HÊ-BƠ-RƠ
1. DẪN NHẬP LỜI CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (He 1:1-4)
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà nhiều người nghi ngờ việc nhận biết Đức Chúa Trời và có nhiều triết lý, những quan điểm tôn giáo mâu thuẫn nhau. Ngay giữa những người tự xưng là Cơ Đốc nhân thỉnh thoảng cũng tuyên bố có thêm sự mặc khải mâu thuẫn hoặc vượt ra ngoài Kinh Thánh. Tuy nhiên, thư Hê-bơ-rơ đặt chúng ta vào một hoàn cảnh để không còn có thể nghi ngờ gì nữa về sự kiện Đức Chúa Trời đã phán dạy dân Y-sơ-ra-ên một cách dứt khoát thông qua các đấng tiên tri, rồi Ngài đã mặc khải thật đầy đủ và dứt khoát tính cách và ý chỉ Ngài bởi Con Ngài (1-2). Sự mặc khải của Cựu Ước đã đến nhiều lần xuyên suốt lịch sử của Y-sơ-ra-ên và bằng nhiều cách như chiêm bao, khải tượng và các thông điệp từ thiên sứ. Nhưng sự mặc khải tối hậu đã đến trong những ngày sau rốt này của lịch sử loài người thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Trước giả sẽ tiếp tục gợi ý rằng Cựu Ước là một sự chuẩn bị và là nền móng của sự mặc khải tối hậu ấy (He 8:5 10:1). Thật vậy, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục phán dạy các Cơ Đốc nhân thông qua Cựu Ước trong mọi hoàn cảnh (3:7-11 12:5-6). Tuy nhiên, nhằm nhấn mạnh tính dứt khoát của sự mặc khải thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, trước giả chỉ ra tính vĩ đại vượt trội của Ngài với tư cách Con Đức Chúa Trời.
Là Đấng từng ở với Đức Chúa Trời ngay từ ban đầu, Ngài là Đấng duy nhất để thông qua đó Đức Chúa Trời đã dựng nên thế gian (Hi văn aiơnas, “các thời đại” hay “các thế giới” được sử dụng như nhau nhằm chỉ toàn cõi vũ trụ của không gian và thời gian trong 11:3). Hơn nữa, Đức Chúa Con đã được chỉ định để sở hữu và cai trị trên tất cả những gì mà Ngài nguyên là công cụ để tạo nên: Ngài kế tự muôn vật (2 Thi 2:7-8). Tuy nhiều người phủ nhận uy quyền của Ngài và cứ tiếp tục chối bỏ Ngài, đến cuối cùng thì Ngài sẽ chiến thắng khải hoàn. Là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, Đức Chúa Con bày tỏ bản chất của Đức Chúa Trời qua con người Ngài, chớ không phải chỉ bằng lời nói của Ngài (3). Ngài vẫn tiếp tục nâng đỡ công trình sáng tạo và sắp xếp các biến cố lịch sử bằng chính lời quyền phép mà Ngài đã dựng nên muôn vật ngay từ ban đầu (3).
Vì đối tượng của sự mặc khải của Đức Chúa Trời vốn luôn luôn là sự thông công giữa Đức Chúa Trời với loài người, thư Hê-bơ-rơ liền vạch rõ rằng vai trò của Đức Chúa Con là ban sự làm sạch tội (3). Điều này dự báo luận cứ của He 2:14-18 và những khúc sách sau đó đề cập sự cần thiết để Đức Chúa Con chia sẻ trọn vẹn nhơn tánh của chúng ta, chịu khổ và chết, hầu chu toàn vai trò thầy tế lễ thượng phẩm chuộc tội cho chúng ta. Nói khác đi, lời cuối cùng của Đức Chúa Trời cho chúng ta không phải chỉ là sự mặc khải trọn vẹn về tính cách Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu nhưng còn là “về” công tác cứu rỗi của Ngài, khiến chúng ta có thể vui hưởng tất cả những gì Đức Chúa Trời đã hứa ban cho dân sự Ngài trong những ngày sau rốt này.
Kết quả của công tác chuộc tội của Ngài là việc Ngài được ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao (Thi 110:1). Việc ngự ngôi trên trời của Con Đức Chúa Trời rất có ý nghĩa, đến mức ở đây, thư Hê-bơ-rơ chẳng đề cập gì đến sự sống lại và sự thăng thiên, là hai việc đã khiến cho điều đó có thể xảy ra. Hay đúng hơn là, do phần dẫn nhập đã sắp kết thúc, trước giả cho thấy ông sắp rút ra nhiều hàm ý về việc ngự ngôi này. Ông sẽ xác lập quyền tối cao tuyệt đối của Đức Chúa Con trên các thiên sứ, là các hữu thể siêu nhiên mà dân Y-sơ-ra-ên nghĩ là thân cận nhất với Đức Chúa Trời (4).
2. ĐỨC CHÚA CON VÀ CÁC THIÊN SỨ (He 1:5-2:18)
Sẽ ích lợi khi đọc từ đầu chí cuối đoạn sách này của thư Hê-bơ-rơ để thấy các phần nhỏ ăn khớp với nhau thể nào trước khi chú trọng vào các chi tiết. Rõ ràng những người được gởi bức thư này có phần khó khăn trong việc phân biệt mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế với các thiên sứ, nhưng đã chẳng có cách nào để biết chắc chắn về tính chất chính xác của vấn đề của họ. Từ He 2:5-9 trở đi, dường như việc Đức Chúa Con trở thành “thấp hơn các thiên sứ một chút” lúc Ngài ra đời cần được biện minh một phần nào. Làm thế nào Ngài cao trọng hơn các thiên sứ lại dự phần trọn vẹn trong nhân tánh chúng ta? Tại sao Đấng vốn cao trọng hơn các thiên sứ lại phải chịu khổ rồi chết đi, như Phúc Âm của Cơ Đốc giáo truyền giảng? Tính chất và chủ đích của điều mà thuật ngữ gọi là “sự nhập thể” vẫn tiếp tục là một vấn đề gây nhiều tranh luận trong chính thời đại của chúng ta, và thư Hê-bơ-rơ đưa ra những hiểu biết sâu sắc đặc biệt về đề tài này ngay tại đây.
Căn cứ theo 2:1-4 thì dường như các độc giả ban đầu vốn có niềm tin phổ biến của Do Thái giáo rằng các thiên sứ từng tham gia vào việc ban bố luật pháp của Đức Chúa Trời cho Môi-se (Cong 7:53 Ga 3:19). Họ cần được biết chắc về địa vị cao trọng và tính cách của Đấng vốn là tác nhân của sự mặc khải mới. Cũng thế, nhiều người hiện nay cần được thuyết phục rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu vốn trổi hơn một nhà tiên tri hoặc một thiên sứ. Không có sự mặc khải nào lớn lao hơn về Đức Chúa Trời từng được ban cho họ. Do đó mà có nguy cơ xem thường bức thông điệp cứu rỗi từ Ngài đến.
Trong He 2:5-18 chúng ta được chỉ cho thấy rằng công tác trên đất của Đức Chúa Con là hoàn tất sự cứu rỗi khỏi tội lỗi và các hậu quả của nó, giúp các tín hữu được dự phần vinh hiển và sự tôn trọng của Ngài trong “đời hầu đến”. Cần nhấn mạnh đến nhu cầu rất lớn của chúng ta và ân điển khó tin nổi của Đức Chúa Trời nhằm đáp ứng cho nhu cầu đó. Ý niệm về quyền cai trị của Chúa Cứu Thế trên thiên đàng lại được đưa lên hàng đầu một lần nữa để bảo đảm với chúng ta rằng đến cuối cùng thì muôn vật đều sẽ bị đặt “dưới chân Ngài” (2:8) và rằng bất chấp mọi trở ngại, các môn đệ chân chính đều sẽ cùng trị vì với Ngài.
1. Đức Chúa Con cao trọng hơn các thiên sứ (He 1:5-14)
Các bản Kinh văn được trích dẫn trong đoạn này có tác dụng nhấn mạnh và giải thích vài chủ đề quan trọng đã được nêu ra trong phần dẫn nhập (1-4). Cụ thể là câu đề cập việc Đức Chúa Con ngự ngôi trên thiên đàng (3) tự nhiên dẫn đến một lời giải thích cho địa vị của Ngài liên quan đến thế giới của các thiên sứ. Thi 110:1 cung cấp phần khung sườn để theo đó hiểu được nhiều bản Kinh văn Cựu Ước khác nhau. Việc ấy đã được ngụ ý trong câu 3 (Ngài “ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao”) và được trích dẫn đầy đủ trong câu 13. Vậy đề tài về việc Chúa Cứu Thế ngự ngôi và cai trị trên thiên đàng là tiêu điểm của đoạn sách này. Chúa Giê-xu trưng dùng 110:1 để chỉ địa vị được tôn cao trên thiên đàng của Đấng Mết-si-a hay Đấng Cứu Thế theo điều trông mong của Cựu Ước (Mac 12:35-37 14:61-62), và từ đó, nó thường xuyên được các Cơ Đốc nhân bắt đầu dùng để đề cập Chúa Giê-xu phục sinh (He 10:12-14 Cong 2:34-36 ICo 15:25). Có những ngụ ý khác chỉ về văn bản then chốt này trong He 8:1 và 12:2.
(He 1:5) Sở dĩ Thi 2:7 đã được trích dẫn vì đây là một lời tiên tri ứng nghiệm cho Đấng Mết-si-a là Con Trai Đa-vít và là Con Đức Chúa Trời. Nền tảng thần học cho lời tuyên bố phi thường này là lời hứa đặc biệt của Đức Chúa Trời với Đa-vít và vương triều của ông như được trích dẫn trong IISa 7:14. Khi các con trai của Đa-vít được đặt lên ngôi như các đại diện của Đức Chúa Trời trên đất này tại Giê-ru-sa-lem, thì họ được hưởng một mối liên hệ đặc biệt là được làm con đối với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu là Đấng cuối cùng làm ứng nghiệm những lời Kinh Thánh này vì Ngài là Con đời đời của Đức Chúa Trời (He 1:2-3), Đấng mà sự sống lại và thăng thiên phục hồi Ngài ở địa vị toàn năng và toàn quyền đối với vũ trụ, “bên hữu” Cha Ngài (tham khảo cách dùng Thi 2:7 trong Cong 13:33).
(He 1:6) Các thiên sứ chưa bao giờ được ban cho những lời hứa như thế. Nhiệm vụ của họ bao giờ cũng là thờ lạy Đức Chúa Trời (Phu 32:43 Thi 96:7). Do đó, họ cũng phải thờ lạy Đức Chúa Con đang ngự bên hữu Ngài. Dự phần trọn vẹn trong nhân tánh của chúng ta, Ngài đã tạm trở nên “thấp hơn các thiên sứ”, nhưng giờ đây Ngài đã “được đội mão triều vinh hiển tôn trọng” (He 2:9). Việc đưa con đầu lòng của Đức Chúa Trời vào trong thế gian (Hi văn oikoumerè, như trong 2:5) nên được hiểu đúng hơn trong văn cảnh ở đây là đề cập việc Chúa Cứu Thế đi vào cái mà đối với chúng ta hãy còn là “thế gian hầu đến” (2:5). Việc này đã xảy ra lúc Ngài thăng thiên vào “các nơi trên trời”.
(He 1:7-9) Văn bản Thi 104:4 trong Hi văn gợi ý rằng các thiên sứ vốn được tạo dựng để thi hành các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời bằng tốc lực của gió và sức mạnh của lửa. Họ là một phần của trật tự thọ tạo nên phải phục vụ Đức Chúa Con, vì Ngài dự phần cai trị (ngự ngôi) với Đức Chúa Trời, là quyền sẽ tồn tại miên viễn. 45:6-7 với hình ảnh cử hành một lễ cưới cho nhà vua, đã được dùng đề cập đến Chúa Cứu Thế, là Vua của dân Y-sơ-ra-ên, Đấng cuối cùng làm ứng nghiệm cái lý tưởng dự phần trong sự công bình và vui mừng trong nước đời đời của Đức Chúa Trời.
(He 1:10-12) Sự tồn tại và quyền trị vì đời đời của Chúa Cứu Thế còn được nhấn mạnh một lần nữa trong 102:25-27. Điều này tương phản với công trình sáng tạo hay hư nát mà Ngài đã dựng nên và sẽ có ngày Ngài cuộn nó lại như cái áo. Thư Hê-bơ-rơ dùng bản Hi văn của cả hai Thi thiên này để nói rằng Đức Chúa Cha gọi Đức Chúa Con với tư cách là Đức Chúa Trời và Chúa. 110:1 có lẽ đã tạo cảm hứng cho cách lý giải này, vì ở đó Chúa (Đức Giê-hô-va) gọi một người khác với tư cách “Chúa tôi” và mời vị ấy ngự bên hữu mình.
(He 1:13-14) Quay trở lại với văn bản dường như vốn là khởi điểm cho các suy nghĩ của mình, trước giả dùng 110:1 để nhấn mạnh rằng các thiên sứ không thi hành uy quyền và quyền cai trị của Đức Chúa Con. Với tư cách là các thần hầu việc, họ chỉ có nhiệm vụ phục vụ các chủ đích và thi hành các mệnh lệnh của Ngài. Thật vậy, họ phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách phục vụ những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi. Theo trật tự sáng tạo thì các thiên sứ cao hơn chúng ta (8:4-6), nhưng họ là những hữu thể được sai phái để giúp đỡ chúng ta về những phương diện vượt quá sự hiểu biết của chúng ta, để chúng ta đến được với cơ nghiệp trên trời của mình (He 13:2).
2. Một lời kêu gọi hãy bám chặt lấy Đức Chúa Con và thông điệp của Ngài (He 2:1-4)
Phân đoạn này trực tiếp rút ra các kết quả thực tiễn của chương sách trước. Đây là đoạn đầu tiên trong số nhiều khúc sách nhằm cảnh cáo, cho thấy mối quan tâm của trước giả về hoàn cảnh của ít nhất là một vài độc giả của ông. Về mặt tích cực, lời khuyến khích này là phải càng (chú ý) giữ vững lấy điều mình đã nghe (1). Về mặt tiêu cực, lời cảnh cáo là đừng để bị trôi lạc, như người đang ở trên một con thuyền đã mất dây neo và đang trôi nhanh về phía một thác nước. Người ta bị trôi lạc xa Chúa Cứu Thế như thế nào còn được khai thác trong các chương về sau. Ở đây, luận điểm chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng sự trôi lạc này có những hậu quả tàn hại.
Sứ điệp mà thư Hê-bơ-rơ chú ý đến là Phúc Âm cứu rỗi đã được Chúa (nghĩa là Chúa Giê-xu) truyền ra trước hết và đã được những kẻ nghe chứng nghiệm (3). Trước giả và các độc giả của ông không thuộc về thế hệ các Cơ Đốc nhân đầu tiên, nhưng chắc chắn là họ đã nhận được Phúc Âm từ những người ấy. Khi bức thông điệp đó được số người nhận được từ Chúa Giê-xu truyền lại cho họ, Đức Chúa Trời đã chứng thực cho nguồn gốc siêu nhiên của nó bằng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài đã theo ý muốn mình phát ra (4).
Phúc Âm có ý nghĩa quan trọng hơn thông điệp mà các thiên sứ rao truyền cho dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i. Đây là thông điệp do chính Con Đức Chúa Trời ban bố, liên quan đến sự cứu rỗi đời đời và làm thế nào để có được nó. Nếu sự trái phép nghịch mạng đã được báo ứng xứng đáng, thì còn có cách nào để tránh cho khỏi (sự báo ứng) dành cho những kẻ trễ nãi hay bỏ qua các lời lẽ của sự mặc khải tối hậu này của Đức Chúa Trời (2-3)? Sự (phán xét) dành cho những kẻ quay lưng lại đối với Chúa Cứu Thế chắc phải lớn hơn bất kỳ một sự trừng phạt nào mà dân Y-sơ-ra-ên từng trải nghiệm trong thời của Cựu Ước. Trước giả còn nói thêm về vấn đề này nữa trong 10:26-31.
3. Sự khiêm hạ và được tôn cao của Đức Chúa Con (He 2:5-18)
Sau khi cho thấy thông điệp của Đức Chúa Con là về sự cứu rỗi, trước giả tiếp tục giải thích trong đoạn này sự cứu rỗi đã được hoàn tất như thế nào và nó có ý nghĩa gì cho chúng ta. Chủ đề về Chúa Cứu Thế ngự ngôi và trị vì trên thiên đàng được tóm tắt, chúng ta được cho thấy tại sao Đức Chúa Con đã tạm thời bị trở thành nhỏ nhoi, đã ở dưới các thiên sứ một chút trước khi được đội mão triều vinh hiển tôn trọng. Thi 8:4-6 là văn bản then chốt, cùng với ba câu trích dẫn Cựu Ước khác đã được dùng để hậu thuẫn cho nó (He 2:12-13). Chúa Giê-xu là Đấng làm ứng nghiệm Thi 8:1-9 bởi sự chết Ngài rồi được tôn lên ngự bên hữu Đức Chúa Trời. Thư Hê-bơ-rơ thám sát các hàm ý của “sự trọn lành” đó của Chúa Cứu Thế vì chúng ta (He 2:10-16). Đức Chúa Con đã phải mặc lấy nhơn tánh của chúng ta, chịu khổ rồi chết đi, để chúng ta cùng được dự phần vinh hiển của Ngài. Trong 2:17-18 lời truyền dạy này được diễn giải một lần nữa bằng những thuật ngữ chỉ về việc Đức Chúa Con đã được kêu gọi làm một thầy tế lễ thượng phẩm hay thương xót và trung tín.
