nghĩa là mua chuộc lại một người hoặc một vật bằng một giá rồi phóng thích. Chúng ta đã bán mình làm nô lệ cho ma quỉ và tội lỗi; vì tình thương Chúa Jêsus đã trả giá quá đắt để mua chuộc chúng ta. Giá đó là chính huyết của Ngài (Công 20:28; ICôr 6:20; I Phi-e-rơ 1:18; Khải 5:9).

“Được tha tội theo sự dư dật của ân điển Ngài”. Tội lỗi đưa đến hình phạt. Song nhờ ân điển dư dật của Chúa, chúng ta được tha thứ, không sợ một hình phạt nào cả. Vì không có một tội lỗi nào dầu lớn hay nặng đến đâu mà ân điển không thể tha thứ. Đã tha thứ mà ân điển vẫn còn dư dật.

Vậy chúng ta phải làm gì? Các câu 6,12,14 nhấn mạnh những chữ “để ngợi khen sự vinh hiển của ân điển Ngài”. Khen ngợi có nghĩa là ca tụng, tôn sùng, cảm tạ Chúa đã cứu chuộc chúng ta, đã dự định cho chúng ta những đặc ân vô giá mà trước đây chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến.

III. HIỂU BIẾT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO CHÚA JÊSUS.

Từ trước vô cùng, Đức Chúa Trời đã hoạch định Chúa Jêsus làm con đường đem ơn phước đến cho nhân loại. Không ai có thể nhận bất cứ ơn phước nào nếu không qua Chúa Jêsus. Trước mặt Đức Chúa Trời, nhân loại được chia ra làm hai phạm vi: Trong Đấng Christ và ngoài Đấng Christ. Trong Đấng Christ con người có:

1. Đủ mọi thứ phước thuộc linh (1:3).

2. Được chọn làm nên thánh (1:4).

3. Được trở nên con nuôi của Đức Chúa Trời (1:5).

4. Được ân điển vô điều kiện (1:6).

5. Được cứu chuộc và tha tội (1:7).

6. Được mọi sự (1:8-10).

7. Được dự phần cơ nghiệp (1:11).

8. Được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh (1:13).

Nếu tham khảo các thư tín khác, chúng ta sẽ thấy còn rất nhiều ơn phước khác tập trung trong Đấng Christ (Cô-lô-se 1:29; 3:11).

Trái lại, ngoài Đấng Christ chỉ có sự rủa sả (Ga-la-ti 3:10), thạnh nộ (Ê-phê-sô 2:3), xét đoán (Giăng 2:18,36; IITê 2:12), hình phạt (IITê 1:8-9; Hê-bơ-rơ 10:29), hư mất (Giăng 3:15-16), hồ lửa đời đời (Khải huyền 20:15).

Không hề có một ân phước nào cho bất cứ ai ở ngoài Đấng Christ. Chúa muốn mỗi người được cứu mà không muốn một ai bị hư mất, song mỗi người có quyền chọn lựa số phận đời đời cho mình là ở trong Đấng Christ hay ở ngoài Đấng Christ.

CÂU HỎI

1. Nhờ đâu chúng ta có thể biết được chương trình của Đức Chúa Trời?

2. Chương trình của Chúa cho nhân loại là gì?

3. Muốn được cứu rỗi, nhân loại phải làm sao?

4. Chương trình của Đức Chúa Trời cho tín đồ là gì?

5. Được nên thánh có nghĩa gì?

6. Được làm con nuôi của Chúa có nghĩa gì?

7. Chương trình của Đức Chúa Trời cho Chúa Jêsus là gì?

8. Trong Chúa Jêsus có gì?

9. Ngoài Chúa Jêsus có gì?

10. Biết chương trình của Đức Chúa Trời như vậy, bạn có thái độ nào?

11. Bạn đang ở trong phạm vi nào trước mặt Đức Chúa Trời?

BÀI 30. CHÚA JÊSUS BIẾN CẢI NẾP SỐNG CỦA TÔI.

KINH THÁNH: Ê-phê-sô 5:1-21.

CÂU GỐC: “Hãy giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm kiếm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ” (ITê 5:15).

MỤC ĐÍCH: Chúa Jêsus giúp chúng ta giải quyết mọi vấn đề về cách ăn nết ở và cách đối xử với người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Cách cư xử với mọi người

(Ê-phê-sô 5:1-17; 23-33; 6:1-9).

TH:

Từng trải và biểu hiện

(Ê-phê-sô 5:18-21; I Tê 5:11-22).

TB:

Một số người đặc biệt

(I Phi-e-rơ 2;9-25).

TT:

Cơ Đốc nhân trong thế gian

(I Phi-e-rơ 3:1-17).

TN:

Cơ Đốc nhân gặp bắt bớ

(I Phi-e-rơ 4).

TS:

Cơ Đốc nhân và Hội Thánh

(I Phi-e-rơ 5).

TB:

Đời sống công dân

(Rô-ma 13:1-14).

Người đời thường phê phán Tin lành qua giáo lý mà chúng ta tin và giảng, song họ phê phán nhiều nhất về nếp sống của chúng ta. Gía trị của Tin lành không những ở tín lý chân chính, thuần khiết mà còn ở nếp sống đạo đức của chúng ta.

Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thăng thiên và ban Thánh Linh ngự xuống, không những xóa sạch tội lỗi chúng ta trong quá khứ, mà còn giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi trong hiện tại, cho chúng ta nếp sống mới. Nếp sống đó là:

I. CHÚA GIÚP TÔI BƯỚC ĐI TRONG SỰ YÊU THƯƠNG (5:1-2).

Tính tự nhiên của con người là ích kỷ, lấy chính mình làm quan trọng. Người ích kỷ muốn được mọi sự mà không bao giờ muốn cho gì. Song Đức Chúa Trời yêu thương mọi người đến nỗi đã ban Con Một của Ngài. Chúa Jêsus đã yêu thương chúng ta và đã hi sinh vì chúng ta. Không có sự ban cho nào bằng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Con Một của Ngài. Không có sự hi sinh nào bằng Chúa Jêsus hi sinh trên thập tự giá. Không có tình thương nào bằng tình thương của Đấng công nghĩa, chết thay cho những kẻ bất nghĩa, nên Phao-lô khuyên chúng ta hãy bắt chước Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus mà “bước đi trong sự yêu thương”. Đó là một gương mẫu trọn vẹn, một tiêu chuẩn cao nhất mà chúng ta phải đạt đến trong nếp sống của mình.

Bước đi có nghĩa là ăn ở hay cư xử. Chúng ta đã được cứu rỗi bởi tình thương thì phải sống trong tình thương, bày tỏ cho mọi người tình thương bằng cách ăn ở hằng ngày của mình. Đức Chúa Trời là sự yêu thương, nên bước đi trong sự yêu thương là bước đi trong Đức Chúa Trời. Không có nơi nào bình an và sung sướng bằng bước đi như vậy. Cuộc sống như vậy “có mùi thơm” cho Đức Chúa Trời và người ta, đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.

II. CHÚA GIÚP TÔI BƯỚC ĐI NHƯ CÁC CON SÁNG LÁNG (5:3-10).

Để xứng hợp với nếp sống của thánh đồ thì những thói hư tật xấu như gian dâm, ô uế, tham lam chẳng những chúng ta không làm mà cũng không nói đến. Đành rằng trai phải có vợ, gái phải có chồng, song đừng hành động phản luân lý, vô trật tự. Ai nấy phải giữ thân mình cho thanh sạch và tôn trọng, chẳng bao giờ sa vào tình dục luông tuồng (I Tê 4:4-5). Muốn tránh ba tội đó, trước hết phải trừ ba tội này: “Chớ nói lời tục tĩu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào”. Vì từ tư tưởng ra lời nói, từ lời nói đến việc làm. Các thánh đồ phải luôn luôn cảm tạ Chúa.

Phao-lô cảnh cáo: “Vì anh em biết rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần cơ nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời. Những kẻ thờ hình tượng đều ở ngoài thành thánh hết thảy” (Khải 22:15). Phần của họ là ở trong lò lửa (Khải 21:8).

Phao-lô nói thêm: “Đừng để ai lấy lời giả trá phỉnh dỗ anh em”. Vì bấy giờ có một học thuyết cho rằng con người chỉ có tinh thần là quí báu, thân thể rất xấu xa. Nếu thân thể có gian dâm, ô uế… cũng không phương hại đến tinh thần. Chúng ta biết rằng lời ấy trái với sự dạy dỗ của Chúa. Thân thể cũng như linh hồn và tinh thần đều là đền thờ của Đức Chúa Trời, cần được nên thánh trọn vẹn (I Tê 5:23; ICôr 6:19-20). Dầu là con cái Chúa mà ăn ở bội nghịch thì cũng chuốc lấy cho mình sự thạnh nộ kinh khiếp. Vậy đừng thông đồng với bất cứ ai trong các việc ác đó. Có lẽ trước kia có người ăn ở như thế vì còn trong sự tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng vậy. Nếp sống của các con sáng láng là công bình, nhân từ, thành thật.

III. CHÚA GIÚP TÔI BIỆT RIÊNG KHỎI SỰ ÁC (5:11-24).

Câu 7 bảo: “Chớ thông đồng với họ”. Câu 11 bảo: “Chớ dự vào công việc của sự tối tăm”. Sự tối với sáng không thể thông đồng với nhau hay tham dự vào nhau mà phải biệt riêng ra. Nơi nào tối thì không có sự sáng, nơi nào sáng thì không có tối. Ai thông đồng và tham dự với sự tối tăm thì mất tương giao với Chúa vì Ngài là Sự sáng.

“Thà quở trách chúng nó thì hơn”. Đây không có nghĩa chúng ta quở trách bằng lời. Song nếu nếp sống đạo đức hằng ngày của chúng ta như các con sáng láng thì làm cho những người có nếp sống vô đạo, như các con tối tăm phải bị cáo trách (Giăng 3:19-21). Hễ mặt trời chiếu vào nơi nào thì đánh tan sự tối tăm nơi đó.

Có lẽ Phao-lô trích lời một Thánh ca mà Hội Thánh lúc bấy giờ thường dùng mỗi khi làm lễ Báp-têm để viết câu 14. Thánh ca này hình như đã mượn ý trong Ê-sai 9:1; 26:19; 52:1; 60:1. Phao-lô kết luận phần này bằng lời gọi kẻ ngủ: Hãy thức, hãy vùng dậy khỏi kẻ chết, hãy ra khỏi nơi tối tăm mà đến nơi sáng láng. Lời kêu gọi này rất thích hợp với IICôr 6:14-18.

IV. CHÚA GIÚP TÔI BƯỚC ĐI CÁCH KHÔN NGOAN (5:15-17).

Phao-lô khuyên chúng ta giữ cho khéo, tức là thận trọng về cách ăn ở của mình. Chúng ta không được sống bê tha cẩu thả. Chúng ta không phải là con cái của sự tối tăm, mà là con cái của sự sáng láng, nên chớ ăn ở như kẻ ngu muội mà phải ăn ở như kẻ khôn ngoan.

Thế nào là khôn ngoan? – Biết lợi dụng thì giờ tức là tiếc thì giờ, xem thì giờ quí hơn tiền bạc. Vì thì giờ ngắn ngủi (ICôr 7:29).

Phải chụp lấy cơ hội, vì cơ hội qua đi không tìm lại được. Phải sử dụng thì giờ vào các việc có ích. Đừng hoang phí thì giờ, đừng bỏ qua cơ hội. Trong khi Phao-lô viết thư này, đa số tín đồ là nô lệ, họ không có thì giờ nào cho việc đọc Kinh Thánh, đi nhà thờ, cầu nguyện. Họ phải khéo dùng từng giờ, từng phút để làm các việc ấy. Đối với họ ngày là xấu, vì họ đang sống trong những ngày khó khăn. Ê-xơ-tê và những đồng bào của bà cũng đã từng sống trong những ngày như vậy, song bà đã kịp thời chụp lấy cơ hội để làm lành cho mọi người (Ga-la-ti 6:10). Trong một ngày có nhiều việc, nên sắp xếp việc nào trước việc nào sau theo một nguyên tắc chặt chẽ. Không ai được phép lười biếng, nhưng phải siêng năng. Đầy tớ khôn ngoan làm mọi việc đúng giờ, đúng lúc (Ma-thi-ơ 24:45). Câu 10 và 17 khuyên chúng ta phải sống đẹp lòng Chúa.

V. CHÚA BAN CHO TÔI ĐẦY DẪY THÁNH LINH (5:18-21).

Nếp sống của chúng ta tốt hay xấu tùy thuộc Đức Thánh Linh có chiếm hữu chúng ta hoàn toàn hay không.

Dấu hiệu thứ nhất của nếp sống cũ là say sưa. Còn dấu hiệu thứ nhất của nếp sống mới là đầy dẫy Đức Thánh Linh. Rượu làm cho người ta hứng chí và vui vẻ (Thi 104:15; Truyền 10:29), song sau cái vui tạm thời đó, đưa đến cái buồn bã cả đời vì nghiện ngập, đam mê, phóng túng, điên cuồng. Chúa muốn con cái Ngài vui vẻ luôn, song không phải vì say rượu mà say Đức Thánh Linh, không phải vì đầy dẫy rượu mà đầy dẫy Đức Thánh Linh. Đó là sự vui thánh khiết, trường cửu. Người say rượu thì nói năng tục tằn, vui cười vô nghĩa, song người đầy dẫy Đức Thánh Linh thì dùng Thi thiên, thánh ca, linh khúc cảm tạ Ngài trong mọi sự và vâng phục lẫn nhau. Từ ngày lễ Ngũ tuần đầu tiên, các tín đồ của Hội Thánh thật được vui vẻ. Họ vui vẻ không phải vì say rượu mới như một số người đã tưởng, nhưng vì ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH (Công 2:46; 5:41; 8:8). Người đời vui khi đầy dẫy rượu. Hội Thánh vui khi đầy dẫy Đức Thánh Linh.

Đức Thánh Linh trong chúng ta sẽ dẫn dắt chúng ta bước đi trong sự yêu thương, bước đi như con cái sáng láng, biệt riêng khỏi tội ác và bước đi cách khôn ngoan.

CÂU HỎI

1. Người đời thường căn cứ vào đâu mà chỉ trích chúng ta?

2. Sự chết và sự sống lại của Chúa có hiệu lực thế nào đối với nếp sống của chúng ta?

3. Bước đi trong sự yêu thương có nghĩa gì?

4. Có 6 điều gì phải tránh để bước đi trong sự sáng láng?

5. Phải làm sao để biệt riêng khỏi điều ác?

6. Thế nào là bước đi cách khôn ngoan?

7. Sự vui vẻ của người đời khác với sự vui vẻ của chúng ta như thế nào?

8. Làm sao để được đầy dẫy Đức Thánh Linh? (Giăng 7:37-39).

BÀI 31. CHÚA JÊSUS BAN CHO TÔI MỘT ĐẤNG YÊN ỦI

KINH THÁNH: Rô-ma 8:1-17, 26-27.

CÂU GỐC: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?” (ICôr 6:19).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ địa vị và công tác của Đức Thánh Linh trong đời sống của tín hữu.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự bất năng của tôi

(Rô-ma 7:15-25).

TH:

Nhờ Đức Thánh Linh, tôi được giải phóng

(Rô-ma 8:1-27).

TB:

Thánh Linh kiến tạo sự hiệp nhất

(Công vụ 4:31-37).

TT:

Thánh Linh đầy dẫy mỗi người

(Công vụ 6:1-15).

TN:

Thánh Linh ban lòng can đảm

(Công vụ 7:51-60).

TS:

Thánh Linh kêu gọi và chỉ dẫn

(Công vụ 13:1-13).

TB:

Thánh Linh ban sự chiến thắng

(Công vụ 16:6-34).

Khi Đức Chúa Jêsus nói cho các môn đồ biết rằng Ngài sẽ về trời, thì lòng họ bối rối vì cảm thấy sẽ bị cô đơn. Chúa liền giải thích cho họ biết lý do nào Ngài phải về trời và hứa ban cho họ một Đấng Yên ủi để ở với họ và trong họ đời đời, hầu cho họ chẳng bao giờ bị cô đơn. Không phải Chúa chỉ lo cho các môn đồ trong lúc đó mà Ngài cũng lo cho Hội Thánh suốt thời đại ân điển này, vì Ngài biết chúng ta cần được yên ủi là dường nào.

I. NHẬN BIẾT ĐẤNG YÊN ỦI (Giăng 14:16-18,26).

Đức Thánh Linh là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 28:19; IICôr 13:13). Đức Thánh Linh bình đẳng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con về mọi mặt. Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh hiện hữu đời đời (Hêb. 9:14), vô sở bất tại (Thi 139:7-13), vô sở bất tri (ICôr 2:10), vô sở bất năng

(Rô 15:19). Có những lời phán của Đức Giê-hô-va trong Cựu ước được tuyên bố là lời phán của Đức Thánh Linh trong Tân ước (Ê-sai 6:8-20 so với Công vụ 28:25-27; Thi 95:7-11 so với Hê-bơ-rơ 3:7-9). Phi-e-rơ đã quở trách A-na-nia “nói dối Đức Thánh Linh”, rồi ông nhấn mạnh: “Ấy chẳng phải ngươi nói dối loài người bèn là nói dối Đức Chúa Trời” (Công 5:3-4).

Vậy Đấng Yên ủi chúng ta là Đức Thánh Linh.

II. CÔNG VIỆC CỦA ĐẤNG YÊN ỦI TRONG TÍN ĐỒ.

Công việc của Đức Thánh Linh rất nhiều như công việc trong vũ trụ, công việc trong loài người, công việc trong tín đồ. Ngay trong tín đồ, Ngài làm cho chúng ta được tái sinh. Ngài giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết, Ngài khiến chúng ta được mạnh mẽ, Ngài dẫn dắt chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, Ngài chứng cho chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, Ngài biến cải chúng ta càng ngày càng giống như Chúa Jêsus, Ngài dẫn chúng ta vào tất cả chân lý, Ngài nhắc chúng ta nhớ Kinh Thánh, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện, Ngài cảm động chúng ta tôn thờ, cảm tạ, phục vụ Chúa Ba Ngôi… Trong phạm vi Rô-ma 8:1-17, 26-27 chúng ta học về công việc của Đức Thánh Linh trong tín đồ.

1. Ngài giải phóng chúng ta khỏi luật của tội lỗi và sự chết.

“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Đây là tuyên bố của Đức Chúa Trời về địa vị hạnh phước của những kẻ tin nhận Chúa Jêsus là Cứu Chúa. Mặc dầu họ vốn là tội nhân khốn nạn như bao nhiêu tội nhân khác, song bởi tin nhận Chúa Jêsus, tội lỗi họ đã được tha thứ, Đức Chúa Trời xưng họ là công bình, xem họ như chưa từng phạm tội. Ngoài ra Đức Chúa Trời còn kể người cũ của họ đã bị đóng đinh trên thập tự giá, nghĩa là đồng chết với Chúa Jêsus về tội lỗi, về luật pháp, nên từ đây không còn có sự đoán phạt nào cho họ. Bạn thuộc trong số người đó hay không?

Hơn nữa, Thánh Linh còn giải phóng chúng ta khỏi luật của tội lỗi và sự chết. Ai phạm tội lỗi là bị ở dưới luật của tội lỗi và sự chết, tức là phải làm nô lệ cho chúng. Vì vậy, dầu muốn dầu không, tội nhân không thể làm lành lánh dữ, vì tội lỗi đang cai trị họ. Nhưng Đức Chúa Jêsus đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại, tức là Ngài đã đắc thắng tội lỗi và sự chết. Đức Thánh Linh đã lấy sự sống phục sinh của Chúa Jêsus làm một luật, với luật đó, Ngài giải phóng chúng ta khỏi luật pháp của tội lỗi và sự chết, cho chúng ta được tự do, luật của tội lỗi và sự chết không có quyền gì trên chúng ta nữa.

2. Ngài dạy chúng ta cách phải sống (8:11).

Trước mắt chúng ta đang bày ra hai nếp sống: Sống theo xác thịt và sống theo Thánh Linh. Hai nếp sống đó có hai khuynh hướng khác nhau: Chăm về xác thịt và chăm về Thánh Linh. Hai nếp sống đó đưa đến hai kết quả khác nhau: Sinh ra sự chết và sinh ra sự sống với bình an. Chúng ta không cần bàn qua nếp sống theo xác thịt, song chỉ học nếp sống theo Thánh Linh.

Trước hết, chúng ta phải có khuynh hướng, tức là khao khát những sự thuộc về Thánh Linh. Những sự đó là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ và công nghĩa. Từ khao khát đến hành động. Khi chúng ta có khuynh hướng đó rồi thì sẵn sàng sống theo Thánh Linh. Kết quả của khuynh hướng và hành động đó đưa chúng ta đến sự sống và bình an. Phao-lô đã quả quyết: “Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chị khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:7-8).

Trong câu 9, Phao-lô muốn mời chúng ta ứng dụng trực tiếp lẽ thật vừa nêu trên cho chính mình. Anh em có sống theo Thánh Linh không? Nếu quả thật Thánh Linh ở trong anh em thì anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. Trái lại, nếu anh em sống theo xác thịt là dấu hiệu hiện nay anh em không có Thánh Linh ở trong. Nếu không có Thánh Linh ở trong thì người đó không thuộc về Chúa Jêsus, nghĩa là người chưa được cứu rỗi, chưa được giải phóng, còn ở dưới sự đoán phạt.

3. Ngài làm chứng rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời (8:12-17).

Chúng ta không cần sống theo xác thịt, vì chúng ta có mắc nợ nó đâu, nó không có quyền đòi hỏi gì nơi chúng ta nữa, nhưng chúng ta mắc nợ Thánh Linh. Nếu chúng ta khuynh hướng các sự thuộc về Thánh Linh, sống theo Thánh Linh, bước theo Thánh Linh, thì được Ngài dắt dẫn. Nếu được Ngài dắt dẫn, thì đó là dấu hiệu chúng ta thật là con cái Đức Chúa Trời. Chúng ta không còn nghi ngờ, sợ hãi như tôi mọi, song dạn dĩ, vui mừng kêu lên: “Aba! Cha!” Đó là tiếng kêu đắc thắng, hãnh diện, thân mật. Đã là con cái Chúa, chúng ta được Chúa chăm sóc, giải cứu, an ủi. Chúng ta là đối tượng của tình thương vĩ đại và đời đời của Cha chúng ta. Thánh Linh ở trong chúng ta cũng làm chứng rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Đã là con cái của Đức Chúa Trời thì chúng ta đồng kế tự với Chúa Jêsus trong sự vinh hiển, miễn là chúng ta cũng đồng chịu đau đớn với Ngài. “Hết thảy của cha là của con” (Lu-ca 15:32).

4. Ngài dạy chúng ta cầu nguyện (8:26-27).

Cầu nguyện là đặc ân vô giá Đức Chúa Trời dành cho chúng ta là con cái Ngài. Chúng ta được tự do đến với Cha để chuyện trò thân mật, để trình dâng mọi sự cho Ngài. Song chúng ta rất yếu đuối và dại khờ, không biết cầu nguyện thế nào cho xứng đáng nên Thánh Linh dạy dỗ chúng ta. Sự cầu nguyện linh nghiệm là do Thánh Linh cảm động, Thánh Linh hướng dẫn, thúc giục, dạy dỗ chúng ta cầu nguyện. Nếu không bởi Ngài, sự cầu nguyện của chúng ta không có giá trị để được Đức Chúa Trời nghe.

Ngoài ra, Thánh Linh còn cầu thay cho chúng ta nữa. Chỉ Thánh Linh biết ý muốn Đức Chúa Trời, nên sự cầu thay của Ngài được Đức Chúa Trời nhậm. Nhờ đó, chúng ta thường được những ơn phước mà chúng ta không ngờ, vì chưa hề cầu xin. Cảm ơn Chúa.

CÂU HỎI

1. Đấng Yên ủi chúng ta là ai?

2. Đức Thánh Linh là Đấng thế nào?

3. Công việc của Đức Thánh Linh trong tín đồ là gì?

4. Thánh Linh giải phóng chúng ta khỏi những gì?

5. Sống theo xác thịt và sống theo Thánh Linh khác nhau thế nào?

6. Làm sao chúng ta biết mình thật là con cái Đức Chúa Trời?

7. Làm sao chúng ta có thể cầu nguyện xứng đáng với Đức Chúa Trời?

8. Tại sao có những ơn phước chúng ta chưa hề xin mà Đức Chúa Trời đã ban?

BÀI 32. JÊSUS BAN CHO TÔI ĐƯỢC TỰ DO.

KINH THÁNH: Giăng 8:31-36; Rô-ma 6:12-23.

CÂU GỐC: “Mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng để sự gì bắt phục được tôi” (ICôr 6:12).

MỤC ĐÍCH: Gíup học viên biết cách ăn ở của một người tự do trong Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đổi mới trong Chúa

(Rô-ma 6:12-25; Giăng 8:31-36).

TH:

Chúa sống trong chúng ta

(Ga-la-ti 2:15-21).

TB:

Tự do trong tình thương

(Ga-la-ti 5:1-16).

TT:

Đức Thánh Linh ngự trị trong chúng ta

(Rô-ma 8:1-17).

TN:

Phao-lô đầu phục Chúa

(Công vụ 9:1-20).

TS:

Các anh hùng đức tin

(Hê-bơ-rơ 11:1-40).

TB:

Gương vâng lời của Chúa Jêsus

(Ma-thi-ơ 26:36:41).

Dân tộc nào cũng thích tự do, vì kiếp người nô lệ thật khốn nạn. Tuy nhiên, nô lệ cho con người không khốn nạn bằng người làm nô lệ cho tội lỗi. Chúa Jêsus phán: “Quả thật! quả thật! Ai phạm tội lỗi là tôi mọi (nô lệ) của tội lỗi”. Người cai trị người thì cai trị bề ngoài, còn tội lỗi cai trị người thì cai trị trong lòng. Phao-lô thú nhận rằng: “Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi trong tôi vậy” (Rô-ma 7:20).

Đó là lý do con người – dầu muốn dầu không- chẳng có thể sống công nghĩa và thánh thiện, song buông tuồng một cách không hề chán. Một cuộc đời như vậy thật khốn nạn và hoàn toàn thất vọng. Cảm tạ Chúa Jêsus, Ngài đã động lòng thương xót, ban cho chúng ta được tự do.

I. CHÚA JÊSUS GIẢI PHÓNG ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC TỰ DO (Giăng 8:31-36).

“Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do”. Từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài, có sự tự do và vinh hiển để hoàn thành chủ đích của Ngài là sống công nghĩa, thánh thiện, để tôn thờ và phục vụ Ngài. Song con người đã lạm dụng sự tự do mà phạm tội và trở thành nô lệ cho tội lỗi. Vì vậy, Chúa Jêsus đã mang lấy tội lỗi của chúng ta mà chết thay cho chúng ta và cũng đã sống lại. Sự chết và sự sống lại của Ngài là để giải phóng chúng ta khỏi hậu quả của tội lỗi trong quá khứ và khỏi quyền lực của tội lỗi trong hiện tại và tương lai. Nhờ huyết Chúa Jêsus rửa sạch tội lỗi, nhờ Thánh Linh ngự trong lòng, chúng ta được hoàn toàn giải phóng, tức là cho tội lỗi không còn cai trị trong chúng ta nữa. Chúng ta được tự do thật sự.

Tự do không thật là bề ngoài có vẻ như tự do, song bề trong đang làm nô lệ cho đam mê, tham lam, dục vọng. Có người nói: “Tôi rất tự do, muốn làm gì thì làm”. Song kỳ thật, người đó làm vì tội lỗi muốn người đó làm. Tự do thật là có quyền làm lành lánh dữ, ăn ở công nghĩa và thánh khiết. Đó là sự tự do Chúa Jêsus ban cho chúng ta.

II. NẾP SỐNG CỦA CON NGƯỜI ĐƯỢC TỰ DO (Rô-ma 8:12-14).

1. Không để tội lỗi cai trị đời mình (c.12).

Người tự do thật không nhường một chỗ nào, hoặc nhỏ hoặc lớn trong đời mình cho tội lỗi, song trục xuất, tiêu trừ tội lỗi khỏi đó. Chúng ta gớm ghê tội lỗi, xem nó như kẻ thù chẳng đội trời chung. Chúa có toàn quyền giải phóng chúng ta khỏi mọi tội, song chúng ta phải bằng lòng để Ngài thi hành việc ấy. Vì có những tội lỗi chúng ta muốn để lại trong đời mình như người Y-sơ-ra-ên đã để lại một số dân trong xứ Ca-na-an (Quan xét 1:27-36); như vua Sau-lơ đã để lại những con vật tốt nhất (I Sa-mu-ên 15:13-23). Chúa quở trách người Y-sơ-ra-ên: “Tại sao các ngươi làm điều đó?” (Quan xét 2:2); Sa-mu-ên đã quở trách Sau-lơ: “Cớ sao ngươi làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va?” Chúa há không quở trách chúng ta vậy sao? (ICôr 5:1-2).

2. Không nộp chi thể mình làm đồ dùng của sự gian ác (c. 13a).

Ma quỉ luôn luôn muốn lợi dụng đời sống của chúng ta để thực hiện kế hoạch gian ác của nó. Xưa nay đã có những người bị cám dỗ vì lợi lộc mà nộp mình làm công cụ của ma quỉ như Giu-đa Íchcariốt chẳng hạn. Song người tự do thật nhất quyết không làm như vậy. Chúa đã hi sinh giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của ma quỉ và tội lỗi, thì không lý gì chúng ta lại nộp mình làm công cụ của sự gian ác. Chúa đã giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ, chớ lại tự đặt mình dưới ách nô lệ nữa. Chúa đã cho chúng ta tự do, chớ lạm dụng sự tự do mà làm điều gian ác nữa. Chúa đã chịu đau đớn và sỉ nhục lắm vì chúng ta một lần rồi, đừng làm cho Ngài phải chịu đau đớn và sỉ nhục thêm một lần nữa (Hê-bơ-rơ 6:4-6).

3. Hãy dâng chi thể mình làm đồ dùng của sự công bình (c.13b-14).

Chúng ta đã chết đối với tội lỗi nên tội lỗi không còn quyền gì trên chúng ta nữa. Chúa Jêsus đã mua chuộc chúng ta để giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi, cho chúng ta được tự do, nên chúng ta hãy dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời để làm công cụ của sự công bình. Đức Chúa Trời muốn sử dụng đời sống chúng ta để thực hiện kế hoạch nhân từ và thánh khiết của Ngài. Chúa cho chúng ta tự do, song không phải để chúng ta sống tùy thích, buông tuồng. Hãy coi chừng, kẻo bị rơi vào tình trạng của những người mà sứ đồ Phi-e-rơ mô tả trong sách của ông (II Phi-e-rơ 2:20-22). Trái lại, chúng ta phải sống theo chủ đích của Đức Chúa Trời, tận hiến đời mình cho Ngài, đặt mình dưới quyền sử dụng của Ngài, phải tìm kiếm sự đẹp lòng Ngài, sự tôn vinh Ngài bằng cách làm xong công việc Ngài giao phó cho.

Khi Chúa Jêsus giải phóng Phao-lô lúc ông đi trên con đường Đa-mách, Ngài đã đặt cả cuộc đời ông trong kế hoạch vĩ đại của Ngài: “Vì Ta đã chọn người này làm một đồ dùng Ta, để đem danh Ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua và con cái Y-sơ-ra-ên; Ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì Danh Ta là bao nả” (Công 9:15-16). Được Chúa giải phóng, rồi dâng đời mình cho Ngài và được Ngài dùng. Ôi! Phước biết dường bao!