(He 2:5) Thế gian hầu đến nhắc lại hy vọng của Y-sơ-ra-ên về một “thời đại quang vinh hầu đến” gồm có việc làm mới lại công trình sáng tạo hay thiết lập một “trời mới và đất mới” (Es 65:17-25), có khi được kết hợp đặc thù với công tác của Đấng Mết-si-a (11:1-9). Ở chỗ khác, thư Hê-bơ-rơ còn đề cập một “sự yên nghỉ” mà Đức Chúa Trời đã hứa (He 4:1-11), là niềm hy vọng về một “quê hương ở trên trời” (11:16) hay “thành hầu đến” (13:14). Các hình ảnh khác nhau này được dùng để mô tả trật tự thế giới mới sẽ bị đặt dưới quyền cai trị của Con Đức Chúa Trời chớ không phải là dưới các thiên sứ (1:13). Tuy nhiên, thư Hê-bơ-rơ hàm ý rằng cái thời đại hầu đến đó đã thật sự được thiết lập rồi từ việc Chúa Cứu Thế đã được đặt lên chiếc ngôi bên hữu Đức Chúa Trời. Các lợi ích của nó đã được các tín hữu nếm trải trước (2:4 6:4-6 12:22-24) trong khi chờ đợi Chúa Giê-xu tái lâm để đưa họ đến chỗ được vui hưởng trọn vẹn sự cứu rỗi mà Ngài đã dành được họ rồi (9:28-10:36-39).
(He 3:6-8) Thi 8:4-6 được trích dẫn để giải thích Đức Chúa Con bảo đảm quyền cai trị của Ngài với cương vị Đấng Mết-si-a như thế nào. Trong văn cảnh gốc, mấy câu này ca tụng địa vị được tôn cao của loài người trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, tác giả Thi Thiên nói bằng ngôn ngữ lý tưởng, vì tội lỗi, sự chết và ma quỉ ngăn trở chúng ta thi hành quyền thống trị trong thế gian này như Đức Chúa Trời muốn (Sa 1:26-31 3:14-19). Quyền thống trị trọn vẹn được hứa ban cho Đấng Mết-si-a trong Thi 110:1 và Hê-bơ-rơ xem văn bản này như một đầu mối cho ý nghĩa và cách ứng dụng tối hậu của 8:4-6. Vai trò của Đức Chúa Con là làm ứng nghiệm vận mệnh của nhân loại. Song hiện nay chúng ta chưa thấy mọi vật phục Ngài. Làm thế nào để chúng ta biết chắc rằng thế giới hầu đến sẽ đầu phục Ngài?
(He 2:9) Trước giả xem câu đặt người ở dưới các thiên sứ một chút như một lời đề cập sự khiêm nhường của Con Đức Chúa Trời đã trải nghiệm lúc Ngài đến để dự phần trọn vẹn nhân tánh của chúng ta (He 2:14-18). Hãy lưu ý việc đưa tên con người Giê-xu vào tại điểm này của luận cứ. Được đội mão triều thiên vinh hiển tôn trọng đề cập sự tôn cao trên trời mà Ngài đã trải nghiệm vì đã chịu chết. Sự thăng thiên của Đấng Mết-si-a bị đóng đinh để được ngự ngôi bên hữu Đức Chúa Trời là lời bảo đảm rằng đến cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ đặt mọi vật dưới chơn Ngài. Sự chết là con đường dẫn đến vinh hiển như thế cho Ngài, nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời cũng là phương tiện để cứu rỗi chúng ta. Mấy câu tiếp theo đây tiếp tục giải thích đối với Ngài thì vì mọi người trải nghiệm sự chết có nghĩa gì.
(He 2:10) Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho nhân loại đã được thực hiện nhờ một người, là Chúa Cứu Thế Giê-xu (Ro 5:12-21). Thật là điều vô cùng thích hợp (là phải lắm) cho Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo dựng nên muôn vật cho những chủ đích riêng của Ngài, để đem nhiều con đến sự vinh hiển theo cách đó. Chúa Giê-xu là đầu của cả một đoàn người đông đảo đã được định sẵn để dự phần sự vinh hiển tôn trọng của Ngài. Họ được gọi theo nhiều cách khác nhau trong khúc sách này với tư cách là con (10), anh em (11-12), con cái (13)và dòng dõi Áp-ra-ham (16). Chúa Giê-xu là cội rễ (Hi văn archègon, như ở He 12:2) của sự cứu rỗi, hoặc có lẽ chính xác hơn là “nhà tiền phong của sự cứu rỗi” của họ. Chắc chắn là Ngài đã hoàn tất được một việc gì đó là độc nhất vô nhị thay cho những người khác (9)nên đã được gọi rất đáng là “cội rễ (nguồn) của sự cứu rỗi đời đời” trong 5:9. Nhưng trước giả cũng muốn nhấn mạnh rằng về một vài phương diện, Chúa Giê-xu là vị lãnh tụ hành động như một người tiên phong, dọn đường cho nhiều người khác noi theo (6:20 12:1-3). Chúng ta được cho biết ba lần rằng Ngài đã được khiến nên trọn lành (Hi văn teleiơsai, 5:9 7:28). Không có ý nghĩa nào mà theo đó Ngài chưa trọn lành về đạo đức, nhưng nhờ chịu cám dỗ và chịu khổ, sự chết và sự tôn cao trên thiên đàng, mà Ngài được “nên” hay được “khiến hoàn toàn có đầy đủ phẩm cách” để làm Cứu Chúa cho dân mình. Những hàm ý của lời truyền dạy sâu nhiệm này sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn theo diễn tiến của luận cứ.
(He 2:11-13) Là Đấng Cứu Thế “trọn lành”, Chúa Giê-xu làm nên thánh nhiều người hay biệt riêng một dân cho Đức Chúa Trời (10:10,14,29 13:12). Sách Hê-bơ-rơ sử dụng ba bản văn Cựu Ước để cho thấy điều này xảy ra như thế nào. Thi 22:22 đề cập việc rao truyền sự giải cứu của Đức Chúa Trời bởi một người đã trải nghiệm sự thương khó và chịu sự chối bỏ thật khủng khiếp. Mấy lời này ứng dụng trước nhất cho Chúa Giê-xu với tư cách Chúa đã sống lại và thăng thiên, rao truyền chiến thắng đạt được bởi sự chết của Ngài. Khi làm như thế, là Ngài thu góp quanh mình và duy trì hội hay Hội Thánh của những anh chị em thuộc linh của Ngài (12). Es 8:16-18 đề cập việc Ê-sai và các môn đệ của ông đã được hợp nhất nhờ lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, và như thế, đã trở thành dấu hiệu và biểu tượng cho dân Y-sơ-ra-ên vô tín. Thư Hê-bơ-rơ lấy một câu từ 8:17 (Ta sẽ phó thác ta cho Chúa) như một gợi ý về sự nhờ cậy trung tín của Chúa Giê-xu nơi Đức Chúa Cha để thực hiện chức vụ tại thế của Ngài (13). Thế là 8:18 đã được dùng để đồng nhất hoá Hội Thánh như là các con cái đã được Đức Chúa Trời ban cho Chúa Giê-xu. Sự kiên trì nhẫn nhục của Ngài trong đức tin thậm chí cho đến chết, khiến họ cũng có thể có đức tin. Đức tin ràng buộc các thành viên trong gia đình của Chúa Cứu Thế lại với nhau.
(He 2:14-16) Để thực hiện việc cứu rỗi các con cái Ngài, và để kéo họ đến với chính Ngài như một cộng đồng của đức tin, Đức Chúa Con đã dự phần trọn vẹn vào nhân tánh (nguyên văn “huyết và thịt”) của họ. Chủ đích của “sự nhập thể” (trở thành người) này là để Ngài có thể chết đi và Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ. Câu này nhắc lại lời truyền dạy trong Sáng Thế Ký 3 về vai trò của Sa-tan trong cuộc phản loạn của loài người chống lại Đức Chúa Trời và việc đưa án chết vào thế gian như hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi. Thư Hê-bơ-rơ chỉ ra rằng ma quỉ tiếp tục giữ chặt người ta trong ách nô lệ vì nỗi sợ (sự) chết của họ (15). Chúng ta chỉ có thể được giải thoát khỏi quyền lực của Sa-tan và được tự do để phục vụ Đức Chúa Trời nhờ sự tha thứ và sự thanh tẩy được thực hiện bởi sự chết của Chúa Giê-xu (He 9:14-15,27-28 10:19-22). Ngài cất đi mối đe doạ của sự phán xét và kết án đối với những người tin cậy Ngài và bảo đảm ban sự sống cho họ trong đời hầu đến. Trước giả mở rộng cách so sánh của ông giữa Chúa Cứu Thế với các thiên sứ cho đến điểm kết thúc khi ông viết Vì quả thật không phải Ngài đến vùa giúp các thiên sứ, bèn là vùa giúp dòng dõi của Áp-ra-ham (16). Từ ngữ cuối cùng này không đề cập cả nhân loại nói chung hay chỉ riêng dân tộc Y-sơ-ra-ên, mà nói về toàn thể những người “đã trốn đến nơi ẩn náu mà cầm lấy sự trông cậy mà (Chúa Giê-xu) đã đặt trước mặt chúng ta” tức là “những kẻ thừa kế những gì đã được hứa ban cho” Áp-ra-ham vậy (6:17-18).
(He 2:17-18) Danh hiệu thầy tế lễ thượng phẩm đã được ban cho Chúa Giê-xu lần đầu tiên, khi trước giả thông báo chủ đề của phân đoạn lớn tiếp theo trong tác phẩm của ông (3:1-5:10). Lần đề cập đầu tiên Chúa Giê-xu là thầy tế lễ thượng phẩm này được kết chặt với lời dạy rằng Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự (17). Chỉ vì Ngài dự phần bản tính của chúng ta, trải nghiệm sự yếu đuối của con người và chịu khổ khi bị cám dỗ, nên Ngài có thể giúp đỡ thích đáng cho những kẻ bị cám dỗ (18). Tuy nhiên, đỉnh điểm của cuộc chiến đấu tại thế của Ngài là sự chết của Ngài, bởi đó mà Ngài có thể đền tội cho chúng dân (17). Cách diễn đạt này là dấu chỉ đầu tiên cho thấy rằng Chúa Giê-xu đã làm trọn vai trò của thầy tế lễ thượng phẩm vào Ngày Đại lễ chuộc tội hằng năm (Le 16:1-34), dùng sinh tế để tẩy sạch dân mình khỏi sự ô uế của tội lỗi, và xoa dịu cơn giận của Đức Chúa Trời (He 7:27 9:11-12,24-26 10:1-14).
3. CHÚA GIÊ-XU LÀ THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ TRUNG TÍN (He 3:1-5:10)
Trong đoạn thảo luận chính này, các chủ đề trong 2:17-18 được giải nghĩa và ứng dụng cho hoàn cảnh của các độc giả ban đầu. Tiêu điểm trước nhất là sự trung tín của Chúa Giê-xu với cương vị “sứ giả (sứ đồ: apostle) và thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tin theo” (3:1-6). Điểm này được khai triển bằng cách so sánh Chúa Giê-xu với Môi-se vốn là nhân vật chủ chốt trong việc thiết lập dân Y-sơ-ra-ên làm “nhà” (gia đình) của Đức Chúa Trời vào thời Xuất Ai Cập. Luận cứ của trước giả chắc phải nhằm đặc biệt chỉ vào số các Cơ Đốc nhân người Do Thái đã bị cám dỗ trôi lạc để quay trở lại với Do Thái giáo, mà Môi-se và sự mặc khải mà ông đem đến cho dân Y-sơ-ra-ên từng được coi trọng như thế. Nhưng khúc sách này có một cách ứng dụng rộng rãi hơn vì những điều tích cực được nói về Chúa Giê-xu.
Lời cảnh cáo tiếp theo (3:7-4:13) lưu ý đến sự vô tín và phản loạn của dân Y-sơ-ra-ên khi đã rời bỏ Ai Cập dưới thời Môi-se nhưng không được vào xứ Ca-na-an. Các Cơ Đốc nhân cũng đang trên một hành trình hướng về một cơ nghiệp hay “sự yên nghỉ” do Đức Chúa Trời ban. Do đó, trước giả khích lệ các tín hữu kiên trì trong đức tin “để chẳng có ai vấp ngã” vì đi theo thất bại của dân Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc (4:11). Đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời là chiếc chìa khóa. Khuyên bảo lẫn nhau là việc làm cần thiết để ngăn ngừa sự cứng lòng vì vô tín đối với Lời ấy. Chỉ có cách đó, thì mới có thể bước vào và vui hưởng “sự yên nghỉ” được hứa ban. Nhưng trên hết tất cả, chúng ta được bảo đảm về “lòng thương xót” và “ân điển” mà Chúa Giê-xu ban cho với cương vị “thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời” (4:14-16). Sự so sánh giữa chức vụ thầy tế lễ trong Cựu Ước với chức vị thầy tế lễ của Chúa Cứu Thế tiếp theo đây, sẽ hỗ trợ thêm cho lời tuyên bố này (5:1-10). Một lần nữa, thư Hê-bơ-rơ chứng minh tính cách vĩ đại vượt trội về con người và công tác của Con Đức Chúa Trời.
1. Sự trung tín của Chúa Cứu Thế (He 3:1-6)
Anh em thánh gợi ý về một mối liên hệ gia đình giữa các tín hữu thật, không phân biệt nam nữ. Họ đều là khách hành hương cùng dự phần ơn trên trời gọi (1) để cùng trị vì với Chúa Cứu Thế trong “đời hầu đến” (2:5). Lời khích lệ quan trọng nhất để cứ bươn tới trong hành trình của đức tin, là “hãy đặt các tư tưởng chú trọng vào Chúa Giê-xu”. Vậy là trước giả đã trình bày thật đơn giản mối quan tâm trọng yếu về “lời khích lệ” của mình. Các Cơ Đốc nhân phải nhìn chăm vào Chúa Giê-xu với tư cách sứ giả đã được Đức Chúa Trời sai đến làm sự mặc khải tối hậu về tính cách và ý chỉ của Ngài, và với cương vị thầy tế lễ thượng phẩm, Ngài sẽ khiến cho mối liên hệ đời đời với Đức Chúa Trời trở thành khả thi. Sự dạy dỗ như thế có ý khuyến khich những người đã mòn mỏi, thách thức những kẻ đang lười biếng và không vâng lời, cũng như trấn an những người đang nghi ngờ và bị trôi lạc.
(He 3:2-5) Sự trung tín của Chúa Giê-xu với Đức Chúa Trời là Đấng đã lập Ngài được đối chiếu với sự trung tín của Môi-se. Một sự trung tín như thế mời gọi chúng ta đặt lòng tin cậy trọn vẹn vào Chúa Giê-xu. Trước giả đề cập bóng gió đến Dan 12:7, là câu đề cao vai trò căn bản của Môi-se với tư cách người mặc khải ý chỉ của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-xu còn đáng vinh hiển cao trọng hơn Môi-se, vì với cương vị Con Đức Chúa Trời, Ngài thật sự là thợ cất nhà xây lên ngôi nhà mà Môi-se đã phục vụ. Chính thông qua Con Ngài mà Đức Chúa Trời đã “dựng nên thế gian” (He 1:2) và thông qua Con Ngài mà Ngài đã cứu rỗi và thiết lập cộng đồng của đạo (3-4). Vai trò của Môi-se trong nhà Chúa là làm một kẻ tôi tớ được gọi đến làm chứng (Hi văn eis martyrion) về điều ngày sau sẽ được rao giảng. Ngay đến cái hệ thống thờ phượng mà Môi-se được dạy phải thi hành cũng chỉ là một sự chuẩn bị và là một điều dự báo về các thực tại sẽ cùng đến với Đấng Mết-si-a (8:5 10:1).
(He 3:6) Giờ đây thì Đức Chúa Con quản trị cả nhà Chúa. Nhà này bao gồm toàn thể các tín hữu chân chính từ đầu lịch sử nhân loại cho đến nay – tất cả những người đã được cứu hay được hoàn thiện nhờ công tác của Đức Chúa Con. Tuy nhiên, còn có một âm hiệu cảnh cáo vang lên từ câu miễn là chúng ta giữ vững vàng cho đến cuối cùng lòng tin chắc và trông cậy, là sự chúng ta lấy làm vinh hiển. Câu này bắc một nhịp cầu với khúc sách tiếp theo, là phần thảo luận về vấn đề người ta có thể xây bỏ Chúa Cứu Thế. Ở đây lòng tin chắc là một cách dịch của Hi văn (parrèsia) hay hơn là dịch “sự dạn dĩ”. “Sinh tế của Chúa Giê-xu ban cho chúng ta lòng tin chắc (Hi văn parrrèsa) để vào Nơi Chí Thánh” (10:19 4:16). Quyền được ra mắt Đức Chúa Trời là ân tứ mà Ngài ban cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế mà chúng ta không nên bỏ qua vì bất cứ lý do gì (10:35-36). Chúng ta cần nắm giữ quyền ấy và thực thi nó để có thể cứ kiên trì vâng theo ý chỉ Đức Chúa Trời và đạt được điều Ngài đã hứa. Cũng tương tự như thế, có một niềm hy vọng (sự trông cậy) khách quan được ban cho chúng ta trong Phúc Âm. Điều này phải tiếp tục là niềm tự hào (lấy làm vinh hiển) hay cơ sở để chúng ta vui mừng.
2. Một sự kêu gọi hãy trung tín (He 3:7-4:13)
Thi 95:7-11 đưa ra một lời cảnh cáo nghiêm trọng về vấn đề từ chối nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời, trở thành cứng cỏi trong sự vô tín và đánh mất sự yên nghỉ đã được hứa ban cho dân Ngài. Trước giả đã khá nóng nảy trong phần bình luận của ông về đoạn Thi Thiên này vì rõ ràng là ông đang lo âu về những khuynh hướng nào đó trong nhóm người mà ông đang trò chuyện. Cho nên cái nguy cơ bị “trôi lạc” xa Chúa Cứu Thế được đề cập vắn tắt trong He 2:1-4 giờ được trình bày đầy đủ hơn. Tuy nhiên, không kể tính cách nghiêm trọng của lời cảnh cáo, quyền năng của Kinh Thánh để thách thức và biến đổi các tín hữu đã được nhấn mạnh. Đức Chúa Trời nâng đỡ dân Ngài bằng Lời Ngài đã phán dạy họ và nhờ vào việc họ khích lệ lẫn nhau.
Sự yên nghỉ mà Chúa Cứu Thế bảo đảm cho người thuộc về Ngài được lý giải bằng lời lẽ trong Sa 2:2. Đức Chúa Trời đã bước vào ngày yên nghỉ (Sa-bát) sau khi hoàn tất công trình sáng tạo thế gian này. Xứ Ca-na-an, nơi Giô-suê thành lập quốc gia Y-sơ-ra-ên vào thời của ông, là một dự báo về sự yên nghỉ sau cùng này cho dân sự Đức Chúa Trời. Bằng một lời cảnh cáo thêm nữa là đừng đánh mất sự yên nghỉ đó, trước giả đưa ra một câu kết thúc về quyền năng của Lời Đức Chúa Trời trong việc phơi bày và phán xét tấm lòng của loài người.
(He 3:7-11) Đức Thánh Linh được thừa nhận là Đấng đã phán dạy “thông qua Đa-vít” khi ông viết Thi 95:1-11 (He 3:7 4:7). Đức Thánh Linh vẫn tiếp tục phán dạy cho nhiều thế hệ Cơ Đốc nhân tiếp theo đó qua lời Kinh Thánh này, cảnh cáo họ hằng ngày phải làm mới lại tiếng “ngày nay” làngày mà họ đã được nghe tiếng phán của Ngài và được sống. Những người rời Ai Cập với Môi-se đã có được lời hứa và lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời văng vẳng bên tai họ, nhưng họ đã cứng lòng và không chịu lấy đức tin và sự vâng lời để đáp lại. Nổi loạn và thư là những từ dịch hai địa danh tiếng Hi Bá Lai là Mê-ri-ba và Ma-sa (Xu 17:1-7 Dan 20:1-13). Ngay từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc những chuyến đi trong sa mạc của họ, dân Y-sơ-ra-ên đã tự chứng tỏ là họ đặc biệt vô tín tại các địa điểm ấy. Họ đã thư để dò xét Đức Chúa Trời theo ý nghĩa là họ đã đi xa đến mức chọc tức để Ngài phải đoán phạt họ (9). Giai đoạn bốn mươi năm trong hoang mạc là một sự bộc lộ cơn giận của Đức Chúa Trời đối với dòng dõi này, nhưng cũng là cơ hội để họ kinh nghiệm được các đường lối nhân từ của Ngài rất nhiều lần (10). Vì họ từ chối ăn năn và tin cậy Ngài, nên trong cơn giận, Ngài đã tuyên bố bằng một lời thề rằng những người như thế sẽ không được vào sự yên nghỉ trong xứ mà Ngài đã hứa ban cho tổ phụ họ làm sản nghiệp (11 tham khảo sách Dân Số Ký đoạn 14). Đặc ân đó chỉ được kéo dài ra cho con cháu họ mà thôi.
(He 3:12-13) Trước giả muốn các bạn tín hữu của mình (anh em cũng gồm luôn “chị em” nữa) nên chăm lo lẫn cho nhau để không ai phải bị lạc mất. Tận hiến để tìm hiểu và giúp đỡ người khác trong chi hội địa phương là điều cần thiết. Nguy cơ lớn nhất là có ai đó trong hội chúng lại có lòng dữ (tội lỗi) và chẳng tin mà chối bỏ Đức Chúa Trời hằng sống. Cũng như những người Y-sơ-ra-ên đã được đề cập trong Thi 95:7-11 những người xưng là Cơ Đốc nhân lắm khi cũng xây bỏ Đức Chúa Trời bằng sự bội đạo (Hi văn apostçnai) nghĩa là bằng sự chống nghịch cố ý và dai dẳng. Điều này có thể bị kích động bởi khổ nạn hay bắt bớ hoặc bị áp lực của cám dỗ, nhưng nguyên nhân gốc luôn là lòng vô tín. Nói khác đi, anh em bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng. Tội lỗi là một thế lực chủ động, hiếu chiến mà ta phải chống lại. Nếu bạn cứng lòng đối với Lời Đức Chúa Trời (8), tội lỗi sẽ có cơ hội của nó để khiến cho bạn bị cứng lòng (13). Để có những bình luận thêm về sự bội đạo (apostasy) xin xem các chú thích về He 6:4-6 10:26-31 12:15-17. Phương thuốc để phòng ngừa là hằng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau đang khi còn gọi là “ngày nay”. Sự khích lệ như thế là căn cứ trên Kinh Thánh, theo gương của trước giả (Hi văn parakaleite, “khuyên bảo, khích lệ”, nhắc nhở phần mô tả của thư Hê-bơ-rơ là logos paraklèseos, “có lời khuyên bảo” trong 13:22). Việc này có thể thực hiện trong bối cảnh chính thức là những buổi nhóm lại của các Cơ Đốc nhân (10:24-25) hoặc trong những cuộc tiếp xúc thân thiện hằng ngày giữa các Cơ Đốc nhân với nhau. Cho dù theo cách nào, một chức vụ phục vụ lẫn nhau căn cứ trên Lời Chúa là bí quyết để giữ được lòng trung tín và nhịn nhục. Đây không phải là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo Hội Thánh mà thôi, nhưng là bổn phận của mỗi Cơ Đốc nhân.
(He 3:14-15) Nhờ ân điển Đức Chúa Trời, các tín hữu đều được dự phần với Đấng Christ và tất cả những gì Ngài ban cho. Câu này giống với câu “nhà Chúa tức là chúng ta” (6): tức là phước hạnh đã được ban cho chúng ta rồi! Tuy nhiên, như trong câu 6, ý niệm về một điều kiện hay sự kiện thêm vào, được đưa ra trong câu 14. Chúng ta chứng minh mình thực sự thuộc về Chúa Cứu Thế, miễn là dù có việc gì xảy ra đi chăng nữa, chúng ta vẫn giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng. Chính đức tin cung cấp phần nền móng ẩn bên dưới cho một lòng tin chắc như thế. Đức tin kiên trì là dấu hiệu của sự quy đạo thật (Mac 13:13). Đức tin không phải là một việc thiện cứu được chúng ta nhưng là phương tiện nhờ đó chúng ta nắm giữ các lời hứa của Đức Chúa Trời và cứ ở trong mối liên hệ mà Ngài đã khiến cho chúng ta có thể giữ được thông qua Con Ngài. Những ai từ bỏ lòng tin chắc vào Chúa Cứu Thế và xây bỏ Ngài, chứng tỏ họ chưa bao giờ thật sự là “những người được dự phần trong Chúa Cứu Thế”. Do đó trước giả lại nhấn mạnh vào sự cần thiết phải chú ý tiếng phán của Đức Chúa Trời hằng ngày và đừng cứng cỏi trong sự vô tín (15).
(He 3:16-19) Bằng một loạt câu hỏi thúc giục, các hàm ý của Thi 95:7-11 được nêu ra rõ ràng hơn. Những kẻ nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn là những người trực tiếp trải nghiệm những điều tốt lành của Đức Chúa Trời khi Ngài đưa họ ra khỏi Ai Cập. Họ có mọi sự khích lệ để kiên trì trong đức tin suốt chuyến đi của họ vào đất hứa. Nhưng họ đã mất tư cách để bước vào sự yên nghỉ của Ngài vì cứ ngoan cố không vâng lời Ngài. Sự không vâng lời đó là do lòng vô tín của họ.
(He 4:1-2) Lời hứa cho vào sự yên nghỉ Chúa đã được rao truyền cho chúng ta trong Phúc Âm. Tình trạng của chúng ta vốn rất giống với tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc đến nỗi trước giả có thể nói vì tin lành này đã rao truyền cho chúng ta cũng như cho họ. Họ đã nhận được lời hứa vào đất hứa (Xu 3:7-10 34:10-14) và đã được kêu gọi hãy sống bằng đức tin vào lời phán đó của Đức Chúa Trời. Theo nghĩa đó, họ đã được truyền giảng Phúc Âm cho (2 Ga 3:8-9). Do đó, bao lâu vẫn còn lời hứa thì hãy lo sơ kẻo trong chúng ta có ai bị trừ ra (hụt mất nó) chăng. Luôn luôn có thể có một ai đó trong nhóm không nhận được sự yên nghỉ được hứa vì cùng một lý do như người Y-sơ-ra-ên dưới thời Môi-se đã bị hụt mất cơ nghiệp của họ: những lời họ đã nghe không ích chi (cho họ) hết, vì trong khi nghe (họ) chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình. Bản NIV có đưa ra một cách hiểu khác nữa mà một vài cổ bản cũng chứng thực là đúng: vì họ chẳng cùng chia sẻ đức tin của những người đã vâng lời. Có lẽ ý này ám chỉ sự kiện phần đông người Y-sơ-ra-ên đã không cùng chia sẻ đức tin với Giô-suê và Ca-lép khi đã đến lúc họ sắp được vào xứ Ca-na-an (Dan 14:1-45). Cả hai cách hiểu đều cho thấy rằng nghe sứ điệp bằng đức tin là thiết yếu cho sự cứu rỗi (Ro 10:14).
(He 4:3-5) Về phần chúng ta là kẻ đã tin thì vào sự yên nghỉ mà Thi 95:11 đề cập đến. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã ở trong Ca-na-an khi Đa-vít viết Thi Thiên này, lời cảnh cáo về vấn đề có thể bị hụt mất sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời phải chỉ đến một điều gì đó vượt xa hơn của cải vật chất. Sa 2:2 chỗ mà động từ liên quan đến “yên nghỉ” được tìm thấy, được sử dụng như chiếc chìa khoá để hiểu trọn vẹn ý nghĩa của câu Thi thiên trên. Sự yên nghĩ được hứa trong Thi thiên là việc dự phần vào “ngày Sa-bát” của chính sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, tiếp sau công tác sáng tạo của Ngài (xem dưới đây về He 4:9-11). Trong luận cứ này của thư Hê-bơ-rơ, sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời tương đương với “quê hương ở trên trời” (11:16), “Giê-ru-sa-lem trên trời (12:22) nước không hay rúng động” (12:28) và những mô tả khác giống như thế về cơ nghiệp của Cơ Đốc nhân. Theo một quan điểm nào đó, thì sự yên nghỉ ấy đối với chúng ta đã có ở các nơi trên trời và chúng ta có thể “vào đó” ngay bây giờ, bởi đức tin (3 12:22). Nó đã hiện hữu ngay từ lúc thế gian này được sáng tạo. Theo một quan điểm khác, thì chúng ta đang trong một cuộc hành hương đến “thành hầu đến” (13:14), và chúng ta đang chờ đợi để được đưa vào cái “thế gian hầu đến” đó (2:5). Thư Hê-bơ-rơ trình bày cùng một sự căng thẳng giữa cái “hiện nay” với cái “hầu đến” vốn cũng được tìm thấy ở vài chỗ khác trong Tân Ước. Chúa Giê-xu đã giúp chúng ta có thể vui hưởng một số phước hạnh trong hiện tại, như một lời bảo đảm rằng cuối cùng chúng ta sẽ có được mọi sự đã được hứa cho mình (Eph 1:13-14).
(He 4:6-8) Sự yên nghỉ mà dân Y-sơ-ra-ên trải nghiệm vào thời của Giô-suê là một dự báo ngay trên đất này về sự yên nghỉ cuối cùng trên thiên đàng. Thư Hê-bơ-rơ tiếp tục lý luận rằng con đường dẫn tới cơ nghiệp cuối cùng đã được Chúa Cứu Thế Giê-xu dọn sẵn rồi (He 6:19-20 9:15 10:19-22). Một thời gian lâu sau khi chinh phục xứ Ca-na-an, Thi 95:1-11 chỉ ra một ngày khác nữa gọi là ngày (Ngày nay) để lắng nghe tiếng gọi của Đức Chúa Trời vào sự yên nghỉ của Ngài. Điều này chứng minh rằng Đa-vít đang nghĩ đến một sự yên nghỉ vượt hẳn niềm vui hưởng đời sống trong Ca-na-an. Nếu Giô-suê đã đem đến cho dân sự sự yên nghỉ cuối cùng vào thời chinh phục xứ Ca-na-an rồi thì Đức Chúa Trời sau đó đã không còn nói về một ngày khác nữa. Hy vọng của dân sự Đức Chúa Trời là sự yên nghỉ trên thiên đàng, chớ không phải là việc tái lập dân Do Thái trong xứ Y-sơ-ra-ên. Các lời hứa căn bản của giao ước cũ đã được ứng nghiệm một cách đổi mới bởi Chúa Cứu Thế.
(He 4:9-11) Ý định của Đức Chúa Trời là muốn cho dân sự Ngài được dự phần sự yên nghỉ trong ngày Sabat của chính Ngài. Điều này gồm luôn việc được nghỉ ngơi khỏi công việc được giao cho chúng ta trong hiện tại (Kh 14:13), cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc của Ngài vậy. Tuy nhiên chúng ta không nên nghĩ về sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời là sự yên nghỉ không hoạt động. Kinh Thánh chỉ rõ rằng Ngài tiếp tục nâng đỡ, điều khiển, và duy trì sự sáng tạo của Ngài sau khi đã hoàn thành công tác thiết lập nó (He 1:3 Thi 104:1-36 Gi 5:17). Hình ảnh ở đây đúng hơn là hình ảnh về sự tự do, khỏi lao khổ tranh giành để cùng Đức Chúa Trời vui hưởng sự thoả lòng và sự trọn vẹn của công tác Ngài trong việc tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Nói khác đi, chúng ta sẽ được tự do đối với mọi thử thách và áp lực của đời sống hiện tại để phục vụ Đức Chúa Trời mà chẳng gặp trở ngại gì và để sống mãi mãi với Ngài (Kh 7:13-17). Cho nên cần phải gắng sức vào sự yên nghỉ đó. Vì đức tin là phương tiện để nhờ đó chúng ta vào được sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời (3), rõ ràng là trước giả đang nhắc lại lời cảnh cáo về việc chúng ta cứng lòng do không tin. Ông không nói rằng chúng ta bảo đảm sự cứu rỗi của mình bằng việc thiện. Mặt khác, nếu đức tin là thật, nó sẽ được bày tỏ bằng sự vâng lời. Cho nên mối quan tâm của chúng ta phải là điều không có một người nào vấp ngã vì theo gương không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên như Thi 95:7-11 đã làm sáng tỏ.
(He 4:12-13) Đoạn sách này kết thúc bằng một suy tư về Lời của Đức Chúa Trời (Hi văn ho logos tou Theou) và những gì mà lời ấy có thể thực hiện được. Trong văn cảnh đã chẳng có cơ sở nào để đồng nhất hoá lời này với Ngôi Lời của Đức Chúa Trời đã được đề cập trong Gi 1:1-14. Rõ ràng nhất, là nhóm từ này đề cập Phúc Âm đã mô tả trong câu 2 là “lời họ đã nghe” (Hi văn ho logos tès akouès). Phúc Âm đem đến lời hứa về sự cứu rỗi cũng như lời cảnh cáo về sự phán xét (He 2:1-4). Tuy nhiên, cũng rõ ràng là Thi 95:1-11 có thể vừa là tiếng phán của Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta hãy có đức tin mà cũng vừa là một lời cảnh cáo chúng ta về việc làm cho mình cứng lòng. Câu Kinh Thánh này là lời đặc biệt của Đức Chúa Trời mà trước giả thư Hê-bơ-rơ muốn các độc giả của ông phải nghe trong hai chương 3-4. Cho nên những gì đã được nói trong câu 12-13 có thể ứng dụng cho lời truyền giảng cũng như cho lời của Đức Chúa Trời đã được viết ra trong Kinh Thánh. Bằng ngôn ngữ nhắc lại Es 55:11, lời Đức Chúa Trời được bảo là sống và linh nghiệm hàm ý nó hoàn thành chủ đích mà vì đó Đức Chúa Trời đã phán nó ra. Tuy nhiên, thư Hê-bơ-rơ không gợi ý rằng tất cả mọi người được nghe bức thông điệp ấy đều tự động tin theo và bước vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời. Ẩn dụ về gươm hai lưỡi được dùng để vẽ ra điều mà ngay từ ban đầu có vẻ là một bức tranh khá đáng sợ. Lời Đức Chúa Trời đâm thấu những chỗ sâu kín nhất trong con người chúng ta, phanh phui chúng ta ra để xét đoán mọi tư tưởng và ý định (thái độ) trong lòng. Nó là “người chỉ trích” (Hi văn krI Tikos) mà bởi đó tất cả mọi người đều bị đoán xét. Thật vậy, trực diện với lời Đức Chúa Trời, tức là chúng ta đã trực diện với chính Đức Chúa Trời, mà chẳng có vật nào trong cả công trình sáng tạo lại có thể được giấu kín trước mặt Chúa. Khi trước giả nói hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đức Chúa Trời, thì hình ảnh này là hình ảnh của một con vật có cái đầu cúi xuống, cái cổ rụt lại, sẵn sàng để được dâng lên làm sinh tế! Nói đơn giản là chúng ta không thể nào giấu mặt khỏi Đấng mà chúng ta phải khai trình. Nếu lời Đức Chúa Trời vốn có tác dụng mổ xẻ và vạch trần trong đời sống chúng ta ngay bây giờ, thì chúng ta chớ để cho mình bị chai cứng vì bị tội lỗi lừa dối và hoàn toàn không được chuẩn bị để đối mặt Ngài vào ngày cuối cùng. Vậy thì suy cho cùng, khúc sách này gợi ý rằng chức năng tiêu cực hay phán xét của Lời Đức Chúa Trời có thể giúp ích cho chúng ta trong việc theo đuổi hành trình của đức tin.
3. Lòng thương xót của Chúa Cứu Thế (He 4:14-5:10)
Thầy tế lễ thượng phẩm là một từ nối, liên kết luận cứ trong He 4:14 với phần đầu của đoạn sách trước (3:1 2:17) để dẫn vào một đoạn sách mới. Nó cũng là một từ ngữ đặc biệt trong 4:14-5:10 nơi mà điểm chú trọng đặc biệt vào Chúa Cứu Thế với tư cách một thầy tế lễ thượng phẩm hay thương xót. Việc Chúa Giê-xu được tôn cao trên thiên đàng và vào các nơi trên trời là cơ sở cho một lời kêu gọi hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin (14). Từng trải làm người của Ngài khiến Ngài có đủ tư cách để cảm thông và thương xót những người nhờ Ngài mà đến gần ngôi ơn phước (15-16). Trong 5:1 trước giả đưa ra một định nghĩa tổng quát của vai trò thầy tế lễ thượng phẩm trong Cựu Ước. Rồi ông chứng minh thầy tế lễ thượng phẩm có thể thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm (2-3)là quan trọng như thế nào, và nhấn mạnh rằng một người phải được Đức Chúa Trời kêu gọi vào chức vụ ấy (4). Rồi theo thứ tự ngược lại, ông ứng dụng cùng một chuẩn mực ấy cho Chúa Giê-xu, nêu cao những điểm tương đồng cũng như dị biệt trong chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Ngài. Chúa Giê-xu đã được Đức Chúa Trời kêu gọi làm thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc (6). Nhờ biết học tập để tin cậy và vâng lời Đức Chúa Trời giữa khổ nạn (8), Ngài đã có được khả năng thấu hiểu hoàn cảnh của chúng ta và lòng thương xót khiến Ngài trở thành một thầy tế lễ thượng phẩm hoàn thiện (7-8 4:15-16). Nói chung, thì Chúa Giê-xu đã được mô tả là thầy tế lễ thượng phẩm, là Đấng trở thành cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài (9).