III. KẾT QUẢ CỦA MỘT ĐỜI SỐNG TỰ DO (Rô-ma 6:15-23).

Tại đây Phao-lô mượn chợ nô lệ để làm ví dụ. Mỗi nô lệ phải hoàn toàn vâng phục chủ mình, hoặc chủ tốt hay xấu cũng vậy. Nhưng một nô lệ không được phép vâng phục hai chủ, nếu trường hợp chủ cũ bán cho chủ mới, thì nô lệ phải vâng phục chủ mới. Phao-lô muốn nói rằng trước kia chúng ta từng nộp mình làm nô lệ cho tội lỗi, sống cuộc đời bại hoại, trụy lạc và “thế thì anh em đã được kết quả gì? Ấy là quả mà anh em hiện đương hổ thẹn, vì sự cuối cùng của những điều đó là sự chết…” “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô-ma 6:21-23). Hậu quả của kiếp người nô lệ cho tội lỗi là hổ thẹn và chết mất đời đời. Thật đáng kinh khủng thay!

Song Chúa Jêsus đã mua chúng ta bằng chính huyết của Ngài. Như vậy chúng ta không còn thuộc quyền chủ cũ là tội lỗi mà thuộc quyền chủ mới là Chúa. Phao-lô nói: “Nhưng bây giờ anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả và sự sống đời đời làm cuối cùng. Vì… sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:22-23). Kết quả của người tự nguyện hiến thân làm nô lệ cho Đức Chúa Trời là được nên thánh và được sự sống đời đời. Phước biết dường bao!!! Đời sống của một tín đồ là đời sống tự do, tự do tôn thờ Chúa, tự do phục vụ Chúa suốt cả đời mình trong sự thánh khiết và công bình, không sợ hãi gì hết (Lu-ca 1:74-75). Thử hỏi: Chúng ta còn ao ước gì hơn điều đó?

CÂU HỎI.

1. Ai là nô lệ của tội lỗi?

2. Tại sao làm nô lệ của tội lỗi là khốn nạn hơn hết?

3. Chúa Jêsus đã làm gì để giải phóng chúng ta?

4. Chúng ta được tự do thật để sống thế nào?

5. Không để tội lỗi cai trị đời sống có nghĩa gì?

6. Không nộp mình làm đồ dùng gian ác có nghĩa gì?

7. Chúa muốn làm gì cho đời sống của chúng ta?

8. Hậu quả của người làm nô lệ cho tội lỗi là gì?

9. Kết quả của đời sống dâng mình cho Chúa là gì?

BÀI 33. CHÚA JÊSUS BAN CHO TÔI CHIẾN THẮNG

KINH THÁNH: Ê-phê-sô 6:10-18.

CÂU GỐC: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn” (IICôr 2:14).

MỤC ĐÍCH: Giúp các tín hữu biết rằng trong cuộc chiến thuộc linh, nếu họ sống cho Chúa, nhờ sức Chúa, chắc chắn họ sẽ chiến thắng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự bại trận của loài người

(Sáng 3:1-24).

TH:

Sự chiến thắng của Chúa Jêsus

(Ma-thi-ơ 4:1-11).

TB:

Bản chất trận chiến

(Ê-phê-sô 6:10-18).

TT:

Chuẩn bị cho trận chiến

(Ê-phê-sô 4:29-31).

TN:

Phương lược của Chúa

(Cô-lô-se 2:14-15; I Cô 1:27-29).

TS:

Chiến thắng bảo đảm

(I Cô 15:56-58; IGiăng 5:3-5).

TB:

Toàn thắng đời đời

(Rô-ma 8:28-39; Khải 15:2).

Bổn phận tín đồ là phải sống tự do trong sự công bình và thánh thiện, song ma quỉ lúc nào cũng chinh phục tín đồ bằng sự cám dỗ để khi thắng được rồi thì bắt họ làm nô lệ. Vì vậy, tín đồ muốn sống tự do thì phải chiến thắng ma quỉ; và Kinh Thánh gọi chúng ta là những chiến sĩ thuộc linh.

Đành rằng không ai thắng được ma quỉ, ngay như tổ tiên chúng ta cũng đã thất bại trước sự cám dỗ của nó, song Chúa Jêsus đã thắng được nó, giày đạp nó như người ta giày đạp đầu con rắn. Tin cậy Chúa Jêsus, chúng ta cũng sẽ chiến thắng ma quỉ như thế (Giăng 2:13-14).

I. ĐẶC ĐIỂM KẺ THÙ CỦA CHÚNG TA (6:10-12).

“Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Biết kẻ thù và biết đặc điểm của nó, biết mình yếu đuối, song biết Chúa của mình là Đấng Toàn năng, chúng ta nhờ cậy Ngài để được chiến thắng.

Đặc điểm của kẻ thù là gì?

1. Mưu mô xảo quyệt nhất (c.11).

Người ta chỉ sống mấy mươi năm mà còn biết bao mưu kế sâu độc, phương chi ma quỉ đã sống từ trước A-đam cho tới bây giờ thì mưu kế sâu độc của nó còn gấp trăm ngàn lần hơn. Chúng ta không đủ khôn ngoan và kinh nghiệm để đương đầu với ma quỉ, song Chúa chúng ta là Đấng Toàn tri, biết hết mọi mưu đồ thâm độc nhất, xảo quyệt nhất của nó (IICôr 2:11).

2. Vua của thế gian mờ tối (c.12b).

Kẻ thù của chúng ta không phải là con người có thịt và máu để thấy được, song nó vô hình, nó hiện ra thiên hình vạn trạng như thiên sứ giả, sứ đồ giả, tiên tri giả, giáo sư giả, tín đồ giả, “làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả” (II Tê 2:9). Không những vậy thôi, nó còn toàn quyền trên các người không theo Chúa mà theo nó (IGiăng 5:19), nên không một ai, một cá nhân nào, một lực lượng nào dám đương đầu với ma quỉ. Nó chỉ sợ một mình Chúa Jêsus mà thôi (Ma-thi-ơ 8:29; Mác 1:24; 5:7; Lu-ca 4:34; 8:28; Gia-cơ 2:29).

3. Các thần dữ ở các miền trên trời (c. 12b).

Đặc điểm thứ ba của ma quỉ là nó có một số bộ hạ đang hoạt động dưới đất cũng như trên không. Hoạt động của ma quỉ là chống đối, kiện cáo các tín đồ, là ngăn trở, phá hại công việc của họ. Đôi khi, nó còn làm hơn các điều ấy nữa (Khải 2:10). Tuy nhiên, nó gầm thét như sư tử cũng không đáng sợ bằng nó dịu dàng như con rắn xưa để cám dỗ chúng ta phạm tội.

Vậy chúng ta đừng để ma quỉ có cơ hội (Ê-phê-sô 4:27), đừng để ma quỉ vào lòng mình (Giăng 13:27), mà phải tỉnh thức (I Phi-e-rơ 5:8), phải chống trả nó, nhất là phải hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời (Gia-cơ 4:7).

II. CHIẾN TRẬN CỦA KẺ THÙ (6:16).

Chiến thuật của ma quỉ là hết sức giấu mình và hành động qua người khác. Trong thời của Phao-lô, tên lửa là một trong những vũ khí nguy hiểm nhất. Do đó ông đã mượn nó mà nói về khí giới của ma quỉ. Có nhiều thứ tên lửa, song ba thứ mà ma quỉ thường dùng nhất là:

1. “Tên lửa nghi ngờ”.

Xưa kia ma quỉ đã dùng con rắn bắn tên lửa này vào Ê-va. Rắn hỏi: “Đức Chúa Trời có thật cấm các ngươi không được phép ăn các trái cây trong vườn sao?” Phải chăng nó muốn nói rằng: Nếu Chúa có thật cấm thì Ngài không thương yêu, còn nếu Ngài thương yêu thì Ngài không cấm đâu. Ê-va bắt đầu nghi ngờ tình thương của Chúa, đồng thời cũng nghi ngờ mạng lịnh của Ngài. Từ đó nó tiến xa hơn cho đến chừng Ê-va hái trái cấm mà ăn.

Ma quỉ cũng bắn tên lửa vào Chúa Jêsus. Hai lần nó dùng chữ “nếu”. Nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời, hãy khiến đá trở thành bánh đi. Nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời, hãy gieo mình xuống đi

(Ma-thi-ơ 4:3-6). Song Chúa Jêsus đã hoàn toàn đắc thắng ma quỉ.

Ngày nay, ma quỉ cũng bắn vào lòng chúng ta sự nghi ngờ lời của Đức Chúa Trời là Kinh Thánh. Nó thừa biết rằng khi một người nghi ngờ lời của Chúa là mất vị trí, mất đồn lũy, mất căn cứ. Hơn nữa, nghi ngờ lời của Chúa là công khai sỉ nhục Ngài.

2. “Tên lửa ngã lòng”.

Xưa kia ma quỉ đã sử dụng tên lửa này bắn vào dân Y-sơ-ra-ên khi họ đang lang thang trong đồng vắng. Giữa đường dân sự ngã lòng. Vì vậy dân sự nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và Môi-se. Vì thế, người Y-sơ-ra-ên bị hình phạt chết rất nhiều (Dân số ký 21:4-5).

Ma quỉ cũng bắn tên lửa vào Phao-lô khi ông đi qua Rô-ma. Con đường rất xa, lại bị bão và chìm tàu. Lênh đênh trên mặt biển nhiều ngày, ai nấy đều ngã lòng nên không thiết gì ăn uống nữa, song Phao-lô được Chúa mách bảo, ông không ngã lòng chút nào và khuyên mọi người cũng đừng ngã lòng nữa. Nhờ đó cả tàu cũng như Phao-lô đều đến bờ an toàn.

Phải chăng có người đã bị thứ tên lửa này của ma quỉ? Vì nó biết rõ rằng hễ ngã lòng thì con người trở thành mềm như bột, không còn sức để chiến đấu nữa.

3. “Tên lửa sợ hãi”.

Ê-li là chiến sĩ xuất sắc chống tà giáo. Một mình ông đã chiến thắng 400 tiên tri của Ba-anh và Át-tạt-tê. Lời cầu nguyện của ông có quyền năng chinh phục cả thiên nhiên. Song ma quỉ đã dùng hoàng hậu Giê-sa-bên, bà hăm sẽ giết ông cho kỳ được. “Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy để cứu mạng mình” (ICác 17:2-3).

Khi Nê-hê-mi và dân Y-sơ-ra-ên từ Mê-đô Ba-tư trở về xây lại đền thờ Giê-ru-sa-lem, thì bị một số người Ảrập ngăn trở. Kẻ thù khinh dể, chế nhạo và hăm dọa sẽ đem binh hãm đánh người Y-sơ-ra-ên. Một số người Y-sơ-ra-ên ngã lòng, sợ hãi, muốn bỏ dỡ công việc. Nê-hê-mi khuyên: “Chớ sợ chúng nó, Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta” (Nê-hê-mi 4:14,20). Bọn thù nghịch lại vu khống ông nặng nề, dùng đủ thứ áp lực để làm cho ông sợ hãi, song vô hiệu. Cuối cùng, bọn thù nghịch mua chuộc một số ngưòi Y-sơ-ra-ên nhẹ dạ, tham tiền, dùng những người đó hăm dọa và xúi giục Nê-hê-mi chạy trốn để sỉ nhục ông. Nê-hê-mi đáp: “Một người như tôi đây sẽ chạy trốn ư?” (6:11). Ông kêu la: “Hỡi Chúa, xin hãy làm cho tay tôi mạnh mẽ”. Kết quả, ông thành công, ngược lại bọn thù nghịch và các dân tộc chung quanh sợ hãi và ngã lòng, vì biết rằng dân Y-sơ-ra-ên thành công là bởi Đức Chúa Trời (6:16).

Đối với ba thứ tên lửa độc hại đó, ngay trong Ê-phê-sô 6:10-18, có ba lần Phao-lô bảo phải đứng vững. Phi-e-rơ cũng bảo: “Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự chúng nó” (I Phi-e-rơ 5:9). Chúa Jêsus nhiều lần khuyên chúng ta: “Chớ bối rối và đừng sợ hãi” (Giăng 14:27; 16:33).

III. BINH GIÁP CỦA CHÚNG TA (6:14-18).

Phao-lô viết thư này khi ông đang ngồi tù tại La-mã. Ngày đêm ông bị xiềng chung với một người lính, nhìn binh giáp của người lính ấy, ông đã mượn nó mà nói về binh giáp của tín đồ do Chúa ban cho.

1. Nịt lưng bằng lẽ thật.

Nịt lưng làm cho mình gọn gàng, đi lại tự do. Cũng vậy, sống động trong lẽ thật lúc nào cũng được tự do.

2. Mặc áo giáp bằng sự công bình.

Tấm giáp che ngực rất quan trọng. Đó là sự công bình của Chúa, nó che chở chúng ta khỏi mọi kiện cáo, và chống đối kẻ thù của chúng ta.

3. Mang giày bình an của Tin lành.

Chiến sĩ phải mang giày để được bình an khi đi đường chông gai. Bất cứ đi đâu mà lòng có Tin lành là có sự bình an.

4. Mang thuẫn đức tin.

Chiến sĩ phải có thuẫn để đỡ gươm chém, giáo đâm, nhất là tên lửa bắn vào mình. Tên lửa nào cũng bị thuẫn đức tin dẫp tắt (IGiăng 5:4).

5. Đội mão trụ cứu chuộc.

Mão trụ là nón sắt rất cần thiết cho chiến sĩ để bảo vệ đầu mình, mất sự cứu chuộc như mất đầu.

6. Cầm gươm của Thánh Linh là lời Đức Chúa Trời.

Tất cả binh giáp kể trên đều để tự vệ, chỉ có gươm là vừa để tự vệ vừa để tấn công. Chiến sĩ thuộc linh phải có gươm này.

7. Cầu nguyện.

Đây là binh giáp cuối cùng mà cũng là thứ nhất. Nếu thiếu cầu nguyện, mọi thứ binh giáp trên đều vô hiệu. Phải cầu nguyện luôn, cầu nguyện khẩn thiết và cầu nguyện cho mọi thánh đồ.

Chúa đã cung cho chúng ta đầy đủ binh giáp để chiến thắng kẻ thù là ma quỉ.

CÂU HỎI

1. Xin cho biết những đặc điểm của ma quỉ.

2. Hãy kể ra những tên lửa của ma quỉ?

3. Những thứ binh giáp của chúng ta là gì?

4. Nịt gươm bằng lẽ thật là gì?

5. Thế nào là mặc áo giáp bằng sự công bình?

6. Cầm gươm của Thánh Linh có nghĩa gì?

7. Ma quỉ muốn làm hại gì cho chúng ta?

8. Chúng ta làm sao để chiến thắng ma quỉ?

9. Chúng ta phải chiến thắng cho đến chừng nào?

BÀI 34. CHÚA JÊSUS DẠY TÔI YÊU THƯƠNG NGƯỜI KHÁC.

KINH THÁNH: Rô-ma 13:8-15:7.

CÂU GỐC: “Này sự yêu thương ở tại đây: Ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta. Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau” (IGiăng 4:10-11).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng, điều chính yếu của một con cái Chúa là phải yêu thương và chăm sóc người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Các điều răn trọng đại

(Ma-thi-ơ 22:35-40; Giăng 13:34,35).

TH:

Tình yêu thương làm trọn luật pháp

(Rô-ma 13:8-14).

TB:

Tình yêu thương không đoán xét

(Rô-ma 14:1-17).

TT:

Tình yêu thương không làm mất lòng

(Rô-ma 14:18-15:7).

TN:

Tình yêu thương hành động

(Rô-ma 15:8-16:4).

TS:

Tính cách cao cả của tình yêu thương

(ICôr 13).

TB:

Yêu thương nhau là điều chính yếu

(IGiăng 3:10-24).

     

Nhu cầu của mỗi chúng ta không những là được yêu thương mà còn phải yêu thương người khác. Chúng ta đã được Chúa yêu thương, chúng ta phải chia sẻ tình thương đó cho người khác. Làm cho người khác được phước thì chính mình cũng được phước.

Tính tự nhiên của con người là ích kỷ, chúng ta muốn mọi người yêu thương mình, mà lại không yêu thương người khác. Nhưng khi Thánh Linh lấy sự thương yêu của Đức Chúa Trời tuôn đổ vào lòng chúng ta, thì ai nấy sẵn sàng yêu thương kẻ khác, dầu người đó đã làm hại mình.

I. YÊU THƯƠNG NGƯỜI KHÁC LÀ NỢ PHẢI TRẢ (Rô-ma 13:8-14).

Hãy xem bổn phận yêu thương người khác như bổn phận phải trả nợ đã mắc, không trả không được vì đó là luật pháp của Chúa. Để trả nợ đó, chúng ta phải hành động bằng hai phương diện.

1. Không làm hại người khác.

Chớ tà dâm, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tham lam, chớ làm chứng dối. Hành động tiêu cực như vậy chưa đủ, mà phải tích cực.

2. Làm lợi cho người.

Lo nghĩ đến nhu cầu thuộc thể cũng như nhu cầu thuộc linh của người khác. Hội Cứu Thế quân đã nêu khẩu hiệu bằng ba chữ: XÀ BÔNG, CHÁO, SỰ CỨU RỖI. Có nghĩa là khi gặp người khác, nhất là những người nghèo thì họ cho xà bông để tắm rửa sạch sẽ, đưa họ vào phòng ăn để được ăn no nê, dẫn họ đến nhà thờ để nghe sự cứu rỗi. Thiết tưởng chúng ta cũng nên có ý thức đó và làm y như vậy. Ngày tái lâm của Chúa đã gần như đêm đã khuya, ngày sắp đến, chúng ta không nên chăm về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó như quá độ, say sưa, buông tuồng, bậy bạ, rầy rà, ghen ghét. Hãy lột bỏ mọi sự đó, mặc lấy Chúa Jêsus và bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Đừng trễ nãi trả nợ yêu thương cho người khác qua nếp sống đó.

II. CÁCH BÀY TỎ TÌNH THƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC.

Chúng ta cùng bàn rộng hơn về hành động bộc lộ tình thương đối với người khác.

1. Không đoán xét người khác (Rô-ma 14:1-12).

Trình độ tri thức thuộc linh và đức tin của mỗi người khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, địa vị, thì giờ. Người này có phương tiện nghiên cứu, học hỏi hơn người khác, người này tin Chúa trước người nọ, cá tính người này khác với người kia. Vì vậy, có kẻ mạnh người yếu. Người này tin rằng mọi vật đều ăn được cả, kẻ kia tin rằng chỉ nên ăn rau mà thôi, vì thịt bán ngoài chợ đã được dâng làm của cúng thần tượng. Người này tin rằng có ngày quan trọng như Chúa nhật, có ngày thường; kẻ kia tin rằng ngày nào cũng quan trọng như nhau, vì là ngày của Chúa.

Những ý kiến khác nhau đó không liên quan đến sự cứu rỗi, không thiện không ác, vô thưởng vô phạt, nên chúng ta không cần phải cãi lẫy, hoặc xét đoán hay khinh dể nhau. Ai nấy hãy cảm tạ Chúa mà ăn cũng như không ăn, xem ngày này hơn ngày khác hoặc bằng nhau. Chúng ta hành động vì Chúa để tôn vinh Chúa, để đẹp lòng Chúa chớ không phải để tỏ ra mình hơn người khác.

Trong Hội Thánh Việt nam trước đây, có người tưởng rằng hễ ai mặc áo dài đen thì phải đội khăn đóng, có người tưởng không cần. Thế là ai muốn ai không tùy ý. Gần đây, có người tưởng không nên ăn huyết và thịt thú vật chết ngột (Công vụ 15:20- 29), có người tưởng có thể ăn được. Đó cũng là ý kiến khác nhau mà không thiện không ác, vô thưởng vô phạt… Nếu chúng ta có tri thức cao, có đức tin lớn, cũng nên tiếp lấy anh em mình là kẻ kém đức tin, vì lòng yêu thương họ.

2. Không gây vấp phạm cho người khác (Rô-ma 14:13-23).

Đời xưa, người Do thái và người theo Do thái giáo rất cẩn thận về các thức ăn thanh sạch và ô uế theo sự dạy dỗ của luật pháp Môi-se. Sau khi tin Chúa, lương tâm họ còn bị điều đó ám ảnh. Chính Phi-e-rơ cũng ở trong số ấy cho đến chừng Chúa hiện ra với ông để giải thích (Công vụ 10:9-16). Một số tín đồ Việt nam trước đã theo Phật giáo nên không bao giờ ăn thịt chó, vì sợ tội, nên sau khi tin Chúa, lương tâm của họ cũng không cho phép họ ăn, vì sợ ô uế, cũng sợ bị gièm chê.

Đành rằng trong Chúa chúng ta được tự do, không xem con vật nào là ô uế (Mác 7:14-23), tuy nhiên để khỏi gây vấp phạm cho người yếu đuối vì ảnh hưởng của Do thái giáo hay Phật giáo, chúng ta nên tự chế, không ăn con vật mà họ cho là ô uế. Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô có một số tín đồ tự do quá trớn cho rằng thần tượng không ra gì, nó chẳng làm cho của cúng ra ô uế hoặc được thanh sạch. Vì vậy không những họ ăn của cúng được đem bán ngoài chợ, mà còn thản nhiên ngồi ngay trong miếu tà thần để ăn của cúng. Điều đó không những chỉ làm cho kẻ khác vấp ngã mà chính tín đồ ấy cũng phạm tội với Chúa. Phao-lô đã dùng hai đoạn Kinh Thánh khuyến cáo họ: ICôr 8:1-13; 10:1-33. Ông nhấn mạnh đến tội ăn của cúng: “Đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ chứ không phải cúng tế Đức Chúa Trời, vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỉ. Anh em chẳng có thể uống chén của Chúa và cũng uống chén của các quỉ, hay là chúng ta muốn trêu lòng của Chúa ghen chăng? Chúng ta há mạnh hơn Ngài sao?” (ICôr 10:20-22).

Nếu có người bảo chúng ta chối bỏ Chúa, đừng hầu việc Ngài nữa thì chúng ta nhất định không chấp nhận. Song nếu vì một số anh em yếu đuối mà phải kiêng cử một vài thức ăn để khỏi gây vấp phạm thì chúng ta chấp nhận ngay. “Vì nước Đức Chúa Trời chẳng tại sự ăn uống, nhưng tại sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh”.

3. Xem lợi ích của kẻ khác là quan trọng (Rô-ma 15:1-7).

Kẻ mạnh người yếu phải giúp đỡ nhau, không ai đòi hỏi người khác phải đẹp lòng mình, nhưng ai nấy có bổn phận phải làm đẹp lòng người khác, miễn là điều đó đem đến cho họ sự lợi ích. Chính Chúa đã nêu gương tốt đó cho chúng ta, vì nếu Ngài chỉ làm đẹp lòng mình thì tất cả chúng ta đều bị hư mất. Sự dạy dỗ này không phải mới bèn là đã có trong Kinh Thánh Cựu ước. Con cái Chúa nơi nào, lúc nào cũng phải sống một cách tự chế vì yêu thương người khác. Chúng ta kiên nhẫn, hi vọng Chúa ban phước cho chúng ta là những kẻ yếu đuối sẽ được ngày càng mạnh mẽ để rồi tất cả chúng ta đồng một lòng một miệng mà ca ngợi Ngài.

Vậy hãy sẵn sàng tiếp lấy nhau, như Chúa đã tiếp lấy chúng ta. Đối với chúng ta, Chúa tỏ ra kiên nhẫn là dường nào. Một Cơ Đốc nhân là một người tự do hơn hết, không tùy thuộc vào ai cả. Song Cơ Đốc nhân là một đầy tớ vâng phục hơn hết.

Phao-lô đã nói: “Đối với ai, tôi vẫn cũng là người được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn” (ICôr 9:19). Nói thế không có nghĩa là buông trôi, bỏ mặc cho kẻ yếu đuối cứ yếu đuối mãi, muốn làm gì thì làm. -Không! Nếu vậy thì Hội Thánh không còn kỷ luật, không còn trật tự gì cả. Trái lại, bởi sự yêu thương, chúng ta kiên nhẫn khuyên lơn, hướng dẫn anh em mình để ai nấy ngày càng lớn lên và mạnh mẽ trong đức tin và trong tri thức thuộc linh.

Cầu Chúa cho chúng ta lòng yêu thương người khác và biết cách nào cư xử với họ trong mỗi trường hợp để không gây vấp phạm cho nhau và gây dựng nhau. Không làm hại nhau mà đem lợi ích cho nhau…

CÂU HỎI

1. Nhờ đâu chúng ta có thể yêu thương người khác?

2. Chúng ta xem sự yêu thương người khác giống như gì?

3. Làm sao để trả nợ yêu thương cho người khác?

4. Tại sao không nên đoán xét hoặc khinh dể anh em mình trong vấn đề ăn uống?

5. Có mấy cách để bày tỏ sự yêu thương cho người khác?

6. Đành rằng chúng ta có thể tự do ăn uống song trong trường hợp nào chúng ta phải tự chế?

7. Để khỏi gây vấp phạm cho anh em, chúng ta phải sống theo nguyên tắc nào? (Rô-ma 15:2).

BÀI 35. CHÚA JÊSUS GIAO TRÁCH NHIỆM CHO TÔI.

KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 25:14-30.

CÂU GỐC: “Như vậy mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời” (Rô-ma 14:12).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ Đức Chúa Trời giao cho mỗi người chúng ta những tài năng, của cải hầu sử dụng trong Nước Ngài; và chúng ta phải tính sổ với Ngài về cách sử dụng chúng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Trách nhiệm của một quản gia

(Lu-ca 16:1-13).

TH:

Lòng trung tín của người quản gia

(Lu-ca 12:42-48).

TB:

Thí dụ về các ta lâng

(Matthiơ 25:14-30).

TT:

Lòng trung tín được ban thưởng

(Matthiơ 25:31-46).

TN:

Sức lực để lãnh trách nhiệm

(Giăng 15:7-17).

TS:

Thất bại trong chức vụ quản gia

(Matthiơ 19:16-26).

TB:

Trách nhiệm của Cơ Đốc nhân

(Matthiơ 5:13-16).

Trên đời này có người giàu, có người nghèo, có người khôn ngoan, có người dại dột, có người mạnh khỏe, có người yếu đau, có người năng lực dồi dào, có người năng lực kém cỏi, có người được nhiều ân tứ, có người được ít, song mỗi người đều có trách nhiệm. Đức Chúa Trời không đòi chúng ta kết quả như nhau, mà đòi chúng ta trung tín bằng nhau. Bài học hôm nay dạy chúng ta điều đó.

I. PHẢI HOÀN TẤT TRÁCH NHIỆM ĐƯỢC GIAO PHÓ (c. 14-18).

Khi Chúa sắp về trời như một người sắp đi xa, Ngài giao của cải cho mọi tín đồ. Của cải Ngài giao đó là tiền bạc, khả năng, ân tứ, thì giờ, phương tiện, cơ hội… Mỗi người là quản gia của Chúa, quản lý một số tài sản Ngài giao cho để làm lợi ra. Điều đó giống như người chủ giao cho các đầy tớ, người này năm ta lâng, ngươi kia hai, kẻ khác một, không ai không có, mọi người đều có trách nhiệm, hoặc lớn hoặc nhỏ, tùy khả năng, ân tứ, phương tiện, thì giờ hoặc nhiều hoặc ít.

Ba người đầy tớ được chia làm hai hạng: Hạng sử dụng ta lâng của chủ làm lợi ra, và hạng đem ta lâng của chủ chôn giấu dưới đất. Chúa muốn nói về hạng thi hành trách nhiệm Chúa giao và hạng không thi hành.

Chúa cho chúng ta có tiền của, là Ngài muốn chúng ta dùng tiền của đó đầu tư vào công việc truyền giảng Tin lành để cứu rỗi tội nhân, mở mang Nước Ngài, chứ không phải để chúng ta sử dụng cách riêng tư cho mình hoặc đem chôn giấu. Chúa cho chúng ta có ân tứ, khả năng, thì giờ, cơ hội là Ngài muốn chúng ta tận dụng vào công cuộc xây dựng Nhà Ngài để được kết quả một thành hai, hai thành bốn và năm thành mười. Phải thừa nhận chúng ta là những tội nhân đã được Chúa xả thân mua chuộc, nên sự sống chúng ta cũng như mọi sự khác đều thuộc về Chúa, hoặc do Chúa ban cho. “Người há có điều chi mà đã nhận lãnh sao? Nếu người đã nhận lãnh thì sao còn khoe mình như chẳng từng nhận lãnh?” (ICôr 4:7).

Các học viên đã sử dụng mọi sự Chúa giao cho một cách phải lẽ và đúng mức không? Phải chăng có người nói rằng: “Nếu tôi có một triệu bạc, tôi sẽ làm việc nọ, việc kia cho Chúa. Nếu tôi có khả năng, thì giờ như những người khác, tôi sẽ phục vụ Chúa đắc lực hơn”. Không cần nghĩ như vậy. Điều quan trọng là không phải chúng ta nhận nơi Chúa bao nhiêu mà chúng ta sử dụng nó cách nào. Hằng ngày, chúng ta phải sử dụng mọi sự Chúa giao cho hoặc ít hoặc nhiều một cách trung tín. Ai trung tín trong việc rất nhỏ cũng trung tín trong việc lớn, ai bất nghĩa trong việc nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn (Lu-ca 16:10).

II. TRÁCH NHIỆM PHẢi KHAI TRÌNH (c. 19-27).

Cách lâu ngày, chủ của những người ấy trở về khiến họ tính sổ. Đó là ngày trọng đại hơn hết cho một quản gia, nhất là quản gia của Đức Chúa Trời. Tất cả chúng ta hãy hướng tư tưởng mình về ngày đó, vì nó không còn xa, bởi Chúa chúng ta sắp trở lại. Chúng ta không tính sổ với người ta mà tính sổ với Chúa.

Người đã nhận năm ta lâng đem thêm năm ta lâng nữa. Người đã nhận hai ta lâng đem thêm hai ta lâng nữa. Cả hai đều được chủ khen như nhau: “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm, ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi”. Nếu người đã nhận năm ta lâng mà đem thêm bốn ta lâng là đã không trung tín. Đã nhận hai ta-lâng mà đem thêm hai ta lâang thì được khen thưởng, vì hai thành bốn là kết quả 100%, còn năm ta lâng mà chỉ thêm bốn thì chỉ được 80%. Song hai người đã trung tín như nhau nên kết quả bằng nhau, mặc dù khác nhau về lượng mà không khác nhau về phẩm. Nếu chúng ta tự hiến đời mình để phục vụ Chúa thì tiền bạc của cải, khả năng, ân tứ, cơ hội không thành vấn đề.

Ước gì người đã nhận một ta lâng, đem thêm một ta lâng nữa thì vẫn được chủ khen như hai người kia vì cũng có kết quả 100%. Người này không làm mất ta lâng, song đã đem chôn giấu rồi đổ lỗi cho chủ là nghiêm nhặt, nên anh sợ mà làm như vậy. Chủ lên án nặng nề: “Hỡi đầy tớ dữ, gian ác và biếng nhác”. Chủ liền ra lệnh lấy ta lâng của người này mà cho người đã có 10 ta lâng. Càng hầu việc Chúa càng được nhiều hơn, giữ lại, đem chôn thì mất hết một cách đau đớn và hổ thẹn. Vậy đừng xao lãng phục vụ Chúa, đừng bỏ qua cơ hội, thì giờ, phương tiện sống cho Chúa. Đừng làm chết các khả năng, ân tứ Chúa giao. Chớ lười biếng, mà phải hầu việc Chúa cách siêng năng và sốt sắng (Rô-ma 12:11).

III. KẾT QUẢ CỦA TINH THẦN TRÁCH NHIỆM (c. 21-30).

Chúng ta phục vụ Chúa vì yêu mến Ngài, muốn làm mọi điều để đẹp lòng Ngài. Tuy nhiên, nếu trung tín ai nấy sẽ được thưởng, nếu bất trung sẽ bị phạt. Đó là luật công bằng.

1. Được thưởng.

a. Được khen là đầy tớ ngay lành và trung tín.

Người trung tín với Chúa được khen bao nhiêu đó là quá đủ rồi. Đúng ra không phải chúng ta mong được khen, nhưng mong được Chúa thỏa lòng về chúng ta. Anh em không ước ao thấy Chúa mỉm cười khi nhìn chúng ta sao? Há không phải đó là phần thưởng lớn hay sao?

b. Được lập coi sóc nhiều.