Quý độc giả cần ghi khắc vào tâm trí rằng đoạn sách về giáo lý này (1-10) được thêm vào nhằm hậu thuẫn và củng cố cho những lời khuyến giục đi trứơc nó (4:14-16). Hơn nữa, điều lý thú đáng ghi nhận là đoạn sách lớn trung tâm của thư Hê-bơ-rơ (7:1-10:18) kết thúc bằng những lời khuyến giục tương tự (10:19-23). Điều này chứng minh rằng lời truyền dạy của trước giả về chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu về cơ bản, là nhằm khích lệ sự kiên trì trong cuộc chiến đấu chống lại tội lỗi và sự vô tín. Chúng ta được mấy khúc sách này khuyến khích phải nắm lấy các nguồn tài nguyên thuộc linh đang được dành sẵn cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế.
(He 4:14) Động lực to lớn thúc đẩy chúng ta bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin là sự hiểu biết rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời và là thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời. Là Con Đức Chúa Trời, Ngài là sự mặc khải tối hậu của Đức Chúa Trời, và là Đấng mà trong đó các chủ đích của Đức Chúa Trời cho cả vũ trụ này được hoàn tất. Là thầy tế lễ thượng phẩm cuối cùng, Ngài đã trung tín với Đức Chúa Trời khi phải trực diện với hoạn nạn và cám dỗ, đã chịu đựng cho đến chết “đặng đền tội cho chúng dân” (2:17). Lúc thăng thiên, Ngài đã trải qua các từng trời và vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, để “vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời” (9:24). Vào ngày Đại lễ chuộc tội hằng năm (Le 16:1-34) các thầy tế lễ cả Do Thái dâng lên các của lễ bên ngoài đền tạm hoặc đền thờ, rồi mới vào bên trong nơi thánh để cầu thay cho dân sự trên cơ sở các của lễ mà họ đã thực hiện. Trong nhiều khúc sách khác, thư Hê-bơ-rơ gợi ý về việc hoàn tất nghi lễ này trong sự chết của Chúa Giê-xu, việc Ngài thăng thiên và công tác cầu thay của Ngài bên hữu Đức Chúa Trời (tham khảo nhất là He 7:25-28 9:11-12).
(He 4:15) Câu trên đây có thể gợi ý về việc Chúa Giê-xu đang ở rất xa với những cuộc chiến đấu của những người thuộc về Ngài trên đất. Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm trên trời của chúng ta có thể cảm thương sự yếu đuối của chúng ta vì Ngài đã từng bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Thì hoàn thành của động từ Hi văn (“đã bị thử thách”, pepeirasmenon) hàm ý rằng Chúa Cứu Thế đã được tôn cao đang đem theo với Ngài các từng trải tại thế của Ngài về việc chống lại tội lỗi, Ngài vẫn biết bị thử thách cám dỗ ra sao cũng như chúng ta vậy. Nhưng sự hiểu biết của Chúa Giê-xu về sự yếu đuối của chúng ta vốn không do việc chính Ngài cũng đã thật sự phạm tội (9:14 Gi 8:46 IICo 5:21 IGi 3:5). Ngài từng được khiến trở thành giống như chúng ta trong mọi sự (He 2:17 Hi văn kata panta) và đã từng chịu cám dỗ như chúng ta trong mọi việc (4:15 Hi văn kata panta). Tuy nhiên bị cám dỗ không phải là phạm tội. Chúa Giê-xu giống như A-đam trước khi ông chống nghịch lại Đức Chúa Trời vậy. Ngài không có tiền sử phạm tội và có quyền tự do không phạm tội. Điều đó chẳng hề khiến Ngài trở nên một con người kém cỏi hơn! Thật vậy, chỉ có người nào chống lại sự cám dỗ cho đến cùng thì mới biết được sức nặng trọn vẹn của nó. Khi Chúa Giê-xu chiến đấu để làm theo ý chỉ của Cha Ngài trước mọi khó khăn (5:7-8 12:2-3), Ngài đã tự chứng minh mình là một con người có một sự khác biệt và là người duy nhất có thể cứu được chúng ta khỏi quyền lực án phạt của tội lỗi.
(He 4:16) Sự thách thức hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước đặc biệt được đặt cơ sở trên lời truyền dạy rằng Chúa Giê-xu có thể cảm thương sự yếu đuối của chúng ta. Ngài đang cùng ngự ngôi với Đức Chúa Trời với cương vị Vua của thiên đàng, có ngôi và quyền cai trị mang đặc điểm là ân điển. Ý niệm “đến gần” Đức Chúa Trời nổi bật hẳn lên trong thư Hê-bơ-rơ (7:19,25 10:1,22 11:6 12:18,22). Giao ước cũ đưa ra việc đến gần Đức Chúa Trời có hạn chế thông qua hệ thống tế lễ trong đền tạm hoặc đền thờ. Nhưng chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu đưa vào “một niềm hy vọng hay hơn” bởi đó chúng ta “đến được gần hơn với Đức Chúa Trời” (7:19). Đến với Đức Chúa Trời qua trung gian Chúa Giê-xu có nghĩa là lấy đức tin nhận sự cứu rỗi mà Ngài ban cho chúng ta (7:25 12:22-24). Tiếp tục đến gần (nghĩa đen của thì hiện tại của động từ proserchometha ở đây và trong 10:22) sẽ có nghĩa là biểu hiện mối liên hệ giao ước mới mẻ này với Đức Chúa Trời trực tiếp bằng sự cầu nguyện, tìm cầu ơn thương xót cho các thất bại quá khứ và ân điển để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng. Việc đến gần Đức Chúa Trời để được trợ giúp này trong cuộc chạy đua của Cơ Đốc nhân phải được thi hành với lòng tin chắc (Hi văn meta parrèsia, 3:6 10:19) dù có sự thừa nhận chân thành nhất về tội lỗi chúng ta.
(He 5:1-4) Một số các phẩm cách của chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm dưới giao ước cũ đã được nêu ra đây để làm cơ sở giải thích đầy đủ hơn làm thế nào Chúa Giê-xu có thể trở thành thầy tế lễ cả thượng phẩm của giao ước mới. Các thầy tế lễ vốn được chọn ra và lập lên để làm người trung gian giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời. Họ phải đại diện cho dân sự trong vấn đề liên hệ với Đức Chúa Trời, đặc biệt nhưng không phải là độc quyền, trong việc dâng lễ vật và của lễ hi sinh vì tội lỗi. Đến ngày Đại lễ Chuộc tội, thầy tế lễ thượng phẩm phải vì tội lỗi mình dâng của tế lễ, cũng như vì tội lỗi của dân chúng (Le 16:6,11-14). Đây là một dấu hiệu cho thấy thầy tế lễ thượng phẩm vốn cũng yếu đuối như những người khác trong cộng đồng và cũng cần được tẩy sạch tội. Một nghi thức tế lễ như thế phải khuyến khích vị ấy thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm. Động từ Hi văn đã được dịch ra là thương xót theo nghĩa đen là “giận dữ vừa phải”. Phần so sánh và đối chiếu với Chúa Cứu Thế là rõ ràng:” các thầy tế lễ thượng phẩm Do Thái ít nhất cũng phải kiểm soát cơn giận của họ khi đối phó với những kẻ phạm tội, nhưng thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta thì tích cực cảm thương sự yếu đuối của chúng ta (He 4:15). Từ một câu đề cập chức năng tổng quát của thầy tế lễ thượng phẩm trong cộng đồng dân Y-sơ-ra-ên và một lời giải thích về một đức hạnh cần thiết cho chức vụ ấy, trước giả chuyển sang sự kêu gọi dành cho người ấy. Vinh dự của một chức vụ như thế chỉ do một mình Đức Chúa Trời ban cho mà thôi: vị ấy phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn vậy (Xu 28:1 Le 8:1 Dan 16:1-18:32).
(He 5:5-6) Theo thứ tự đảo ngược, các phẩm cách của chức vụ tế lễ đã được đề cập ở câu 1-4 bây giờ được áp dụng cho Chúa Giê-xu. Cũng một thể ấy, Đấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm nhưng được Đức Chúa Trời bổ nhiệm vào chức vụ ấy, như Thi 110:4 đã cho thấy. Tuy nhiên, trước khi thư Hê-bơ-rơ trích dẫn câu ấy, mấy lời trong 2:7 được viện dẫn. Điểm này nhắc lại luận cứ trong chương 1, chỗ 2:7 đã được dùng để khẳng định sự cao trọng tuyệt đối của Đức Chúa Con trên toàn thể công trình sáng tạo, kể cả các thiên sứ (He 1:5). Cũng tương tự như thế, Thi 110:1-3 khẳng định vai trò chiến thắng khải hoàn của Đấng Mết-si-a đang ngự ngôi bên hữu Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, 110:4 còn thêm vào cái viễn ảnh bất thường rằng Đấng Mết-si-a sẽ là một thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Gộp chung các câu trích dẫn Thi Thiên ấy lại với nhau, thư Hê-bơ-rơ một lần nữa liên kết các ý niệm về Chúa Giê-xu là Đức Chúa Con và là thầy tế lễ thượng phẩm (He 4:14), nhưng cũng còn vạch rõ rằng chức vụ tế lễ của Ngài thuộc một ban khác hẳn với ban của A-rôn và các thầy tế lễ người Lê-vi. Chúa Giê-xu làm trọn vai trò và chức năng của chức vụ tế lễ Do Thái ở cương vị thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xê-đéc. Việc ứng dụng Thi 110:4 cho Chúa Giê-xu còn được khai thác đầy đủ hơn trong He 7:1-28.
(He 5:7-8) Hai câu này giải thích thể nào thầy tế lễ thượng phẩm trên trời của chúng ta có thể “cảm thương sự yếu đuối của chúng ta” mà không hề phạm tội (4:15). Tuy Chúa Giê-xu từng chịu thử nghiệm gay gắt suốt đời sống tại thế của Ngài (nguyên văn “trong những ngày còn sống trong xác thịt”), nhưng từng trải của Ngài trong vườn Ghết-sê-ma-nê đặc biệt được nhìn thấy ở đây. Câu đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết nhắc lại nỗi thống khổ của Chúa Giê-xu khi Ngài trực diện với thập tự giá và cầu xin “chén” khổ nạn được cất khỏi Ngài (Mac 14:34-36 và những chỗ tương tự). Nỗi kinh hoàng có thể bị Cha Ngài bỏ mặc trong cái chết (Mac 15:34) chắc đã đặc biệt gây áp lực lớn trên Ngài lúc ấy. Cho nên Chúa Giê-xu đã xin được cứu thoát khỏi cơn khủng hoảng đang đến gần, nhưng rồi Ngài đã sẵn sàng đầu phục ý chỉ của Đức Chúa Cha, để rồi Ngài đã có thể trở thành cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho nhiều người khác (9). Giai đoạn thứ hai này của kinh nghiệm của Chúa Giê-xu trong vườn Ghết-sê-ma-nê có lẽ đã được phản ảnh trong câu chép rằng sở dĩ Ngài đã được nhậm lời, vì đã biết học tập vâng lời (Hi văn eulabeia, cũng có thể được dịch là “kính sợ”). Sự đáp ứng cho lời cầu nguyện đầu phục của Ngài là sức mạnh để chịu đựng chén đắng mà Ngài đang trực diện và là sự chiến thắng và vinh hiển trong sự phục sinh của Ngài. Tuy Ngài là Con Đức Chúa Trời (8 tham khảo câu 5), Ngài đã kinh nghiệm sự cám dỗ không làm theo ý chỉ của Cha Ngài vì phải chịu sự thương khó. Ngài cần học tập vâng lời Đức Chúa Trời trong những điều kiện thực tế, hay trong những tình trạng của đời sống con người trên đất để Ngài có thể cảm thông với những người đã bị thử thách tương tự, và cũng để dạy dỗ chúng ta bằng chính tấm gương của Ngài về việc chúng ta phải đầu phục và vâng lời Đức Chúa Trời đến mức độ nào (He 12:1-11 13:13).
(He 5:9-10) Nhờ đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu, Chúa Giê-xu đã được làm nên trọn vẹn hay “được kể là đủ tư cách” hoặc “được khiến trở thành hoàn toàn đầy đủ” để làm Cứu Chúa của dân mình (2:10). Cụ thể hơn nữa, Ngài đã được hoàn thiện cương vị cội rễ của sự cứu rỗi đời đời. Mọi kinh nghiệm chịu thử thách đã chuẩn bị cho Ngài một hành động vâng lời Đức Chúa Cha đến cuối cùng trong sự chết hi sinh (của Ngài –10:5-10). Nhờ đó, Ngài đã hoàn thành sự cứu rỗi khỏi tội lỗi, sự chết và ma quỉ, khiến những người tin Ngài được cùng Ngài dự phần sự sống trong đời hầu đến. Ý niệm về việc Chúa Cứu Thế đã thiết lập một mẫu mực của sự vâng lời cho người khác noi theo đã được gợi ý bởi nhóm từ cho (tất cả những) kẻ vâng lời Ngài. Tuy nhiên, nhóm từ này không cho thấy là sự cứu rỗi chỉ đạt được bằng sự vâng lời. Sự cứu rỗi là món quà của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế, nhưng những ai trông cậy vào Ngài như cội rễ (nguồn mạch) của sự cứu rỗi đời đời duy nhất sẽ muốn bộc lộ đức tin của mình bằng cách tiếp tục vâng lời y như Ngài đã từng vâng lời (12:1-4). \Đức tin nơi Chúa Cứu Thế khích lệ chúng ta hãy dự phần vào cuộc chiến đấu của Ngài chống lại tội lỗi.
4. CHÚA GIÊ-XU LÀ THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM TRỌN VẸN THEO BAN MÊN-CHI-XÊ-ĐÉC VÀ LÀ NGUỒN MẠCH CỦA SỰ CỨU RỖI ĐỜI ĐỜI (He 5:11-10:39)
Như nhan đề của tiểu mục này gợi ý, đoạn sách trung tâm này của thư Hê-bơ-rơ thật sự là một phần giải nghĩa chủ đề được thông báo trong 5:9-10. Sau khi kêu gọi hãy chú ý đến sự cần thiết để tiến bộ trong sự thông biết và vâng lời (5:11-6:20) trước giả chứng minh Chúa Giê-xu làm trọn vai trò “thầy tế lệ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xê-đéc” (7:1-28) như thế nào. Ở đây, Thi 110:4 là văn bản chủ chốt cùng với Sa 14:18-20 được sử dụng trong vai trò hậu thuẫn. Tính cách trọn vẹn của Chúa Cứu Thế với tư cách thầy tế lễ thượng phẩm trên trời của chúng ta được đề cập trong He 7:26-28 như một nhịp cầu nối liền với hai chương tiếp theo, nơi mà trước giả khảo xét càng đầy đủ hơn vấn đề Chúa Cứu Thế đã “được khiến nên trọn vẹn” có ý nghĩa gì. Đến đây thì Gie 31:31-34 đi vào trọng tâm với các hàm ý để chúng ta suy xét. Ý niệm về Chúa Cứu Thế là “cội rễ của sự cứu rỗi đời đời” được khai triển trong He 10:1-18, với Thi 40:6-8 được dùng để giải thích Chúa Cứu Thế đã làm ứng nghiệm lời tiên tri của Giê-rê-mi như thế nào.
Đoạn này kết thúc bằng một lời kêu gọi khác (He 10:19-39), nêu rõ các hậu quả thực tiễn của các luận cứ phức tạp về giáo lý của trước giả. Điều lý thú đáng ghi nhận là cách khúc sách lại diễn tả một lần nữa một số lời cảnh cáo và khích lệ của những khúc sách trước (nhất là 4:14-16 5:11-6:20). Khi đọc từ đầu chí cuối cả đoạn này, rồi sau đó khảo xét kỹ hơn ý nghĩa của nhiều phần khác nhau trong đó, bạn cần in trí rằng các lời khuyến giục đều cho thấy chủ đích của lời dạy dỗ về phương diện thần học.
1. Một lời kêu gọi hãy học tập và tiến bộ (He 5:11-6:20)
(He 5:11-14). Trước khi đi vào luận cứ của các chương 7-10, trước giả đưa ra cả những lời cảnh cáo (5:11-6:8) lẫn khích lệ (6:9-20). Lời truyền dạy của ông về công tác thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Cứu Thế sẽ không thể được những kẻ chậm hiểu mà không chịu làm theo những hàm ý sâu nhiệm hơn của đức tin họ lãnh hội và đem ra áp dụng. Bất cứ ai cứ tiếp tục né tránh đồ ăn đặc như thế, sẽ chẳng bao giờ có thể trưởng thành như một Cơ Đốc nhân (5:11-14). Thật vậy, việc chống lại sự tăng trưởng thuộc linh có thể đưa người ta đến chỗ vấp ngã hoặc hoàn toàn chống nghịch Đức Chúa Trời vì họ đã cứng lòng đối với Ngài (6:1-8).
Mặc dù lời cảnh cáo này rất nghiêm trọng, trước giả tiên quyết vào thực tại của sự tận hiến của những người được ông gởi bức thư này cho. Nhưng ông muốn cho mỗi người trong số họ đều sốt sắng (chuyên tâm) như họ từng làm trong quá khứ để thực hiện các hàm ý của niềm hy vọng Cơ Đốc của họ trong đời sống hằng ngày và cứ kiên trì nhịn nhục trong đức tin (đạo) cho đến cùng (6:9-12). Sau khi đã đạt đến một trình độ trưởng thành nào đó rồi, dường như có một số người lại không chịu bươn tới để tiến xa hơn. Nhằm tái tạo lòng tin quyết của họ vào Đức Chúa Trời, trước giả nhắc nhở họ rằng Đức Chúa Trời đã xác nhận lời hứa của Ngài cho Áp-ra-ham bằng một lời thề, và Ngài cũng đã bảo đảm tương tự như thế cho chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu trong Thi 110:4. Niềm hi vọng mà điều đó dành cho chúng ta cũng giống như cái neo cho linh hồn, vững vàng bền chặt (He 6:13-20) vậy. Chỉ có sự vô tín mới khiến người ta hụt mất điều mà vị thầy tế lễ thượng phẩm lớn của chúng ta đã hoàn tất cho chúng ta.
(He 5:11-14) Các độc giả đã trở nên chậm hiểu hay đúng nghĩa đen hơn là “cứng cỏi đối với những điều đã được nghe”. Mặc dù ngay từ đầu họ vốn là những Cơ Đốc nhân sốt sắng, một sự lười nhác đã len lõi vào, và trước giả sợ rằng giờ đây, họ đang không chịu thực hiện các hàm ý sâu nhiệm hơn của Phúc Âm để đáp lại bằng đức tin và vâng lời (tham khảo 2:1-4 3:1-4:2 chỗ mà vấn đề then chốt là đáp ứng lại với những gì họ đã nghe). Có một dấu hiệu của sự lười nhác đó đang phát triển, là họ chưa sẵn sàng hay chưa đủ khả năng để làm thầy. Sau một thời gian, bất cứ ai đã được huấn luyện trong đức tin phải có khả năng để giải nghĩa nó cho nhiều người khác nữa (3:13 10:24-25 ITe 5:11 IPhi 3:15). Nếu có người muốn được truyền dạy những điều sơ học của Lời Đức Chúa Trời lần nữa khi mà đáng lý ra, họ phải truyền đạt giáo lý cơ bản của Cơ Đốc giáo cho nhiều người khác và thích đồ ăn đặc cho chính mình , thì một trường hợp nghiêm trọng làm ngăn trở sự tăng trưởng thuộc linh đã phát triển. Cũng như trong lãnh vực thuộc thể, sữa là thức ăn thích hợp cho trẻ con, nhưng đồ ăn đặc được dành cho người trưởng thành rồi. Trước giả ví sánh sữa thuộc linh với điều mà ông mô tả là “các nguyên tắc sơ khởi của lời sấm truyền của Đức Chúa Trời” (Hi văn ta stoicheia tès archès ton logion tou Theou). Câu này có thể có nghĩa là các độc giả cần một số hướng dẫn để lý giải Cựu Ước “Những lời sấm truyền của Đức Chúa Trời” theo quan điểm Cơ Đốc giáo. Cụ thể hơn, nhóm từ này có thể giống với điều mà He 6:1 mô tả là các điều sơ học về Chúa Cứu Thế (Hi văn ton tès archès tou Christou logon). Đồ ăn đặc gồm có một sự thông hiểu sâu nhiệm hơn chân lý căn bản của Thánh Kinh (như trong các chương 7-10). Thơ ấu thuộc linh dường như đã được định nghĩa là người không hiểu đạo công bình, nghĩa là sự dạy dỗ có thể thúc đẩy họ đến sự sống công chính (12:11). Hơn nữa, các Cơ Đốc nhân chưa trưởng thành là những người chưa dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành điều dữ nhờ thường xuyên thực hành việc đáp ứng sự mặc khải của Đức Chúa Trời.
(He 6:1-3) Tuy trước giả tố cáo các độc giả là chưa trưởng thành và nhấn mạnh rằng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân (5:14), ông muốn cho họ ăn đồ ăn đặc để họ sẽ có thể cứ tiếp tục tấn tới sự trọn lành (tăng trưởng để trưởng thành)! Họ cần sự hiểu biết sâu sắc và sự tận hiến mà thức ăn đặc có thể đem đến. Khi ông nói vậy chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về Tin Lành của Đấng Christ, ông không muốn nói rằng “hãy hoàn toàn bỏ hết các chân lý cơ bản đã được liệt kê”. Sự tiến bộ có được không phải bằng cách lập lại nền nữa là những điều sơ học nhưng bằng cách xây dựng trên cái nền ấy. Điều lý thú cần ghi nhận là các điều sơ học được đề cập ở đây không đặc biệt mang tính Cơ Đốc giáo. Trên thực tế thì mọi điều này có thể được xác nhận từ Do Thái giáo chính thống. Tuy nhiên, mỗi một điều đều có một ý nghĩa mới theo quan điểm dạy dỗ Cơ Đốc giáo về Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a của dân Y-sơ-ra-ên. Cho nên ấn tượng được tạo ra ở đây là các tín ngưỡng và cách hành đạo hiện hữu của Do Thái giáo vốn đã được sử dụng để làm nền tảng giải nghĩa chân lý Cơ Đốc giáo. Đồ ăn đặc của thư Hê-bơ-rơ là việc khai triển các chủ đề của Thánh Kinh như từ bỏ (ăn năn) các việc chết (các hành động dẫn người ta đến chỗ chết) và tin Đức Chúa Trời, sự kẻ chết sống lại, và sự phán xét đời đời, theo quan điểm của lời truyền dạy về Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời và là thầy tế lễ thượng phẩm của giao ước mới. Sự dạy về phép báp-tem (số nhiều) có thể ám chỉ một số nghi lễ tẩy rửa của Do Thái giáo (9:10) và sự ứng nghiệm của chúng nơi Chúa Cứu Thế Phép đặt tay là một tập tục của Do Thái giáo kết hợp với lời cầu nguyện, đã được các Cơ Đốc nhân đầu tiên áp dụng bằng nhiều cách (Cong 8:17 9:17-18 13:3). Dưới áp lực của bắt bớ bách hại, nhiều người từ Do Thái giáo ăn năn quy đạo chắc đã bị cám dỗ “bỏ bớt ngày càng nhiều hơn các nét đặt trưng của đạo ấy và chỉ thực hành những gì phân biệt rõ ràng là của Cơ Đốc giáo mà thôi, thế nhưng họ vẫn cảm thấy mình chưa bỏ được các nguyên tắc cơ bản về sự ăn năn và đức tin, các thực tại được biểu thị bằng nghi lễ tẩy rửa có tính cách tôn giáo và phép đặt tay, việc trông đợi về sự sống lại và sự phán xét trong đời hầu đến (F. F. Bruce, The Epistle to the Hebrews, Eerdmans 2, 1990 p. 143).
(He 6:4-6) Lời cảnh cáo nghiêm khắc của mấy câu này (lặp lại trong He 10:26-31 12:15-17) vốn dành cho những người vấp ngã và bội đạo (3:12), vì họ tự cắt đứt mình khỏi của lễ chuộc tội duy nhất dưới giao ước mới và với niềm hi vọng duy nhất về sự sống đời đời trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Những người như thế đang đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá một lần nữa, cố tình chối bỏ là Ngài như những kẻ hành quyết Ngài đã làm thế, và làm cho Ngài bị sỉ nhục tỏ tường, công khai tự đặt mình vào vị trí những kẻ thù của Ngài. Chẳng có gì là bất năng đối với Đức Chúa Trời cả, nhưng Ngài không dành một hi vọng nào cho những kẻ cứ tiếp tục cứng lòng chống lại Chúa Cứu Thế. Như đã được lưu ý trong 3:12-13 những kẻ cứng lòng chống lại Đức Chúa Trời có thể đạt đến điểm “chai lì” không thể nào quay trở lại được nữa. Trước giả không tố cáo các độc giả của mình là đang ở tại vị trí đó, nhưng số phận của những kẻ bội đạo là một điều gì đó mà chính họ cũng như chúng ta chớ nên quên. Trong văn cảnh của nó khúc sách này nổi bật như một lời cảnh cáo về thói lười nhác có thể dẫn tới đâu.
Nhưng Cơ Đốc nhân thật có thể bội đạo không? Thư Hê-bơ-rơ chắc chắn gợi ý rằng những kẻ sa bại có thể đã có đầy đủ dáng vẻ bề ngoài của một người đã thật sự ăn năn quy đạo. Họ đã được soi sáng một lần, cho thấy đã có ánh sáng của Phúc Âm dứt khoát soi rọi vào trong đời sống của họ. Họ đã nếm sự ban cho từ trên trời, có lẽ có nghĩa là đã tiếp nhận chính Chúa Cứu Thế và mọi phước hạnh thuộc linh Ngài ban cho. “Nếm” hàm ý kinh nghiệm một điều gì đó có thật và riêng tư (chớ không phải chỉ “nhắp một chút”). Họ đã dự phần về Đức Thánh Linh (nguyên văn “đã trở thành những người được dự phần Đức Thánh Linh”), cho nên sự chống nghịch của họ bao hàm việc họ nhục mạ Đức Thánh Linh ban ân điển (10:29). Cuối cùng, chúng ta được cho biết là họ từng nếm đạo lành của Đức Chúa Trời và quyền phép của đời sau. Điểm này gợi ý một từng trải dứt khoát về các lợi ích của giao ước mới. Tuy nhiên, những người đã vui hưởng được một mối liên hệ như thế với Đức Chúa Trời không thể lạm dụng mối liên hệ ấy, tự tin rằng mình được miễn trừ khả năng bội đạo. Những lời hứa như Gi 10:28-29 và Phil 1:6 là lời bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ các con cái Ngài trung tín cho đến cùng. Thư Hê-bơ-rơ có cách riêng của nó để khuyến khích lòng tin quyết vào khả năng của Đức Chúa Trời để nâng đỡ đức tin của chúng ta. Nhưng mọi người chúng ta đều cần phải bị thách thức phải “(làm) cho chắc chắn sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình” (IIPhi 1:10), và đây là ý nghĩa thực tiễn về phương diện mục vụ của những khúc sách nhằm cảnh cáo trong thư Hê-bơ-rơ.
Có lẽ chúng ta muốn nói rằng những người đã thật sự được tái sanh sẽ chẳng bao giờ sa ngã, nhưng tính chân thực của sự tái sanh được chứng minh bằng sự kiên trì trong đức tin. Rõ ràng là trước giả thư Hê-bơ-rơ tin quyết rằng một công việc thật của Đức Chúa Trời đã xảy ra trong hội chúng mà ông gởi bức thư này tới (He 6:9 10:39). “Nhưng điều này không loại trừ khả năng một số người trong đám họ có lòng phản loạn trừ khi có một sự thay đổi triệt để, họ sẽ phải nhận thấy rằng họ đã đạt đến mức bội đạo vô phương cứu chữa” (P. E. Hughes, A Commentary on the Epistle to the Hebrews - Eerdmans, 1977, p. 212). Rất có thể rằng ta sẽ bị sa vào kinh nghiệm của một nhóm người không thật lòng ăn năn quy đạo. Lắm khi người ta tỏ ra mọi dấu hiệu của sự ăn năn quy đạo nhưng rồi lại bị trôi lạc khỏi Chúa Cứu Thế sau đó và cho thấy rằng họ chưa từng thật sự là con cái Đức Chúa Trời. Cụ thể hơn, thì trước giả đang bàn về số người đã thấy rõ đâu là chân lý, sống theo đó một thời gian, để rồi vì nhiều lý do khác nhau, đã chối bỏ nó. Kiên tâm trì chí tiếp tục là trắc nghiệm của sự thật. Những ai kiên trì nhẫn nhục mới thật sự là các thánh đồ, và một khúc sách như thế này sẽ được Đức Chúa Trời dùng để nâng đỡ họ trong đức tin.
(He 6:7-8) Chúa Giê-xu từng dùng ẩn dụ về bốn loại “đất” để giải thích các phản ứng khác nhau của người ta đối với Phúc Âm (Mac 4:1-20 và những khúc sách tương tự). Thư Hê-bơ-rơ chỉ đề cập hai khả năng. Đất tốt nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Câu này đề cập số người kiên trì lắng nghe và vâng theo lời Đức Chúa Trời. Nhờ ân điển Ngài, họ sinh hoa kết quả thuộc linh. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ gai gốc thì bị bỏ và hầu bị rủa. Nó chẳng bao giờ đáp ứng lại với việc canh tác nên cuối cùng phải bị đốt. Phần này mô tả số phận của những kẻ làm cứng lòng họ bằng sự vô tín và xây bỏ Đức Chúa Trời (He 10:26-31). Trước giả đã chẳng dành một mảnh đất trung lập nào cho kẻ lười nhác và chểnh mảng cả. Ông muốn các độc giả của mình phải chắc chắn là họ đều được liệt vào loại thứ nhất!
(He 6:9-10) Bây giờ thì nhiều lời khích lệ tiếp theo những lời cảnh cáo thẳng thừng của câu 4-8. Trước giả tin chắc vào những việc tốt hơn cho các bạn yêu dấu của ông. Đặc biệt hơn ông gợi ý rằng với tư cách là một tập thể, họ sẽ phù hợp với loại đất tốt trong câu 7. Những người như thế sẽ nhận được nhiều phước lành của Đức Chúa Trời tiếp sau sự cứu rỗi. Sự tin quyết của ông, một phần là căn cứ vào việc ông nhớ lại cách ăn ở cư xử của họ trong quá khứ và trong hiện tại, và một phần là do ông nhớ lại đức công bằng của Đức Chúa Trời. Công việc và lòng yêu thương họ đã tỏ ra cho ông là vì danh Ngài. Nó bao gồm việc họ đã và vẫn tiếp tục phục vụ những người thuộc về Ngài (Hi văn tois hagiois, “các thánh đồ”). Một gương tốt đáng nêu trong vấn đề này đã được ghi lại trong 10:32-34. Khi trước giả viết Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ qua công việc và lòng yêu thương của anh em, thì điểm chú trọng không phải chỉ là phần thưởng dành cho các công tác phục vụ của họ. Đức Chúa Trời biết rõ thực tại đời sống thuộc linh của họ, nên nếu Ngài đã giục lòng nhiều người trong quá khứ để họ bộc lộ bằng việc làm thế nào là Cơ Đốc giáo chân chính, thì Ngài cũng có thể trông cậy họ sẽ làm y như thế trong tương lai. Chủ đề về lòng thành tín của Đức Chúa Trời còn được khai triển thêm trong câu 13-20.
(He 6:11-12) Ước muốn thiết tha nhất của trước giả rằng mỗi người bạn của ông phải kiên trì như một Cơ Đốc nhân, một lần nữa được bộc lộ. Lòng tận trung của họ với Chúa Cứu Thế và mối quan tâm thực tế của họ đối với nhau trong thời gian thử thách đã được thôi thúc do một niềm hy vọng (sự trông cậy) mãnh liệt (10:34). Giờ đây, khi kẻ thù lớn nhất của họ dường như là sự lười nhác, thì họ cần phải chứng tỏ cùng một lòng sốt sắng như vậy để giữ cho niềm hy vọng đó cứ sống động thật đầy dẫy cho đến cuối cùng. Đức tin sống động là nền tảng cho đời sống Cơ Đốc nhân kết quả trong mọi hoàn cảnh. Những ai có được phần động cơ thúc đẩy đó sẽ chẳng bao giờ bị thói lười nhác áp đảo. Thật vậy, họ sẽ trở thành những người học đòi những kẻ bởi đức tin và lòng nhịn nhục mà được hưởng lời hứa. Cách diễn đạt như thế báo trước luận cứ trong 11:1-12:13.
(He 6:13-15) Nền tảng cho niềm hy vọng của Cơ Đốc nhân không phải là những suy nghĩ với đầy mơ ước về tương lai mà là lời hứa long trọng của Đức Chúa Trời. Nền móng cho hoạt động cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong thế gian là lời hứa đặc biệt với Áp-ra-ham trong Sa 12:1-3 và được nhắc lại vào nhiều giai đoạn khác nhau cho nhiều tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên bằng nhiều hình thức khác nhau (15:1-21 26:2-4 28:13-15 Xu 3:6-10). Đức Chúa Trời sẽ nhân bội hậu tư của Áp-ra-ham, khiến họ trở thành một dân lớn, thiết lập họ trong xứ của chính họ và sẽ ban phước cho họ để họ sẽ trở thành một nguồn phước cho mọi quốc gia. Nhân một cơ hội đặc biệt, Đức Chúa Trời đã xác nhận sự thật của lời hứa này bằng một lời thề (Sa 22:16, “Ta lấy chính mình ta mà thề rằng”). Thư Hê-bơ-rơ lưu ý rằng Áp-ra-ham đã được lời ấy khích lệ, nên đã kiên trì chờ đợi điều đã hứa. Đức Chúa Trời đã bắt đầu làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài ngay trong đời Áp-ra-ham, nhưng phước hạnh tối hậu chỉ đến trong con người của Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a.
(He 6:16-18) Trong công việc của loài người, lời thề xác nhận điều đã được nói ra để phàm có cãi lẫy điều gì thì căn cứ vào lời thề để xác định. Cho nên Đức Chúa Trời đã dùng lời nói đặc biệt này để tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định của Ngài là chắc chắn không thay đổi. Ngài đã dùng hai điều chẳng thay đổi và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối – tức là lời hứa và lời thề của Ngài – để ban sự khích lệ lớn nhất có thể có đối với dân sự Ngài để họ đặt lòng tin cậy nơi Ngài. Căn cứ vào những việc tiếp theo đây, thì rõ ràng chúng ta là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu đã cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta trong Chúa Giê-xu, đã trở thành những người thừa kế tối hậu những gì đã được hứa với Áp-ra-ham (Ga 3:26-29).