Điều này có nghĩa là giao thêm công tác, mở thêm phạm vi hoạt động. Phần thưởng của người đã trung tín phục vụ Chúa là sẽ được phục vụ nhiều hơn, chứ không phải là nghỉ ngơi mà kể là đủ rồi. Không có gì bằng được phục vụ Chúa và cứ được phục vụ ngày càng nhiều hơn.

c. Được hưởng sự vui mừng của Chúa.

Đó là sự vui mừng, thánh khiết, trường cửu, trọn vẹn, không ai có thể tìm thấy sự vui mừng như vậy trong đời này. Không ai có thể cướp khỏi chúng ta sự vui mừng đó. Ngay bây giờ chúng ta nếm được hương vị của thiên đàng khi nghĩ đến sự vui mừng Chúa dành cho chúng ta.

2. Bị phạt.

a. Bị lên án là gian ác và biếng nhác.

Không làm trọn trách nhiệm không những không được thưởng mà còn bị phạt. Biếng nhác phục vụ Chúa cũng có tội như một hành động gian ác. Không dám ngước mắt lên nhìn Chúa, chỉ nghe Ngài quở trách như vậy đủ khiến cho một đầy tớ đau đớn là dường nào.

b. Bị cất đi phần trách nhiệm phục vụ Chúa.

Người này chỉ được giao một ta lâng rồi bị lấy lại. Người mất tất cả. Cơ hội đã qua, thì giờ đã hết, ân tứ và khả năng không còn nữa, thật là một sự đau đớn khôn tả.

c. Bị kể là đầy tớ vô ích và bị quăng ra ngoài.

Không còn gì đau đớn hơn cho một người như vậy. Một con người vô ích, cũng như một vật vô ích, không dùng được một chỗ trong nhà, trước mắt chủ chỉ đáng quăng ra ngoài mà thôi.

Trên đây là thí dụ được Chúa dùng để giải bày chân lý vĩnh cửu về người theo Ngài. Ngài đã kêu gọi các môn đồ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người” (Mác 4:19). Nếu ta phải tính sổ với Chúa hôm nay thì Ngài khen chúng ta hay trách? Chúng ta được thưởng hay bị phạt? Xin đừng làm đầy tớ gian ác và biếng nhác. Đừng làm đầy tớ vô ích. Hãy làm đầy tớ ngay lành và trung tín trong chức vụ quản gia của Chúa (ICôr 4:1-2; I Phi-e-rơ 4:10). Nếu cần phải ăn năn, nên ăn năn ngay bây giờ đang khi còn có dịp tiện, VÌ ĐẦY TỚ GIAN ÁC, BIẾNG NHÁC, VÔ ÍCH LÀ MỘT TÍN ĐỒ GIẢ HÌNH.

CÂU HỎI

1. Chức vụ của chúng ta trước mặt Chúa là gì?

2. Ngài giao phó cho chúng ta những gì?

3. Chúng ta sử dụng tiền bạc, khả năng, ân tứ của Chúa giao cách nào?

4. Chúa căn cứ vào đâu để ban thưởng và hình phạt quản gia của Ngài?

5. Quản gia nào được thưởng và thưởng gì?

6. Quản gia nào bị phạt và phạt gì?

7. Cả cuộc đời chúng ta phải tính sổ với ai và vào lúc nào?

BÀI 36. CHÚA JÊSUS DẠY TÔI BIẾT ƠN

KINH THÁNH: Thi thiên 116:1-39.

CÂU GỐC: “Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa, vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy” (ITê 5:18).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ tầm quan trọng của việc biết ơn Chúa và bày tỏ lòng biết ơn ấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Biết ơn Đức Chúa Trời là Đấng tạo nên chúng ta

(Thi thiên 100).

TH:

Biết ơn Đức Chúa Trời về các phước hạnh Ngài ban

(Thi thiên 105).

TB:

Cầu nguyện cảm tạ

(Phi-líp 4).

TT:

Tỏ lòng biết ơn bằng sự hầu việc

(Rô-ma 12:1-6).

TN:

Biết ơn vì được giải cứu

(Thi thiên 107).

TS:

Một bài ca cảm tạ

(Thi thiên 95).

TB:

Của lễ cảm tạ

(Thi thiên 116).

Vô ơn là một trọng tội, vì đó là bước đầu xa cách Đức Chúa Trời và đắm chìm trong tội ác (Rô-ma 1:21). Bội bạc là một trong những đặc điểm của nhân loại trong ngày sau rốt (II Ti-mô-thê 3:2). Kẻ bội bạc và kẻ gian ác là cùng một hạng (Lu-ca 6:35).

Khi Chúa Jêsus chữa lành cho 10 người phung thì chỉ có một người trở lại cảm tạ Chúa và ca tụng Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus ngạc nhiên hỏi: “Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu?” (Lu-ca 17:7). Mối bận tâm của Chúa không phải là Ngài không được biết ơn, nhưng lo cho kẻ vô ơn mắc tội, lòng cay đắng nặng nề. Biết ơn sẽ làm cho lòng vui vẻ, nhẹ nhàng. Người có giá trị là người biết ơn.

Được dựng nên làm một người, được Chúa chữa lành bệnh tật, còn phải biết ơn, phương chi được tha thứ tội lỗi của cả một đời, được mua chuộc bằng một giá rất đắt! Người thọ ơn Chúa nhiều nhất trong thế gian này là người tín đồ! Chúng ta hãy cùng nhau học về lòng biết ơn Chúa qua bài cầu nguyện của Đa-vít.

I. LÝ DO KHIẾN TÔI BIẾT ƠN (c. 1-8).

“Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va”. Từ chỗ biết ơn Chúa, Đa-vít đã đi đến chỗ yêu mến Ngài. Đây phải là lời tuyên bố công khai, dứt khoát, dõng dạc của tất cả những người biết ơn Chúa. Một lời tuyên bố như vậy đã khiến ma quỉ lùi xa, sự cám dỗ thành ra vô hiệu. Tại sao ta phải biết ơn Chúa đến nỗi hết lòng yêu mến Ngài?

1. Vì Chúa nghe lời cầu nguyện tôi (c.1-5).

“Dây sự chết vương vấn tôi, sự đau đớn của âm phủ áp hãm tôi, tôi gặp sự gian truân và sầu khổ”. Trên bước đường theo Chúa và hầu việc Ngài, Đa-vít đã gặp nhiều gian lao, nguy hiểm như sự chết lúc nào cũng bao vây ông. Đôi phen ông không còn hi vọng giữ được sự sống. Bấy giờ, ông kêu la, nài xin Chúa giải cứu thì Ngài có nghiêng tai qua ông. Nghiêng tai qua là hành động của một bác sĩ muốn nghe tiếng đáp của một bệnh nhân đang yếu mệt lắm, muốn nói mà không nói ra lời, nên muốn nghe bác sĩ phải cúi xuống, nghiêng tai kề sát miệng của bệnh nhân. Đó là cách Chúa đối với Đa-vít khi ông không còn đủ sức kêu la cùng Ngài.

Ông nói: “Đức Giê-hô-va hay làm ơn và là công bình, Đức Chúa Trời chúng ta có lòng thương xót”. Biết Chúa của mình như vậy, nên ông đã tận lực mà kêu cầu Ngài trong cơn nguy biến hơn hết.

Nếu thật lòng theo Chúa và hầu việc Ngài, chúng ta đều đi đến con đường của Đa-vít, nghĩa là kinh nghiệm bao nhiêu nguy nan, lắm lần đương đầu với sự chết. Nhưng trong mỗi trạng huống đau thương hơn hết, Chúa vẫn ở gần và sẵn sàng nghiêng tai qua nghe lời cầu nguyện yếu đuối của chúng ta khi chúng ta gần như tuyệt vọng. Lúc đó, nếu được một người bạn lắng nghe lời mình, kể là quí lắm rồi, phương chi Đức Chúa Trời lắng nghe. Tuy nhiên chúng ta không phải đợi đến lúc như vậy mới cầu nguyện, mà hãy nói như Đa-vít: “Tôi sẽ cầu khẩn danh Ngài trọn đời tôi”.

2. Vì Chúa đã giải cứu tôi (c.6-8).

“Đức Giê-hô-va bảo hộ người thật thà, tôi bị khốn khó, Ngài bèn cứu tôi”. Đây là một bức tranh về con chiên và người chăn. Đa-vít như con chiên yếu đuối đơn sơ, được Chúa bảo hộ khỏi bị chó sói ăn tươi nuốt sống. Mặc dù chó sói mạnh hơn chiên và lúc nào cũng sẵn sàng tiêu diệt chiên, nhưng trên đất này, lúc nào chiên cũng nhiều hơn chó sói, vì chiên luôn được bảo hộ và giải cứu, còn chó sói thì không. Đừng tưởng những người yêu mến Chúa không bị nguy hiểm, trái lại họ thường bị như vậy, song Chúa giải cứu họ khỏi hết.

Vậy nên, Đa-vít tự nhủ: “Hỡi linh hồn ta, hãy trở về nơi an nghỉ ngươi, vì Đức Giê-hô-va đã hậu đãi ngươi”. Nơi an nghỉ cho một con chiên là bên cạnh người chăn, trong ràn chiên. Nơi an nghỉ cho một linh hồn là bên cạnh Chúa, trên ngực Ngài (Giăng 13:25; 21:20). Thật, Chúa chúng ta khoan nhơn biết bao! Không có nơi nào tốt cho người con hoang đàng hơn là trở về nhà cha, ngã vào lòng cha.

Đa-vít được Chúa giải cứu khỏi nhiều nguy nan như linh hồn khỏi chết, mắt khỏi giọt lệ và chân khỏi vấp ngã.

Sau khi được Ngài tha thứ tội lỗi, thì linh hồn ông không còn sợ một sự định tội nào cả, vì đã từ chết qua sống. Kế đó, Ngài lau ráo nước mắt của ông, ban cho ông sự vui mừng thay vì than khóc. Rồi Ngài giữ chân ông khỏi vấp ngã. Đa-vít cũng mô tả kinh nghiệm đó trong Thi thiên 40:1-3.

Chúa đã nghe lời cầu nguyện của chúng ta và đã giải cứu chúng ta như Ngài đã làm cho Đa-vít, nếu không thì không còn ai có thể theo Chúa để hầu việc Ngài như ngày nay? Vậy chúng ta hãy hết lòng biết ơn và yêu mến Ngài.

II. TÔI BÀY TỎ LÒNG BIẾT ƠN CHÚA (c. 9-19).

Để bày tỏ lòng biết ơn Chúa, Đa-vít quyết định:

1. “Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va”.

Được Chúa giải cứu chân khỏi vấp ngã, Đa-vít đi trước mặt Ngài. Ở giữa mọi người đang sống trên đất, ông quyết định đi với Chúa như Hênóc và Nô-ê (Sáng 5:24; 6:9), đi trước mặt Chúa như Áp-ra-ham (Sáng 17:1), vừa đi vừa nhảy vừa ngợi ca Chúa trong đền thờ như người què được chữa lành (Công 3:7-8), đi trong sự sáng cũng như chính Chúa ở trong sự sáng, hầu cứ được giao thông cùng Ngài (IGiăng 1:7). Đó là đi trong sự thánh khiết, bình an và vui vẻ, vì được Chúa bảo vệ và chăm sóc chu toàn. Chúng ta hãy đi từng bước như Đa-vít và như người biết ơn Chúa đã đi trước chúng ta.

2. “Tôi tin, nên tôi nói”.

Người do dự, nghi ngờ thì lời nói độc hại như con rắn

(Sáng 3:1). Nhưng người có đức tin thì lời nói rất ích lợi, như nước mát mẻ, như thuốc bổ dưỡng làm cho lòng vui vẻ, xương cốt béo tốt (Châm 15:30). Phao-lô đã mượn lời của Đa-vít trên đây khi viết thư cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Chúng tôi tin nên mới nói”. Cái lưỡi giải thích tấm lòng. Dám tin cậy Chúa thì mới dám xưng Ngài ra.

Đành rằng trong cơn bối rối và buồn thảm, ông đã vội vàng thốt ra: “Mọi người đều nói dối”, thì ông cũng không vì đó mà mất đức tin. Chắc ông đã quá thất vọng, vì trong vòng bè bạn của ông chẳng ai giúp đỡ ông.

3. “Tôi sẽ lấy gì báo đáp cho Đức Giê-hô-va”

Ông liền xây mặt khỏi sự bất toàn của con người để nhìn xem sự trọn vẹn của Chúa. Ông biết ơn Ngài một cách sâu xa. Ơn huệ của Ngài ban cho ông quá dồi dào đến nỗi ông không biết làm gì, lấy gì để báo đáp cho thỏa lòng biết ơn của ông. Càng muốn báo đáp, lại càng thêm ân huệ: Chưa báo đáp được chi, ơn huệ của Chúa lại càng chồng chất, tuôn tràn như suối vô tận. Chính người đã nói: “Vì mọi vật đều nơi Chúa mà đến, và những vật chúng tôi dâng cho Chúa chảng qua là đã thuộc về Chúa” (I Sử ký 29:14). Sự biết ơn đó đẹp lòng Chúa hơn bất cứ của lễ nào.

4. “Tôi sẽ cầm cái chén cứu rỗi mà cầu khẩn Danh Đức Giê-hô-va”.

Đa-vít đã tự hỏi rồi lại tìm ra câu trả lời: Ông thấy chỉ còn một cách là nâng cao chén cứu rỗi của Chúa mà uống cạn, rồi sấp mình tôn thờ, cảm tạ Ngài. Chúng ta được hân hạnh mỗi tháng một lần nhận nơi Ngài cái chén mà Ngài đã phán: “Chén này là sự giao ước mới trong huyết Ta” (ICôr 11:25). Cái chén chỉ về sự đầy dẫy (Thi 23:5).

5. “Tôi sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va các sự tôi hứa nguyện” (c. 14,18).

Hai lần Đa-vít lặp lại câu này. Trong khi gặp hoạn nạn, sầu khổ, ông đã hết lòng kêu xin Chúa giải cứu ông. Ông đã thưa với Chúa rất nhiều điều, và Chúa đã nhậm lời ông.

Bây giờ, để tỏ lòng biết ơn Ngài, ông nhất quyết sẽ trả xong các sự ông đã hứa nguyện. Có phải chúng ta thường quên ơn Chúa sau khi đã được giải cứu, được bảo hộ, được chữa lành? Có phải chúng ta chưa trả xong các sự hứa nguyện với Chúa? Xin tôn vinh Chúa tại trước mặt cả dân sự Ngài bằng tấm lòng biết ơn sâu xa.

CÂU HỎI

1. Kinh Thánh lên án tội vô ơn như thế nào?

2. Ai là người chịu ơn Chúa nhiều nhất?

3. Lý do nào khiến Đa-vít biết ơn Chúa?

4. Lý do nào khiến học viên phải biết ơn Chúa?

5. Đa-vít đã làm gì để bày tỏ lòng biết ơn Chúa?

6. Đi trước mặt Chúa có nghĩa là gì?

7. Bạn định sẽ làm gì để bày tỏ lòng biết ơn Chúa?

BÀI 37. CHÚA JÊSUS KÊU GỌI TÔI.

KINH THÁNH: Lu-ca 9:23-36;14:25-27; Giăng 6:66-69.

CÂU GỐC: “Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo Ta, thì phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta” (Lu-ca 9:23).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ các học viên chú ý nghe tiếng gọi của Chúa và theo Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa kêu gọi chúng ta

(Sáng 12:1-9; Lu-ca 14:25-33).

TH:

Chúa kêu gọi chúng ta trung tín phục vụ Ngài

(Hêb 3:1-6).

TB:

Chúa kêu gọi chúng ta vào chức vụ

(Công 13:1-4).

TT:

Chúa kêu gọi chúng ta hi sinh

(Lu-ca 8:23-26).

TN:

Chúa kêu gọi chúng ta đưa nhiều linh hồn đến với Ngài

(Mác 1:16-20; 16:15-20).

TS:

Tiếng gọi cao cả

(Phi-líp 3:7-14).

TB:

Chúa kêu gọi chúng ta kết quả

(Giăng 15:15-17).

Suốt lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời luôn kêu gọi mọi người theo Ngài và phục vụ Ngài. Ngài đã kêu gọi Áp-ra-ham (Sáng 12:1-3), Sa-mu-ên (I Sa-mu-ên 3:10,20). Ngài đã kêu gọi các môn đồ… Suốt 20 thế kỷ qua, Chúa đã kêu gọi, đang kêu gọi và sẽ kêu gọi mọi người, trong đó có các bạn và tôi.

I. ĐẤNG KÊU GỌI.

Nếu có một người đến bảo tôi: “Hãy bỏ hết mọi điều anh đang làm mà theo tôi”. Tôi liền nhìn kỹ người đó, tiếp xúc với người đó để biết người đó là ai, có đủ uy quyền và tín nhiệm kêu gọi tôi hay không. Sự quyết định của tôi tùy thuộc vào tư cách, khả năng, địa vị của người đó.

Đời xưa, các môn đồ kể cả Phao-lô, khi nghe tiếng gọi của Chúa, họ đã bỏ hết mọi sự để theo Ngài. Ngoài ra, họ còn trả một giá rất đắt là chính mạng sống của họ. Dầy vậy, họ không hề hối tiếc, vì biết rằng họ sẽ được bù lại bằng những ơn phước vô giá, còn đời đời. Phao-lô tuyên bố: “Ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào (ta biết Đấng ta đã tin), chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó” (II Ti-mô-thê 1:12).

Ngày nay, chúng ta đừng xem nhẹ sự kêu gọi của Chúa Jêsus. Ngài là Đức Chúa Trời (Giăng 10:30), Ngài có cả uy quyền trời đất trong tay (Ma-thi-ơ 20:18). Sự kêu gọi của Ngài rất có giá trị, Ngài đang chờ chúng ta bỏ mọi sự mà theo Ngài và trọn đời phục vụ Ngài. Chúng ta lấy làm hãnh diện mà được Ngài kêu gọi. Dầu Chúa Jêsus đã gánh vác tội lỗi và chết thế cho chúng ta, thì Ngài đã sống lại và sống đời đời, “cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ”. Ngài bảo: “Đừng sợ chi”.

II. CHÚA KÊU GỌI TÔI TỪ CHỐI MÌNH (Lu-ca 9:23-26).

Nếu muốn theo Chúa thì không phải từ chối bao nhiêu điều mà từ chối chính mình, tức là từ chối tất cả. Từ chối mọi ước ao, mọi sở thích, mọi quyền lợi, mọi tiện nghi, kể cả ý riêng và sự sống của chính mình nữa. Từ chối mình là quên mình, là hi sinh. Từ chối mình là biến mất trong Chúa, là chìm đắm trong Ngài, là mặc lấy chính mình Ngài, tin cậy Ngài, vâng phục Ngài, tận hiến cho Ngài. Một người từ chối mình là khó đối với mình và dễ đối với người, chấp nhận cuộc sống giản dị để có thể giúp đỡ người khác.

Nếu người nào đó muốn theo Chúa mà còn giữ riêng mọi ao ước, mọi sở thích, đòi hỏi mọi quyền lợi, dầu là quyền lợi chính đáng, đòi hỏi mọi tiện nghi, dầu là tiện nghi cần thiết, thì người ấy hoặc sớm hoặc muộn sẽ thối lui, bỏ Chúa như đoàn dân xưa bên bờ biển Ga-li-lê. Đoàn dân này theo Chúa chỉ muốn được ăn bánh của Chúa. Nên khi được biết Chúa sẽ không cho bánh nữa thì không những đoàn dân mà “từ lúc ấy, có nhiều môn đồ trở lui…” (Giăng 6:66). Song nếu theo Chúa vì biết Ngài là Đấng Cứu thế thì ai nấy sẽ nói như Phi-e-rơ: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai?” Theo Chúa mà đòi được ăn ngon, mặc đẹp, sống an nhàn, có quyền cao chức trọng là đã lạc đường rồi, như Đê-ma không còn theo Chúa nữa (II Ti-mô-thê 4:10).

Chúng ta lấy làm vinh dự mà từ chối chính mình vì kết quả của việc đó sẽ cứu chúng ta khỏi sự sống ích kỷ, làsự sống của xác thịt, của bản ngã; sự sống của bẩn thỉu đê hèn, không đáng cho chúng ta là những người theo Chúa, là môn đồ của Ngài!

III. CHÚA KÊU GỌI TÔI VÁC THẬP TỰ GIÁ MÌNH MỖI NGÀY (Lu-ca 9:23; 14:25-27).

Thập tự giá tượng trưng cho sự đau khổ, sỉ nhục và chết. Vác thập tự giá mình có nghĩa là mỗi người có một thập tự giá riêng, vừa sức mình, thích hiệp với mình, không ai giống ai, nên không có thể đổi với ai. Người này có thể tưởng rằng thập giá của mình nặng quá, muốn thập tự giá của kẻ khác nhẹ hơn, nhưng không phải vậy. Có một tín đồ đã gặp khó khăn lắm trong nhiều ngày mà chưa khỏi, cảm thấy thập tự giá Chúa ban cho mình là nặng quá, ông ao ước được đổi một thập tự giá khác nhẹ hơn. Đêm nọ ông chiêm bao thấy mình đang vác thập tự giá đi đến chân núi. Tại đó có nhiều thập tự giá lắm, thập tự giá đủ cỡ, đủ màu, xem như nhẹ nhàng, lại còn đẹp đẽ nữa. Ông mừng quá, vội vàng bỏ thập tự giá mình xuống, vác thử một cây rồi đi. Ông thấy không tiện nên trở lại, bỏ cây đó xuống, vác một cây khác. Lần này ông thấy cũng không tiện, nên trở lại đổi. Cho đến lần thứ ba ông cũng chưa tìm được một cây thích ý. Lần thứ tư, ông vác một cây khác, thấy vừa vặn lắm. Ông mừng quá đỡ lên, xem kỹ lại thì ra chính là cây thập tự mà ông đã vác bấy lâu. Từ đó, ông không còn phàn nàn chi cả.

Vác thập tự giá mỗi ngày, có nghĩa là vác suốt đời. Chúa Jêsus không phải chỉ vác thập tự giá của Ngài từ Giê-ru-sa-lem đến Gô-gô-tha, song Ngài đã vác từ máng cỏ Bết-lê-hem. Ngay từ khi mới giáng sinh, vua Hê-rốt đã âm mưu giết Ngài, Giô-sép và Ma-ri đã đưa Ngài đang đêm lánh nạn sang Ê-díp-tô. Sau đó, Ngài đã trở về làng Na-xa-rét, song vất vả trong gia đình thợ mộc suốt 30 năm. Khi bắt đầu chức vụ, thập tự giá luôn có trên vai, trong lòng Ngài. Trong khi Ngài hơn 30 tuổi, người ta đã tưởng Ngài gần 50 tuổi (Giăng 8:57).

Vác thập tự giá là sẵn sàng chịu mắng nhiếc, bắt bớ, vu oan, ghen ghét vì Danh Chúa (Ma-thi-ơ 5:11; Giăng 15:18-21). Vác thập tự giá là hi sinh mối liên hệ với gia đình, không thế nào làm đẹp lòng cha, mẹ, vợ, con, anh chị em cũng như không thể nào làm đẹp lòng chính mình, nếu những điều đó không làm đẹp lòng Chúa (Lu-ca 14:26). Vác thập tự giá là chấp nhận sự ganh tỵ, chỉ trích, hiểu lầm của anh em, là hạ mình xuống, chia sẻ gánh nặng của nhau, để nâng đỡ nhau, dìu dắt nhau, đùm bọc nhau, hầu Hội Thánh được gây dựng và Danh Chúa được vinh hiển. Vác thập tự giá là nhận một công việc khó khăn, một địa vị thấp kém, một cuộc sống thiếu thốn giữa một thế giới xa hoa để phục vụ Chúa và Hội Thánh.

Vì vậy, có nhiều người muốn theo Chúa mà ít người muốn vác thập tự giá. Bằng đủ cách, họ cố lẫn lút, chối từ thập tự giá được chừng nào hay chừng nấy. Họ không biết rằng vác thập tự giá là dấu hiệu, là đặc tính của người theo Chúa. Không ai có thể theo Chúa mà không vác thập tự giá của mình. Một đời sống vác thập tự giá là một đời sống hi sinh, cao thượng, đắc thắng. Chúa Jêsus đã vác thập tự giá của Ngài và cuối cùng, Ngài đã phán: “Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngôi Ta, như Ta đã thắng và ngồi với Cha trên ngôi Ngài” (Khải 3:21).

IV. CHÚA KÊU GỌI TÔI ĐI THEO NGÀI (Lu-ca 9:23; 14:27).

Đi theo là một hành động, không ai nói mình theo Chúa mà lại khoanh tay bó gối ngồi một chỗ. Theo Chúa có nghĩa là tiến bộ luôn luôn theo sự dẫn dắt của Ngài. Muốn theo mẹ chồng, Ru-tơ nói: “Xin chớ nài tôi phân rẽ mẹ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó; dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, là Đức Chúa Trời của tôi. Mẹ thác nơi nào, tôi muốn thác và được chôn nơi đó. Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân cách tôi khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi” (Ru-tơ 1:16-17). Chúng ta hãy ca hát rằng: “Sẵn tiến, sẵn thoái, theo ơn Cha sai, sẵn tròn phận tôi tớ Ngài. Sẵn để gánh trách nhiệm, tuy tôn hay ti, sẵn phục linh ý mọi khi” (TC 376).

CÂU HỎI

1. Trải qua các đời, Đức Chúa Trời đã kêu gọi ai?

2. Tại sao Chúa Jêsus có đủ uy quyền và tư cách kêu gọi chúng ta?

3. Từ chối mình có nghĩa gì?

4. Tại sao gọi là thập tự giá của mình?

5. Vác thập tự giá mỗi ngày có nghĩa gì?

6. Tại sao chúng ta lấy làm hãnh diện vác thập tự giá?

7. Theo Ngài có nghĩa gì?

8. Nếu Chúa sai bạn đi đâu, hoặc bảo bạn làm một việc gì thì bạn nghĩ sao?

BÀI 38. CHÚA JÊSUS SỬA TRỊ TÔI

KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 12:1-13.

CÂU GỐC: “Hỡi con, chớ dể ngươi sự sửa phạt của Chúa, và khi Chúa trách, chớ ngã lòng. Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt” (Hê-bơ-rơ 12:5-6).

MỤC ĐÍCH: Chứng minh rằng sự sửa trị cần thiết cho sự tăng trưởng thuộc linh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sửa trị con cái

(Hê-bơ-rơ 12:1-29).

TH:

Đức Chúa Trời cai trị mỗi hoàn cảnh

(Sáng 50:16-21).

TB:

Chiến thắng của thập tự giá

(Lu 22:53; 23:33; Côl 2:13-15).

TT:

Ân điển đầy đủ

(II Cô 12:7-10).

TN:

Một người tốt gặp thử thách

(Gióp 1:2).

TS:

Kiên nhẫn chịu thử thách

(II Tim 2:1-15).

TB:

Kết quả sự sửa trị

(Gíóp 42; Giê 5:11; Rô 28).

Có phải hễ ai được Chúa kêu gọi theo Ngài và phục vụ Ngài thì không bao giờ gặp hoạn nạn, thử thách không? Không! Trái lại, Đa-vít hết lòng yêu Chúa và phục vụ Ngài, song đời ông gặp nhiều hoạn nạn, thử thách lắm.

Nếu Giăng, Gia-cơ, Anh-rê, Phi-e-rơ cứ làm nghề đánh cá, chắc cuộc sống của họ còn êm đềm hơn theo Chúa và phục vụ Ngài. Nếu Sau-lơ (Phao-lô) cứ làm một học giả, một người Pha-ri-si, một nghị viên Tòa Công luận chắc cuộc sống ông còn thoải mái hơn theo Chúa và phục vụ Ngài. Tuy nhiên, giá trị của con người không phải cốt tại sống êm đềm, an nhàn mà sống xứng đáng. Chắc các ông ấy đã không hề hối tiếc, mặc dù trên đường theo Chúa và phục vụ Ngài, họ không ngớt bị sửa trị.

Hê-bơ-rơ 12:1-2 vừa kết thúc đoạn 11, vừa mở đường đoạn 12, bảo rằng đời sống của tín đồ là một cuộc chạy đua, không phải chạy một thời gian, một khoảng đường, mà phải kiên nhẫn chạy cho đến mục tiêu cuối cùng. Để khích lệ họ, tác giả nêu gương Chúa Jêsus, Ngài đã “chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục”, và kết quả là Ngài đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì thế, ai nấy hãy “nhìn xem Chúa Jêsus” trong suốt cuộc đời, để chịu nổi sự sửa phạt, hầu tiến bước trên cuộc đua.

I. THÁI ĐỘ KHI BỊ SỬA TRỊ (c. 3-6).

1. Đừng mỏi mệt sờn lòng (c. 3-4).

Để khỏi mỏi mệt và sờn lòng, chúng ta hãy nghĩ đến Chúa Jêsus. Ngài đã kiên nhẫn chịu đựng sự chống đối ngang ngược, nghịch ngợm của tội nhân bằng đủ cách: Từ lời nói, việc làm, đến tư tưởng. Nghĩ đến Chúa Jêsus chúng ta sẽ thấy mọi sự mình đang chịu là nhẹ nhàng, ít ỏi, gần như không có gì đáng kể. Ngoài ra chúng ta còn được giục lòng can đảm và vui vẻ, quên cả mệt mỏi và sờn lòng. Đừng mỏi mệt và sờn lòng có nghĩa là đừng dừng bước trước khi đến mục tiêu.

Chúa Jêsus đã chống trả tội lỗi đến nỗi đổ huyết từ Ghết-sê-ma-nê đến Gô-gô-tha mà Ngài cũng không hề mệt mỏi và sờn lòng. Nếu chúng ta phải chống trả tội lỗi cho đến nỗi phải đổ huyết cũng chưa phải quá đáng, vì có nhiều con cái Chúa trải qua các đời đã chống trả tội ác mà phải đổ huyết.

Giữa một thế kỷ bất công, độc ác, thù hận mà tín đồ muốn sống cuộc đời thiện hảo thì phải bị bắt bớ. Những người xấu không muốn thấy ai tốt hơn mình, vì vậy họ cố bắt bớ, cám dỗ, cho đến chừng người tốt cũng trở nên xấu như họ. Giô-sép là một người con hiếu thảo nên được cha yêu. Đó là lý do ông bị các anh ganh ghét, gây cho ông nhiều đau đớn, Giô-sép cũng là một đầy tớ trung thành, sẵn sàng chống trả với tội ác, mà bị vợ Phô-ti-pha vu oan nên phải ngồi tù. Nếu một tín đồ muốn tránh sự bắt bớ thì cứ ăn ở như người thế gian. Nếu Giô-sép muốn tránh sự ganh tỵ của các anh, sự vu oan của một dâm phụ thì cứ hòa mình với họ. Song Giô-sép là một tín đồ thật, nên quyết định chống trả với tội ác, mặc dầu phải bị quăng xuống hố, bị bán làm nô lệ, bị ngồi tù một cách oan uổng. Ông muốn sống tôn vinh Chúa, đẹp lòng Chúa và ích lợi cho người khác.

Sự sửa trị trong trường hợp như Giô-sép trên đây, không phải là vì ông có tội, song Chúa dùng sự đó để rèn luyện đức tính khiêm nhu, kiên cường của ông, hầu sẽ trọng dụng ông.

2. Đừng dể ngươi hoặc ngã lòng (c. 5-6).

Để khích lệ tín đồ, tác giả cũng trưng dẫn hai câu trong Châm ngôn 3:11-12. Có lẽ một số tín đồ đã than phiền về sự khó nhọc của họ là không đáng cho họ phải chịu, hoặc quá sức chịu đựng của họ. Tác giả nêu lên hai mối nguy cơ là thái độ dể ngươi và sờn lòng của họ. Kẻ này thì dể ngươi, có nghĩa là bướng bỉnh, liều lĩnh, không chịu phục tùng Chúa mà tìm cách chống lại. Kẻ kia thì sờn lòng, có nghĩa là buông xuôi, cho Đức Chúa Trời là bất công, không thương xót. Tác giả ân cần khuyên nài chúng ta không nên như vậy, bởi Chúa sửa trị chúng ta là vì Ngài yêu chúng ta như con.

Đang khi bị thử thách nặng nề, dường như Đức Chúa Trời đã bất công trong việc đối xử với ông, Gióp vẫn yên lặng một cách kiên nhẫn, chờ đợi Chúa giải cứu. Ông đã không dể ngươi cũng không nản lòng lúc ấy.

II. MỤC ĐÍCH CỦA SỰ SỬA TRỊ (c. 7-10).

1. Chúa muốn chứng tỏ chúng ta là con Ngài (7-8).

Sự sửa trị cần thiết là dường nào! Nếu không được sửa trị, Đức Chúa Trời xem chúng ta chỉ là con ngoại tình. Như vậy, chúng ta không dám ước ao được thoát khỏi sự sửa trị, song ước ao được sửa trị. Sửa trị là hành động, là thái độ của cha đối với con yêu dấu của mình.

Có thể có những đứa con mà cha không sửa trị. A-đô-ni-gia là con thứ tư của Đa-vít, ông này muốn tự tôn làm vua mà không chờ lịnh hoặc hỏi ý kiến của cha, song cứ chuẩn bị mọi sự. Đa-vít cũng chẳng phiền lòng mà nói một lời (ICác 1:5-6). Như vậy, cơn giận lớn nhất là khi Đức Chúa Trời không còn giận chúng ta khi chúng ta phạm tội. Hay nói cách khác, xem như không còn sửa trị được, không còn dạy dỗ được mà phải phó mặc cho số phận của chúng ta, như trường hợp Đa-vít đối với A-đô-ni-gia. Sau đó, A-đô-ni-gia bị giết.

2. Chúa muốn chúng ta dự phần trong sự thánh khiết Ngài

(c.9-10)

Cha bao giờ cũng xem sửa trị con là bổn phận của mình, cha phần hồn hay cha phần xác cũng vậy. Bổn phận của con là phải thuận phục sự sửa trị của cha phần xác cũng như cha phần hồn. Đó là kỷ luật của mọi gia đình. Song một số con cái Chúa đã sống vô kỷ luật nghĩa là lẫn tránh hay chống trả sự sửa trị của Chúa. Bất cứ hoạn nạn bắt nguồn từ đâu, chúng ta phải nhận biết rằng nó đến từ Cha chúng ta là Đấng cai trị mọi sự và đang khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho chúng ta. Sự sửa trị không đến từ cơn giận mà đến từ tình thương! Mục đích của sự sửa trị là Chúa muốn chúng ta dự phần sự thánh khiết với Ngài. Vậy mỗi khi bị Chúa sửa trị, nên tự hỏi: “Chúa muốn dạy tôi điều gì? Ngài muốn làm gì cho tôi? Mục đích của Ngài trong việc này là gì?”

Đành rằng, Chúa có thể dùng sự đau khổ sửa trị chúng ta, nhưng Ngài cũng muốn dùng việc tầm thường hằng ngày nữa. Ví dụ một lời nói châm chọc, một lời nói chỉ trích vội vàng, có ác ý của bạn, hay sự vô tình, vô ơn của con cái, sự khó tính của chồng hay của vợ, sự hiểu lầm vu oan, khinh miệt của anh em trong Hội Thánh. Chúa dùng những điều đó để sửa trị chúng ta khỏi tính ích kỷ, tự kiêu, nóng nảy để có được tình yêu thương, khiêm nhu, hiền lành như Chúa Jêsus yêu dấu của chúng ta.

III. KẾT QUẢ CỦA SỰ SỬA TRỊ (11-13).

1. Đối với mình (c.11).

Trước khi bị sửa trị chúng ta sợ, khi bị sửa trị chúng ta buồn… sau khi bị sửa trị chúng ta vui vì có được một đời sống thánh khiết và bình an. Sau khi ra khỏi lò lửa hực thì ba bạn Đa-ni-ên có một đời sống phước hạnh biết bao! Hãy nghĩ đến những chữ “nhưng về sau…” của câu này.

2. Đối với anh em (c.12-13).

Bây giờ, bàn tay yếu đuối không còn yếu đuối nữa mà được giơ lên, đầu gối lỏng lẻo không còn lỏng lẻo nữa mà được vững mạnh để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên thiên trình. Đồng thời làm gương khích lệ cho anh em mình nhìn xem Chúa như người què tại Cửa Đẹp được chữa lành “vừa đi, vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời”. Hãy sống cuộc đời khích lệ anh em mình (Ê-sai 35:3-4). Hãy sống và hãy nói như Giô-sép (Sáng 50:20).

CÂU HỎI

1. Tại sao nhiều con cái Chúa có dịp tiện tránh được hoạn nạn thử thách mà họ không tránh?

2. Làm sao để khỏi mệt mỏi sờn lòng khi bị sửa trị?

3. Thái độ dể ngươi hoặc ngã lòng khi bị sửa trị có hại thế nào?

4. Mục đích của Đức Chúa Trời khi sửa trị chúng ta là gì?

5. Tại sao có những con thật mà cha không sửa trị?

6. Mục đích thứ hai của Đức Chúa Trời sửa trị chúng ta là gì?

7. Sự sửa trị kết quả như thế nào cho chính mình và anh em mình?

BÀI 39. CHÚA JÊSUS BIẾN CẢI TÔI HOÀN TOÀN

KINH THÁNH: ICôr 15:35-58.

CÂU GỐC: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy. Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch” (IGiăng 3:2-3).

MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho những người tin cậy Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hi vọng về vinh quang

(Cô-lô-se 1).

TH:

Vua vinh quang

(Thi 24).

TB:

Hi vọng về sự biến hoá

(IICôr 5).

TT:

Sự biến hoá bắt đầu

(Phi-líp 1).

TN:

Chiến thắng sự chết

(Ê-sai 55; I Cô 15:35-38).

TS:

Một ngày mới

(Ê-sai 26).

TB:

Hi vọng phước hạnh

(ITê 4:13; 5:11).

Kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời rất là vĩ đại và trọn vẹn. Ngài đã chuẩn bị mọi sự từ trước buổi sáng thế (IICôr 2:9). Trong mỗi chúng ta có ba phần: Tâm thần, linh hồn và thân thể. Chúa cứu trọn vẹn cả ba phần đó. Tâm thần đã được cứu khỏi hậu quả của tội lỗi và được giao thông với Chúa, linh hồn đang được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi để hằng bước đi trong sự thánh khiết với Chúa; thân thể sẽ được sống lại và biến hoá để được cứu khỏi sự hiện diện của tội lỗi hầu ở với Chúa đời đời. Bây giờ chúng ta học về sự cứu chuộc thân thể tức là sự biến cải hoàn toàn.

I. THÂN THỂ CỦA CHÚNG TA SẼ SỐNG LẠI (c. 35-39).

1. Thân thể sẽ sống lại tốt hơn thân thể trước khi chết (c.35-38).

Một hạt giống phải được gieo xuống đất như chết đi, thì mới mọc lên một cây như sống lại vậy. Thân thể chúng ta phải chết và chôn xuống đất, song vốn là đền thờ của Chúa Ba Ngôi nên thân thể đó sẽ sống lại.

Hột giống rất nhỏ, hình dạng rất xấu, nếu nhìn vào nó, không ai có thể đoán được nó có thể trở thành một cây to có những trái ngon hay những hoa đẹp. Một người ngoại quốc nhìn vào hột xoài, anh ta không thể tưởng tượng nó sẽ trở thành một cây to và đẹp, sinh trái ngon như thế. Lấy một hột giống của cây hoa đem đọ với chính cây hoa, chúng ta phải ngạc nhiên vì thấy hột hoa nhỏ nhắn, xấu xí mà biến thành cây hoa đẹp đẽ, thơm tho quá chừng! Bây giờ thân thể của chúng ta như một hột hoa nhưng sau khi chết và sống lại nó sẽ như cây hoa. Chúng ta không ai hài lòng về thân thể của chính mình vì nó bất toàn quá chừng: Người này tật nguyền, người kia thấp quá, người thì quá mập, người thì quá ốm… Nhưng khi sống lại, Chúa sẽ cho chúng ta một thân thể trọn vẹn như các bó hoa, không ai giống ai mà hoàn toàn đẹp đẽ.

2. Thân thể sống lại thích hợp với thiên đàng (c. 39-40).

Chúa ban cho mọi loài một thân thể hợp với hoàn cảnh chung quanh mình. Loài người có một thân thể thích hợp với mặt đất, loài chim có một thân thể thích hợp với khoảng không, loài cá có một thân thể thích hợp với nước. Ngoài ra, mọi loài có những hình thể riêng, một vinh quang riêng, hoặc thuộc về trời, hoặc thuộc về đất. Hình thể và vinh quang đó nếu ở dưới đất thì thích hợp với đất, ở trên trời thì thích hợp với trời. Ngay như các vật ở trên trời cũng có hình thể và vinh quang khác nhau. Mặt trời khác mặt trăng, mặt trăng khác ngôi sao, ngôi sao này khác ngôi sao kia, tùy phạm vi, vị trí của mỗi vật.

Cũng vậy, khi chúng ta sống lại, ai nấy sẽ có một thân thể, một vinh quang tuyệt đẹp, nhất là thích hợp với thiên đàng. Nhờ sự thích hợp như vậy mà cuộc sống của chúng ta tại đó sẽ hạnh phúc vô cùng. Hênóc và Ê-li đã được Chúa cất lên trời với thân thể huyết khí và thân thể ấy đã được biến hoá để thích hợp với thiên đàng. Khi Chúa Jêsus đã hóa hình trên núi, có Môi-se và Ê-li hiện ra với Ngài, là viễn ảnh về ngày Chúa tái lâm có kẻ chết sống lại, như Môi-se, kẻ sống được biến hóa như Ê-li, để cả hai sẽ được hiện ra với Ngài trên trời. Sau khi sống lại, Chúa chúng ta có một thân thể khác hơn trước, tức là có thịt với xương mà không có huyết (Lu-ca 24:39). Thân thể đó thích hợp với thiên đàng.

3. Thân thể sẽ sống lại đời đời (c. 42-49).

Chúng ta hãy so sánh thân thể trước khi sống lại và sau khi sống lại.

Trước khi sống lại. Sau khi sống lại.

1. Hay hư nát 1. Không hay hư nát.

2. Nhục. 2. Vinh.

3. Yếu. 3. Mạnh.

4. Thể khí huyết. 4. Thể thiêng liêng.

Sau khi sống lại, chúng ta có một thân thể không hay hư nát, vinh hiển, mạnh mẽ, thiêng liêng như thân thể của Chúa chúng ta sau khi sống lại, là thân thể còn đời đời. Do A-đam, chúng ta có một thân thể huyết khí, thuộc về đất, thích hợp với đất; do Chúa Jêsus, chúng ta sẽ có một thân thể thiêng liêng, thuộc về trời, thích hợp với thiên đàng. Chúng ta đang mang ảnh tượng của A-đam để sống dưới đất, do Chúa Jêsus, chúng ta sẽ có một thân thể thiêng liêng, thuộc về trời, thích hợp với thiên đàng. Chúng ta đang mang ảnh tượng của A-đam để sống dưới đất, chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của Chúa Jêsus để sống trên trời.

Vậy sự sống lại và sự biến hoá của thân thể chúng ta là rất tự nhiên như hột xoài với cây xoài, như hột hoa với cây hoa.

II. THÂN THỂ CỦA CHÚNG TA SẼ BIẾN HOÁ (c. 50-58).

Phao-lô quả quyết thịt và huyết, tức là thân thể huyết khí không thể vào thiên đàng vì không thích hợp, bởi thân thể ấy hay hư nát, không thể ở một nơi không hay hư nát. Vì vậy, thân thể phải sống lại và biến hoá là rất cần thiết. Việc ấy sẽ xảy ra cách nào và lúc nào?

1. Trong phút chốc, trong nháy mắt (c.51-53).

Đó là một sự mầu nhiệm. Phàm sự mầu nhiệm thì chỉ có Chúa tỏ ra thì ta mới biết. Khi Chúa tái lâm, kẻ chết sẽ được sống lại, kẻ sống sẽ được biến hóa. Chúng ta sẽ mặc lấy sự không hay chết, sự không hay hư nát, Phao-lô cũng đã viết như vậy cho Hội Thánh (I Tê 4:13-14).

Sự tái lâm của Chúa sẽ xảy ra một cách mau lẹ chỉ trong phút chốc, trong nháy mắt, trong tiếng kèn chót; và đột ngột. Chúa đã dùng nhiều cách để diễn tả sự tái lâm của Ngài là đột ngột để cảnh tỉnh chúng ta như nước lụt thời Nô-ê mà nhân loại không ngờ chi hết, như kẻ trộm ban đêm lúc chủ nhà không ngờ, như chủ nhà trở về khi các đầy tớ không ngờ, như chàng rể đến lúc các trinh nữ không ngờ…

Sự tái lâm của Chúa là hi vọng lớn nhất của các tín đồ, nên ai nấy trong chúng ta lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để gặp Chúa một cách không sợ hãi, không hổ thẹn mà đầy dẫy sự vui mừng. Đối với chúng ta, sự tái lâm của Chúa không còn là một vấn đề đột xuất, vì ai nấy đều biết rằng Ngài có thể đến hôm nay hoặc ngày mai hay 20 năm nữa, nghĩa là bất cứ lúc nào. Vậy chúng ta hãy “đứng thẳng lên, ngước đầu lên” (Lu-ca 21:18), vì giờ phút ấy đã gần. Với hi vọng trên đây chúng ta hãy tự mình làm nên thánh sạch cũng như Ngài là thánh sạch.

2. Sự chết bị thất bại đời đời (c. 54-57).

Sự chết là kẻ thù lớn nhất của nhân loại. Vì toàn thể nhân loại, kể cả vĩ nhân, hào kiệt đều phải chết. Song khi Chúa Jêsus tái lâm, sự chết sẽ bị nuốt mất, con cái Ngài sẽ sống đời đời với một thân thể hoàn toàn mới, cũng như tâm thần và linh hồn đã được đổi mới, thích hợp với cảnh trí trên thiên đàng và trời mới đất mới. Sự đắc thắng đó không do chúng ta song nhờ Chúa Cứu Thế của chúng ta! Cảm tạ Ngài cho đến đời đời.

KẾT LUẬN (c. 58).

Vì sự tái lâm của Chúa là hi vọng lớn nhất của chúng ta, nên đừng để bất cứ điều gì làm cho mình nao núng, mà phải cứ vững vàng làm công việc Chúa một cách dư dật. Vì biết rằng công khó của chúng ta trong Chúa không giống như người ngoài Chúa. Đối với cõi vô tận, công khó của người đời là vô ích, còn công khó của chúng ta là rất hữu ích. Đó là thái độ, là hành động mà chúng ta phải có đang khi chuẩn bị chào đón Chúa chúng ta tái lâm.

CÂU HỎI

1. Thân thể của chúng ta sẽ được cứu như thế nào?

2. Điều nào chứng minh thân thể sống lại tốt hơn trước khi chết?

3. Thân thể sống lại sẽ thích hợp với gì? Tại sao?

4. Nhờ ai chúng ta có thân thể huyết khí? Và nhờ ai chúng ta có thân thể thiêng liêng?

5. Thân thể huyết khí với thân thể thiêng liêng khác nhau thế nào?

6. Thân thể chúng ta sẽ được sống lại và biến hóa khi nào?

7. Chúa Jêsus sẽ tái lâm cách nào?

8. Chúng ta phải chuẩn bị thế nào để đón tiếp Chúa tái lâm?

BÀI 40. HIỆP MỘT TRONG CHÚA JÊSUS.

KINH THÁNH: ICôr 1:10-18.

CÂU GỐC: “Hỡi anh em, tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau. Chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý, một lòng cùng nhau” (ICôr 1:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự hiệp một trong Hội Thánh làm vinh quang Đức Chúa Trời và ích lợi cho chúng ta, còn chia rẽ là tội.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Niềm vui của Phao-lô về Hội Thánh Cô-rinh-tô

(I Cô 1:1-9).

TH:

Tiếng gọi hiệp một trong Chúa

(I Cô 1:19-31).

TB:

Tinh thần bè phái tại Cô-rinh-tô

(I Cô 1:10-18).

TT:

Hiệp một trong sự thông công

(Công 2:1-21).

TN:

Hiệp một trong chủ đích

(Công 4:13-22).

TS:

Hiệp một trong sự cầu nguyện

(Công 12:5-12).

TB:

Hiệp một trong Chúa

(Ê-phê-sô 2:1-18).

Hội Thánh là một đoàn thể bao hàm “mọi người bất luận ở nơi nào cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (I Cô 1:2). “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hay người Gơréc, không còn người tôi mọi hay tự chủ, không còn đàn ông hoặc là đàn bà, vì trong Chúa Jêsus Chirst, anh em thảy đều là một” (Ga-la-ti 3:28). Như vậy, Hội Thánh là một tổ chức đoàn kết, hiệp một trong Chúa Jêsus. Thập tự giá đã phá hủy bức tường ngăn cách giữa dân này với dân kia, làm cho họ có chung một Chúa, một đức tin, một hy vọng, thuộc về một thân thể, một gia đình, một quốc gia thiên thượng. Vì thế, những người trong Hội Thánh không còn lý do gì để chia rẽ, mặc dầu ma quỉ không ngớt xúi giục chúng ta làm điều đó. Hãy xem Hội Thánh Cô-rinh-tô để học được một bài học đích đáng.

I. HÃY HIỆP MỘT (c. 10).

Hội Thánh Cô-rinh-tô có sự chia rẽ nên Phao-lô khuyên họ.

1. “Hỡi anh em…”

Ông nhấn mạnh chữ này để ai nấy thấy rằng mình không có lý do gì để chia rẽ mà phải hiệp một, vì hết thảy đều là anh em, được sinh ra từ một dòng huyết của Chúa Jêsus.

2. “Tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.

Vì Ngài là Cứu Chúa duy nhất, là nền tảng của Hội Thánh, là đầu của thân thể là Hội Thánh. Trong Ngài không có chia rẽ, mà chỉ có sự hiệp một. Vậy nếu chúng ta hiệp một là ở trong Ngài, mà chia rẽ là ra “khỏi Ngài”.

3. “Nguyện anh em”.

Ông nhân danh Chúa long trọng nài khuyên, khẩn cầu anh em. Vì ông biết rõ nguy cơ của sự chia rẽ khủng khiếp là dường nào! Ông tha thiết khuyên họ chớ chia rẽ nhau.

4. “Phải lấy một tiếng nói, hiệp một ý một lòng cùng nhau”.

Ai nấy phải đồng thanh, đồng ý, đồng tình, đồng tâm, đồng tư tưởng mà tôn thờ, cảm tạ, ca ngợi và phục vụ Chúa. Hãy xem mẫu mực cuộc thờ phượng trên trời (Khải 5:11-14; 7:9-12). Trong Thi thiên 133:1-3 Đa-vít đã mô tả hình ảnh anh em ăn ở hòa thuận, hiệp một với nhau là tốt đẹp biết bao!

a. Việc tốt đẹp đó giống như dầu quí giá đổ trên đầu thầy tế lễ thượng phẩm A-rôn, chảy xuống râu, chảy đến trôn áo người. Như vậy, toàn thân ông thơm ngát và mùi thơm đó tỏa ra thơm nức một vùng. Thầy tế lễ A-rôn chỉ về Chúa Jêsus. Nếu chúng ta thuận hòa nhau, hiệp một nhau, thì làm cho toàn thân Ngài là Hội Thánh thơm nực và rãi mùi thơm đó khắp chốn.

b. Việc tốt đẹp đó giống như sương móc của núi Hẹtmôn, sa xuống các núi Si-ôn. Núi Hẹtmôn cao hơn hết và đẹp hơn hết trong dãy núi Liban, sông Giô-đanh bắt nguồn từ núi Hẹtmôn rất dồi dào làm tươi mới cỏ cây trên mọi đồi núi, đồng bằng, thung lũng lân cận. Sự hòa thuận và hiệp một của Hội Thánh cũng đem lại ơn phước, làm tươi mới cho mọi người chung quanh như vậy.

II. NGUYÊN NHÂN THIẾU SỰ HIỆP MỘT (c. 11-12).

Nữ tín hữu Cơlôê có người nhà đến Ê-phê-sô là nơi Phao-lô đang trú. Họ đem việc của Hội Thánh Cô-rinh-tô thiếu sự hiệp một thuật lại với Phao-lô để nhờ ông giải quyết.

Hội Thánh Cô-rinh-tô thiếu sự hiệp một không vì giáo lý mà vì cá nhân. Trong một chi hội không có bao nhiêu tín đồ mà đã chia làm bốn phe: Phe Phao-lô, phe A-bô-lô, phe Sêpha (Phi-e-rơ), phe Christ. Nguyên nhân là:

1. Lòng vị kỷ.

Phao-lô là người trước nhất đến Cô-rinh-tô giảng Tin lành và lập Hội Thánh tại đó. Vì vậy ông được cảm tình của nhiều người, nên họ lấy làm thích mà xưng làm môn đồ của ông. Sau khi Phao-lô đi, thì A-bô-lô đến Cô-rinh-tô để giúp đức tin của anh em được thêm vững vàng. A-bô-lô là nhà hùng biện, lại giỏi Kinh thánh, cũng sốt sắng giảng dạy, nên một số khác hâm mộ A-bô-lô mà xưng là môn đồ của ông ấy. Sêpha có lần đến thăm Cô-rinh-tô (ICôr 9:5). Ông là sứ đồ của dân Do thái, nên ông được tín đồ Do thái ưa chuộng. Vì vậy họ xưng là môn đồ của Sêpha. Còn một số tỏ ra mình cao thượng hơn hết, nên xưng mình là môn đồ của Đấng Cứu thế. Họ đã đem Ngài là Đầu xuống làm chi thể, liệt Ngài ngang hàng với các ông kia tức là đánh hạ phẩm vị của Ngài.

Chắc ba nhà lãnh đạo nói trên không hề gây cảm tình để lôi cuốn ai theo mình. Họ cũng chẳng biết có điều đó xảy ra cho Hội Thánh Cô-rinh-tô, cho đến chừng có người báo tin cho Phao-lô. Có bốn phe như vậy thì không thể nào tránh khỏi tranh luận sôi nổi để bênh vực phe này, đánh hạ phe kia. Trong Hội Thánh không ngớt cãi lẫy, ồn ào như chợ, rối ren như mớ tơ vò.

2. Lòng kiêu ngạo.

Trong đoạn 4, Phao-lô đã đề cập đến việc Hội Thánh đã xét đoán người này, người kia. Ông khuyên: “Hỡi anh em… chớ sinh lòng kiêu ngạo theo phe người này nghịch cùng kẻ khác. Bởi vì, ai phân biệt ngươi với người khác…” (4:6-7). Ma quỉ là đứa kiêu ngạo. Nó đến đâu gây chia rẽ đến đó.

Sự chia rẽ không bao giờ từ nguyên nhân chính đáng, tốt đẹp. Công việc đó không bao giờ là công việc của người tốt, của con cái Chúa. Phao-lô khuyên: “Hỡi anh em, tôi khuyên anh em coi chừng kẻ gây bè đảng và làm gương xấu, nghịch cùng sự dạy dỗ mà anh em đã nhận. Phải tránh xa họ đi. Vì những kẻ đó chẳng hầu việc Đấng Christ, Chúa chúng ta, song hầu việc cái bụng họ, và lấy những lời ngọt ngào, dua nịnh dỗ dành lòng kẻ thật thà” (Rô-ma 16:17-18).

III. THIẾU HIỆP MỘT LÀ MỘT TỘI NẶNG (c.13-18).

Chúa Jêsus không bao giờ bị chia rẽ. Song sự chia rẽ của tín đồ làm Ngài đau đớn vô cùng, vì họ là chi thể của thân Ngài.

1. Kẻ gây chia rẽ là chiếm vị của Chúa (c. 13-16).

Phao-lô hỏi: “Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em? Hoặc Apôlô hay là Sêpha?” Những kẻ gây chia rẽ làm như Phao-lô, hoặc Apôlô hay Sêpha đã chết thế cho họ. Họ đã tôn một người khác lên chiếm chỗ của Chúa. Ông lại hỏi thêm: “Có phải anh em đã nhân danh Phao-lô mà chịu Báp-têm? Hoặc Apôlô? hay là Sêpha?” Phao-lô quả quyết rằng chính ông chỉ làm Báp-têm cho một số ít người, để không ai vô tình hay cố ý nói họ đã nhân danh ông mà chịu Báp-têm. Kẻ gây chia rẽ làm như họ đã nhân danh Phao-lô hoặc Apôlô hay Sêpha mà chịu phép Báp-têm. Họ đã tôn vinh một người lên chiếm chỗ Chúa.

2. Kẻ gây chia rẽ vô hiệu hoá thập tự của Chúa (c. 17-18).

Phao-lô quả quyết Chúa đã sai ông, vì ông là đầy tớ của Ngài. Ông được sai đi giảng Tin lành và ông không dùng sự khôn ngoan của loài người để giảng, nếu vậy sẽ làm cho thập tự giá của Chúa hoá ra vô ích, vì chỉ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan của con người mà không lập trên quyền năng siêu việt của Đức Chúa Trời.

Sự chia rẽ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô gây nên biết bao tai hại. Nào là làm cho thân thể của Chúa là Hội Thánh bị xé rách, cũng vì vậy mà Hội Thánh chậm lớn lên, làm con trẻ hoài, làm tín đồ xác thịt mãi. Chẳng những vậy thôi, họ còn phạm tội ghê gớm như loạn luân, kiện cáo anh em, ăn của cúng…

Chia rẽ là một tội rất nặng, lại là một tội rất dễ mắc. Chúng ta phải cẩn thận về lòng vị kỷ và kiêu ngạo của mình. Chúa Jêsus là duy nhất và tuyệt đối trong Hội Thánh, còn bất cứ ai cũng chỉ là đầy tớ của Ngài. Phao-lô đã trồng, Apôlô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. Người trồng kẻ tưới đều bằng nhau, ai nấy đều sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm. Chúng ta hãy hiệp một để tôn vinh Chúa và gây dựng Hội Thánh là thân thể Ngài.

CÂU HỎI

1. Hội Thánh là một đoàn thể thế nào?

2. Tại sao Phao-lô khuyên HT Cô-rinh-tô phải hiệp một?

3. Phao-lô khuyên HT Cô-rinh-tô thế nào?

4. Đa-vít mô tả cảnh anh em ăn ở hiệp một giống như gì?

5. Nguyên nhân nào đã gây sự chia rẽ trong HT Cô-rinh-tô?

6. Gây chia rẽ là công việc của ai?

7. Tại sao tội gây chia rẽ kể là rất nặng?

8. Chúng ta có thái độ nào đối với Chúa và đối với người hầu việc Ngài trong Hội Thánh?

BÀI 41. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ TRƯỞNG THÀNH.

KINH THÁNH: ICôr 2:12; 3:4.

CÂU GỐC: “Người có tính xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Nhưng phần chúng ta, thì có ý của Đấng Christ” (ICôr 2:14a, 16b).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục tín hữu trở nên Cơ đốc nhân trưởng thành trong Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự khôn ngoan do Đức Chúa Trời ban

(I Cô 2:1-11).

TH:

Tăng trưởng trong Chúa

(I Cô 2:12; 3:8).

TB:

Hài nhi trong Chúa

(I Phi-líp 1:18; 2:5).

TT:

Những hành động trẻ con

(Các quan xét 14:16; 15:5).

TN:

Sự trưởng thành thuộc linh

(Gióp 1:21; 2:10).

TS:

Tâm tình của Chúa

(Phi-líp 2:5-16).

TB:

Lời nói của một tín đồ trưởng thành

(II Tim 4:1-8).

Để cứu Hội Thánh Cô-rinh-tô khỏi tinh thần chia rẽ, Phao-lô đã đề cập đến tầm quan trọng của sự trưởng thành trong Chúa. Muốn hầu việc Chúa, không nên có một đời sống trẻ con mãi, mà phải trưởng thành. Nếu trong một gia đình có nhiều con, mà chưa có người nào trưởng thành, thì cha mẹ phải nặng gánh lo âu. Thường nghe cha mẹ của những gia đình như vậy than rằng: “Chúng tôi chỉ có con ăn mà chưa có con nhờ!”

Phao-lô đã phân chia con người ra làm ba hạng: Người thiên nhiên, người xác thịt và người thuộc linh. Khi đứng chung để chụp hình, và khi tấm hình đã đến tay mỗi người thì ai nấy thích xem hình mình trước nhất và dễ thấy hình mình hơn hết. Kinh Thánh là một tấm hình chung mà Đức Chúa Trời đang chụp, nên ai nấy có thể thấy hình mình trong đó và biết mình đứng vào hạng nào trong ba hạng trên.

I. NGƯỜI THIÊN NHIÊN (2:14).

Đây là người bại hoại, gian ác do A-đam lưu truyền, nên cũng gọi là người cũ. Vì chưa tin Chúa, nên chưa được tái sinh bởi Thánh Linh, và do đó người không thể nhận những gì thuộc về Thánh Linh. Trái lại, người còn cho những sự đó là ngu dại, vô lý, bởi vì người không thể hiểu được. Kinh Thánh kể những đặc tính của người thiên nhiên là:

1. Không biết Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 4:8).

2. Không tìm kiếm Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:11).

3. Không tin Đức Chúa Trời (Giăng 3:18).

4. Không cảm tạ Đức Chúa Trời (Rô-ma 1:21).

5. Không thương yêu Đức Chúa Trời (IGiăng 2:15).

6. Không kính sợ Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:18).

7. Không thờ phượng Đức Chúa Trời (Rô-ma 1:15).

8. Không vâng lời Đức Chúa Trời (Xuất 5:2).

9. Không nhận gì nơi Đức Chúa Trời (ICôr 2:14).

10. Thù nghịch với Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 1:21).

Số phận của người thiên nhiên đã định sẵn (Khải 21:8).

II. NGƯỜI XÁC THỊT (3:1-4).

Trước kia chúng ta thảy đều là người thiên nhiên (Ê-phê-sô 2:1-3), song nhờ tình thương vô lượng của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong Con Độc sanh của Ngài mà chúng ta đã tin nhận, đã được tái sinh trở nên con trẻ trong đại gia đình của Ngài.

Một số người tại Cô-rinh-tô đã tin Chúa như vậy và có một kinh nghiệm thuộc linh là làm con trẻ. Song điều Phao-lô trách họ, là sau 5 năm họ vẫn là con trẻ mãi, tức là làm người xác thịt, mà chưa đạt đến bậc trưởng thành, tức là làm người thuộc linh. Khi họ mới tin Chúa, ông đã dùng sữa nuôi họ, mà sau đó 5 năm, ông vẫn còn phải dùng sữa nuôi họ chứ chưa có thể nuôi họ bằng thức ăn cứng vì họ vẫn còn là con trẻ, người thuộc về xác thịt. Đành rằng bất luận ai cũng phải trải qua thời kỳ con trẻ, song phải từ đó lớn lên một cách chừng mực để đạt đến bậc thành nhân. Kinh Thánh chép về Chúa Jêsus rằng: “Con Trẻ lớn lên và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan và ơn của Đức Chúa Trời trên Ngài” (Lu-ca 2:40).

Nếu một đứa trẻ 5 tháng còn nằm trong nôi là việc rất thường, song nếu nó 5 tuổi mà vẫn còn nằm trong nôi là việc đáng buồn. Vậy nguyên nhân nào đã gây cho tín đồ Cô-rinh-tô cứ làm người xác thịt như con trẻ mãi thế? Phao-lô chỉ ra nguyên nhân đó là: GHEN GHÉT và TRANH CẠNH (c.3). Ghen ghét sinh ra chia rẽ. Càng ghen ghét càng chia rẽ. Càng chia rẽ càng ghen ghét. Ghen ghét là một quái vật, một tật xấu dễ sợ. Sự ghen ghét có thể hành hại Hội Thánh. Người ghen ghét là người không tốt, lại không muốn ai tốt cả, chỉ muốn ai cũng xấu như mình. Chính người ghen ghét không được phước, lại muốn mọi người không được phước như mình. Người ghen ghét chỉ tìm cách bôi nhọ bất luận ai tốt hơn mình, được phước hơn mình. Tranh cạnh tức là cãi lẫy, gây gỗ. “Sự ghen ghét xui điều cãi lộn. Ai ưa tranh cạnh ưa tội lỗi. Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác” (Châm 10:12; 17:19; Gia-cơ 3:16). Những hành động trên đây là hành động của con trẻ, của người xác thịt, giống như người thế gian.