(He 6:19-20) Mấy câu này phải được hiểu theo quan điểm của He 7:20-22 chỗ được lý luận rằng Đức Chúa Trời đã xác nhận chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Đấng Mết-si-a trong Thi 110:4 bằng một lời thề tương tự như lời thề đã được dùng trong Sa 22:16. Vì Chúa Giê-xu là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xê-đéc đã hứa, cho nên Ngài đã trở thành “sự bảo đảm” cho các phước hạnh của giao ước mới (He 7:22). Những ai trông cậy nơi Ngài có thể thật sự đi vào nơi thánh phía trong bức màn, nơi Ngài đã vào trước chúng ta và vì chúng ta. Đức Chúa Giê-xu theo nghĩa đen là “nhà tiên phong” của chúng ta, đã mở đường cho chúng ta noi theo! Nơi thánh bên trong đền tạm và về sau là bên trong của đền thờ, tiêu biểu cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài trên đất (Xu 26:31-34 IVua 8:6-11). Thư Hê-bơ-rơ dùng cách nói này để ngụ ý chỉ nơi thánh trên trời, nơi Đức Chúa Trời đang ngự ngôi với tất cả sự vinh hiển Ngài. Chúng ta có thể đến gần Ngài ngay bây giờ bằng sự tin quyết, vì Chúa Giê-xu là thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta đã dâng lên sinh tế trọn vẹn và đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời (He 4:14-16 10:19-22). Tuy nhiên, hình ảnh trong 6:19-20 cũng nói lên cái ý niệm rằng số phận của chúng ta là sẽ được sống miên viễn trong sự hiện diện thánh khiết và vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự thật là chúng ta có thể đến bất cứ nơi nào Chúa Giê-xu đã đến. Như thế, “nơi thánh trên trời” là một cách nói khác để mô tả “thế gian hầu đến” (2:5), “ngày yên nghỉ Sa-bát cho dân Đức húa Trời:” (4:9) và “quê hương” hay “thành trên trời” (11:16 12:22-24 13:14), vốn là niềm hy vọng tối hậu của dân sự Đức Chúa Trời trải qua mọi thời đại. Mục tiêu luôn được trông đợi đã được Cứu Chúa chúng ta hoàn thành và mở rộng ra cho chúng ta. Chúa Giê-xu, niềm hi vọng của chúng ta đã vào nơi thánh và đang ở lại đó như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt.
Cho nên phương thuốc cho chứng lãnh đạm thuộc linh và bội đạo là phục hồi niềm hi vọng. Hy vọng là động lực thúc đẩy lòng trung tín và tình yêu. Nền móng của niềm hi vọng của chúng ta là lời hứa của Đức Chúa Trời, được xác nhận bằng một lời thề. Vì các lời hứa cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được thực hiện rồi cho chúng ta trong sự chết và được tôn cao trên thiên đàng của Chúa Cứu Thế Giê-xu, điều đó đem đến cho chúng ta mọi sự khích lệ để tin rằng những ai tin nơi Chúa Giê-xu sẽ cùng dự phần với Ngài trong cơ nghiệp đời đời đã được hứa ban.
2. Chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm đời đời của Chúa Cứu Thế (He 7:1-28)
Nhiều dấu hiệu đã được đưa ra cho thấy Chúa Giê-xu là “thầy tế lễ thượng phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc” (5:6,10 6:20). Bây giờ chủ đề ấy được khai triển đầy đủ khi trước giả đi đến tâm điểm bức thông điệp của mình và bắt đầu nuôi các độc giả của mình bằng “đồ ăn đặc” vốn thường đẩy mạnh sự trưởng thành thuộc linh (5:11-14). Phần thứ nhất của chương này đề cập cuộc gặp gỡ của Áp-ra-ham với Mên-chi-xê-đéc trong sách Sa 14:1-24, chú trọng vào ý nghĩa chức vụ thầy tế lễ của Mên-chi-xê-đéc trong văn cảnh ấy (1-10). Phần thứ hai của chương này xét đến lời hứa đặt thù trong Thi 110:4 về Đấng Mết-si-a là thầy tế lễ giống như Mên-chi-xê-đéc, và ứng dụng nó cho Chúa Giê-xu (11-28). Sự trọn vẹn là điều không thể nào có được dưới chế độ tế lễ của người Lê-vi, nhưng chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu thay thế cho toàn bộ hệ thống Cựu Ước tế lễ nhằm mục đích đến gần Đức Chúa Trời và “hoàn thiện” các tín hữu trong mối liên hệ với Ngài (11-19).Ý nghĩa của lời thề xác nhận chức vị thầy tế lễ của Đấng Mết-si-a được xem xét cẩn thận (20-22) rồi các hàm ý của lời hứa rằng Ngài sẽ làm thầy tế lễ đời đời được phác hoạ (23-25). Chương sách này kết thúc bằng phần chứng minh thể nào một thầy tế lễ thượng phẩm như thế đáp ứng được nhu cầu của chúng ta là tội nhân so với các thầy tế lễ thượng phẩm của giao ước cũ (26-28). Chương 7 là giai đoạn thứ ba trong phần khai triển ý niệm rằng Chúa Giê-xu là thầy tế lễ thượng phẩm của giao ước mới (He 2:17-18 4:14-5:10).
(He 7:1-3) Thi 110:4 là văn bản chính trong chương này. Với mục đích chỉ ra ngụ ý mà bài thi thiên ấy muốn nói khi đề cập một thầy tế lễ thượng phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc, thư Hê-bơ-rơ quay trở lại với Sa 14:18-20 chỉ nêu cao vài nét đặc trưng của phần thuật sự trong Sáng Thế Ký mà thôi. Tên Mên-chi-xê-đéc có nghĩa là vua sự công bình và sự kiện ông ta là vua của Sa-lem (ra từ ngữ Hi Bá Lai salom, có nghĩa là “hoà bình”) có nghĩa rằng ông là vua bình an. Ít ra thì về mặt danh xưng, ông cũng dự báo thời trị vì công chính và hoà bình của Đấng Mết-si-a (Es 9:6-7 1:8-9). Quan trọng nhất là ông được nhận biết như một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao, từng chúc phước cho Áp-ra-ham và nhận được một phần mười (về mọi của cải) của Áp-ra-ham, là vị đại tổ phụ hay tộc trưởng của dân Y-sơ-ra-ên. Hơn nữa, theo như ký thuật của Kinh Thánh, Mên-chi-xê-đéc không cha, không mẹ, không gia phổ, không co ngày đầu mới sanh cũng không có ngày rốt qua đời. Ông đã chẳng từ đâu mà ra cả, cũng biến mất chẳng để lại dấu vết gì. Ông không có người tiền nhiệm cũng chẳng có người kế nhiệm. Vì tính hợp pháp của chức vị tế lễ của một người trong thế giới đời xưa lệ thuộc vào những điều như thế, sự yên lặng của Kinh Thánh tại điểm này là điều bất bình thường. Mên-chi-xê-đéc giống Con Đức Chúa Trời theo nghĩa ông báo trước chức lễ vô cùng vô tận có một không hai của Ngài. Theo thuật ngữ, ông là một “điển hình” hay khuôn mẫu về Chúa Cứu Thế. Thi 110:1-7 còn hình dung ra diện mạo của một nhà vua khác của Giê-ru-sa-lem (thành phố Sa-lem), thi hành một chức vụ thầy tế lễ giống như chức vụ thầy tế lễ Mên-chi-xê-đéc, cũng rõ ràng không căn cứ vào dòng dõi thuộc thể của bất kỳ một chức vụ tế lễ nào đã được mọi người biết rõ, nhưng lại được Đức Chúa Trời bổ nhiệm. Bức thư Hê-bơ-rơ tuyên bố rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là nhà vua thầy tế lễ đã hứa, là Đấng sẽ trị vì đời đời để chúc phước cho dân mình (He 5:4-6 7:13-17).
(He 7:4-10) Xét vấn đề về một phần mười mà Áp-ra-ham đã nộp cho Mên-chi-xê-đéc, thư Hê-bơ-rơ lưu ý rằng luật pháp Môi-se ấn định các con cháu họ Lê-vi chịu chức tế lễ, theo luật, có phép thâu lấy một phần mười của dân (Dan 18:21-32). Tuy nhiên, Mên-chi-xê-đéc, người vốn không phải đồng họ Lê-vi, cũng đã lấy một phần mười của Áp-ra-ham là tổ phụ của Lê-vi. Thật vậy, Mên-chi-xê-đéc cao trọng đến nỗi ông đã chúc phước cho Áp-ra-ham, là nhân vật đã được Đức Chúa Trời ban cho các lời hứa liên quan đến các chủ đích cứu rỗi (He 6:13-14). Vì người bậc cao chúc phước cho kẻ bậc thấp (7), điều này đã đặt Mên-chi-xê-đéc vào một địa vị rất có ý nghĩa. Các phần mười nộp cho chức vụ tế lễ của dòng họ Lê-vi từng được những người hay chết thu góp, nhưng Áp-ra-ham lại nộp phần mười cho một nhân vật đã được tuyên bố là người đang sống (8). Điều này có nghĩa là trong phần ký thuật của Kinh Thánh, Mên-chi-xê-đéc đã được giới thiệu là một nhân vật không có ngày rốt qua đời (3), cũng như gợi ý rằng chức vụ thầy tế lễ của ông vốn cao trọng hơn. Thậm chí ta còn có thể nói rằng chính Lê-vi, và do đó là các thầy tế lễ thuộc dòng họ Lê-vi, đã thông qua Áp-ra-ham mà nộp phần mười cho Mên-chi-xê-đéc. Điều này chuẩn bị cho chúng ta luận cứ trong câu 11-19, rằng chức vụ thầy tế lễ của Chúa Giê-xu trội hơn và thay thế cho chức vụ tế lễ dòng Lê-vi.
(He 7:11-12) Khi Thi 110:4 đề cập sự cần thiết phải dấy lên một thầy tế lễ khác, lập theo ban Mên-chi-xê-đéc, không theo ban A-rôn, thì điều có thể suy diễn là chức vụ tế lễ hiện tại này hãy còn thiếu một điều gì đó. Thật ra, chức vụ thầy tế lễ từ A-rôn truyền lại và được một người nào đó trong số người Lê-vi thừa hành vốn không thể tạo ra được sự trọn vẹn. Đây là lần đầu tiên, ngôn ngữ đề cập sự trọn vẹn (ứng dụng cho Chúa Cứu Thế trong He 2:10 5:9 7:28) được áp dụng cho hoàn cảnh của các tín hữu. Luật pháp Môi-se không làm trọn chi hết, nhưng trong Chúa Cứu Thế một sự trông cậy hay hơn đã được đem vào, và bởi sự trông cậy đó chúng ta đến gần Đức Chúa Trời (19). Câu cuối cùng này gợi ý rằng việc hoàn thiện các tín hữu gồm có việc khiến cho họ có đủ tư cách để đến gần Đức Chúa Trời, hoặc giúp họ hưởng sự chắc chắn về một mối liên hệ với Đức Chúa Trời theo giao ước mới. Ý niệm quan trọng này sẽ được nói thêm sau đó. Nói thật đơn giản thì sự hi sinh của Chúa Cứu Thế giải quyết được vấn đề tội lỗi theo cách mà chức vụ tế lễ của Lê-vi và luật pháp Môi-se đã không giải quyết nổi. Thật vậy, chức vụ tế lễ và luật pháp đều liên hệ chặt chẽ với nhau đến độ một sự thay đổi chức vụ tế lễ có nghĩa là luật pháp cũng cần phải thay đổi (12). Ở đây cần ghi nhận rằng trước giả thư Hê-bơ-rơ nhìn luật pháp chủ yếu như một loạt các quy tắc tế lễ và thầy tế lễ nhằm duy trì mối liên hệ giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời. Các hạn chế của hệ thống ấy nói chung đã được phác hoạ trong chương 9-10.
(He 7:13-17) Theo luật pháp Môi-se thì chỉ có một số người nào đó là được phép hầu việc tại bàn thờ (Le 8:1-9:24 Dan 1:47-54). Chúa Giê-xu, Chúa chúng ta thuộc về chi phái Giu-đa mà về chi phái ấy thì Môi-se không nói điều chi về chức tế lễ. Cho nên nếu Chúa Giê-xu làm thầy tế lễ, thì Ngài phải thuộc về một ban tế lễ khác. Nhằm đối phó với phản bác này, trước giả một lần nữa, lưu ý đến lời tiên báo trong Thi 110:4 rằng chức vị tế lễ của Đấng Mết-si-a sẽ là theo ban Mên-chi-xê-đéc. Một con cháu của dòng Lê-vi trở thành thầy tế lễ trên cơ sở quy tắc đối với dòng họ người ấy. Chúa Giê-xu đã trở nên một thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc, căn cứ trên quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết. Nhóm từ cuối cùng này nên được hiểu đúng nhất là một đề cập sự phục sinh và được tôn cao trên thiên đàng của Chúa Giê-xu. Rõ ràng là Ngài đã hành động như một thầy tế lễ thượng phẩm của giao ước mới trên đất, khi Ngài tự hiến thân làm một sinh tế trọn vẹn cho tội lỗi chúng ta. Nhưng Ngài phải được khiến sống lại để thi hành chức năng của một thầy tế lễ đời đời, phục vụ trong nơi thánh ở trên trời, bên hữu Đức Chúa Trời (He 8:1-2).
(He 7:18-19) Điều răn trước kia là luật pháp thiết lập chức tế lễ Cựu Ước căn cứ vào dòng dõi phù hợp và sự thanh sạch thuộc thể. Nó vốn không quyền không ích vì sự chết ngăn trở các thầy tế lễ ấy không giữ luôn được chức vụ (23), còn chính nhược điểm của họ luôn luôn đòi hỏi họ phải tiếp tục dâng lên sinh tế vì tội lỗi của chính họ cũng như vì tội lỗi của dân sự (27). Thật vậy, luật pháp không làm trọn chi hết (xem chú thích ở 7:11-12), vì nó chỉ là cái “bóng của sự tốt lành về sau” (10:1). Quy tắc thiết lập chức vị thầy tế lễ trong Cựu Ước đã bị bỏ khi Đức Chúa Trời mở đầu một chức vị thầy tế lễ mới và cung cấp một sinh tế để kết thúc mọi của lễ (10:5-10). Với chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu, một sự trông cậy hay hơn (đã được) đem vào (để) thay (thế) cho luật pháp, và bởi sự trông cậy đó, chúng ta được đến gần Đức Chúa Trời. Tính cách chắc chắn của một sự thanh tẩy khỏi tội lỗi một lần là đủ cả, và khả năng tiếp tục một mối liên hệ đời đời với Đức Chúa Trời là ở tâm điểm của sự trông cậy hay hơn này.
(He 7:20-22) Lời hứa thiết lập chức vị thầy tế lễ của Đấng Mết-si-a được xác nhận bằng một lời thề: Chúa đã thề rồi và không hối lời thề ấy đâu (Thi 110:4). Một lời thề kèm theo một lời hứa khiến cho “những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi” (He 6:17). Thế là tính cách đời đời của chức vị thầy tế lễ của Chúa Giê-xu đã được thiết lập. Vì lời thề ấy người ta cũng có thể khẳng định rằng Đức Chúa Giê-xu đã trở nên Đấng bảo lãnh cho một cái giao ước rất tôn trọng hơn cái trước. Khi trước giả xét đến chủ đề về giao ước tôn trọng hơn này trong các khúc sách sau, ông mô tả Chúa Giê-xu với cương vị “Đấng Trung Bảo” của một giao ước mới (8:6 9:15 12:24). Điều này có nghĩa là Ngài đã mở đầu cho những phước hạnh của giao ước đã được báo trước trong Gie 31:31-34 (được trích dẫn trong He 8:8-12). Từ ngữ bảo lãnh (22) gợi ý còn nhiều hơn thế. Chức vụ tế lễ của Chúa Giê-xu tiếp tục bảo đảm sự kiện các phước hạnh đó vẫn đang sẵn sàng được ban cho. Giao ước tôn trọng hơn là cơ sở của sự trông cậy hay hơn của Cơ Đốc nhân.
(He 7:23-25) Chức vị thầy tế lễ độc nhất vô nhị và đời đời của Chúa Cứu Thế thật sự là tâm điểm của luận cứ trong chương sách phức tạp này. Dưới giao ước cũ, đã có rất nhiều thầy tế lễ, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ. Tuy nhiên, vì Chúa Giê-xu đã phục sinh và thăng thiên hằng có đời đời, nên Ngài giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. Ngài vẫn y nguyên (1:8-12 13:8) và chức vị thầy tế lễ cũng như công tác của Ngài đều là tuyệt đối và bất biến. Từ bởi đó trong câu 25 đưa vào phần hậu quả hợp lý của tất cả mọi điều đó. Đây là cách ứng dụng thực tiễn sự dạy dỗ của trước giả về Chúa Giê-xu là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Chúa Giê-xu có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời. Ý niệm “đến gần”, hay “đến cùng”, “đến với” Đức Chúa Trời nổi bật hẳn lên trong thư Hê-bơ-rơ (4:16 7:19 10:1,22 11:6 12:18,22). Về cơ bản, nó diễn tả cái ý niệm về một mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Chức vụ thầy tế lễ và hệ thống tế lễ của Cựu Ước chỉ cung cấp hết sức bất toàn một mối liên hệ như thế, nhưng Chúa Giê-xu thì có thể cứu toàn vẹn những người nhờ Ngài mà liên hệ với Đức Chúa Trời. Ngôn ngữ đề cập sự cứu rỗi ở đây hàm ý một sự giải thoát khỏi một cách chọn lựa khác, tức là phán xét của Đức Chúa Trời (2:1-4 9:27-28 10:26-31). Thật vậy, các Cơ Đốc nhân có thể trông cậy vào sự trợ giúp của Chúa Giê-xu vào mọi giai đoạn của cuộc hành hương của họ trên đất này, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy (Ro 8:34 IGi 2:1-2). Hình ảnh về một Đấng cầu thay trên thiên đàng đã được dùng nhằm nhấn mạnh lòng sẵn sàng và khả năng của Chúa Cứu Thế để cứ tiếp tục đem đến cho chúng ta các lợi ích của sinh tế một lần là đủ cả của Ngài (He 2:18 4:14-16 10:19-22). Tuy nhiên, hình ảnh này không bị đẩy đi quá xa. Chúa Giê-xu đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, yêu cầu cho các lời hứa của giao ước được ứng nghiệm cho các con cái Ngài, chớ không phải là nài xin cho họ được tiếp nhận trước ngôi của Cha Ngài.