Tín đồ Cô-rinh-tô ghen ghét và tranh cạnh vì khoe mình theo phe này khinh dể người theo phe kia (c. 4), Sa-lô-môn khuyên: “Hãy đuổi kẻ nhạo báng ra, thì sự cãi lẫy cũng sẽ đi, điều tranh cạnh và sỉ nhục cũng hết” (Châm 22:10).

Tóm lại, người thuộc xác thịt là người dầu đã tin Chúa, nhưng không chịu bước theo Thánh Linh, song cứ làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt. Các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm (Ga-la-ti 5:19-21). Chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời. Kẻ sống theo xác thịt không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời. Đời sống của tín đồ thuộc về xác thịt thì giống như dân Y-sơ-ra-ên lang thang trong sa mạc, như cây lúa giữa bụi gai, như con trẻ què quặt. Đời sống như vậy thiếu vui mừng, bình an và phước hạnh nên lúc nào cũng cay đắng, bực dọc, buồn phiền. Đời sống như vậy không tôn vinh Chúa, không làm đẹp lòng Ngài, không làm gương mẫu cho ai.

III. NGƯỜI THUỘC LINH (2:15-16).

Người xác thịt có thể tiến lên người thuộc linh, như con trẻ có thể tiến lên bậc trưởng thành. Người thiên nhiên nhờ đức tin có thể trở nên người xác thịt, thì người xác thịt cũng nhờ đức tin mà trở nên người thuộc linh. Chúng ta phải nhìn thấy tầm quan trọng của sự việc và khao khát đạt mục tiêu đó bằng đức tin.

Người thuộc linh là người được tái sanh, được dự phần bản tính của Chúa, được sự sống của Chúa, rồi cứ tuần tự mà lớn lên và đạt đến bậc trưởng thành. Người đó phục tùng Thánh Linh đang ngự trong lòng mình, và bước đi từng bước theo sự dẫn dắt của Ngài. Người đó không sống theo xác thịt, không chăm những sự thuộc về xác thịt, nhưng sống theo Thánh linh và chăm những sự thuộc về Thánh Linh. Người đó không những được Thánh Linh ngự trị lòng mình mà còn được Ngài đầy dẫy, tức là được Ngài hoàn toàn chiếm hữu, hoàn toàn kiểm soát và sử dụng. Vì người đó đã tận hiến đời mình cho Ngài như đất sét trong tay thợ gốm (Giê-rê-mi 18:6). Theo tinh thần Ga-la-ti 2:20, người đó nói: Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Jêsus, nghĩa là tôi đã chết. Đó là việc đã rồi, hoàn toàn dứt khoát. Chúa Jêsus đã sống lại và cho tôi sống lại với Ngài. Như vậy không phải là tôi sống nữa, nhưng Chúa sống trong tôi và tôi sống cho Ngài, chắc chắn tôi có một đời sống thuộc linh trưởng thành. Với đời sống đó, chúng ta không sợ hãi gì hết (Lu-ca 1:75).

Phao-lô cho biết rằng người thuộc linh là người trưởng thành nên cũng có một trình độ trưởng thành, là người có thể “xử đoán mọi sự và chính mình không bị ai xử đoán”. Về phương diện thuộc linh, người rất sáng suốt, hiểu biết giá trị của mọi sự, phán đoán một cách không sai lầm, nên không bị ai gạt, không bị ai xúi giục mà chia rẽ, ghen ghét, tranh cạnh. Vì ai có thể dạy dỗ Chúa? Chúng ta có ý kiến, có tư tưởng của Chúa thì ai có thể đoán phạt hay dạy dỗ chúng ta? Người thiên nhiên và người xác thịt không thể xử đoán người thuộc linh; trái lại, người thuộc linh có đủ khả năng và tư cách xử đoán người thiên nhiên và người xác thịt.

Tình trạng chia rẽ gây cho Hội Thánh Cô-rinh-tô mất phước vì đã để cho một số người thiên nhiên và người thuộc xác thịt đứng lên lãnh đạo Hội Thánh. Những người này đã lấy sự khôn ngoan của loài người thay cho quyền năng của Đức Chúa Trời (ICôr 2:5). Xin Chúa cho toàn thể con cái Ngài đều trở nên những người thuộc linh.

CÂU HỎI

1. Kinh Thánh chia con người thành những hạng nào?

2. Người thiên nhiên là người thế nào?

3. Số phận người thiên nhiên sẽ ra sao?

4. Người thiên nhiên phải làm gì để trở nên người xác thịt?

5. Người xác thịt là người thế nào?

6. Đặc tính của người xác thịt là gì?

7. Người thuộc linh là người thế nào?

8. Người xác thịt phải làm gì để trở nên người thuộc linh?

9. Đặc điểm của người thuộc linh là gì?

10. Hạng người nào đang lãnh đạo Hội Thánh?

BÀI 42. NỀN TẢNG CỦA HỘI THÁNH

KINH THÁNH: ICôr 3:9-23.

CÂU GỐC: “Nhưng ai nấy hãy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó…” (ICôr 3:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy tín hữu biết rằng Đức Chúa Trời nhìn thẳng vào lòng mọi người để phán xét các động cơ thúc đẩy cùng các hành động của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Bắt đầu với nền tảng chính đáng

(Ma-thi-ơ 7:21-29).

TH:

Các động cơ thúc đẩy rất quan trọng

(ICôr 3:9-15).

TB:

Chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời

(I Cô 3:16-23).

TT:

Vua Sau-lơ trộn lẫn các động cơ thúc đẩy

(I Sam 13:5-14).

TN:

Lý do chính đáng nhưng hành động sai lầm

(Mác 1:40-45).

TS:

Lý do sai lầm, hành động chính đáng

(Sáng 25:27-34).

TB:

Động cơ thúc đẩy cao cả nhất

(Phi-líp 3:7-14).

Bài học và câu gốc hôm nay tạo cơ hội cho chúng ta khám phá lý do của mỗi hành động. Mỗi hành động đều có các lý do hoặc tốt hoặc xấu. Đức Chúa Trời không những nhìn xem hành động mà cũng nhìn xem lý do của hành động, Ngài muốn biết động cơ nào thúc đẩy chúng ta làm việc đó. Việc làm tốt nhưng động cơ thúc đẩy chúng ta làm việc đó cũng phải tốt nữa, vì có khi lý do chính đáng nhưng hành động sai lầm, hoặc lý do sai lầm mà hành động lại chính đáng. Chúng ta thường quá hăng say trong công việc Chúa mà không kiểm soát để biết động cơ nào thúc đẩy mình thực hiện công việc đó. Nguyện Chúa dùng bài học hôm nay cảnh cáo chúng ta tự xét lý do cũng như hành động để biết rõ đâu là nền tảng đời sống tin kính của mình.

I. CHÚA JÊSUS LÀ NỀN TẢNG CỦA HỘI THÁNH (c. 9-11).

Hội Thánh là ruộng của Đức Chúa Trời, Phao-lô trồng, A-bô-lô tưới. Hội Thánh là Nhà của Đức Chúa Trời, Ngài dùng Phao-lô lập nền rồi chúng ta xây cất lên trên. Nền tảng chính đáng và duy nhất là Chúa Jêsus. “Chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập”.

Tín đồ Cô-rinh-tô muốn lập những nền khác như Phao-lô, A-bô-lô, Sêpha… Họ lập lên những lãnh tụ và trung thành với những người đó, gây chia rẽ trong Hội Thánh. Phao-lô quở trách họ đã hành động như người đời (c. 4). Chúa Jêsus là Vầng Đá Của Mọi Thời Đại, là nền tảng duy nhất và đời đời, còn những người khác chẳng qua là nền tảng giả tạo như bãi cát.

Xây dựng đời đạo đức chúng ta trên Chúa Jêsus, có nghĩa gì? – Là chúng ta tin cậy, vâng lời, yêu mến, phục vụ Chúa hết lòng, hết sức. Tóm lại, là dâng trọn cuộc đời của chúng ta cho Chúa.

II. XÂY NỀN TẢNG CỦA HỘI THÁNH (c. 12-15).

Phao-lô khuyên: “Ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó”. Phải cẩn thận về vật liệu và tính chất của nó.

1. Vật liệu.

Vật liệu đây có nghĩa là những việc lành. Chúng ta không làm lành để được cứu, song được cứu để làm lành. “Vì chúng ta đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Ê-phê-sô 2:10). Xin các bạn đọc những câu Kinh Thánh sau đây: IICôr 9:8; Cô-lô-se 1:10; IITê 2:17; Tít 2:7,14; 3:8. Tất cả những việc lành mà chúng ta nhân danh Chúa làm cho Hội Thánh và đồng bào là vật liệu mà chúng ta xây dựng Hội Thánh. Cảm tạ Chúa, sau khi tin nhận Ngài, Cơ đốc nhân có môi trường, có phương tiện, có ân tứ để phục vụ Ngài. Vì vậy lòng của Phao-lô lúc nào cũng cháy rực, nên khi viết thơ cho các Hội Thánh, ông đã dùng những lời khuyên nẩy lửa: “Hãy lợi dụng thì giờ” (Ê-phê-sô 5:16), “hãy siêng năng, mà chớ làm biếng. Phải có lòng sốt sắng, phải hầu việc Chúa” (Rô-ma 2:11), “chớ mệt nhọc về sự làm lành…” (Ga-la-ti 6:9-10), “anh em chớ chán mệt về sự làm lành” (ITê 3:15), “vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (IICôr 15:58).

2. Tính chất của vật liệu.

Các vật liệu được chia ra làm hai loại (a) Vàng, bạc, bửu thạch và (b) gỗ, cỏ khô, rơm rạ.

Vàng, bạc, bửu thạch rất nhỏ, song rất quí giá, nhất là chịu nổi lửa thử nghiệm. Gỗ, cỏ khô, rơm rạ rất to, song rất tầm thường, nhất là không chịu nổi lửa thử nghiệm. Kết quả, một bên còn lại lâu dài, một bên tan thành tro bụi.

Việc lành nào như vàng, bạc, bửu thạch? Việc lành nào như gỗ, cỏ khô, rơm rạ?

Việc lành thực hiện do động cơ TÔN VINH CHÚA thì giống như vàng, bạc, bửu thạch, còn việc lành thực hiện do động cơ TỰ TÔN VINH thì giống như gỗ, cỏ khô, rơm rạ.

Chúa Jêsus đã dạy: “Khi ngươi bố thí thì đừng thổi kèn trước mặt mình, đừng cho tay tả biết tay hữu làm việc gì, hầu cho sự bố thí được kín nhiệm. Khi các ngươi cầu nguyện đừng làm… cho thiên hạ đều thấy. Hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi ở nơi kín nhiệm đó” (Ma-thi-ơ 5:2-6). “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16).

Trong mọi hành động, chúng ta không được phép phô trương, song phải giấu mình. Chúa phải được dấy lên, ta phải hạ xuống

(ICôr 10:31; IICôr 9:13; Phi-líp 1:11; I Phi-e-rơ 2:12; 4:11). Nếu động cơ của chúng ta là TÔN VINH CHÚA thì bất luận việc kín đáo hay việc tỏ tường, việc lớn hay nhỏ, thậm chí một chén nước lạnh cũng không bị mất phần thưởng (Ma-thi-ơ 10:42). Vì Chúa thấy rõ những gì ở trong lòng chúng ta và đánh giá những việc đó như vàng, bạc, bửu thạch vậy.

Chúa Jêsus cũng đã nói về bọn giả hình, hễ bố thí thì thổi kèn trong nhà hội và ngoài đường, để được người khác tôn kính. Khi cầu nguyện thì họ muốn mọi người đều nghe thấy để được tán thưởng. Khi kiêng ăn thì họ làm bộ buồn rầu, nhăn nhó để được người khác ngợi khen! Họ làm việc gì cũng có ý để người khác thấy (Ma-thi-ơ 6:2-5,16; 23:5).

Chúa nêu rõ những động cơ thúc đẩy người ta làm việc như vậy là tự tôn vinh. Dầu có những việc được con người xem như rất quan trọng, song chỉ giống như đồng la, chập chỏa ồn ào mà không ra chi cả! Tính chất của nó giống như gỗ, cỏ khô, rơm rạ.

Trong ngày Chúa tái lâm, Chúa sẽ dùng lửa để thử nghiệm công trình xây cất của mọi người, lửa sẽ chỉ ra công việc của mọi người thuộc loại nào. Bấy giờ, có người được thưởng, có người bị hổ thẹn. Hạng người sau, dầu được cứu vì có nền tảng là Chúa Jêsus, song công trình bị thiêu hủy thì được cứu như qua khỏi lửa

(A-mốt 4:11).

III. PHÁ HỦY ĐỀN THỜ (HỘI THÁNH – c.16-23).

Hội Thánh được gọi là RUỘNG, là NHÀ mà cũng được gọi là ĐỀN THỜ của Chúa và Ngài đang ngự trị trong đó. Chúng ta thuộc về Ngài, nên chúng ta có tư thế để xây dựng hoặc phá hủy đền thờ của Chúa. Thiết tưởng chúng ta đều muốn xây dựng đền thờ của Chúa, chứ không ai đang tâm phá hủy nó. Song chúng ta có thể mắc lừa ma quỉ như Hội Thánh Cô-rinh-tô. Đó là lý do chính đáng mà hành động sai lầm. Ngoài chia rẽ, ghen ghét, tranh cạnh mà chắc họ đã từng nói ra lý do chính đáng để bênh vực hành động của họ, còn có hai hành động nữa phá hủy đền thờ của Chúa.

1. Cậy sự khôn ngoan của đời (c.18-20).

Tín đồ Cô-rinh-tô nhờ sự khôn ngoan của đời mà họ đang có để xây dựng đền thờ của Chúa. Đó chẳng qua là họ tự lừa dối và bị lừa dối. Vì làm vậy là phá hủy đền thờ của Chúa, vì sự khôn ngoan của đời nghịch với sự khôn ngoan của Chúa. Phao-lô khuyên họ nhận được sự khôn ngoan của Chúa để xây dựng đền thờ của Ngài.

2. Khoe khoang về loài người (c.21-23).

Tín đồ Cô-rinh-tô cũng tưởng rằng nhờ những lãnh tụ của họ mà đền thờ của Đức Chúa Trời được xây cất. Họ không biết rằng tôn người lên chiếm vị Đức Chúa Trời là phá hủy đền thờ của Ngài. Phao-lô cho họ biết rằng Cơ đốc nhân thuộc về Hội Thánh, Hội Thánh thuộc về Chúa Jêsus, Chúa Jêsus thuộc về Đức Chúa Trời. “Vì ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ”. Phá hằng chục nhà thờ bằng gỗ, bằng đá không tội nặng bằng phá hủy sự hiệp nhất, sự yêu thương, sự thánh thiện của Hội Thánh mà Chúa đang ngự ở trong.

Ngày nay, chúng ta có thể khoe mình có lý do chính đáng, có thiện chí xây dựng Hội Thánh của Chúa, nhưng coi chừng chúng ta đang phá hủy Hội Thánh của Ngài, “Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi, lại gặt giống nấy” (Ga-la-ti 6:7).

CÂU HỎI

1. Lý do và hành động quan hệ nhau thế nào?

2. Đời sống của chúng ta xây cất trên nền tảng nào?

3. Xây cất trên nền tảng là Chúa Jêsus có nghĩa gì?

4. Vật liệu mà chúng ta xây cất là gì?

5. Tất cả vật liệu được chia ra những loại nào?

6. Tính chất của hai vật liệu đó khác nhau thế nào?

7. Việc lành nào giống như vàng, bạc, bửu thạch? Việc lành nào giống như gỗ, cỏ khô, rơm rạ?

8. Chừng nào kết quả công trình của ta mới được bày tỏ?

9. Được cứu dường như qua lửa có nghĩa gì?

10. Tại sao chúng ta có thể phá hủy Hội Thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời?

11. Dầu có lý do chính đáng thì hành động nào có thể phá hủy đền thờ Đức Chúa Trời?

12. Kẻ phá hủy đền thờ của Chúa sẽ thế nào?

BÀI 43. KHÔNG PHẢI TÔI, NHƯNG LÀ CHÚA

KINH THÁNH: ICôr 4:1-21.

CÂU GỐC: “Ngươi há có điều chi mà chẳng nhận lãnh sao? Nếu ngươi đã nhận lãnh thì sao còn khoe mình như chẳng từng nhận lãnh?” (ICôr 4:17).

MỤC ĐÍCH: Giúp các tín hữu hiểu rằng chính họ và mọi sự họ có đều bởi ân điển của Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Năng lực để phục vụ

(I Cô 4:1-21).

TH:

Chúa Jêsus trên hết

(Công 4:12-21).

TB:

Một mình chống lại số đông

(ICác 18:19-39).

TT:

Gương của Phao-lô

(II Cô 11:16-33).

TN:

Phao-lô tôn vinh Chúa

(Ga-la-ti 6:16-21).

TS:

Giô-suê làm gương

(Giô-suê 24:14-21).

TB:

Không phải tôi, nhưng là Chúa

(Ga-la-ti 2:16-21).

Biết điều phải, tin điều phải thì dễ, song ăn ở cho phải thì không dễ đâu! Biết bao nhiêu lần chúng ta đã thất bại vì không ăn ở đúng như điều mình biết, mình tin. Đành rằng chúng ta có thiện chí, có nhiệt tâm, có trách nhiệm sống xứng đáng với danh nghĩa tín đồ, song trong chúng ta không có điều nào tốt. Đức Chúa Trời biết rõ hơn chúng ta, nên Ngài ban Con Độc sanh xuống trần, sống cuộc đời hoàn toàn thánh thiện, không những để làm gương cho chúng ta, song trên hết là để chúng ta nhờ Ngài mà sống cuộc đời xứng đáng. Bí quyết của một đời sống như vậy là “không phải tôi, nhưng là Chúa”. Ngài sống cho tôi, Ngài sống trong tôi.

I. CHÚNG TA LÀ ĐẦY TỚ CỦA CHÚA (c.1-5).

Phao-lô thay cho A-bô-lô và Sêpha để xưng mình là đầy tớ Chúa, là quản gia của Chúa. Theo một nghĩa rộng, đầy tớ hay quản gia của Chúa không những chỉ về sứ đồ đời xưa, mục sư, truyền đạo ngày nay mà cũng chỉ về tất cả tín hữu (I Phi-e-rơ 2:16). Đầy tớ là người hầu việc. Trong Hội Thánh có mục sư, truyền đạo, chấp sự, chức viên và tín đồ, người đánh đàn, người hướng dẫn, ban ca nhạc… đều là đầy tớ của Chúa, mặc dầu công tác khác nhau, tính cách khác nhau (Ma-thi-ơ 24:45-51; 25:14-30).

Tư cách của đầy tớ là phải trung thành. Đầy tớ nào được chủ tin cậy nhất thì được cất nhắc lên làm quản gia coi sóc mọi việc trong nhà. Có rất nhiều đầy tớ bất trung, nên phước cho ai có đầy tớ trung thành. Phô-ti-pha lấy làm sung sướng, gia đình thịnh vượng từ khi có một đầy tớ như Giô-sép. Ông đặt Giô-sép làm quản gia, giao hết tài sản mình cho Giô-sép coi sóc. Chúng ta là đầy tớ của Chúa nên phải trung thành như Giô-sép và hơn nữa để Nhà của Chúa luôn được thịnh vượng, hầu Chúa được đẹp lòng, danh Ngài được vinh hiển.

Chỉ có một mình Chúa có quyền tuyệt đối đoán xét đầy tớ Ngài. Hội Thánh Cô-rinh-tô đã chia thành nhiều phe, mỗi phe theo quan điểm mình mà xét đoán lẫn nhau. Chắc có người bênh vực Phao-lô, song cũng có người xét đoán ông. Phao-lô kể ra 4 tòa án: (1) Anh em trong Hội Thánh, (2) Dư luận của thế gian, (3) Lương tâm của chúng ta và (4) Tòa án của Chúa.

Ba tòa án trước, mặc dù có giá trị, song rất bất toàn, vì không ai biết rõ mọi sự để xét đoán lòng trung thành của anh em, hoặc của chính mình. Chúng ta thường hiểu lầm, vì thiếu yếu tố cần thiết để xét đoán; chúng ta thường lệch lạc, vì thiếu tinh thần vô tư. Chỉ một mình Chúa có quyền tuyệt đối xét đoán đầy tớ Ngài, vì sự xét đoán của Chúa là chí công vô tư. Sự xét đoán của Chúa như thế vì Ngài biết mọi hoàn cảnh, Ngài có thể đem mọi sự nơi tối tăm ra nơi sáng láng; Ngài biết những bí mật trong lòng người, Ngài biết động cơ của mọi người. Chúng ta thấy bề ngoài công việc, còn Chúa thấy ý định bên trong lòng. Ngài dựng nên chúng ta, nên chỉ có một mình Ngài biết những gì trong chúng ta.

III. MỌI SỰ CHÚNG TA CÓ LÀ DO CHÚA (c. 6-15).

Phe đảng là do lòng kiêu ngạo mà ra. Phe đảng luôn tôn trọng người này khinh dể người kia, vì xem người này là hơn người kia.

Phao-lô đặt luôn ba câu hỏi: (1) Ai phân biệt ngươi với người khác? (2) Ngươi há có điều chi mà chẳng từng nhận lãnh sao? (3) Nếu ngươi đã được nhận lãnh thì sao còn khoe mình như chẳng từng được nhận lãnh?

Hội Thánh Cô-rinh-tô xưa kia cũng như Hội Thánh Việt nam ngày hôm nay phải trả lời ba câu hỏi này. Tuy nhiên Phao-lô đã hỏi tức là đã trả lời.

1. Ai phân biệt ngươi với người khác?

Anh có gì hơn người khác đâu! Mọi người đều phạm tội, anh là một trong số đó. Mọi người đều hư mất, đó cũng là số phận của anh. Sự cứu rỗi mà Chúa ban cho anh cũng như cho mọi người. Chúa Jêsus đã chết vì anh, vì tôi, cũng như Ngài đã chết vì hai tên cướp bên hữu và bên tả Ngài.

2. Ngươi há có điều chi mà chẳng nhận lãnh sao?

Dầu anh có bao nhiêu ân tứ, bao nhiêu khả năng, hay bất luận điều chi khác, thì đâu phải do anh mà hết thảy đều do Chúa ban cho anh, ngay như sự cứu rỗi thì anh cũng đã nhận nơi Chúa do công tác đền tội của Ngài. “Vì chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có thể lãnh chi được” (Giăng 3:27). “Mọi ân điển tốt lành cũng như sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống” (Gia-cơ 1:17). Nếu ngươi đã nhận lãnh thì sao còn khoe mình như chẳng từng nhận lãnh? Nên nhớ rằng vô ơn là một tội, nó còn đưa mình đến một tội khác là kiêu căng. Anh có gì đâu, anh ra gì đâu mà khoe khoang, nếu phải khoe khoang thì khoe khoang rằng: Anh đã nhận lãnh mọi sự từ nơi Chúa. Chúng ta không có một cớ rất nhỏ nào để kiêu ngạo, song có hằng bao nhiêu cớ để khiêm nhường. Chúa có mọi sự, Ngài đã ban mọi sự cho chúng ta.

Để thức tỉnh Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã dùng lời văn châm biếm, vừa bày tỏ sự khiêm tốn của các sứ đồ vừa bày tỏ sự kiêu căng của họ. Ông vẽ ra đời sống thực tế của các sứ đồ và đời sống tưởng tượng của Hội Thánh. Ông đặt ba bức tranh đó đối chiếu nhau để ai nấy đều thấy rõ đâu là thực, đâu là hư. Ông làm hai bảng liệt kê, một bên là sự khoe khoang của họ, một bên là sự khốn nạn của các sứ đồ.

– Anh em no đủ, giàu có, cai trị như vua, còn chúng tôi như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người xem.

– Anh em khôn ngoan, chúng tôi ngu dại.

– Anh em mạnh mẽ, chúng tôi yếu đuối.

– Anh em quí trọng, chúng tôi khinh hèn. Ngoài ra, chúng tôi bị đói khát, trần truồng, bị người ta vả trên mặt, lưu lạc, bơ vơ.

Phao-lô không có ý than vãn về cuộc sống của mình, trái lại, ông lấy làm hãnh diện mà được như vậy… nên: “Khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên giải”, mặc dù người ta xem chúng tôi như “rác rến của thế gian, cặn bả của loài người cho đến ngày nay”. Đành rằng chúng ta cũng sẽ có ngày vinh hiển mà thiên sứ cũng không thể sánh được, song ngày đó, chưa phải là ngày nay mà là ngày Chúa chúng ta trở lại. Chúng ta có mọi sự, làm mọi sự, chịu mọi sự, hi vọng mọi sự đều do Chúa.

III. NĂNG LỰC CỦA CHÚNG TA LÀ TRONG CHÚA (c. 14-21).

Phao-lô muốn Hội Thánh Cô-rinh-tô biết rằng ông viết như trên không phải là làm cho họ hổ thẹn, song để khuyên răn họ như cha mẹ khuyên răn con cái. “Hãy bắt chước tôi”. Ai nấy cần có một nếp sống thực tế hơn là khoa trương mà không có gì hết. Vì nước Đức Chúa Trời “chẳng phải ở lời nói, mà ở tại năng lực”. Hội Thánh Cô-rinh-tô đã sử dụng quá nhiều lời nói, vì họ có khẩu tài, song biết quá ít về năng lực của Thánh Linh (2:4). Chúng ta hoàn toàn đồng ý với Phao-lô về nếp sống của ông, muốn bắt chước ông như ông đã bắt chước Chúa: Nào là làm một đầy tớ trung thành, tận tâm, bao giờ cũng tôn vinh Chúa, chờ đợi Ngài. Ông thừa nhận mọi ân tứ của Chúa ban cho, trong đó có ân tứ chịu khổ, chịu nhục vì danh Ngài cho đến chết.

Song không phải ai cũng có thể như vậy, không ai có thể sống cuộc đời tín đồ của Chúa Jêsus ngoài Chúa Jêsus ra. Nói cách khác, chỉ có Chúa Jêsus mới có thể sống cuộc đời tín đồ của Ngài. Ngài đã thật sự sống cuộc đời đó suốt 33 năm. Hiện nay, Ngài muốn sống lại cuộc đời đó trong mỗi tín đồ, là người sẵn sàng dâng mình cho Ngài. Năng lực để sống cuộc đời đó không phải là năng lực của chúng ta, bèn là năng lực của Chúa. Chúng ta phải thành thật thưa với Ngài rằng: “KHÔNG PHẢI TÔI! NHƯNG LÀ CHÚA!”

CÂU HỎI

1. Hãy kể ra những ai là đầy tớ của Chúa?

2. Đầy tớ của Chúa thì phải thế nào?

3. Tại sao chúng ta không nên xét đoán đầy tớ Chúa?

4. Tại sao chỉ có Chúa mới đủ thẩm quyền xét đoán loài người?

5. Tại sao chúng ta không được phép kiêu ngạo, nếu ta được nhiều ân tứ hơn người khác?

6. Đối với Phao-lô trong các ân tứ Chúa ban, thì có ân tứ đặc biệt gì nữa mà các sứ đồ đã được?

7. Năng lực nào khiến chúng ta ăn ở như Phao-lô đã dạy?

8. Nói chung thì ai có thể sống được cuộc đời tín đồ của Chúa Jêsus?

9. Làm sao để Chúa Jêsus sống cuộc đời của Ngài trong chúng ta?

BÀI 44. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĂN Ở XỨNG ĐÁNG.

KINH THÁNH: ICôr 6:1-20.

CÂU GỐC: “Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi, vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời” (ICôr 6:20).

MỤC ĐÍCH: Dạy các tín hữu biết các điều kiện để ăn ở xứng đáng trước mặt Chúa và mọi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Cách hành động khi bị đối xử bất công

(I Cô 6:1-11).

TH:

Anh em thuộc về Chúa Jêsus

(I Cô 6:12-20).

TB:

Người được dựng nên mới trong Chúa

(II Cô 5:14-21).

TT:

Bước đi trong cuộc đời mới

(Rô-ma 6:1-13).

TN:

Đồng hiệp ý với nhau

(Phi-líp 4:1-9).

TS:

Các con cái của sự sáng

(Ê-phê-sô 5:1-18).

TB:

Cách ăn ở của các tín đồ

(I Cô 6:1-20).

Chúng ta được cứu để sống cuộc đời tôn vinh Đức Chúa Trời qua cách ăn ở xứng đáng của chúng ta. Đó là chủ đích của Đức Chúa Trời khi ban Con Một của Ngài giáng thế, chịu chết và sống lại vì chúng ta.

Tín đồ Cô-rinh-tô đã ăn ở không xứng đáng. Họ chia rẽ, kiêu căng, xét đoán, dâm loạn, rồi còn kiện cáo nhau trước tòa. Phao-lô trách họ bằng 6 câu hỏi: “Anh em há chẳng biết sao?” (c. 2, 3, 9, 15, 16, 19). Những điều này Phao-lô đã dạy rồi mà họ chưa biết hay không nhớ. Muốn tín đồ Cô-rinh-tô có cách ăn ở xứng đáng, Phao-lô đã nhắc họ hai điều: (1) Phải nhớ mình là ai và (2) Phải nhớ mình thuộc về ai. Điều đó có nghĩa là họ phải biết địa vị của mình và biết thân thể của mình.

Bài học cho tín đồ Cô-rinh-tô ngày xưa cũng là bài học cho hết thảy chúng ta ngày nay.

I. ĐIỀU KIỆN 1: PHẢI BIẾT ĐỊA VỊ CỦA MÌNH (c.1-11).

Mình khinh mình trước, người mới khinh mình sau. Khinh mình là không biết đúng địa vị của mình. Đó là tình trạng của tín đồ Cô-rinh-tô. Họ đã tự khinh, vì khi giữa vòng anh em có sự bất hòa, họ đã đưa nhau ra tòa.

Phao-lô hỏi họ sao dám làm điều đó? Ông cho biết họ là thánh đồ. Rồi ông hỏi: “Anh em há chẳng biết thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao?” Ông muốn nói rằng, anh em không biết mình có một địa vị cao quí dường ấy sao? Xét đoán thế gian là việc quá lớn lao, còn việc xét đoán sự bất hòa giữa anh em là việc quá nhỏ mọn. Thế thì tại sao anh em lại đưa nhau ra tòa để bị xét đoán?

Phao-lô hỏi thêm: “Anh em há chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao?” Ông muốn nói rằng, không những chúng ta sẽ xét đoán loài người mà còn xét đoán thiên sứ nữa. Với địa vị cao quí quá sức tưởng tượng đó, thì sao anh em không xét đoán những việc của đời tạm này mà phải đưa nhau ra tòa? Trong vòng anh em không có ai để phân xử sao? Anh em làm như vậy là tự làm nhục mình và cũng làm nhục Chúa nữa.

Nhìn về tương lai, Phao-lô cho tín đồ Cô-rinh-tô biết triển vọng ngày Chúa tái lâm chúng ta sẽ được vinh hiển, tôn trọng và đồng trị trong cõi đời đời (Rô-ma 8:17; II Ti-mô-thê 2:12; Đa-ni-ên 7:22; Ma-thi-ơ 19:28; Giu-đe 6).

Phao-lô không có ý dạy tín đồ kiêu căng, song dạy họ ăn ở xứng đáng với địa vị cao trọng Chúa ban cho mình (Ê-phê-sô 4:1). Đành rằng, nếu có sự gì xảy ra giữa một tín hữu với người chưa tin Chúa mà không dàn xếp được thì phải nhờ tòa án giải quyết, song tín hữu với tín hữu thì chúng ta giải quyết với nhau. Ngoại trừ việc của Hội Thánh có quan hệ với chính quyền.

Chưa nói ai phải ai quấy, đưa nhau ra tòa là tội rồi! (c. 6-8). Hội Thánh là một đại gia đình mà Đức Chúa Trời là Cha, chúng ta là anh chị em, vì thế đưa nhau ra tòa là gây ra cảnh nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn, làm đau đớn cho nhau, và nhất là làm đau đớn cho Chúa. Phao-lô dạy rằng trong trường hợp có sự bất hòa như vậy, thà chịu sự bất công, bị thiệt hại là hơn. Người tín đồ thà chịu đối xử bất công, bị thiệt hại, chớ không chịu đối xử bất công với ai, không chịu làm thiệt hại ai.

Ngày kia, bọn chăn chiên của Áp-ra-ham và bọn chăn chiên của Lót tranh chấp nhau về đồng cỏ. Dầu rằng Áp-ra-ham chiếm ưu thế, vì là bác, song ông nói với Lót: “Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chớ nên cãi lẫy nhau… Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao??? Nếu ngươi lấy bên tả, ta sẽ qua bên hữu, nếu ngươi lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả” (Sáng 13:7-9). Xử sự như Áp-ra-ham thật đẹp vô cùng! (Thi 133:1-3).

Tín đồ đưa nhau ra tòa là một hành động bất công (c. 9-11) mà Phao-lô đã lên án kẻ bất công không hưởng được nước Đức Chúa Trời. Ông nói rằng trước kia chúng ta là tội nhân, đã từng phạm tội gian dâm, thờ hình tượng, trộm cắp, tham lam… nhưng nhờ Chúa Jêsus và nhờ Thánh Linh chúng ta đã được rửa sạch, được nên thánh và được xưng công bình. Chúng ta đã được thương yêu, tại sao không thương yêu nhau? Chúng ta đã được tha thứ, tại sao không tha thứ nhau? (Ê-phê-sô 4:32; Cô-lô-se 3:13). Đối xử bất công với anh em mình là điều đáng tội (Ma-thi-ơ 18:23-35).

Chúng ta phải nhớ mình là ai. Chúng ta có địa vị cao quí thì phải có tâm hồn cao thượng.

II. ĐIỀU KIỆN 2: PHẢI BIẾT THÂN THỂ CỦA MÌNH (c. 12-20).

Chúng ta có thân thể, phải biết thân thể mình thuộc về ai và để làm gì?

1. Thân thể là chi thể của Chúa Jêsus.

Tín đồ Cô-rinh-tô tưởng mình đã được cứu thì có tự do. Phao-lô bảo rằng, đừng lạm dụng sự tự do mà làm hại thân thể mình. “Mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng để sự gì bắt phục được tôi”. Tín đồ có phép làm mọi sự miễn là:

a. Có ích cho thân thể.

b. Không trở nên nô lệ cho bất cứ sự gì.

Ăn uống, ngủ nghỉ, lao động, thể thao, giải trí là những việc có ích. Nhưng hút thuốc, uống rượu và một số điều khác là vô ích mà còn có hại cho thân thể. Ngoài ra, ghiền thuốc, ghiền rượu là trở nên nô lệ cho các thói xấu đó, còn làm nhục cho thân thể mình. Thậm chí, quá say mê bất luận một cuộc vui hay giải trí nào như chơi cờ tướng, xem đá banh, làm mất thì giờ và sức khỏe cũng là việc không nên! Chúng ta được tự do không phải để phạm tội mà để sống xứng đáng.

Song vấn đề chính yếu Phao-lô nêu lên đây là sự lạm dụng chính thân thể thời bấy giờ. Tại Cô-rinh-tô người ta sống loạn luân, hoang dâm vô độ. Nếp sống đó đã tràn vào Hội Thánh (5:1). Thế mà có người dám bênh vực, lý luận rằng như bụng với đồ ăn, hễ đói thì ăn, không có gì là xấu, thân thể với sự dâm dục cũng thế. Phao-lô bác ý đó, ông nói rằng so sánh như vậy là sai. Bụng với đồ ăn tương hiệp nhau, còn thân thể với sự dâm dục thì không. Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn. Song thân thể không vì sự dâm dục mà vì Chúa, và Chúa đã chết vì thân thể. Bụng và đồ ăn đều tạm thời, còn thân thể là đời đời, vì nó sẽ sống lại như Chúa đã sống lại (Phi-líp 3:21).

Phao-lô nêu hai câu hỏi để nhấn mạnh mối tương giao mật thiết và đời đời giữa thân thể của chúng ta với Chúa Jêsus: “Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao? Anh em há chẳng biết rằng người nào kết hiệp với đĩ điếm thì trở nên một xác với nó sao?” Ông muốn nói rằng thân thể của chúng ta rất cao quí, vì là chi thể của Chúa. Chúng ta với Ngài là một. Lấy chi thể của Chúa mà làm cho nó trở thành chi thể của kỵ nữ là một việc đại ác (Sáng 39:9). Gian dâm là tội phạm đến chính thân thể mình, làm ô uế chi thể của Chúa, gây đau đớn và sỉ nhục cho Ngài. Hãy tránh sự gian dâm như tránh địa ngục, cũng hãy tránh bất luận điều gì có thể đưa mình đến tội đó.

2. Thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh.

“Anh em há chẳng biết thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em sao?” Phao-lô nhấn mạnh về tính cách quan trọng của thân thể chúng ta là đền thờ mà Chúa Thánh Linh luôn luôn ngự trị. Chúa Jêsus đã bỏ một giá rất cao là chính huyết Ngài để mua chuộc linh hồn cũng như thân thể chúng ta hầu làm đền thờ của Ngài. Chúa là thánh, đền thờ của Ngài cũng phải thánh. Nếu chúng ta phạm tội là phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, là xua đuổi Ngài ra khỏi đó (ICôr 3:17).

Chúng ta phải biết rằng thân thể mình là hoàn toàn thuộc về Chúa. Chúng ta không có phép sử dụng thân thể của chúng ta theo ý mình, mà phải tận hiến cho Chúa, đặt nó dưới quyền sử dụng của Ngài, sống trong ý muốn Ngài. “Vì ý muốn Đức Chúa Trời là khiến anh em nên thánh, tức là phải lánh sự ô uế, mỗi người phải biết giữ thân thể mình cho thánh sạch và tôn trọng, chẳng bao giờ sa vào tình dục luông tuồng” (I Tê 4:3-5).

“Vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời”. Chủ đích của thân thể, của đời sống chúng ta là tôn vinh Chúa, thân thể chúng ta phải là lợi khí để Chúa sử dụng cho chương trình của Ngài. Chúng ta không có phép làm điều gì mình muốn mà phải làm điều Chúa muốn. Nguyện ý muốn Chúa được nên qua cách ăn ở xứng đáng của chúng ta.

CÂU HỎI

1. Lý do nào khiến tín đồ Cô-rinh-tô đưa nhau ra tòa khi có bất hòa với nhau?

2. Địa vị của tín đồ cao quí như thế nào?

3. Tại sao tín đồ không nên đưa nhau ra tòa khi có sự bất hòa với nhau?

4. Áp-ra-ham làm gương cho chúng ta như thế nào về việc này?

5. Thân thể của chúng ta là chi thể của Chúa Jêsus, có nghĩa gì?

6. Có nhiều tội làm hại chi thể của Chúa, song tội nào hại hơn hết?

7. Chúa mua chuộc thân thể chúng ta bằng gì?

8. Làm ô uế đền thờ của Chúa bị kết tội gì?

9. Chủ đích của thân thể chúng ta là gì?

10. Để có cách ăn ở xứng đáng chúng ta phải biết hai điều quan trọng nào?

BÀI 45. XÂY DỰNG MỘT GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC.

KINH THÁNH: ICôr 7:1-16.

CÂU GỐC: “Chớ mang ách chúng với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng?” (IICôr 6:14).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên về tầm quan trọng của việc xây dựng một gia đình hạnh phúc.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao-lô nói về hôn nhân

(ICôr 7:1-14).

TH:

Tín hữu với người vô tín

(ICôr 7:15:24).

TB:

Lời Chúa cho người chưa kết hôn

(ICôr 7:25-40).

TT:

Tìm cầu ý chỉ của Đức Chúa Trời

(Sáng 24:1-27).

TN:

Làm theo ý Đức Chúa Trời

(Sáng 24:28-48).

TS:

Hôn lễ của Y-sác và Rê-bê-ca

(Sáng 24:49-67).

TB:

Bức tranh về Chúa Jêsus và Hội Thánh

(Ê-phê-sô 5:22-23).

Đức Chúa Trời quan tâm đến gia đình. Để duy trì nòi giống loài người trên đất, Ngài đã lập gia đình cho A-đam và ban phước trên gia đình ấy. Để có một dân tộc thánh, và qua dân tộc đó Ngài ban phước cho loài người, thì Ngài đã dùng gia đình của Áp-ra-ham. Chúa phán: “Áp-ra-ham chắc sẽ được trở nên một dân tộc lớn và cường thịnh, các dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ người mà được phước. Ta đã chọn người đặng khiến người dạy các con cùng nội nhà người giữ theo đạo Đức Giê-hô-va, làm các điều công bình và ngay thẳng” (Sáng 18:18-19).

Một dòng dõi được phước phải từ một gia đình được phước; một gia đình được phước phải từ một cuộc hôn nhân được phước. Thế nào là cuộc hôn nhân được phước?

Kinh Thánh nói rất rõ về vấn đề hôn nhân. Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ học về một vài khía cạnh của vấn đề. Vì trong ICôr 7; không phải Phao-lô đưa vấn đề hôn nhân ra giải thích, mà ông chỉ giải đáp những câu hỏi của tín hữu Cô-rinh-tô về vấn đề ấy.

I. HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH LÀ MỘT CÔNG LỆ (c. 1-2).

Phao-lô không đề xướng cũng không chấp nhận thuyết độc thân. Ông không nói người sống độc thân là thánh khiết hơn người lập gia đình. Sở dĩ ông cho rằng đàn ông không đụng đến đàn bà là hay, chỉ vì hoàn cảnh khó khăn của Hội Thánh thời bấy giờ (I Cô 7:25-27). Đó là trường hợp đặc biệt, bất thường của Hội Thánh bị bắt bớ mà Phao-lô không muốn người đàn ông phải vợ buộc con mang. “Quan san ngàn dặm, thê nhi một đoàn”. Tuy nhiên, đó không phải là một cấm lịnh, vì hôn nhân là công lệ: “Đàn ông phải có vợ, đàn bà phải có chồng”.

Dầu Phao-lô sống độc thân và ước ao mọi người đều như ông, song mỗi người đều có ân tứ riêng của Đức Chúa Trời; người thế này, kẻ thế khác. Vậy ai nấy phải tự xét để biết ân tứ Chúa ban cho mình là gì – Sống độc thân hay có đôi bạn? Ai nấy phải sống đúng theo ân tứ của Chúa mà đừng cả gan làm liều (c. 6-9).

Cả Kinh Thánh không có chỗ nào cấm kết hôn hoặc cho kết hôn là bất khiết. Trái lại, Đức Chúa Trời đã thiết lập hôn nhân, Đức Chúa Jêsus đã dự hôn lễ, Đức Thánh Linh đã bảo: “Mọi người phải kính trọng hôn nhân”. Ngoài ra còn lên án cấm cưới gã là giáo lý ma quỉ (I Ti-mô-thê 4:1-3).

Khi Đức Chúa Trời dựng nên con người, Ngài đã đặt trong đàn ông bản năng làm chồng, làm cha; trong đàn bà bản năng làm vợ, làm mẹ. Hôn nhân cho họ có cơ hội và phương tiện sử dụng, phát triển bản năng của họ để thi hành mạng lệnh của Chúa: “Hãy sanh sản thêm nhiều”.

II. VỢ CHỒNG LÀM TRỌN BỔN PHẬN CỦA MÌNH (c. 3-5).

Bước vào hôn nhân là bước vào bổn phận làm chồng, làm cha, làm vợ, làm mẹ. Muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc, ai nấy đều phải làm tròn bổn phận. Nếu một bên xao lãng bổn phận thì gia đình sẽ hư hỏng.

1. Chồng vợ phải hết lòng yêu nhau.

Bổn phận của chồng là yêu vợ. Đó là lời thề ước đinh ninh trong hôn nhân. Yêu vợ là chăm sóc, bảo vệ, lo nghĩ đến hạnh phúc của vợ. Không những yêu vợ lúc còn trẻ, mà còn yêu vợ lúc tuổi già khi nhan sắc phai tàn, thân hình suy nhược. Chồng lúc nào cũng xem vợ là người đàn bà đẹp nhất – không phải đẹp cho người khác mà đẹp cho chính mình, nên chính mình đã cưới nàng làm vợ. Chồng phải yêu vợ theo mẫu mực Chúa Jêsus yêu Hội Thánh và phó mình vì Hội Thánh. Chúa làm cho Hội Thánh tốt đẹp, vinh hiển và hạnh phúc. Nếu chồng làm cho vợ hạnh phúc thì con cái cũng hạnh phúc; nếu gia đình hạnh phúc thì chính mình cũng hạnh phúc.

Chồng phải được lòng tin cậy của vợ, lúc nào vợ cũng tin chắc rằng chồng yêu vợ một cách chung thủy. Đó là giá trị của chồng. Đó là người chồng được vợ vâng phục và kính trọng.

Xây dựng gia đình hạnh phúc là bổn phận của đôi bên. Vì thế chồng có bổn phận đối với vợ thế nào, thì vợ cũng có bổn phận đối với chồng như vậy. Vợ hãy xem bổn phận đó là niềm hãnh diện như mão miện mà mình đã đội trong ngày thành hôn.

2. Quyền chung trên thân thể của vợ chồng.

“Hai người trở nên một thịt” nên không ai có quyền riêng trên thân thể mình mà phải thuộc quyền chung của đôi bên. Trong hai người không ai được phép đơn phương làm bất luận điều gì nếu không được bên kia đồng ý. Vợ thuộc về chồng, chồng thuộc về vợ. Vợ là một phần của chồng, chồng là một phần của vợ. Không ai được sống độc lập mà phải sống tùy thuộc lẫn nhau, vì có mối tương quan mật thiết với nhau.

Vì ảnh hưởng thuyết khổ hạnh, một số tín hữu tưởng rằng vợ chồng phải xa nhau, ai nấy ở riêng để đời sống được thánh khiết. Phao-lô không đồng ý như thế, ngoại trừ trường hợp đôi bên ưng thuận tạm thời để chuyên cầu nguyện rồi hiệp lại cùng nhau, hầu cho khỏi mắc mưu ma quỉ. Ngày nay cũng vậy, nếu vì chức vụ, chồng có công tác phải đi xa một thời gian là việc phải lẽ. Đó chỉ vì hoàn cảnh, song không vì phụ bạc mà chối từ nhau.

III. VỢ CHỒNG VUI VẺ CHUNG SỐNG (c.10-11).

Kinh Thánh không cho phép vợ chồng để, bỏ nhau. Nếu vì cơm không lành, canh không ngọt mà phải để, bỏ nhau thì chồng không được phép lấy vợ khác, vợ không được phép lấy chồng khác; song phải ở vậy hoặc trở lại với nhau.

Chỉ có một trường hợp ngoại lệ là vợ phạm tội ngoại tình. Chúa Jêsus phán: “Nếu người nào để vợ mình không phải vì cớ ngoại tình thì người ấy làm cho vợ mình ra người tà dâm…” (Ma-thi-ơ 5:32). “Nếu ai để vợ mình không phải vì cớ ngoại tình và cưới vợ khác thì người ấy phạm tội tà dâm” (Ma-thi-ơ 19:9).

Hôn nhân quan trọng và cũng khó khăn như vậy nên khi kết hôn, nam cũng như nữ phải nói rằng đây là việc làm “một lần đủ cả” cho đến suốt đời. Hôn nhân không những ảnh hưởng trên vợ chồng mà còn ảnh hưởng trên con cái và dòng dõi noi theo. Một gia đình đổ vỡ không những phá hủy đời sống của hai người mà còn di hại đến con cháu tương lai không phải ít.

Phải chăng có người sẽ nói: “Nếu vậy thì thà không cưới vợ còn hơn” (Ma-thi-ơ 19:10). Nên biết rằng ma quỉ gieo rắc tội lỗi để phá hoại gia đình. Song nếu gia đình lập trong thánh ý Chúa và luôn luôn được Ngài ngự trị thì hạnh phúc vô cùng. Tại trần gian này, không nơi nào mà con người tìm được an ủi bằng gia đình! Kinh Thánh chép: “Ai tìm được một người vợ tức là tìm được một điều phước, và hưởng được ân điển của Đức Giê-hô-va” (Châm 18:22). Đây là một người vợ đúng nghĩa của nó, một người vợ biết bổn phận và làm trọn bổn phận. Một người vợ như vậy có giá trị hơn châu ngọc, nên không phải dễ kiếm và ai cũng có thể kiếm được. Vì “nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại; còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến” (Châm 19:14).

Trong một hoàn cảnh rất khó khăn, Áp-ra-ham hết lòng nhờ cậy Chúa để tìm cho Y-sác một người vợ. Y-sác đã được phước, vì Rê-bê-ca là một người vợ đúng nghĩa.

IV. GIA ĐÌNH TRỌN VẸN (c. 12-16).

Đây không có nghĩa là một người nam tín đồ kết hôn với một người nữ vô tín hoặc nữ tín đồ kết hôn với một người nam vô tín, vì Kinh Thánh không cho phép như vậy (IICôr 6:14; Phục 22:10; A-mốt 3:3). Song điều Phao-lô dạy ở đây là một gia đình không trọn vẹn. Họ không tin Chúa khi cưới nhau, nhưng sau đó, một trong hai người tin Chúa. Trong trường hợp đó có nên lìa bỏ nhau không? Phao-lô đáp: “Không!” Vợ tin Chúa không nên lìa bỏ chồng không tin, chồng tin Chúa không nên lìa bỏ vợ không tin, ngoại trừ trường hợp bên không tin quyết định lìa bỏ vợ hay chồng tin Chúa. Nếu chồng tin Chúa mà vợ không tin thì con cái chịu ảnh hưởng đạo đức của cha; nếu vợ tin Chúa mà chồng không tin thì con cái chịu ảnh hưởng đạo đức của mẹ. Nhờ đó, chúng nó có phương tiện, môi trường thuận lợi để biết Chúa mà tin nhận Ngài. Phao-lô còn khích lệ mạnh mẽ: “Hỡi kẻ làm vợ, biết đâu bà sẽ cứu được chồng mình? Hỡi kẻ làm chồng, biết đâu ông sẽ cứu được vợ mình?” Xưa nay có rất ít gia đình vợ chồng cùng tin Chúa một lượt, song phần đông thì chồng tin Chúa trước rồi dẫn dắt vợ, hoặc vợ tin Chúa trước rồi dẫn dắt chồng. Thế thì, phương pháp tốt nhất để giải quyết một gia đình chưa trọn vẹn là kẻ tin phải nhờ cậy ơn Chúa sống cuộc đời tốt đẹp để chinh phục người chưa tin, hầu gia đình sẽ được hoàn toàn.

Một ngày nọ, có một người đàn ông đến tìm mục sư để tin nhận Chúa Jêsus. Mục sư hỏi.

– Ông có đến nhà thờ nghe giảng lần nào chưa?

– Tôi chưa hề nghe bài giảng nào, song tôi thấy có một bài giảng!

– Ông thấy bài giảng đó ở đâu? Trong sách hay trong báo?

– Thưa ông mục sư, tôi thấy bài giảng đó trong chính đời sống của vợ tôi.

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời đối với gia đình như thế nào?

2. Tại sao chúng ta biết hôn nhân là một công lệ?

3. Tại sao Phao-lô đề nghị nên ở độc thân?

4. Bổn phận quan trọng nhất của vợ chồng là gì?

5. Chỉ trong trường hợp nào vợ chồng có quyền để, bỏ nhau?

6. Làm sao để tìm được người vợ xứng đáng?

7. Làm cách nào để giải quyết một gia đình chưa trọn vẹn?

8. Muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc thì phải như thế nào?

BÀI 46. SỰ TỰ DO THẬT CỦA TÍN ĐỒ.

KINH THÁNH: ICôr 8:1-15.

CÂU GỐC: “Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình làm dịp cho kẻ yếu đuối vấp phạm” (ICôr 8:9).

MỤC ĐÍCH: Dạy các nguyên tắc của Kinh Thánh về cách ăn ở của tín đồ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chỉ dẫn về cách sống

(ICôr 8:1-7).

TH:

Hãy giữ lấy quyền tự do của tín đồ

(ICôr 8:8-15).

TB:

Tôn vinh Chúa trong mọi sự

( Cô-lô-se 3:5-17).

TT:

Nguồn năng lực của tín đồ

(Rô-ma 8:5:13).

TN:

Lời dạy về thiện ác

(Xuất 20:3-17).

TS:

Kết quả một sự chọn lựa nông nổi

(Ga-la-ti 2:1-14).

TB:

Phải và quấy

(Lu-ca 6:6:11).

Hằng ngày chúng ta phải giải quyết nhiều việc, từ việc ăn, uống, mặc, đến việc học hành, làm lụng. Muốn giải quyết chúng ta phải phân biệt việc nào đúng, việc nào sai. Song căn cứ vào đâu để quyết định? Có nhiều việc Kinh Thánh không trực tiếp giải quyết, vậy chúng ta phải làm sao?

Chúng ta sống trong một thời đại tương dối dễ, vì đã có Kinh Thánh toàn bộ trong tay mỗi người; song Hội Thánh Cô-rinh-tô sống trong một thời đại mà Kinh Thánh Cựu ước cũng rất hiếm hoi, Tân ước thì chưa có. Một trong những nan đề họ phải giải quyết đó là “có nên ăn của cúng không?” Lúc bấy giờ, tại thành phố ấy, hầu hết các thức ăn đều đã được dâng cho thần tượng trước khi đem ra chợ bán. Về việc này, có hai ý kiến chống đối nhau. Vì vậy họ viết thơ thỉnh giáo Phao-lô. Nhân dịp đó, ông dùng ba đoạn 8,9,10 của thuơ Cô-rinh-tô thứ nhứt nêu lên những nguyên tắc căn bản, không những áp dụng cho việc ăn của cúng, mà cũng áp dụng cho nhiều việc khác trong nếp sống tự do hằng ngày của tín đồ.

I. TỰ DO PHẢI ĐƯỢC TÌNH THƯƠNG HẠN CHẾ (c. 1-6).

Ý kiến chấp nhận ăn của cúng là của những người hay biết. Không những ăn của cúng bán ngoài chợ, họ còn ngồi ăn trong miếu tà thần (c.10). Họ quyết rằng các thần tượng là hư ảo, hữu danh vô thực, chỉ có Đức Chúa Trời là Chân Thần; vậy, của cúng với thần tượng không có tương quan gì, thần tượng không làm cho của cúng ra thanh sạch, hay ô uế được. Vì vậy, của cúng vẫn là vật trung tính, tín đồ có thể ăn được.

Phao-lô đồng ý với họ mà nói rằng: “Chúng ta biết mình đều có sự hay biết cả, song hay biết sinh kiêu căng”. Thật ra ông đưa ra lời cảnh cáo thích đáng nhất. Vì khi họ tự do ăn của cúng thì khinh dể những người không ăn, cho những người đó là yếu đuối, dại khờ. Kiêu căng như thế là xấu, là tội, là nguy hiểm. “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”.

Phao-lô nói thêm: “Nếu ai tưởng mình biết điều gì, thật người ấy chưa biết như mình nên biết”. Ông muốn nói là họ chưa biết đủ để giải quyết vấn đề là nên ăn của cúng hay không. Trong đời này, sự hay biết của chúng ta còn trẻ con quá, mới biết một chứ chưa biết hai. Qua phân đoạn 10:18-22, Phao-lô chỉ họ thấy của cúng thần tượng là gớm ghiếc dường nào mà họ chưa hay biết chi cả.

“Còn sự yêu thương làm gương tốt”. Đành rằng, chúng ta được tự do hành động theo sự hay biết của mình. Song nếu muốn sống cuộc đời nêu gương tốt để gây dựng anh em mình, chúng ta phải tự chế, không chỉ vì hành động theo sự hay biết mà luôn luôn cặp theo tình thương. Vì “dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự hay biết… nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì” (ICôr 13:2).

Ở đây, Phao-lô nêu lên một nguyên tắc mà mỗi tín đồ phải áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình. Nguyên tắc đó là bất luận việc gì thì tôi được tự do làm theo sự hay biết Chúa ban cho tôi, song phải luôn tự hỏi: “Tôi làm việc này có do tình thương để nêu gương tốt và gây dựng không?” Nếu biết chắc rằng tôi làm việc này vì yêu thương nhau thì cứ làm, bằng không thì đừng làm. Biết bao lần chúng ta đã hành động tự do theo thuần chất hay biết mà không có thực chất yêu thương, nên không nêu gương tốt cho anh em và không gây dựng họ. Nếu chỉ có hay biết mà không yêu thương thì đạo đức không còn.

II. TỰ DO PHẢI TRÁNH CHO NGƯỜI KHÁC BỊ VẤP PHẠM (c. 7-13).

Ý kiến không ăn của cúng là của những người kém hay biết. Trong Hội Thánh có kẻ già người trẻ, có kẻ tin Chúa trước người tin Chúa sau, có kẻ học thức, có người dốt nát, có kẻ tự do, người nô lệ, nên trình độ học biết cũng có hơn kém khác nhau. Những người kém hay biết vốn thờ thần tượng, dầu đã tin Chúa họ vẫn nghĩ rằng thần tượng có thật, nên khi ăn của cúng thì lương tâm yếu đuối của họ ra ô uế. Vậy họ nhất định không ăn của cúng.

Đành rằng, chúng ta là kẻ hay biết được tự do ăn của cúng, song làm như vậy không làm cho mình được đẹp lòng Chúa. Nếu chúng ta ăn thì không lỗi gì, nhưng chẳng ăn cũng chẳng hại gì cho mình. Tuy nhiên đây là điều phải cẩn thận: Sự tự do mà chúng ta sử dụng có thể làm cớ vấp phạm cho người yếu đuối. Nếu người kém hay biết có lương tâm yếu đuối thấy anh em là kẻ hay biết, tự do ngồi ăn trong miếu tà thần thì người vấp phạm, nếu người bắt chước anh em ăn thì người bị lương tâm lên án, phạm tội ăn của cúng; nếu người không bắt chước anh em mà ăn, thì người thắc mắc tại sao anh em có sự hay biết hơn lại phạm tội ăn của cúng? Vậy người mà Chúa chịu chết thế kia nhơn vì sự hay biết của anh em phải bị hư mất. Làm hại cho một người anh em mình là làm hại Chúa.

Phao-lô kết luận: “Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi” (c. 13). Đồ ăn là vật trung tính, không thiện, không ác, tôi có tự do ăn, song nếu là của cúng, hoặc bất luận trường hợp nào có thể gây vấp phạm cho anh em tôi, thì tôi sẽ chẳng bao giờ ăn.

Trên đây là nguyên tắc mà chúng ta có thể áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của mình. Có người nói: “Tôi uống rượu xã giao, tôi uống có chừng mực nên chẳng bao giờ say”. Nhưng có biết đâu nhiều người chung quanh cũng vin vào cớ ấy mà uống rượu, và uống một cách vô độ, đến nỗi say sưa, nghiện ngập, gây xấu hổ, tai hại không kể xiết. Lại có người nói: “Tôi chỉ uống bia, nên chẳng tai hại gì!” Nhưng có ngờ đâu các con trong nhà cũng bắt chước uống bia như cha mình. Sau một thời gian, chúng nó thấy uống bia không thỏa thích, bèn tiến xa hơn là uống rượu mạnh. Bấy giờ, cha chỉ giương cặp mắt nhìn các con bại hoại mà không thể mở miệng khuyên lơn, vì cha mẹ làm cho con vấp phạm. Con cháu của Giô-nađáp nói: “Chúng tôi không uống rượu nào” (Giê-rê-mi 35:6-8).

Tại xứ kia, một Mục sư được mời dự đêm hòa nhạc trong một thành phố lớn. Đây là lần thứ nhì trong đời, ông đến đó. Mục đích của ông chỉ là thưởng thức nhạc. Song người sành điệu biết rằng, sau buổi hòa nhạc còn có nhiều màn khác nữa. Đang khi chờ đợi, một người quen đến chào ông với vẻ ngạc nhiên và nói: “Thưa mục sư, tôi không ngờ một người thánh như ông mục sư lại có mặt tại nơi này”. Ông mục sư giật mình, và nhất định không bao giờ trở lại lần thứ hai, mặc dầu nghe nhạc là sự tự do của ông.

Mỗi hành động của chúng ta hoặc tốt hoặc xấu đều có ảnh hưởng đến người khác. Qua mỗi hành động của chúng ta, họ được gây dựng hoặc bị vấp phạm. Vậy chúng ta phải rất cẩn thận trong mọi hành động của mình. “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích, mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt” (ICôr 10:23).

Tự do ăn của cúng, uống rượu… là điều không cần thiết cho cuộc sống đạo đức mà chỉ có hại. Chúng ta không nên sử dụng tự do vào những việc làm như thế mà làm cho anh em mình vấp phạm. Song tự do đi nhà thờ, học Kinh Thánh, hầu việc Chúa, nói chung là tự do tín ngưỡng là điều thiết yếu.

Nguyện Đức Thánh Linh ngự trị trong lòng chúng ta, để ai nấy phân biệt được điều đáng làm, điều đáng tránh trong cuộc sống hằng ngày.

CÂU HỎI

1. Nan đề của Hội Thánh Cô-rinh-tô là gì?

2. Lý luận của những kẻ hay biết là gì?

3. Chúng ta có nên ăn của cúng hay không? Tại sao?

4. Sự hay biết có đủ để giải quyết mọi sự hay không? Tại sao?

5. Kẻ thiếu hiểu biết nghĩ thế nào về của cúng thần tượng?

6. Làm vấp phạm một anh em yếu đuối là phạm tội với ai?

7. Nguyên tắc căn bản chúng ta phải áp dụng hằng ngày là gì?

8. Cuộc sống của chúng ta có ảnh hưởng gì trên người khác?

9. Tự do nào không cần thiết? Tự do nào cần thiết?

10. Làm sao chúng ta có đủ khả năng để giải quyết mọi việc hằng ngày?

BÀI 47. TRÁCH NHIỆM CỦA TÍN ĐỒ

KINH THÁNH: ICôr 9:16-27.

CÂU GỐC: “Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người để cứu chuộc được một vài người, không cứ cách nào” (ICôr 9:22).

MỤC ĐÍCH: Thúc giục tín hữu về trách nhiệm đối với Chúa, với người và với chính mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Mọi cách cho mọi người

(ICôr 9:16-22).

TH:

Kỷ luật cho một lực sĩ

(ICôr 9:23-27).

TB:

Gương của Phao-lô

(IICôr 11:22-33).

TT:

Những chỉ dẫn về kỷ luật

(II Ti-mô-thê 2:1-10).

TN:

Làm mọi sự để tôn vinh Chúa

(ICôr 10:22; 11:1).

TS:

Điều kiện để làm môn đồ

(Lu-ca 9:23-25; 14:27-35).

TB:

Chúa Jêsus ban một điều răn mới

(Giăng 13:3-38).

Tin Chúa Jêsus, chúng ta được giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi và ma quỉ mà được tự do. Song vì tình thương, chúng ta sẵn sàng làm nô lệ cho Chúa để phục vụ mọi người. Đó là trách nhiệm, đồng thời cũng là đặc quyền Chúa ban cho chúng ta nữa.

Trong ICôr 9:1-15, Phao-lô nói về quyền lợi chức vụ sứ đồ là được Hội Thánh trợ cấp. Đó là quyền lợi chính đáng, hợp lý, hợp tình. Song ông không còn nghĩ gì về quyền lợi mà chỉ nghĩ về trách nhiệm để không có điều chi ngăn trở Tin lành của Chúa. Ông muốn nêu lên lý do để cho tín đồ Cô-rinh-tô thấy rằng, dầu họ có tự do ăn của cúng cũng không nên để điều đó làm cớ vấp phạm cho người khác, làm ngăn trở Tin lành. Đây là trách nhiệm của chúng ta.