(He 7:26-28) Chúa Giê-xu đáp ứng nhu cầu của chúng ta với cương vị thầy tế lễ thượng phẩm, trước hết vì Ngài vốn thánh khiết, không tội, không ô uế. Ba tính từ này nhắc lại lời truyền dạy về sự vô tội của Ngài (4:15) và giải thích tại sao sinh tế của Ngài lại là hoàn thiện, chẳng cần chi phải làm đi làm lại. Ngài vẫn bền lòng vâng lời Đức Chúa Trời bằng một cuộc đời chịu thử nghiệm. Với cương vị một thầy tế lễ thượng phẩm không hề lầm lỗi, Ngài đã hy sinh vì tội lỗi của dân sự Đức Chúa Trời một lần là đủ cả khi dâng chính mình Ngài làm tế lễ (27 9:14). Đây là một tư tưởng mới, giải thích chính xác Ngài đã làm xong “sự sạch tội” (1:3) hay “đền tội cho chúng dân” (2:17) như thế nào. Xin lưu ý việc nhấn mạnh tính chất một lần thì đủ cả của sinh tế của Ngài ở đây và trong 9:12,26,28 10:10. Khác với các thầy tế lễ thượng phẩm của Do Thái giáo, Ngài không cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân. Sự trọn vẹn của sinh tế của Ngài được kết hợp với sự trọn vẹn của con sinh. Chúa Giê-xu đáp ứng nhu cầu của chúng ta với tư cách thầy tế lễ thượng phẩm, vì hiện nay Ngài đã được biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời. Việc Ngài được tôn cao trên thiên đàng có nghĩa là Ngài vẫn hằng sống để có thể chuyên tâm vào các lợi ích của công tác cứu rỗi của Ngài với chúng ta (25). Luật pháp Môi-se bổ nhiệm những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng lời thề trong Thi 110:4 chỉ định Đức Chúa Con làm thầy tế lễ thượng phẩm theo một ban khác. Ngài có đầy đủ phẩm cách chu toàn vai trò của mình, hay đã nên trọn lành đời đời (28 tham khảo chú thích ở He 2:10 5:9) nhờ cuộc đời vâng phục, sự chết hi sinh của Ngài và việc được vào thiên đàng trước hiện diện của Đức Chúa Trời (như c.26-27 gợi ý).
3. Đấng Trung Bảo của giao ước mới (He 8:1-13)
Trong hai chương 8 và 9 trước giả chứng minh sự “hoàn thiện” của Chúa Giê-xu có thể giúp chúng ta vui hưởng các lợi ích của giao ước mới như thế nào. Gie 31:31-34 được trích dẫn đầy đủ ở đây, rồi sau đó là theo hình thức vắn tắt (He 10:16-17), chứng minh rằng tâm điểm của văn bản ấy là luận cứ của đoạn sách trung tâm này của thư Hê-bơ-rơ. Trước khi bắt đầu suy nghĩ về lời tiên tri của Giê-rê-mi, trước giả lưu ý rằng phạm vi chức vụ hiện nay của Chúa Giê-xu là đền tạm thật bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào (1-2). Điều này dẫn tới việc đối chiếu thêm giữa chức tế lễ của Chúa Giê-xu với chức tế lễ của những người dâng lễ vật theo luật pháp dạy và chỉ phục vụ trong một đền thánh đều chỉ là một bản sao hay là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi (3-5). Tính cách cao trọng hơn của chức vụ của Chúa Giê-xu được gắn liền với sự việc được tập trung vào nơi thánh trên trời. Chức vụ của Ngài cũng cao trọng vì nó thiết lập giao ước mới (6-12), khiến cho giao ước cũ trở thành lỗi thời (13). Cơ Đốc nhân phải hiểu lời tiên tri về giao ước mới đã được ứng nghiệm như thế nào, vì đó là cơ sở của mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
(He 8:1-2) Đại ý của trước giả, là chúng ta đã có được loại thầy tế lễ thượng phẩm như đã mô tả trong chương trước, tức là Đấng đang ngự bên hữu ngai của Đấng Tôn nghiêm trong các từng trời. Nhóm từ cuối cùng này là một cách mô tả có tính cách tôn kính và trang nghiêm Đức Chúa Trời như một vị vua oai nghiêm cầm quyền cai trị trên muôn vật. Chúa Cứu Thế đang dự phần cai trị trên thiên đàng nhưng đồng thời cũng làm chức việc (phục vụ) trong vai trò tế lễ (Hi văn leitourgos có nghĩa đen rằng Ngài là “một người thi hành chức vụ” hay “một tôi tớ”) như đã được phác hoạ trong 7:25. Như thế nơi có đặt chiếc ngai trên trời có thể được mô tả là một nơi thánh vốn là đền tạm thật bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào. Đền tạm thật này là thực tại trên trời mà ngôi đền tạm vào thời của Môi-se đã được dựng theo (c.5). Tuy Đức Chúa Trời đã chỉ cho Môi-se cái khuôn mẫu phải theo đó mà làm, kết quả là nó cũng chỉ là “một ngôi đền do tay người ta làm ra” mà thôi (Hi văn cheiropoiçta, 9:24). Ngôi đền tạm bởi Chúa dựng lên thì không phải do người ta làm ra và “không thuộc về đời này” (9:11). Bằng hình ảnh đó, trước giả chỉ ra rằng chủ đích của việc Chúa Giê-xu vào thiên đàng là để “vì chúng ta mà hiện ra trước mặt Đức Chúa trời” (9:24). Chức vụ của Ngài tại thế đã trang bị cho Ngài để phục vụ ở trên trời.
(He 8:3-5) Cái nguyên tắc chung rằng phàm thầy tế lễ thượng phẩm đã được lập lên là để dâng lên lễ vật và hi sinh (5:1) có nghĩa rằng Chúa Giê-xu phải có một vật gì đó để dâng lên. Căn cứ vào 7:27 thì rõ ràng là Ngài đã “tự dâng chính mình lên”, nhưng trước giả mãi về sau mới triển khai chủ đề ấy. Ở đây, ông chỉ nhấn mạnh lại một lần nữa rằng chức tế lễ của Chúa Giê-xu là thuộc về một ban khác. Thật vậy, nếu Ngài còn ở thế gian thì Ngài chẳng phải là thầy tế lễ, vì đã có sẵn những người để dâng lên lễ vật theo luật pháp dạy rồi. Có lẽ một số độc giả sống trong bối cảnh xã hội Do Thái đã nhận xét rằng Cơ Đốc giáo hãy còn thiếu một điều gì đó, vì nó không đưa ra một nghi lễ trang trọng trong một đền thờ dưới đất. Thư Hê-bơ-rơ đưa ra một luận điểm đối lập. Chúa Cứu Thế đã đưa vào những thực tại thuộc linh cơ bản mà nghi thức giao ước cũ vẫn thường chỉ đến, để làm ứng nghiệm và thay thế cho cả cái hệ thống mà luật pháp của Môi-se đã dạy là phải làm. Các thầy tế lễ người Lê-vi chỉ phục vụ trong một nơi thánh vốn là hình và bóng của những sự ở trên trời (5), trong khi Chúa Cứu Thế phục vụ trong một đền tạm thật (2). Xu 25:40 đã được dùng để hậu thuẫn cho luận cứ rằng ngôi đền tạm ở dưới đất là phác hoạ mờ ảo của một kiểu mẫu trên trời.
(He 8:6) Dường như đến đây thì trước giả thay đổi đề tài, gác qua một bên hình ảnh về chức tế lễ, nơi thánh và của lễ, để nhận diện Chúa Giê-xu là Đấng Trung Bảo của một giao ước tốt hơn. Tuy nhiên, một mối liên hệ giữa chức tế lễ với luật pháp hay giao ước đã được thiết lập trong He 7:11-12 và chủ đề về chức vị thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu được liên kết chặt chẽ với việc làm ứng nghiệm các lời hứa của Gie 31:31-34 trong hai chương 9-10. Chúa Giê-xu mở đầu hay đứng trung gian cho các lợi ích của giao ước mới nhờ sự chết và địa vị được tôn cao trong các nơi trên trời của Ngài (He 7:22 9:11-15 10:12-18). Giao ước này tốt hơn giao ước cũ vì nó đã được thiết lập trên những lời hứa tốt hơn. Các lời hứa ấy đã được ghi lại trong phần trích dẫn sách Giê-rê-mi thật dài tiếp theo sau đây.
(He 8:7-9) Vào thế kỷ thứ sáu T.C., là thời kỳ của cuộc lưu đày sang Ba-by-lôn, lời của Giê-rê-mi cho thấy là Đức Chúa Trời đã trách dân Y-sơ-ra-ên. Khi Ngài hứa lập một giao ước mới, thì hàm ý là đã có điều gì đó sai trật đối với giao ước thứ nhất, đã được thiết lập vào thời xuất Ai Cập. Vấn đề chủ yếu là với dân sự – họ không bền giữ lời (giao) ước của) ta – cho nên tiếp theo đó là án phạt lưu đày. Thư Hê-bơ-rơ tiếp tục chứng minh rằng một phần của vấn đề đó là lễ nghi, vốn được thiết lập nhằm giúp đỡ cho dân sự “cho đến kỳ hoán cải” (9:10) hay “cho đến khi một trật tự mới được thiết lập”, nhưng tác dụng của nó bị hạn chế. Thiết tưởng cần lưu ý ở đây rằng giao ước mới được thiết lập với cả nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. Trước giả không đề cập cụ thể cách thức những người ngoại quốc sẽ được dự phần vào các phước hạnh (Ga 3:1-4:31 Ro 9:1-11). Tuy nhiên, điều rất rõ ràng là bất cứ ai tin cậy vào Chúa Cứu Thế Giê-xu và vào những gì Ngài đã hoàn tất đều sẽ được dự phần vào các lời hứa mà Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm cho dân sự xưa kia của Ngài (He 3:14 4:3 5:9 7:25).
(He 8:10-12) Việc Đức Chúa Trời sẵn sàng tái lập mối liên hệ đặc biệt của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên được diễn tả trong câu then chốt Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ, họ sẽ làm dân ta. Tuy nhiên, trong việc lập lại giao ước, Ngài hứa Ta sẽ để luật pháp ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng để ban cho họ lòng mong ước và khả năng để làm đẹp lòng Ngài (10). Thư Hê-bơ-rơ cho thấy sự ứng nghiệm của lời hứa này qua việc Chúa Giê-xu tẩy sạch lòng dân sự Ngài khỏi một lương tâm xấu, để họ có thể “phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống” (9:14 10:19-25). Đức Chúa Trời cũng hứa qua Giê-rê-mi rằng mỗi một thành viên của cộng đồng giao ước mới đều sẽ được nhận biết Ngài cách trực tiếp và riêng tư, từ kẻ rất nhỏ cho đến kẻ rất lớn (11). Thư Hê-bơ-rơ hàm ý rằng lời hứa ấy đã ứng nghiệm trong việc trực tiếp đến gần Đức Chúa Trời bằng sự tin quyết mà Chúa Giê-xu đã tạo ra (4:16 7:25 10:19-22 12:22-24). Cuối cùng chữ nhơn trong câu 12 cho thấy cơ sở của những lời hứa này là lòng tin chắc vào một sự tẩy sạch dứt khoát khỏi tội lỗi: Nhơn (đó) ta sẽ tha sự gian ác của họ và sẽ không nhớ đến tội lỗi họ nữa. Căn cứ vào hai chương 9-10 thì rõ ràng là sự hi sinh của Chúa Giê-xu đã làm ứng nghiệm lời hứa căn bản đó (9:14,26,28 10:10,14).
(He 8:13) Nhu cầu về chức tế lễ, nơi thánh và hệ thống tế lễ của giao ứơc cũ giờ đây đã bị bãi bỏ. Điều này giúp cho các tín hữu thuộc mọi chủng tộc, mọi nền văn hoá đều có thể đến gần Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu. Tuy Đức Chúa Trời chẳng có phán gì cụ thể về điều này trong lời tiên tri của Giê-rê-mi, bằng việc xưng (gọi) giao ước đó là mới thì đã xưng ước trước là cũ. Cho nên những gì mà phần nghi lễ của giao ước cũ đem đến đại khái đều trở thành cũ và chẳng bao lâu nữa sẽ tiêu mất đi.
4. Những hạn chế của giao ước cũ (He 9:1-10)
Chương này khai triển sự tương phản giữa cái mới với cái cũ, việc ở dưới đất với việc trên trời. Trong He 9:1 trước giả thông báo hai phương diện của giao ước thứ nhất mà ông đề cập theo thứ tự đảo ngược: nơi thánh dưới đất của nó (2-5) và những luật về việc thờ phượng của nó (6-10). Bản tính hạ giới với phần nghi lễ của đền tạm của Môi-se đã hạn chế phần hiệu quả của nó như một phương tiện để liên lạc với Đức Chúa Trời. Thật vậy, toàn thể hệ thống ấy chỉ là một biểu tượng cho điều mà giao ước mới sẽ đem đến. Các lễ nghi của nó không thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm, mà chỉ chú trọng vào các phần bên ngoài của xác thịt, và chỉ có hiệu lực cho đến kỳ hoán cải (có trật tự mới) mà thôi. Tuy thoạt nhìn, đoạn sách này có vẻ không phù hợp với độc giả Cơ Đốc, nhưng nó cung cấp một cơ sở cho luận cứ trong phần còn lại của chương sách này, cũng như bày tỏ nhiều viễn cảnh kỳ diệu vào con người và công tác của Chúa Giê-xu.
(He 9:1-5) Đền tạm của giao ước thứ nhất vốn thuộc về đất hay “thuộc về thế gian” theo nghĩa là nó vốn được tay loài người làm ra (8:2 9:11,24) và chỉ cung cấp một phác hoạ ảo của các thực tại trên trời hay thuộc linh, mà giờ đây, qua chức vụ của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã được dành sẵn cho tất cả mọi người (8:5-6 9:11-12). Trước giả nói về các nét đặc trưng của ngôi đền tạm do Môi-se xây cất trong sa mạc. Nhưng phần lớn những điều được đề cập ở đây đều có thể đem áp dụng cho ngôi đền thờ về sau ở Giê-ru-sa-lem, vốn cũng được rập theo mẫu ngôi đền tạm ấy. Nhằm chuẩn bị cho luận cứ trong câu 6-10, trước giả đã cố chỉ ra càng rõ càng tốt những điểm phân biệt giữa hai phần trong đền tạm, tức là Nơi thánh và Nơi Chí thánh. Mỗi phòng có các vật dụng cần thiết cho những nghi lễ khác nhau, cùng với các biểu tượng về cách đối xử của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên trong quá khứ và sự hiện diện liên tục của Ngài với họ. Vật quan trọng nhất bên trong đền tạm là chiếc hòm giao ước toàn bọc bằng vàng. Nắp của chiếc hòm ấy được gọi là nơi chuộc tội hay “nắp thi ân” và đây là trọng điểm của nghi lễ vào Ngày Đại lễ chuộc tội hằng năm. Tại đây huyết của các con thú làm sinh tế được thầy tế lễ thượng phẩm rảy ra để làm lễ chuộc tội (Le 16:14-17). Hai chê-ru-bin vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội chỉ về sự hiện diện vô hình của Đức Chúa Trời, Đấng được cho là “đang ngự giữa các Chê-ru-bin” (ISa 4:4 Xu 25:17-22).
(He 9:6-7) Bây giờ thì điểm tập trung chú ý chuyển từ các vật bên trong đền tạm sang những nghi thức xảy ra tại đó. Giao ước thứ nhất đòi hỏi những người đến gần Đức Chúa Trời qua trung gian những người đại diện cho họ là các thầy tế lễ. Các nhân vật này thường xuyên đi vào phần thứ nhất của đền tạm đặng làm trọn việc tế lễ. Công tác này gồm có việc chuẩn bị dầu đèn hằng ngày (27:21), hằng tuần thay bánh trần thiết (Le 24:5) và dâng lên các của lễ hằng ngày (Xu 29:38-46). Vai trò độc nhất vô nhị của thầy tế lễ thượng phẩm là đi vào phần bên trong và việc này thì chỉ mỗi năm một lần mà thôi, vào ngày Đại lễ chuộc tội. Vào Nơi chí thánh thì chẳng bao giờ là không mang huyết mà thầy tế lễ thượng phẩm phải dâng vì chính mình và vì sự lầm lỗi dân chúng (Le 16:1-34). Nghi lễ này làm sáng tỏ thật đầy đủ rằng một người không thể nào đến gần Đức Chúa Trời bằng các phương tiện riêng của mình.
(He 9:8-10) Trước giả đưa ra một cách nhìn thông tuệ do Đức Thánh Linh ban cho liên quan đến ý nghĩa và chủ đích của các phương tiện mà Cựu Ước đã cung cấp đó. Hễ (bao lâu) đền tạm thứ nhất đương còn, thì đường vào nơi rất thánh chưa mơ, nghĩa là con đường dẫn vào nơi thánh thật sự trên thiên đàng (He 9:12 10:19-20). Đền tạm thứ nhất thông thường mô tả phần bên ngoài của đền tạm trên đất này của dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, ở đây rõ ràng là nhóm từ này đã được dùng để ám chỉ toàn thể hệ thống tế lễ và chức vụ tế lễ liên hệ với đền tạm và đền thờ. Cho nên phần bên ngoài của đền tạm là một hình bóng (minh hoạ: Hi văn parabolè) cho thời hiện tại. Theo nghĩa đen thì phần bên ngoài của đền tạm ngăn trở con đường dẫn vào phần thứ hai của đền tạm. Theo nghĩa bóng thì đền tạm và toàn thể các nghi lễ của nó chắn lối đi trực tiếp và thường xuyên để đến gần Đức Chúa Trời. Theo một số các phương diện, thì luật pháp là cái bóng và chuẩn bị cho chức vụ của Chúa Cứu Thế. Nhưng một khi giao ứơc mới đã được mở ra rồi thì các khiếm khuyết của cách thờ phượng theo giao ước cũ cũng trở nên sáng tỏ rõ ràng. Một nhược điểm đặc biệt của sự thờ phượng ở ngôi đền tạm dưới đất đã được nhấn mạnh ngay sau đó. Các lễ vật và sinh tế dâng lên đó “không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm” (“hoàn thiện”, “nên trọn vẹn” như trong 10:1 10:14 11:40 12:23). Thật ra, các nghi lễ bỏ mặc cho những kẻ tham dự cảm thấy bị cắn rứt vì tội lỗi mình (10:2) vì họ chỉ hướng vào các quy tắc luật lệ bên ngoài mà thôi (10, nghĩa đen “lễ nghi theo xác thịt”). Họ bị áp đặt phải làm như thế cho đến kỳ hoán cải (“cho đến khi có trật tự mới”), nghĩa là cho đến khi Đấng Christ hiện đến làm thấy tế lễ của những sự tốt lành sau này (11). Khả năng tẩy sạch lương tâm người ta của Chúa Cứu Thế được nhấn mạnh trong 9:14 và 10:22. Với việc cất đi gánh nặng tội lỗi, chúng ta được giải phóng để phục vụ Đức Chúa Trời bằng lòng tin quyết và tri ân (9:14 12:28), lời tiên tri của Giê-rê-mi về giao ước mới đã được ứng nghiệm.