I. TRÁCH NHỆM ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (c. 16-18).

Phao-lô xem sự giảng Tin lành là một trách nhiệm, tức là một công việc bắt buộc phải làm chứ không phải tình nguyện, muốn làm hay không tùy ý. Nếu làm thì không dám khoe khoang, còn không làm thì đáng trách cứ. Nếu làm thì khó, song nếu không làm thì khó nhiều hơn. Tuy nhiên, làm thì được thưởng. Phần thưởng đó là gì? – Không phải như quyền lợi là được trợ cấp, mà được giảng Tin lành. Vì ngay khi giảng Tin lành thì được thỏa mãn, vì mình đang làm một việc tôn vinh Đức Chúa Trời. Khi đem được một người về với Chúa thì càng thỏa mãn hơn, không phải được gì nơi người đó, mà được chính người đó làm anh chị em mình. Khi giảng Tin lành cho Hội Thánh không phải được gì nơi Hội Thánh mà đuợc chính Hội Thánh. Đó là niềm vui khôn tả, đó là phần thưởng vô giá của người giảng Tin lành.

Nếu chỉ thấy khía cạnh trách nhiệm mà thôi, chúng ta sẽ dễ nản lòng; song nếu thấy khía cạnh đặc ân và đặc quyền của sự giảng Tin lành, chúng ta sẽ được khích lệ biết bao! Ở dưới mặt trời này, không có gì quan trọng và kết quả đời đời như việc giảng Tin lành. Các thiên sứ ao ước được làm công tác như chúng ta lắm mà không được. Đức Chúa Trời chỉ dành công tác này cho chúng ta, nên chúng ta không làm thì trách nhiệm này vẫn cứ phó thác cho chúng ta.

Trách nhiệm giảng Tin lành không riêng cho người truyền đạo, song chung cho mọi tín đồ. Không phải đứng trên tòa giảng mới là giảng Tin Lành mà nói về Chúa cho từng cá nhân cũng là giảng Tin Lành. Đời xưa: “Những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin lành. Phi-líp… xuống thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ tại đó” (Công 8:4-5). Các nơi vừa kể không có nhà thờ, không có tòa giảng, chỉ có cá nhân truyền đạo. Công tác này không do sứ đồ mà chỉ do chấp sự và tín đồ, song kết quả sau đó là làm cho thành Sa-ma-ri “được vui mừng khôn xiết”. Vậy chúng ta hãy tận dụng đặc ân, đặc quyền của Chúa để tôn vinh Ngài trên đất và làm xong trách nhiệm Ngài giao phó.

II. TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI NGƯỜI (c. 19-23).

Phao-lô là một người tự do, công dân La-mã, học thức uyên thâm, song để thi hành trách nhiệm một cách có hiệu quả, ông sẵn sàng làm nô lệ để phục vụ mọi người. Ông bằng lòng hạn chế tự do, hi sinh quyền lợi của mình vì mọi người. Ông nói: “Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào”. Ông không có ý dua nịnh hay mua chuộc ai, song vì tình yêu thương, ông vui lòng chìu chuộng, nhường bước cho kẻ yếu đuối trong những việc không tổn thương đạo đức. Ông hành động như người câu cá: Với cá lớn dùng lưỡi câu lớn, với cá nhỏ dùng lưỡi câu nhỏ; với loài cá này, dùng thứ mồi sống; với loài cá kia, dùng thứ mồi chết. Có nhiều cách khác nhau, song mục đích vẫn là một, tức là câu được cá.

Bản chất của Tin lành không bao giờ thay đổi, song cách giảng Tin lành có thể thay đổi. Với người Do thái, Phao-lô đã dùng luật pháp, lời tiên tri chứng minh Chúa Jêsus là Chúa Cứu thế, với dân ngoại, ông dùng cõi thiên nhiên chứng minh Đức Chúa Trời toàn năng hằng hữu; với người văn minh, ông dùng triết học của họ và với người thờ lạy hình tượng, ông dùng sự thờ lạy của họ để chứng minh Tin lành duy nhất và đời đời. Như vậy, nhờ sự khéo léo và uyển chuyển của ông, vô luận người thuộc tầng lớp nào, trình độ nào, tư tưởng nào cũng chịu nghe và hiểu được Tin lành.

Để đem Tin lành cho loài người, Đức Chúa Trời đã giáng thế thành người, mang thân xác con người, sống giữa loài người, tiếp xúc với mọi người. Chúa Jêsus đã giảng cho ông Ni-cô-đem, người đàn bà Sa-ma-ri, người Pha-ri-si, người thâu thuế, đảng Hê-rốt, bọn Sađusê… Nguyện Chúa hướng dẫn và dạy dỗ chúng ta biết thế nào để trở nên mọi cách cho mọi người. Tình thương sẽ thúc giục chúng ta làm việc đó nhằm mục đích cứu nhiều người.

III. TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CHÍNH MÌNH (c. 24-27).

Chúng ta có trách nhiệm đối với Chúa, đối với người, bây giờ chúng ta còn có trách nhiệm đối với chính mình nữa.

Phao-lô ví sánh mỗi người chúng ta như một lực sĩ trong trường đua vĩ đại. Chúa và muôn vạn thánh đồ trên trời đang xem chúng ta chạy. Thể lệ cuộc đua này là ai nấy phải chạy cho đến đích, mặc dầu có kẻ trước người sau. Ai đến đích sẽ được thưởng, chứ không phải như các cuộc đua thường chỉ thưởng cho người đến đích trước nhất mà thôi. Phần thưởng quí giá là mão triều thiên không hay hư nát, chứ không phải mão triều thiên bằng lá như trong các cuộc chạy đua của người Hilạp thời xưa. Vì vậy, Phao-lô khích lệ chúng ta phải chạy thế nào cho được thưởng.

1. Đừng chạy bá vơ.

Đừng chạy qua chạy lại, chạy tới chạy lui, chạy xuôi chạy ngược, mà phải chạy đúng đường, đúng luật, đúng lúc, kịp thời. Phao-lô nói: “Tôi cứ làm một điều: Quên lững sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời” (Phi-líp 3:14). Ông cũng nói: “Tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong cuộc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus” (Công 20:24). Như vậy, Phao-lô đã quyết định tập trung tư tưởng, ý chí, năng lực, thì giờ, tất cả sự sống mình vào một việc là chạy cho xong cuộc đua. Cuối cùng, ông đã nói: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin, hiện nay mão triều tiên của sự công bình đã để dành cho ta” (II Ti-mô-thê 4:7-8).

Thật tiếc, vì trên đường đua thuộc linh có người chạy bá vơ cũng như đánh gió, nên không đạt đến đích, cả cuộc đời bị hư hỏng.

2. Phải sống trong kỷ luật.

Phải kiêng cử mọi sự, phải đãi thân thể cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục. Lực sĩ phải kiêng cử những thức ăn có hại cho sức khỏe, mặc dầu thích khẩu. Chỉ ăn khi cần, ăn những thức bổ dưỡng. Phải tập luyện thân thể một cách khắc khổ để quen với gió sương hầu cho cứ chạy mà không mệt nhọc, cứ đi mà không mòn mỏi.

Phao-lô muốn dùng điều này để cảnh cáo tín đồ Cô-rinh-tô vì họ thích sống bê tha liều lĩnh. Phi-e-rơ cũng khuyên chúng ta: “Phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn” (I Phi 2:11). Phao-lô và Phi-e-rơ đã sống đúng như điều họ đã dạy, vì họ sợ rằng: “Sau khi đã giảng dạy cho kẻ khác, mà chính mình bị bỏ chăng”. Bị bỏ đây có nghĩa là bị loại khỏi cuộc đua, vì không chạy đến đích mà bị ngã quị dọc đường: Một lực sĩ bị loại như thế thật đau đớn và sỉ nhục! Song một Cơ Đốc nhân đã từng phục vụ Chúa qua việc giảng truyền Tin lành, đem người khác về với Ngài mà chính mình bị loại còn đau đớn và sỉ nhục hơn. Tuy nhiên, trên thực tế không phải là không có. Đó là kết quả một cuộc sống vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy QUYẾT ĐỊNH SỐNG TRONG KỶ LUẬT!

CÂU HỎI

1. Trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời là gì?

2. Tại sao giảng Tin lành là một trách nhiệm?

3. Qua sách Công vụ, chúng ta biết phương pháp giảng Tin lành thế nào?

4. “Trở nên mọi cách cho mọi người” có nghĩa gì?

5. Bản chất Tin lành với phương pháp giảng Tin lành, điều gì có thể thay đổi?

6. Phao-lô sánh chúng ta với ai?

7. Lực sĩ phải chạy thế nào cho được thắng?

8. Phần thưởng đó là gì?

9. Chạy bá vơ có nghĩa là gì?

10. Tại sao có người phải bị loại ra?

BÀI 48. TIỆC THÁNH

KINH THÁNH: ICôr 11:12-34.

CÂU GỐC: “Chúng tôi lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết” (Lu-ca 1:74-75).

MỤC ĐÍCH: Cảnh cáo tín hữu về mối nguy cơ và đoán phạt đối với việc xem thường các vấn đề thuộc linh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Phao-lô cảnh cáo thái độ bất kính

(ICôr 11:17-34).

TH:

Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời

(Thi 99:1-9).

TB:

Các lệnh truyền phải tôn kính

(Phục 10:12-22).

TT:

Kết luận cho vấn đề

(Truyền 12:1-14).

TN:

Thái độ bất kính bị trừng phạt

(Giăng 2:13-21).

TS:

Một thí dụ về sự bất kính

(Công 5:1-4).

TB:

Kính sợ Đức Chúa Trời

(II Phi 2:9-20).

Mỗi khi bước vào nhà thờ hay bất cứ nơi nào tổ chức thờ phượng chúng ta phải giữ thái độ thành kính, vì Đấng mà chúng ta thờ phượng là Chúa tể cả trời đất. Chúng ta không thể tỏ ra bất kính trước mặt Ngài.

Tiệc thánh là một lễ trọng thể do Chúa Jêsus thiếp lập, một lễ mà chúng ta phải hết lòng tôn kính khi cử hành cũng như tham dự. Khung cảnh của tiệc thánh phải trang nghiêm. Ai nấy phải giữ thái độ khiêm cung.

Nhưng rất tiếc, mỗi tháng dự một lần tiệc thánh, lần hồi chúng ta quá quen thuộc nên vô tình chúng ta tỏ ra bất kính. Chúng ta hành động thiếu suy nghĩ, thiếu cẩn thận, thành ra vô lễ đối với Chúa. Bài học hôm nay đáng ghi khắc vào tâm tư chúng ta.

I. Ý NGHĨA CỦA TIỆC THÁNH.

1. Bánh mì.

Trước hết Chúa Jêsus đã lấy một ổ bánh, tạ ơn, rồi bẻ ra cho mỗi môn đồ và phán rằng: “Nầy là thân thể Ta, vì các ngươi mà phó cho…” Chúa muốn ổ bánh bị bẻ ra để ám chỉ về thân thể của Ngài bị tan nát vì chúng ta.

Muốn có bánh, hột lúa mì phải được gieo xuống đất, mọc lên, nẩy nở, trổ bông, ra hột, rồi gặt đem về xay, giả thành bột, làm bánh hấp trong lò cho chín. Cũng vậy để trở nên một thức ăn cho linh hồn chúng ta, Chúa Jêsus đã giáng sinh tại nơi hèn hạ, lớn lên trong cảnh nghèo nàn, chịu khổ, chịu chết vì chúng ta.

2. Nước nho.

Sau đó, Ngài lấy một chén nước nho rồi trao cho mỗi môn đồ và phán rằng: “Chén này là sự giao ước mới trong huyết Ta”. Đời xưa, Đức Chúa Trời đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên và giao ước đã được đóng ấn bằng huyết của con bò tơ (Xuất 24:5-8). Sau này, Chúa Jêsus lập giao ước với Hội Thánh và được đóng ấn bằng chính huyết Ngài. Vì thế, Kinh Thánh có hai phần Cựu ước và Tân ước.

Chúa mượn nước nho để ám chỉ về Ngài đã đổ ra để: “Cho nhiều người được tha tội” (Ma-thi-ơ 26:28). Muốn có nước nho, hột nho phải được gieo xuống đất, khi trái nho đã chín, người ta đem vào bàn ép để lấy nước nho. Muốn trở thành một thức nước uống cho linh hồn chúng ta, Chúa Jêsus đã phải giáng sinh và cuối cùng Ngài phải bị đưa vào bàn ép. Tâm hồn và ý chí của Ngài bị ép tại Ghết-sê-ma-nê, còn thân thể Ngài bị ép tại Gô-gô-tha, huyết Ngài tuôn ra vì chúng ta.

Bánh và nước của tiệc thánh có biến thành thịt và huyết của Chúa không? – Chắc chắn là không! Các vật đó chỉ làm tượng trưng cho thịt và huyết của Ngài.

Linh hồn của chúng ta ăn thịt và uống huyết của Chúa bởi đức tin. Chúa phán “Ta là Bánh Của Sự Sống; ai đến cùng Ta chẳng hề đói, ai tin Ta chẳng hề khát… Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy” (Giăng 6:35-56). Bởi đức tin, chúng ta dự tiệc thánh là hưởng sự linh nghiệm do thân thể tan nát và huyết của Ngài đổ ra vì chúng ta. Chúng ta sống bởi Chúa và sống cho Chúa. Nguyện Chúa cho chúng ta đói khát Ngài và được thỏa mãn trong Ngài.

II. MỤC ĐÍCH LỄ TIỆC THÁNH

1. Nhớ đến Chúa.

Khi Chúa phân phát bánh và trao chén cho các môn đồ, Ngài hai lần nhấn mạnh: “ĐỂ NHỚ TA”… Chúa muốn chúng ta luôn nhớ đến Ngài đã thương yêu chúng ta đến nỗi hi sinh. “Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình” (Giăng 15:13). Mỗi lần chúng ta nhớ lại một điều gì trong dĩ vãng thì điều đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống chúng ta trong hiện tại và tương lai.

Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên hằng năm phải cử hành trọng thể lễ Vượt qua. Chúa muốn họ luôn nhớ lại rằng, Chúa đã giải phóng họ một cách phi thường, đưa họ vượt Hồng hải qua sa mạc, vào tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Nhớ lại mọi sự đó, lòng họ sẽ khiêm nhu, cung kính biết ơn Chúa, yêu mến Ngài. Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên không những giữ lễ mà còn giải thích ý nghĩa của lễ ấy cho con cháu họ (Xuất 12:26-27).

Chúng ta từng làm nô lệ cho ma quỉ và tội lỗi còn khốn nạn hơn dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ cho người Ê-díp-tô. Trong khi tuyệt vọng, Đức Chúa Trời đã giải phóng chúng ta qua sự hi sinh của Chúa Jêsus là Chiên Con của lễ Vượt qua (ICôr 5:7). Chúng ta phải dự tiệc thánh với một tinh thần khiêm nhu, bái phục, biết ơn Chúa, kính mến Ngài như dân Y-sơ-ra-ên và hơn nữa.

Ngoài ra, Chúa còn bảo dân Y-sơ-ra-ên giữ nhiều lễ khác như Lều Tạm, Ngũ tuần… hoặc giữ các vật làm kỷ niệm như bình mana, 12 hòn đá lấy từ đáy sông Giô-đanh, để họ nhớ lại những việc lớn lao mà Chúa đã làm cho họ. Chúng ta đáng phải tự nhủ: “Hỡi linh hồn ta… chớ quên các ơn huệ của Ngài” (Thi 103:2).

Sau khi chối Chúa ba lần, Phi-e-rơ nghe gà gáy. Tiếng gà gáy làm cho ông nhớ đến Chúa và lời Ngài, ông khóc lóc thảm thiết. Về sau, Chúa cũng bảo Hội Thánh Ê-phê-sô: “Hãy nhớ lại các ngươi sa sút từ đâu…” (Khải 2:5).

Trước đây 50 năm, tại xứ kia có xảy ra tai nạn xe lửa làm thiệt mạng 18 người. Người ta điều tra để biết lỗi về ai. Người bẻ ghi quả quyết đã phất cờ đỏ đúng lúc để thợ máy cho xe dừng lại. Các nhân viên tàu đã xác nhận lời khai ấy. Song người thợ máy thì quả quyết thấy mấy cây cờ trắng nên tưởng tàu có phép chạy. Bây giờ người ta buộc xem lại cây cờ. Cây cờ đỏ nhưng phai màu, nên từ xa người ta chỉ thấy một cây cờ trắng!

Nhiều tín đồ đã “phai màu”, không còn trung tín báo hiệu cảnh cáo của Đức Chúa Trời khiến nhiều người bị thiệt mạng đời đời. Như vậy, cờ phai màu cần phải nhuộm lại, mỗi chúng ta cần phải nhớ lại mình đã sa sút thế nào, từ đâu để ăn năn. Chúng ta hết lòng nhớ đến Chúa để sốt sắng, trung tín yêu Chúa, phục vụ Ngài như buổi đầu theo Ngài.

2. Thông công nhau với Chúa và với nhau (ICôr 10:16-17).

Chúng ta tất cả đều được cứu bởi một thân thể và một dòng huyết. Bởi tiệc thánh chúng ta được thông công với Chúa và với nhau. Hội Thánh đầu tiên đã dự tiệc thánh hằng ngày (Công 2:42,46). Chắc họ được khích lệ qua kinh nghiệm của hai môn đồ Em-ma-út (Lu-ca 24:13-35) và các sứ đồ trên bờ hồ Ga-li-lê sau khi Chúa phục sinh (Giăng 21:1-17). Phao-lô dự tiệc thánh mỗi Chúa nhật (Công 20:7).

Hội Thánh Cô-rinh-tô đã tỏ ra bất kính trong khi dự tiệc thánh. Thời đó ai có thức ăn gì thì đem đến và ăn chung với nhau, kẻ giàu không ăn nhiều hơn và ngon hơn, người nghèo không ăn ít hơn và dở hơn. Song sau đó, người giàu ăn riêng, nên mới có cảnh: Người này bị đói, người kia quá độ. Phao-lô đã trách họ (I Cô 11:17-22). Ngày nay, cảnh đó không còn giữa các bàn tiệc thánh, song có tại nhà riêng, nhà này bị đói, nhà kia lại quá dư dật. Xin Chúa cho chúng ta giữ tinh thần thông công, tức là chia sẻ cho nhau để ai nấy được no đủ.

Phao-lô khuyên mỗi lần dự tiệc thánh thì truyền ra sự chết của Chúa. Đồng thời ông cũng cảnh cáo hai hạng người:

– Ăn bánh uống chén của Chúa một cách không xứng đáng.

Không bởi đức tin mà ăn và uống. Điển hình là Giu-đa Íchcariốt. Ông đã lập mưu phản Chúa mà còn dự tiệc thánh khi ông công khai tuyên bố mình là kẻ phản Chúa (Ma-thi-ơ 26:25; Giăng 13:21). Song tín đồ yếu đuối vấp phạm mà biết ăn năn, khao khát dự tiệc thánh thì rất cần dự, như người bệnh rất cần ăn để được mau lành.

– Không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén.

Có lòng bất kính, xem thường bánh và nước của tiệc thánh, mặc dầu bánh và nước từ chợ mua về, song các vật ấy đã được biệt riêng làm tượng trưng cho thân và huyết Chúa. Ví dụ mỗi quốc gia trên thế giới đều có một lá cờ làm biểu tượng. Cờ đó do những tấm vải màu sắc khác nhau ghép lại, song khi đã hình thành lá cờ của một quốc gia thì nó trở nên quan trọng, mà kẻ xúc phạm đến lá cờ đó là xúc phạm đến một quốc gia. Xin Chúa tha thứ cho chúng ta và đừng để cho chúng ta xúc phạm đến thân và huyết chí thánh của chính Ngài mà bánh và nước của tiệc thánh làm biểu tượng.

CÂU HỎI

1. Chúng ta cần có thái độ nào khi bước vào nhà thờ? Tại sao?

2. Bánh và nước của tiệc thánh tượng trưng cho gì?

3. Ăn thịt và uống huyết của Chúa có nghĩa gì?

4. Tại sao Chúa bảo chúng ta dự tiệc thánh để nhớ đến Ngài?

5. Thế nào là một tín đồ “phai màu”?

6. Tín đồ Cô-rinh-tô dự tiệc thánh thế nào mà bị Phao-lô trách?

7. Thế nào là ăn bánh uống chén của Chúa cách không xứng đáng?

8. Thế nào là không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén của tiệc thánh?

BÀI 49. MỤC ĐÍCH CỦA NHỮNG ÂN TỨ

KINH THÁNH: ICôr 12:1-31.

CÂU GỐC: “Vả, các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh” (ICôr 12:4).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng ta lâng là ân tứ Chúa ban, chúng ta có trách nhiệm sử dụng cho xứng đáng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Thí dụ về các ta lâng

(Ma-thi-ơ 25:14-30).

TH:

Các ân tứ khác nhau

(ICôr 12:1-11).

TB:

Một thân có nhiều chi thể

(ICôr 12:12-31).

TT:

Tình thương rất quan trọng

(ICôr 13:1-13).

TN:

Tầm quan trọng của lời Chúa

(ICôr 14:1-22).

TS:

Quản trị các ân tứ

(ICôr 14:23-40).

TB:

Lời chứng sau cùng của Phao-lô

(II Ti-mô-thê 4:1-8).

Các ân tứ đều do Chúa ban cho. Khi chúng ta nhận các ân tứ đó, chúng ta trở nên những con người có khả năng, chúng ta có trách nhiệm sử dụng những khả năng đó để phục vụ Chúa hầu danh Ngài được vinh hiển.

Có người nghĩ rằng: “Tôi chẳng làm được gì cho Chúa cả, còn người ta thì làm gì cũng được”. Lại có người nghĩ rằng: “Anh ấy có ít khả năng, còn tôi có thể làm tốt mọi việc hơn anh ấy”. Bài học hôm nay dành cho chúng ta để giải tỏa các ý nghĩ ấy. Xin chúng ta đọc kỹ ICôr 12:1-31 để biết Chúa ban cho chúng ta nhiều ân tứ với mục đích gì?

I. CÓ NHIỀU ÂN TỨ KHÁC NHAU ĐỂ GÂY DỰNG (c.1-11).

Ma quỉ chỉ xúi giục người ta thờ thần tượng vô tri vô giác, nhưng Đức Thánh Linh cảm động lòng chúng ta xưng nhận Chúa Jêsus là Chúa của mình, Chúa Jêsus là ân tứ lớn nhất mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Nhờ Chúa Jêsus, chúng ta nhận được nhiều ân tứ khác. Đức Chúa Trời không ban một ân tứ nào cho kẻ ở ngoài Chúa Jêsus. Càng tôn vinh Chúa Jêsus, chúng ta càng nhận được nhiều ân tứ.

Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã ban nhiều ân tứ khác nhau cho tín đồ để ai nấy thi hành nhiều chức vụ khác nhau, hầu cho hết thảy đều được ích lợi. Mỗi tín đồ đều được một hay nhiều ân tứ, như các đầy tớ được chủ giao, người này 5 ta-lâng, người kia 2, người nọ 1. Kẻ có ân tứ này, người có ân tứ khác, không ai không có, không ai có đủ hết. Tất cả các ân tứ đều nhằm mục đích gây dựng Hội Thánh.

Người này được lời nói khôn ngoan, người kia có tri thức, người nọ có đức tin, người khác chữa tật bệnh, người khác nữa làm phép lạ, có kẻ nói tiên tri, có người phân biệt các thần, nói tiếng lạ, thông giải tiếng lạ. Đó đều là công việc của Đức Thánh Linh làm qua mỗi người tùy ý Ngài cho là tốt.

Đành rằng con người có những khả năng thiên bẩm, tức là cha mẹ sinh ra là có, song các khả năng phải được dâng cho Chúa để Ngài thánh hóa, nhiên hậu mới có thể phục vụ và tôn vinh Ngài, dầu khi đã dâng cho Chúa, người ấy còn có thể bị cám dỗ mà kiêu căng, vì đánh giá quá cao khả năng mình. Đó là trường hợp Hội Thánh Cô-rinh-tô, là mầm mống gây chia rẽ, phe đảng từ trong nội bộ. Phải biết rằng mọi khả năng của chúng ta là sự bày tỏ của Đức Thánh Linh. Ngài ban khả năng cho ai, không phải để thỏa mãn người ấy, không phải để người ấy khoe khoang, song để làm ích cho mọi tín đồ.

Nếu Chúa dùng bạn giảng cho một Hội Thánh đông đúc, hoặc dạy Kinh Thánh cho một số ít người, hoặc hướng dẫn một buổi cầu nguyện, hay là ban viên của ban hát, ban chứng đạo, xin bạn hãy tận dụng khả năng, thì giờ, sức mình vào công tác đó với mục đích gây dựng Hội Thánh Ngài. Đừng đòi hỏi, cũng đừng từ chối bất cứ một công tác nào, nhỏ hoặc lớn, hoặc quan trọng, hoặc tầm thường. Không cần ganh tị với người khác về địa vị, về công tác, song hãy cứ đứng vững trong vị trí Chúa đặt, làm xong công tác Chúa giao cho bạn. Chúa có toàn quyền trên Hội Thánh Ngài. Chúa biết nhu cầu của Hội Thánh, biết khả năng của mỗi chúng ta. Một mình Chúa chọn đúng người, đặt đúng chỗ, sai đi đúng lúc. Hãy tin cậy và vâng phục Chúa trong mọi việc.

II. CÓ NHIỀU ÂN TỨ KHÁC NHAU ĐỂ HIỆP MỘT (c. 12-13).

Như trong một thân có nhiều chi thể, thì trong Hội Thánh có nhiều tín đồ. Dầu mỗi chi thể có hình dáng khác nhau, ở vị trí khác nhau, làm công tác khác nhau thì vẫn hiệp một với nhau. Cũng vậy, dầu mỗi tín đồ có ân tứ khác nhau, thi hành công tác khác nhau, thậm chí khác nhau cả màu da tiếng nói, như có người Giu-đa, có người Gờréc, có người tự chủ, có người tôi mọi, thì đều hiệp một trong Thánh Linh (c.12-14).

1. Tương quan với nhau (c.15-20).

Không ai được phép sống riêng lẽ. Đành rằng tay có công việc của tay, chân có công việc của chân, mắt có công việc của mắt, tai có công việc của tai; song không phải vì vậy mà chúng ta không cần biết đến người khác. Trái lại, có tương quan mật thiết giữa các chi thể. Trong Hội Thánh cũng vậy, anh có ân tứ khác hơn tôi tùy Chúa cho, anh có công tác hơn tôi tùy Chúa sắp xếp, song anh với tôi là một, chúng ta có tương quan mật thiết với nhau. Dầu anh và tôi không giống nhau về công tác, mà giống nhau về mục đích. Chúng ta không nên chỉ trích nhau, mà nên nâng đỡ nhau, vì sự thành công của anh có ích lợi cho tôi, sự thành công của tôi có ích lợi cho anh, vì chúng ta cũng sống và động trong Hội Thánh như các chi thể trong một thân. Chúa không buộc anh phải như tôi, cũng không buộc tôi phải như anh. Nếu anh là tay, thì tôi là chân, nếu anh là mắt thì tôi là tai. Mỗi chúng ta phải làm xong công tác Chúa giao cho để Hội Thánh là thân thể của Ngài được trọn vẹn và mạnh mẽ.

2. Tôn trọng lẫn nhau (c. 21-26).

Trong một thân có nhiều chi thể, trong chi thể có cái mạnh, có cái yếu, có cái tôn trọng, có cái hèn hạ, có cái đẹp, có cái xấu. Song hết thảy đều cần yếu như nhau, không thể thiếu một cái nào cả. Trong Hội Thánh có người học thức, có kẻ dốt nát, có người giàu, có người nghèo, có người già, có kẻ trẻ. Song tất cả đều được Chúa cứu, tất cả đều được Chúa yêu, tất cả đều có giá trị. Chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, và mọi người đều đã nhờ ân điển Ngài mà được tha tội.

Nếu mắt nói mình không cần chi đến tay là nói sai, nếu đầu nói mình không cần chi đến chân là nói sai. Vì mắt rất cần đến tay, cũng như đầu rất cần đến chân; tay rất cần đến mắt, cũng như chân rất cần đến đầu. Trong Hội Thánh, dầu anh là ai cũng cần đến tôi, tôi là ai cũng cần đến anh. Anh không thể thiếu tôi, dầu tôi yếu đuối hơn anh. Tôi cũng không thể thiếu anh, vì môi hở răng lạnh. Tôi yếu đuối cần được anh dìu dắt, tôi hèn hạ cần được anh nâng đỡ, tôi xấu xí cần được anh trau giồi, tôi thiếu thốn cần được anh chia xẻ. Lá lành đùm lá rách kẻo e xấu lá xấu nem, xấu em xấu chị. Chúng ta có trách nhiệm lo tưởng đến nhau, tôn trọng nhau, vui cùng vui, buồn cùng buồn, vinh cùng vinh, nhục cùng nhục.

Trong một sách giáo khoa có câu chuyện như sau: Một con kiến đang bò trên cành cây, bỗng bị luồng gió mạnh làm cho sẩy chân rơi xuống mặt hồ. Một bồ câu bay xuống uống nước thấy vậy liền cắn chiếc lá đưa kề con kiến. Kiến bám vào chiếc lá và được bồ câu tha lên bờ. Thế là kiến khỏi chết. Sau khi uống nước xong, bồ câu đậu trên cành rỉa lông, vô tư lự. Một anh thợ săn nhẹ bước đến gần, lấy tên giương cung bắn bồ câu. Kiến vội vàng bò lại chân anh thợ săn, cắn thật mạnh, anh thợ săn đau quá, dậm chân để đuổi kiến. Nghe tiếng động, bồ câu bay xa để thoát nạn. “Tác giả kết luận: Người ta thường cần đến một kẻ nhỏ hơn mình”.

3. Tương quan với Chúa (c. 27-31).

Thật là một đặc ân vô giá mà chúng ta được làm chi thể của thân thể Ngài. Chúng ta đều thuộc về Ngài, mặc dầu mỗi người có một phần việc riêng. Đời xưa, Đức Chúa Trời lập trong Hội Thánh của Ngài có sứ đồ, tiên tri, giáo sư… Ngày nay, Chúa lập trong Hội Thánh của Ngài có mục sư, truyền đạo, chấp sự, giáo sư, tín đồ… Không phải hết thảy đều có một công việc như nhau, song hết thảy đều hiệp một với nhau, chúng ta mỗi người đều phải chịu trách nhiệm riêng với Chúa về cách sử dụng ân tứ của Ngài.

Cuối cùng Phao-lô khuyên: “Hãy ước ao sự ban cho lớn hơn hết”. Sự ban cho đó là tình yêu mà ông đã đề cập đến trong đoạn 13. Để sống xứng đáng, sử dụng đúng mức các ân tứ Chúa ban, chúng ta phải có tình yêu thương của Ngài là điều sau cùng và là trước hết.

CÂU HỎI

1. Từ đâu mà chúng ta có những ân tứ khôn ngoan, tri thức…?

2. Đức Chúa Trời ban ân tứ cho chúng ta để làm gì?

3. Lý do nào khiến Hội Thánh Cô-rinh-tô chia rẽ về các ân tứ?

4. Chúng ta phải có thái độ nào khi Chúa giao cho chúng ta một công tác?

5. Tại sao chúng ta có sự tương quan với nhau?

6. Tại sao chúng ta cần đến nhau?

7. Mỗi chúng ta phải chịu trách nhiệm với ai?

8. Ngoài Chúa Jêsus thì ân tứ nào lớn nhất mà chúng ta ước ao?

BÀI 50. SỰ SỐNG LẠI

KINH THÁNH: ICôr 15:1-29, 51-57.

CÂU GỐC: “Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng một lẽ ấy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại” (ICôr 15:22).

MỤC ĐÍCH: Dạy các tín hữu về sự sống lại vinh hiển mà Đức Chúa Trời đã hoạch định và chuẩn bị cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Một hi vọng xưa

(Gióp 19:15-27).

TH:

Một lời bảo đảm tiên tri

(Ê-sai 26:11-21).

TB:

Một lời giáo huấn được chứng minh

(IICác 4:18-37).

TT:

“Ta là sự sống lại”

(Giăng 11:23-44).

TN:

Hi vọng của tín đồ

(ITê 4:13-18).

TS:

Bằng chứng hiển nhiên nhất

(ICôr 15:1-9).

TB:

Sự sống lại của chúng ta

(ICôr 15:51-57).

Sự sống lại và đời sau của người tin Chúa là một trong những giáo lý quan trọng nhất của Kinh Thánh, giáo lý ấy còn là một chân lý thực tế cho sinh hoạt hằng ngày của tín đồ.

Chúng ta biết mình sẽ sống lại và biết đời sau là biết về tương lai của mình, là biết mình có hi vọng lớn lao và cao quí. Biết như vậy sẽ được khích lệ để chúng ta sống trong đời này một cách xứng đáng hầu chuẩn bị đời sau.

Một tín đồ từ miền quê lên viếng thủ đô lần thứ nhất. Có một người đến gần ông ta, mặt mày hớn hở nói bằng một giọng đầy tin tưởng: “Thưa ông, xin để tôi đoán tương lai cho ông”.

Tín đồ đáp: “Cảm ơn lắm, nhưng tôi đã biết tương lai của tôi rồi. Từ khi tin Chúa Jêsus, tôi được làm con cái của Đức Chúa Trời, và Ngài đã định đoạt tương lai của tôi!”

Chúa Jêsus đã chết, sống lại, về trời và sẽ tái lâm. Ngài đảm bảo tương lai của chúng ta cách tốt đẹp vô cùng.

I. CHÚA JÊSUS ĐÃ SỐNG LẠI (c.1-11).

Để chứng minh sự sống lại của thân thể tín đồ trong tương lai, Phao-lô đặt căn cứ trên sự sống lại hiển nhiên của Chúa Jêsus trong quá khứ.

Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô có một vài người nghi ngờ sự sống lại của thân thể. Từ đó, Phao-lô biết rằng họ có thể nghi ngờ sự sống lại của Chúa Jêsus. Nghi ngờ, chối bỏ sự sống lại của Chúa Jêsus và sự sống lại của thân thể tín đồ là phá hủy sứ điệp và niềm tin Cơ đốc. Nói cách khác là phá hủy nền tảng của Cơ đốc giáo. Vì thế, Phao-lô nhắc lại sứ điệp Tin lành mà ông đã truyền giảng là Chúa Jêsus chịu chết vì tội chúng ta, Ngài bị chôn và được sống lại đúng như Kinh Thánh Cựu ước đã dự ngôn. Đó là niềm xác tín của Hội Thánh, nhờ đó ai nấy được cứu rỗi. Phao-lô khuyên họ hãy đứng vững và giữ lấy niềm xác tín ấy (c.1-4).

Sự sống lại của Chúa Jêsus là một thật sự. Vì sau khi sống lại Ngài đã hiện ra:

– Cho Phi-e-rơ và 12 sứ đồ. Nhờ sự hiện ra đó, họ đã trở lại tiếp tục phục vụ, làm chứng về sự sống lại của Ngài cho mọi người dầu phải bị ngăn cấm, đánh đòn, tù rạc, giết chết.

– Cho 500 người xem thấy mà khi Phao-lô viết thơ này thì phần đông trong số đó còn sống.

– Cho Gia-cơ là em của Chúa Jêsus theo phần xác và chinh phục ông trở nên một người quan trọng trong Hội Thánh (Công 15:13-21).

– Cho Phao-lô trên con đường Đa-mách, biến cải ông từ một kẻ chống đối, bắt bớ, tàn hại Hội Thánh trở nên một sứ đồ truyền giảng Tin Lành khắp nơi, là người đã viết thơ này (c. 5-11).

Những con người, những sự kiện mà Phao-lô vừa kể đã rành rành trước mặt tín đồ Cô-rinh-tô, nếu họ muốn kiểm chứng. Cho đến nay, sự sống lại của Chúa Jêsus là một sự kiện lịch sử, không ai chối cãi được. Vì nếu Chúa Jêsus đã không sống lại thì làm sao giải thích được 500 người đã đồng thanh làm chứng rằng Ngài đã sống lại, và các sứ đồ yếu đuối trở nên mạnh mẽ, dạn dĩ dường như vô địch! Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại thì làm sao giải thích được một Gia-cơ vô tín đã trở nên một lãnh tụ của Hội Thánh. Nếu Chúa Jêsus không sống lại thì làm sao giải thích một Sau-lơ cứng cỏi, phạm thượng, hung bạo đã trở nên một Phao-lô tận hiến, phục tùng trọn vẹn cho đến chết để truyền giảng sự sống của Ngài!

Chúa Jêsus thật đã sống lại, nên chúng ta cũng thật sẽ sống lại trong thân thể như Ngài. Đó là niềm tin không bao giờ lay chuyển của Hội Thánh trải qua các đời trước bao nhiêu sự công kích vũ bão của kẻ thù.

II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ SỐNG LẠI (c. 12-19).

Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại thì chúng ta cũng không sống lại. Vì Ngài là Đầu, chúng ta là chi thể, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ, nên Ngài thế nào thì chúng ta cũng thể ấy. Nếu vậy chúng ta không có hy vọng gì về tương lai.

Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại, sự giảng dạy của Phao-lô là luống công, vì ông giảng một Đạo chết! Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại, đức tin của chúng ta cũng vô ích vì chúng ta tin một Đấng chết, yếu đuối, vô quyền, bị khuất phục trước tử thần. Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại thì dầu Ngài đã chết đền tội cho chúng ta thì của lễ đó đã không được Đức Chúa Trời chấp nhận và tất cả tín đồ còn ở trong tội lỗi và phải bị hư mất đời đời như người vô tín.

Nếu Chúa Jêsus đã không sống lại thì chúng ta là những kẻ khốn nạn hơn hết trong mọi người vì hi vọng của chúng ta trong đời này không có gì cả. Trong đời này, chúng ta bị bắt bớ, vu oan, mắng nhiếc, sỉ nhục, ghen ghét, tù rạc, đòn vọt, giết chết. Chúng ta chấp nhận mọi sự đó là vì đời sau. Song nếu không có đời sau, há không phải trong cả mọi người chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết sao?

Halêlugia! Sự thật không phải vậy! Chúa Jêsus đã sống lại sau khi chết đền tội cho chúng ta và bị chôn. Ngài đã đắc thắng ma quỉ, tội lỗi, thế gian, sự chết. Ngài là Chúa Cứu thế quyền năng, vinh hiển, hằng sống. Sự chết đền tội của Ngài có giá trị thiết thực, và đã được xác nhận bằng sự sống lại của Ngài. Tin đến Ngài, không những chúng ta được tha tội trong quá khứ, đắc thắng tội trong hiện tại mà còn được sống trong tương lai và sống đời đời. Nhờ sự sống lại của Chúa, chúng ta có hi vọng sống là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn để dành trong các từng trời (I Phi-e-rơ 1:4). Đó là niềm tin, là hi vọng, hạnh phúc của chúng ta. Ai nấy phải vui mừng, ca hát, cảm tạ Ngài mãi mãi.

III. THỜI ĐIỂM SỰ SỐNG LẠI SẼ XẢY RA (c. 51-57).

Thân thể của tín đồ chết sẽ được sống lại, thân thể của tín đồ sống sẽ được biến hóa trong ngày Chúa tái lâm. Đó là việc mầu nhiệm và kỳ diệu sẽ xảy ra trong giây phút, trong nháy mắt sau tiếng kèn chót của thiên sứ. Thân thể hay chết, hay hư nát sẽ mặc lấy sự không hay chết và không hay hư nát. Chúng ta sẽ có một thân thể không phải bằng thịt và máu, nhưng thân thể được biến hóa như thân thể của Chúa khi Ngài thăng thiên, tức là một thân thể vinh hiển, tuyệt đẹp, trọn vẹn mọi bề để ở với Chúa đời đời. Bấy giờ, sự chết bị thất bại hoàn toàn, nó không còn một điểm tựa nào để chống đối hoặc làm hại chúng ta. Phao-lô đã dám chế nhạo và thách đố sự chết: “Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?” Một Cơ đốc nhân thì không còn sợ chết nữa; sự chết đã mất hết nọc độc, đã mất hết cái bản chất đáng sợ của nó. Chúa Jêsus đã làm trọn luật pháp, đã đền tội cho chúng ta. Ngài đã thắng và toàn thắng cho chúng ta trong ngày cuối cùng.

Trên đây là triển vọng của chúng ta. Bây giờ, chúng ta có một tâm hồn mới, song còn ở trong một thân thể cũ. Khi Chúa tái lâm, chúng ta sẽ có một thân thể mới với tâm hồn mới, sống một ngàn năm bình an. Chúng ta hiện còn sống trong trời cũ đất cũ. Qua một ngàn năm bình an, chúng ta sẽ sống trong trời mới đất mới với thân thể mới và tâm hồn mới. Đó là chương trình vĩ đại và kỳ diệu vô cùng mà Chúa dành cho tương lai chúng ta.

Vậy thử hỏi: Hi vọng của tín hữu ở đâu? Đời này hay đời sau? Nếu Chúa tái lâm hôm nay thì sao? Nếu tín hữu qua đời hôm nay thì sao? Ai nấy đã sẵn sàng chưa?

Một thanh niên sống trong tội lỗi bị mục sư cảnh cáo và khuyên nài phải ăn năn ngay kẻo trễ. Cậu đáp: “Tôi còn nhiều thì giờ. Tôi mong là tôi sẽ không chết trước năm 60 tuổi!” Mục sư tiếp: “Chắc cậu đã có lần vào nghĩa địa, vậy có phải cậu đã thấy trên mộ bia hết thảy những người đã chết đều 60 tuổi? Nếu cậu không nhớ, tôi xin lưu ý cậu rằng, bất luận tuổi nào cũng có thể chết và đã chết, từ 60 tuổi, 30 tuổi, 10 cho đến 1 ngày tuổi, 1 tháng, 1 ngày… Không ai biết chắc mình sẽ sống cho đến ngày mai. Vì vậy, phải ăn năn ngay hôm nay…” Với vẻ ngạc nhiên, cậu đáp: “Tôi không ngờ đã có nhiều người chết trước 60 tuổi, nên tôi xin ăn năn”.

CÂU HỎI

1. Biết tương lai của mình có ích lợi gì?

2. Một điều rất quan trọng trong đời sau của chúng ta là gì?

3. Làm sao chúng ta biết chắc rằng thân thể của chúng ta sẽ sống lại?

4. Hãy kể những bằng chứng về Chúa Jêsus đã sống lại?

5. Nếu Chúa Jêsus không sống lại thì sao?

6. Nếu không có đời sau thì chúng ta là người như thế nào? Tại sao?

7. Sự thật thì chúng ta sẽ như thế nào?

8. Chừng nào thì thân thể của tín đồ chết sẽ sống lại và thân thể của tín đồ sẽ biến hóa?

9. Chương trình vĩ đại của Chúa dành cho chúng ta là gì?

10. Làm sao biết được đời mình nằm trong chương trình của Chúa?

BÀI 51. CHỨC VỤ QUẢN LÝ TIỀN BẠC CỦA TÍN ĐỒ

KINH THÁNH: ICôr 16:1-4.

CÂU GỐC: “Cứ ngày thứ nhất trong tuần lễ, mọi người trong anh em khá tùy sự phát đạt của mình mà dành dụm để riêng” (ICôr 16:2; bản nhuận chánh).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ các tín hữu dâng phần mười và những của dâng khác theo lời Chúa dạy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Dâng một phần mười

(Hê-bơ-rơ 7:1-10).

TH:

Lời hứa nguyện dâng phần mười

(Sáng 28:11-22).

TB:

Luật về phần mười

(Lê-vi ký 27:26-34).

TT:

Lời khuyên giục dâng phần mười

(Ma-la-chi 3:7-15).

TN:

Tiền dâng của tín đồ

(ICôr 16:1-4).

TS:

Cách dâng tiền của tín đồ

(IICôr 9:1-15).

TB:

Gương về sự dâng tiền của tín đồ

(IICôr 8:1-15).

Chúng ta đã được Chúa mua chuộc bằng chính huyết của Ngài, nên chúng ta thuộc trọn về Ngài. Tất cả những gì chúng ta có là của Chúa, chúng ta sẽ quản lý và tính sổ với Chúa khi Ngài trở lại (Ma-thi-ơ 25:19).

Hôm nay chúng ta học bài học này để biết cách sử dụng tiền bạc Chúa giao cho chúng ta quản lý. Đây là một phần đặc ân, đồng thời cũng là một trách nhiệm. Chúng ta có thể được phước hạnh lớn lao, song cũng có thể bị rủa sả nặng nề, tùy thuộc vào cách thi hành chức vụ quản lý của chúng ta.

I. DÂNG TIỀN LÀ MỘT MẠNG LỊNH (c. 1).

Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem đang trong cảnh đói kém. Để tỏ tình thương nhau như anh em trong một nhà, lo tưởng đến nhau như chi thể trong một thân, cảm thông với nhau trong một cộng đồng tín hữu, Phao-lô đã khuyên các Hội Thánh xứ Ga-li-lê và bây giờ ông cũng khuyên Hội Thánh Cô-rinh-tô quyên tiền cứu trợ Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Nếu chúng ta đã thật lòng tin Chúa, được trở nên con cái Ngài, thì chúng ta thương yêu nhau, lo tưởng đến nhau, cảm thông nhau bằng cách chia sẻ đồ ăn, vật dụng cho nhau để không có cảnh “người này chịu đói, kẻ kia quá độ” (ICôr 11:21), song “kẻ đã thâu nhiều cũng chẳng dư, kẻ thâu ít cũng chẳng thiếu” (IICôr 8:15).

II. DÂNG TIỀN CÓ PHƯƠNG PHÁP (c. 2).

“Cứ ngày đầu tuần lễ” tức là ngày Chúa nhật, đã dành dụm được bao nhiêu thì “để riêng” vào một công quĩ. Không phải dâng tiền từng hồi, từng lúc, tùy thời, tùy buổi, song dâng tiền có phương pháp để cứu trợ người nghèo được đều đặn, đúng mực, đúng lúc. Sự dâng như vậy trở thành thói quen rất tốt giúp ta thi hành mạng lệnh của Chúa và gìn giữ trọn tình thương đối với nhau. Một số tín hữu đã thành công nhờ phương pháp này.

III. DÂNG TIỀN LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁ NHÂN (c. 2).

“Mỗi một người trong anh em”. Mọi tín đồ là một phần tử trong Hội Thánh nên ai nấy có trách nhiệm dâng tiền như một người quản lý của Chúa. Không phân biệt người nghèo hay người giàu, nam hay nữ, già hoặc trẻ.

Cha mẹ phải dạy con cái dâng tiền cho Chúa để giúp đỡ người khác, đó là cứu chúng khỏi lối sống ích kỷ để biết thương yêu nhau. Đời xưa, khi Ên-ca-na lên đền thờ tế lễ cho Đức Chúa Trời thì “chia của lễ ra từng phần ban cho Phê-ni-a, vợ mình, và cho các con trai, con gái mình” (I Sa-mu-ên 1:4). Ông ấy dạy con cái biết trách nhiệm của họ phải dâng tế lễ cho Chúa như cha mẹ đã dâng.

IV. DÂNG TIỀN THEO TỶ LỆ (c. 2).

“Khá tùy sức mình”. Bản nhuận chánh “khá tùy sự phát đạt của mình”. Đây không có ấn định cho mỗi người phải dâng bao nhiêu, song tùy theo sức mình, là tùy theo sự phát đạt của Chúa cho mình. Cứ lấy tỉ lệ một phần mười, rồi tùy sự phát đạt của Chúa cho đến đâu, chúng ta dâng đến đó.

Có người nghĩ: “Bây giờ tôi nghèo quá, phần mười của tôi rất ít, để khi giàu tôi sẽ dâng, và dâng nhiều”. Nên nhớ lời Chúa phán: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ cũng trung tín trong việc lớn, ai bất nghĩa trong việc nhỏ cũng bất nghĩa trong việc lớn” (Lu-ca 16:10). Nếu ai không trung tín dâng 1 đồng khi có 10 đồng, thì không thể nào dâng 100 đồng khi có 1000 đồng. Hành động đó tự đóng của trời cho mình (Ma-la-chi 3:9-10).

Bà góa Sa-rép-ta và con trai của bà đã ở trong một tình trạng tuyệt vọng “chỉ có một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình” là bữa ăn cuối cùng, rồi mẹ con sẽ chết. Để cứu vãn tình trạng đó, chỉ có một cách là bà phải chia sẻ cho Ê-li một cái bánh nhỏ trong số bột và dầu của bà. Chắc không phải là một phần mười, song hơn nữa. Nhờ vậy, mẹ con bà khỏi chết đói (ICác 17:8-16).

Có người khi còn nghèo đã trung tín dâng phần mười, song khi được Chúa giúp cho phát đạt lại tiếc tiền không dám dâng phần mười. Như thế có phải khi nghèo chúng ta nhờ cậy Chúa, song khi giàu có chúng ta không cần nhờ cậy Chúa nữa? Dân Y-sơ-ra-ên biết rằng họ không thể nào hạ nổi thành Giê-ri-cô nên hết lòng nhờ cậy Chúa. Song khi đã hạ được thành rồi, họ tưởng mình mạnh mẽ lắm nên khinh thường thành A-hi. Hậu quả là họ đã thất bại một cách đau đớn và hổ nhục. Thất bại trong sự dâng tiền khi nghèo khó thì rất nhiều, song thất bại trong việc dâng tiền khi giàu có thì lại nhiều hơn.

V. DÂNG TIỀN CÁCH SẴN LÒNG (c. 2).

“Hầu khỏi đợi khi tôi đến rồi mới góp”. Phao-lô không muốn họ dâng tiền một cách gắng gượng, là đợi khi ông đến rồi được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Song ông muốn đâu đó phải sẵn sàng do tình thương sốt sắng của họ đối với anh em mình đang đói khổ.

“Cách cho quí hơn của cho”. Khi chúng ta cần mà được anh em giúp đỡ thì rất mừng. Song giúp đỡ với một thái độ gắng gượng như bị ép buộc chứ không sẵn sàng thì chúng ta áy náy lắm. Chắc Chúa không vui mà nhận một của dâng như vậy đâu. Đa-vít đã nói: “Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng chi hết” (I Sa-mu-ên 24:24). Nếu dâng tiền cho Chúa để giúp đỡ anh em mình chỉ bằng những đồng tiền thừa thải thì không có giá trị vì không thể gọi là chia sẻ cho nhau.

VI. PHẢI CẨN THẬN VỀ TIỀN DÂNG (c. 3).

Phao-lô khuyên Hội Thánh chọn những người đáng tin cậy để nhờ họ đem số tiền quyên được qua Giê-ru-sa-lem, còn ông chỉ viết thư giới thiệu. Ông đã giữ mình không thể trách được trước mặt Chúa, ông cũng giữ mình không chỗ trách được trước mặt mọi người. Nhưng nếu Hội Thánh Cô-rinh-tô quyên được một số tiền lớn mà thấy rằng cần Phao-lô phải đi, thì những người được chọn đó sẽ đi với ông. Ông không muốn bị người khác vô tình hay cố ý nghi ngờ xấu. Vì điều đó có thể làm hoen ố chức vụ của ông. Đây là một gương tốt cho chúng ta. Ngoại trừ bị kẻ xấu miệng vu khống thì không đáng kể, còn ai không cẩn thận về vấn đề tiền bạc đều phải hối tiếc.

VII. DÂNG TIỀN RỘNG RÃI (c. 4).

Chúa muốn chúng ta quyên cách hết lòng. Việc ấy sẽ khiến cách cho, của cho đều quí, khiến người nhận được yên ủi biết bao và sẽ cảm tạ Chúa biết bao.

Bức thư thứ hai gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã nêu lên tấm gưong dâng hiến một cách rộng rãi của Hội Thánh xứ Ma-xê-đoan: “Đang khi họ chịu nhiều hoạn nạn thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rãi rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình. Vì tôi đã làm chứng cho họ rằng họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức mình nữa, và nài xin chúng tôi làm ơn cho họ có phần vào sự giùm giúp các thánh đồ. Họ lại làm quá lòng trông cậy của chúng tôi, vì trước hết đã dâng chính mình cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời” (IICôr 8:2-5).

Các Hội Thánh tại Ma-xê-đoan đã thi hành chức vụ quản lý của mình một cách đầy đủ. Vậy hãy dâng tùy theo sự phát đạt của bạn, kẻo Đức Chúa Trời làm cho sự phát đạt của bạn theo sự dâng hiến của bạn. Hãy tránh thâu góp càng nhiều càng tốt, hãy tiết kiệm càng nhiều càng hay, hãy dâng hiến càng nhiều càng quí.

CÂU HỎI

1. Quản lý tài sản của Chúa có nghĩa gì?

2. Tại sao chúng ta thuộc trọn về Chúa?

3. Quyên tiền cứu trợ nhau để bày tỏ điều gì?

4. Phương pháp dâng tiền Phao-lô dạy là gì?

5. Tại sao dâng tiền là trách nhiệm của cá nhân?

6. Dâng tiền phải theo tỷ lệ nào?

7. Để đẹp lòng Chúa chúng ta nên dâng tiền một cách gắng gượng hay sẵn lòng? Tại sao?

8. Tại sao Phalô cẩn thận không đụng đến số tiền dâng của Hội Thánh Cô-rinh-tô?

9. Phao-lô ước ao Hội Thánh Cô-rinh-tô dâng tiền cách nào?

10. Hội Thánh nào đã nêu gương dâng tiền cách rộng rãi?

BÀI 52. NẾP SỐNG CỦA TÍN ĐỒ ĐẮC THẮNG

KINH THÁNH: ICôr 15:57-58.

CÂU GỐC: “Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICôr 15:58).

MỤC ĐÍCH: Khuyên tín hữu sống đắc thắng cho Chúa Jêsus và làm vinh danh Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta

(I Cô 1:18-31).

TH:

Gây dựng vì Chúa

(I Cô 3:11-23).

TB:

Giữ kỷ luật vì Chúa

(I Cô 9:16-27).

TT:

Ăn ở vì Chúa

(I Cô 10:22-33).

TN:

Một gương tin kính

(I Cô 11:23-34).

TS:

Làm việc cho mọi người

(I Cô 12:1-22).

TB:

Năng lực đệ nhất trên đời

(I Cô 13:1-13).

Chúng ta đã học qua ICôr, trong đó Phao-lô dạy cho chúng ta biết nguy cơ của sự chia rẽ (đoạn 1), ông dạy chúng ta biết về sự tăng trưởng và động cơ thúc đẩy chúng ta phục vụ (đoạn 2, đoạn 3), ông cảnh cáo chúng ta về tội kiêu ngạo (đoạn 4), ông chỉ chúng ta về nếp sống tín đồ trong hôn nhân và gia đình (đoạn 6,7), ông dạy chúng ta cách nào phân biệt việc phải trái và trách nhiệm đối với người khác (đoạn 8,9), ông cảnh cáo chúng ta về thái độ thiếu tôn kính và dạy chúng ta cách sử dụng những ân tứ (đoạn 11,13), ông dạy chúng ta về đời sau và cách dâng tiền cho Chúa (đoạn 15,16).

Bây giờ, đứng trước viễn tượng sự tái lâm của Chúa để đem đến chiến thắng cuối cùng, vinh hiển, phước hạnh cho chúng ta (c. 57), ông nêu lên nếp sống của người tín đồ đắc thắng (c. 58).

Các tín hữu đã gặp một người không có lập trường chưa? Người ấy không có niềm tin vững vàng, không có hi vọng chắc chắn. Người ấy không bao giờ chịu khó thuyết phục ai về một vấn đề gì, nhưng người ấy cũng không hề chịu ai thuyết phục để làm việc gì. Đây là lời nhận xét dành cho một người như vậy: “Ai không đứng vững được vì bất cứ điều gì, chắc chắn sẽ bị bất cứ điều gì xô ngã”.

Tín đồ của Chúa Jêsus, là con trai, con gái của Đức Chúa Trời Toàn năng, Hằng sống, không thể nào là người không có lập trường. Dự phần vào sự đắc thắng của Chúa, họ có nếp sống của người đắc thắng. Nếp sống đó là:

I. HÃY VỮNG VÀNG.

Những điều chúng ta đã học, đã biết, đã tin là xác thật, vì chúng ta đã tìm thấy những điều đó trong lời Đức Chúa Trời, mà lời của Đức Chúa Trời thì “được vững lập đời đời trên trời”

(Thi 119:89). Chúa Jêsus đã quả quyết: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Ma-thi-ơ 24:35). Chúng ta vững vàng tuyên bố như Đa-vít: “Tôi tin, nên tôi nói” (Thi 116:10), như Phao-lô “Tôi biết Đấng tôi đã tin” (II Ti-mô-thê 1:12).

Xin đừng để ma quỉ gạt gẫm như gạt Ê-va bằng cách xuyên tạc lời Chúa. Chúa bảo: “Ngươi được tự do ăn hoa quả của các thứ cây trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến”. Song ma quỉ nói vặn lại: “Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?” Nó muốn nói Đức Chúa Trời không cho phép ăn trái của bất luận cây nào. Chúa bảo: “Một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết”. Ma quỉ nói: “Hai ngươi chẳng chết đâu”. Nó muốn nói rằng ăn trái cấm không những vô hại mà còn có lợi. “Vì nó là đứa nói dối và là cha của sự nói dối” (Giăng 8:44).

II. CHỚ RÚNG ĐỘNG.

Đừng để bất luận ai, bất luận điều gì làm cho ta lay chuyển niềm tin sắt đá và hi vọng vững vàng của mình. Lập trường tin cậy và vâng lời Đức Chúa Trời là lập trường bất khả lung lạc. Một chiếc tàu đậu ngoài khơi giữa sóng to gió lớn, giòng nước chảy mạnh, song tàu vẫn thản nhiên như không vì nhờ những chiếc neo to bám vào lòng biển. Sống giữa cõi đời đầy thiên tai, địa biến, nay dời mai đổi này mà chúng ta được vững vàng không rúng động là nhờ có chiếc neo hi vọng cũng như niềm tin bám chặt ở trên trời. Đó là cách diễn tả của Kinh Thánh: “Chúng ta giữ điều trông cậy (hi vọng) này như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn” (Hê-bơ-rơ 6:19).

Đứng trước một con đường chưa từng đi, một trách nhiệm chưa từng biết là dẫn dân Y-sơ-ra-ên qua sông Giô-đanh vào đất hứa, chắc Giô-suê không khỏi rúng động kinh khủng. Vì vậy, liên tiếp ba lần, Chúa bảo: “Hãy vững lòng bền chí” (Giô-suê 1:6,7,9). Lần thứ 3, Chúa còn nhấn mạnh thêm: “Chớ run sợ, chớ kinh khủng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi”. Dân Y-sơ-ra-ên cũng khích lệ Giô-suê: “Chỉ ông hãy vững lòng bền chí” (Giô-suê 1:18).

Ngã lòng và rúng động là điều rất nguy. Trong số 12 thám tử mà Môi-se đã sai đi do thám xứ Ca-na-an có đến 10 người ngã lòng và rúng động. Họ còn xúi cho cả dân sự ngã lòng rồi rúng động, khóc lóc, dấy loạn đòi trở lại Ê-díp-tô (Dân số ký 13:14). Họ chống đối Đức Chúa Trời nên Ngài cho phép rắn lục cắn họ và có nhiều người chết (Dân số ký 21:4-9).

Ngã lòng là một chứng bệnh dễ mắc và hay lây, song vững lòng là một sức mạnh hay chinh phục. Phao-lô đi tàu buồm từ xứ ông qua La-mã. Dọc dường, bị bão lớn suốt hai tuần lễ, đến nỗi mọi người trong tàu chắc chết, nên chẳng ai màng ăn uống gì cả. Ban đêm Chúa hiện ra cùng Phao-lô, ông được vững vàng và khuyên ai nấy hãy vững lòng, ông ăn và khuyên ai nấy hãy ăn. Nghe ông nói, thấy ông làm, mọi người được vững lòng và ăn. Cuối cùng ai nấy đều được lên bờ bình an (Công 27).

III. HÃY LÀM CÔNG VIỆC CHÚA CÁCH DƯ DẬT LUÔN.

Để tránh khỏi ngã lòng và rúng động, hãy hăng say làm việc Chúa. Kẻ ngã lòng thường là kẻ không làm việc gì cả. Anh em đang nhân danh Chúa phục vụ người khác, hãy làm cách dư dật luôn. Bất luận ở điạ hạt nào “hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm như làm cho Chúa, chứ không phải làm cho người ta” (Cô-lô-se 3:23).

Do lòng ích kỷ, người ta thường làm việc qua loa, lấy có lấy công mà không xong việc nào. Người làm việc tắc trách như vậy bị Kinh Thánh lên án như sau: “Kẻ thả trôi công việc mình cũng là anh em của kẻ phá hoại” (Châm 18:9). Song khi được tình thương thúc giục người ta sẽ tận tâm làm việc. Nhất là biết rằng việc của mình được Chúa chấp nhận, thì người ta càng hăng say làm một cách dư dật luôn. Càng hầu việc Chúa càng không ngã lòng mà lại càng thêm vững vàng, càng không rúng động, không lung lạc mà càng thêm mạnh mẽ, càng thêm bền chặt. Thế thì hãy làm việc Chúa cách dư dật luôn.

IV. CÔNG KHÓ CỦA ANH EM KHÔNG PHẢI VÔ ÍCH.

Xưa nay có biết bao nhiêu công khó của con người đã trở thành vô ích. Kinh Thánh chép: “Khốn thay cho kẻ tìm lợi bất nghĩa cho nhà mình. Khốn thay cho kẻ lấy huyết dựng ấp, và lấy sự gian ác xây thành! Ấy há chẳng phải bởi Đức Giê-hô-va vạn quân mà các dân làm việc cho lửa, và các nước nhọc nhằn cho sự hư không hay sao?” (Ha-ba-cúc 2:12-13). Đó là việc thường xảy ra trên đời. Song Kinh Thánh cho biết cuối cùng của mọi việc là: “Bấy giờ các tầng trời sẽ có tiếng vang rền mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất và mọi công trình trên nó đều bị đốt cháy cả” (II Phi-e-rơ 3:10). Song công khó của chúng ta trong Chúa không bao giờ vô ích.

Sỡ dĩ công khó của chúng ta không trở thành vô ích là vì không phải chúng ta làm, song Chúa làm qua chúng ta. Bất cứ việc gì của Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi, không ai phá hủy được. Hơn nữa, công khó của chúng ta sẽ được Chúa nhớ luôn: “Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương anh em đã tỏ ra vì danh Ngài…” (Hê-bơ-rơ 6:10). Nếu chúng ta cho kẻ thuộc về Chúa chỉ uống một chén nước lạnh cũng không mất phần thưởng của mình (Mác 10:42), phương chi là một ly sữa, một chén cháo, một bát cơm, một chiếc áo… Chắc chắn chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi gặp Chúa, vì những phần thưởng lớn lao một cách không ngờ dành cho kẻ phục vụ Ngài. Vậy đừng bỏ qua bất luận một cơ hội nào, bất luận một công việc nào Chúa muốn chúng ta làm vì danh Ngài.

Nếp sống của anh em là một nếp sống của một tín đồ đắc thắng hay thất bại? Chúa chúng ta đã thắng, chúng ta không thể thất bại!

CÂU HỎI

1. Lập trường của tín đồ là lập trường gì? Và thế nào?

2. Tại sao niềm tin và hi vọng của chúng ta phải vững vàng?

3. Nhờ đâu mà linh hồn của chúng ta không bị rúng động giữa các cơn bão tố?

4. Ngã lòng có hại như thế nào?

5. Vững lòng lợi như thế nào?

6. Làm công việc Chúa cách dư dật luôn thì có phước gì?

7. Tại sao công khó của chúng ta sẽ không vô ích?

8. Bạn có quyết định gì sau khi học bài này?

Lên đầu trang