5. Thành tựu của Chúa Cứu Thế trong sự chết và được tôn cao của Ngài (He 9:11-28)
Tiếp theo nửa phần đầu của chương sách này, có thể nói đây là đoạn bàn về nơi thánh trên trời” và “các quy tắc luật lệ thờ phượng” của nó. Chúa Cứu Thế Giê-xu là thầy tế lễ thượng phẩm đã thăng thiên để vào Nơi Chí Thánh ở trên trời (11). Bởi huyết Ngài đã đổ ra trên thập tự giá, Ngài có được sự chuộc tội đời đời cho những ai trông cậy vào Ngài. Ngay bây giờ, điều đó có nghĩa là lương tâm của chúng ta có thể được tẩy sạch khỏi sự ô uế của tội lỗi cũng như chúng ta có thể thờ phượng một cách xứng đáng và hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống (12-14). Cuối cùng thì sinh tế của Chúa Cứu Thế giúp cho những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình (15). Cho nên việc đổ huyết của Ngài đã mở ra một giao ước mới, với lời hứa về sự tha tội một lần đủ cả và dứt khoát (16-23). Ngài đã vào thiên đàng để vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời (9:24-25) sau khi đã giải quyết xong vấn đề tội lỗi bằng việc tự dâng mình làm tế lễ (26). Khi Ngài tái xuất hiện từ nơi thánh trên trời, Ngài sẽ đem đến kinh nghiệm trọn vẹn về sự cứu rỗi cho tất cả những kẻ chờ đợi Ngài (27-28). Như thế, bằng cách ứng dụng nhiều ý niệm và hình ảnh trong Cựu Ước, khúc sách này dạy cho chúng ta rất nhiều điều về các lợi ích của công tác cứu chuộc chúng ta của Chúa Giê-xu, cả trong hiện tại lẫn tương lai.
(He 9:11-12) Với sự hiện đến của Chúa Cứu Thế ở cương vị thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau này (hiện đã có rồi), những điều đã được nói theo nghĩa hình bóng trong Cựu Ước đã biến thành sự thật! Trước giả giải thích việc này trước hết bằng cách chứng minh càng chính xác hơn Chúa Cứu Thế đã làm ứng nghiệm vai trò thầy tế lễ thượng phẩm vào ngày Đại lễ chuộc tội hằng năm như thế nào (9:7 Le 16:1-19). Các thầy tế lễ thượng phẩm vượt qua phần bên ngoài của đền tạm để vào Nơi Chí Thánh. Tại đó, họ rảy huyết các con sinh đã bị giết bên ngoài đền tạm lên chỗ chuộc tội rồi cầu thay cho dân sự. Mặt khác, Chúa Giê-xu đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn không phải bởi tay người dựng ra nghĩa là không thuộc về đời này. Chức vụ thầy tế lễ của Ngài mở con đường dẫn vào nơi thánh trên trời hay là chính thiên đàng (24 He 8:1-2). Sau khi đã chịu đóng đinh vào thập tự giá để làm sinh tế vì tội lỗi chúng ta, Ngài đã thăng thiên “trải qua các từng trời” (4:14) để ngự bên hữu Đức Chúa Trời và “cầu thay” cho chúng ta (7:25). Ngài đã không bước vào sự hiện diện của Đức Chúa trời trên trời nhờ vào huyết của dê đực và của bò con, nhưng nhờ chính huyết mình. Và vì sinh tế của Ngài là trọn vẹn, Ngài đã vào Nơi Chí Thánh chỉ một lần thì đủ hết. Vì vậy, việc Ngài chịu đóng đinh vào thập tự giá rồi được tôn cao chẳng cần phải được lặp lại. Thật vậy, Ngài đã có được sự cứu chuộc đời đời rồi. Từ ngữ “cứu chuộc” gợi ý giải phóng bằng cách trả giá chuộc là chính mạng sống của Ngài. Một từ ngữ tương tự như thế trong 9:15 đã được dịch ra là chịu chết mà chuộc tội, và theo văn cảnh thì rõ ràng việc giải thoát này là khỏi sự đoán phạt và sự cắn rứt do tội lỗi gây ra. Cho nên sự chuộc tội đời đời là một cách khác nữa để nói về sự tha tội một lần là đủ cả và dứt khoát như đã hứa trong Gie 31:34.
(He 9:13-14) Phác hoạ các hậu quả thực tiễn của sự chết của Chúa Cứu Thế, trước giả so sánh tác dụng của việc dâng huyết của con thú hay rải tro bò cái tơ (Dan 19:1-22). Các nghi lễ này vốn vì lợi ích cho những kẻ ô uế, để “thánh hoá” họ bằng cách tẩy sạch phần “bề ngoài” của họ (nguyên văn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay). Những kẻ đã bị ô uế có thể được phục hồi sự thông công với Đức Chúa Trời theo nghĩa là họ có thể lại tham dự việc thờ phượng của cộng đồng. Chân lý căn bản là huyết “làm sạch” và “thánh hoá” dù chỉ ở mức độ nghi lễ, cung cấp cơ sở cho phần luận cứ huống chi… là dường nào tiếp theo đây. Huyết của Đấng Christ là một cách nói về cái chết của Ngài như một của lễ chuộc tội. Đây là sinh tế độc nhất vô nhị có hiệu quả vì Ngài đã dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời. Một lần nữa, trước giả chỉ đến cuộc đời hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Cha của Chúa Giê-xu, mà tuyệt đỉnh là thập tự giá (He 5:7-9 7:26-27 10:10). Nhờ Đức Thánh Linh đời đời rất có thể là đề cập quyền năng của Thánh Linh gìn giữ và bảo vệ Ngài (Es 42:1) dù một số người xem là nó chỉ tâm linh Ngài, đề cao phẩm chất nội tâm hay thuộc linh của sự hi sinh của Ngài. Huyết Chúa Cứu Thế có đủ quyền năng để làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết. Đức Chúa Trời đòi hỏi sự ăn năn về các công việc như thế (He 6:1), tức là những tội lỗi làm ô uế lương tâm và đem sự phán xét đến. Nhưng những người ăn năn cần phải được tẩy sạch khỏi sự ô uế như thế, mà chỉ có sự chết của Chúa Giê-xu mới có thể làm được việc ấy (9:9 với 9:14). Chủ đích của việc tẩy sạch trong Cựu Ước là người ta phải tái hiến thân để phục vụ Đức Chúa Trời. Lời hứa của giao ước mới về một “tấm lòng” được đổi mới căn cứ trên việc tội lỗi đã được tha thứ dứt khoát (Gie 31:33-34), được lặp lại là ở câu 14. Chỉ có sự làm sạch do Chúa Cứu Thế thực hiện mới có thể cho chúng ta được tự do hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống theo như cách mà tiên tri Giê-rê-mi đã tiên báo. Tính chất của sự “phục vụ” hay ‘thờ phượng” (Hi văn latreuein) này sẽ được thảo luận liên hệ với He 12:28.
(He 9:15) Mối liên hệ giữa công tác làm thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu và sự ứng nghiệm lời tiên tri của Giê-rê-mi được khai thác thêm. Nhờ sự chết của Ngài, Chúa Cứu Thế trở thành Đấng Trung Bảo của giao ước mới (8:6 12:24). Thứ nhất, Ngài đã chết để (làm một giá) chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ. Như đã ghi nhận có liên hệ với câu 12, sự chết của Ngài là cái giá phải trả để giải phóng (người ta) khỏi sự phán xét và sự phạm tội do tội lỗi gây nên (Gie 31:34). Điểm nhấn mạnh là việc cứu chuộc những kẻ đã phạm tội dưới giao ước cũ (thứ nhất) như đã hứa trong 31:31-32. Thật vậy, sự hi sinh của Chúa Giê-xu (trong tác dụng hồi tưởng của nó) có giá trị cho tất cả những người tin cậy Đức Chúa Trời để được tha tội trong xứ Y-sơ-ra-ên xưa kia (He 11:40). Nhưng chúng ta cũng biết rằng nhờ ân điển Đức Chúa Trời, Ngài đã nếm trải sự chết là “vì mọi người” (2:9) và Ngài có thể cứu những kẻ “nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời” (7:25). Thứ hai, trên cơ sở là sự chết của Ngài những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình. Cũng như giao ước cũ hứa ban xứ Ca-na-an cho dân sự của Đức Chúa Trời làm cơ nghiệp như thế nào, thì giao ước do Chúa Cứu Thế mở ra cũng mở đường vào một cơ nghiệp đời đời. Nhóm từ này tương đương với nhóm từ “thế gian hầu đến” (2:5), “một ngày nghỉ cho dân Đức Chúa Trời” (4:9), “Giê-ru-sa-lem trên trời” (12:22) và những phần mô tả giống như thế về số phận của chúng ta là Cơ Đốc nhân. Chúa Giê-xu đã mở đường cho chúng ta đi vào cơ nghiệp của Ngài bằng cách đối phó với tội lỗi đang ngăn trở chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.
(He 9:16-22) Ý niệm về một cơ nghiệp đưa trước giả đến chỗ sử dụng phép lộng ngữ. Từ ngữ Hi văn diathèkè được dùng trước hết theo một thuật ngữ pháp lý có nghĩa là một chúc thơ hay một di chúc (16-17). Trong công việc thông thường của con người để những lợi ích trong di chúc của một người có hiệu lực, thì điều cần thiết là phải chứng minh rằng kẻ lập di chúc đã chết rồi. Rồi cùng một từ ngữ ấy lại được dùng để ám chỉ giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với dân Y-sơ-ra-ên vào thời của Môi-se (18-20). Trong trường hợp này thì chẳng cần gì cho người lập giao ước phải chết đi nhưng giao ước thứ nhất đã không có hiệu lực nếu không có huyết. Trước giả lưu ý đến phần nghi lễ đã được đề cập trong Xu 24:1-8 lúc Môi-se rảy huyết của con sinh lên bàn thờ và dân sự, kêu gọi họ phải vâng giữ mọi điều mà Đức Chúa Trời đã phán truyền. Như thế, mối liên hệ với Đức Giê-hô-va đã được ấn chứng và xác nhận bằng huyết của giao ước và quy chế thánh của dân tộc đã được công bố. Thư Hê-bơ-rơ còn thêm nhiều chi tiết khác nữa rút ra từ các nghi lễ tẩy rửa của Cựu Ước để chỉ rõ tính bao biện của việc dùng huyết để tẩy sạch dưới giao ước cũ (21). Điều này dẫn đến một nhận định kết luận (theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch) và một nguyên tắc cơ bản (không đổ huyết thì không có sự tha thứ). Tuy huyết đã được sử dụng phần lớn cho việc tẩy sạch trong nghi lễ (13), các nghi thức ấy chỉ về những nhu cầu còn sâu nhiệm hơn của dân sự Đức Chúa Trời, là phải được giải thoát khỏi quyền lực và án phạt của tội lỗi.
(He 9:23-24) Những tượng (bản sao) chỉ về các vật trên trời – như đền tạm và mọi vật dụng đã được dùng trong các nghi lễ trong đó - cần phải được tẩy sạch bằng huyết của sinh tế. Nơi thánh của dân Y-sơ-ra-ên do tay người làm ra và theo kiểu mẫu (chỉ là bản sao) của nơi thánh thật, là chính “thiên đàng” (trong trời, 24 He 8:5). Khi trước giả viết chính các vật trên trời cũng cần phải đươc tẩy sạch nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa, ông đã không hề ngụ ý nói rằng thiên đàng đã bị tội lỗi của loài người làm ô uế, nếu không thì Đức Chúa Trời cũng đã phải lìa khỏi đó rồi! Tuy nhiên, có lẽ ông gợi ý rằng sự hi sinh của Chúa Cứu Thế vốn có ý nghĩa to lớn, cất đi vật chướng ngại cho mối thông công với Đức Chúa Trời vốn vẫn hiện hữu ở mức độ thực tại tối hậu, chớ không phải chỉ có trong lòng loài người mà thôi. Bức thông điệp đơn giản ẩn phía sau ngôi đền tạm và hình ảnh về ngày Đại lễ chuộc tội của trước giả, là Chúa Giê-xu đã vào tận thiên đàng và Ngài đang ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì chúng ta (7:25). Ngài đã khiến chúng ta có thể đến với Đức Chúa Trời ngay bây giờ và trong cõi vĩnh hằng.
(He 9:25-28) Của lễ càng quí trọng hơn được đề cập trong câu 23 thật ra là của lễ đơn giản và độc nhất vô nhị của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sự hi sinh của Ngài chẳng cần phải được làm nhiều lần (làm đi làm lại) theo cách của các thầy tế lễ thượng phẩm trong nghi lễ hằng năm của họ. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng sinh tế của Ngài cần phải được liên tục dâng lên cho Đức Chúa Cha, dù là ở trên trời hay dưới đất này. Chúa Giê-xu đã chẳng cần phải chịu khổ nhiều lần từ buổi sáng thế: Sự dâng mình của Ngài là “đầy đủ, và quyết định cho cả lịch sử rồi –quá khứ, hiện tại và tương lai”. Trong câu 26 và 28 trước giả dùng nhóm từ một lần thì đủ cả (7:27 9:12 10:10) để nhấn mạnh tính chất quyết định và hoàn tất của công tác làm thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Giê-xu. Thật vậy, sự hiện ra của Ngài báo hiệu sự cuối cùng của các thời đại, là thời kỳ hoàn tất hay những ngày sau rốt (He 1:2). Chủ đích của sự giáng lâm của Ngài là dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi (26). Nói một cách khác, ấy là để cất tội lỗi của nhiều người (28, nguyên căn “mang tội lỗi của nhiều người” Es 53:12). Như thế là đã có một giải quyết cuối cùng vấn đề tội lỗi bằng hành động của Chúa Giê-xu vào một thời điểm trong lịch sử, và điều này ban cho thì hiện tại một ý nghĩa nghiêm túc. ó hai sự chờ đợi khủng khiếp về sự xét đoán cho những ai chối bỏ Con Đức Chúa Trời và sự hi sinh của Ngài (He 10:26-31) mà thôi. Nhưng với những ai đang tin cậy Ngài và nóng lòng chờ đợi sự tái lâm của Ngài, thì có viễn ảnh về sự cứu rỗi nghĩa là được cứu khỏi sự phán xét và được hưởng cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình (15).
6. Các lợi ích của giao ước mới (He 10:1-18)
Do đoạn trung tâm bàn về giáo lý của thư Hê-bơ-rơ sắp kết thúc, trước giả tiếp tục giải thích về các lợi ích của giao ước mới. Một lần nữa, ông phác hoạ sinh động các hạn chế của luật pháp và những điều khoản của nó để có thể đến gần Đức Chúa Trời (1-4). Rồi Thi 40:6-8 đã được dùng để xác lập rằng toàn bộ hệ thống tế lễ được thay thế bằng sự dâng mình vâng phục hoàn toàn của Chúa Cứu Thế (5-10). Tương phản với các thầy tế lễ của giao ước cũ, hằng ngày phải đứng tại bàn thờ để dâng lại các của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, Chúa Giê-xu đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời với công tác dâng sinh tế đã hoàn tất (11-14). Với các tín hữu thì kết quả của công việc này là Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. Các từ ngữ này được dùng để mô tả lại mối liên hệ giữa dân sự với Đức Chúa Trời như Gie 31:33-34 tiên báo. Trước giả trích dẫn mấy câu ấy theo hình thức rút ngắn (15-18) để báo hiệu rằng luận cứ được bắt đầu ở chương 8 đã đến lúc kết thúc. Vì sinh tế của Chúa Cứu Thế linh nghiệm như thế, cho nên chẳng cần phải có một sinh tế khác vì cớ tội lỗi. Sự tha thứ mà tiên tri Giê-rê-mi tiên báo đã sẵn sàng rồi, khiến cho việc đổi mới lòng và trí con người, vốn là căn bản của giao ước mới, đã có thể thực hiện được.
(He 10:1-2) Khi trước giả mô tả luật pháp Môi-se chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, ông ngụ ý rằng nó báo trước các phước hạnh của giao ước mới mà Chúa Giê-xu sẽ đem đến. Phần nghi lễ của luật pháp chỉ ra sự cần thiết phải có các “thực tại” (hình thật) tối hậu của chức vụ tế lễ thượng phẩm của Chúa Cứu Thế. Theo một ý nghĩa, thì chúng ta vẫn còn phải chờ để được hưởng sự cứu rỗi trọn vẹn đã được hoàn tất cho chúng ta (He 9:28 13:14). Tuy nhiên, nhiều lợi ích trong số đó có thể được kinh nghiệm trước (9:14 10:19-25). Tính cách bất cập của nghi lễ theo Cựu Ước được nêu rõ bởi sự kiện các của lễ (giống nhau) cứ được dâng đi dâng lại mỗi năm cho đến vô cùng. Như đã lưu ý trong 7:11,19 và 9:9 luật pháp chẳng bao giờ khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành theo cách đó cả. Sự hoàn thiện các tín hữu có liên quan với việc tẩy sạch lương tâm họ khỏi sự phạm tội, khiến họ toàn tâm toàn ý dâng hiến cho Đức Chúa Trời và cho việc phục vụ Ngài (xem các chú thích về 10:10 10:14). Nếu các của lễ của giao ước thứ nhất thực hiện được mục đích thì chúng há chẳng thôi được dâng lên sao? Tuy nhiên, những người dâng của lễ cứ tiếp tục bị lương tâm cắn rứt về tội lỗi mình (9:9). Họ đã không được tẩy sạch chỉ một lần là đủ cả, như một người có thể được như thế nhờ tin cậy vào sự hi sinh rất linh nghiệm của Chúa Giê-xu (9:14 10:17-18).
(He 10:3-4) Tuy nghi lễ Đại lễ chuộc tội bảo đảm với dân Y-sơ-ra-ên rằng Đức Giê-hô-va có quyền tha tội, lễ ấy đã phải được lặp lại từ năm này sang năm khác. Tác dụng của nó là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi, một lời nhắc nhở rằng tội lỗi là chướng ngại vật cho mối thông công với Đức Chúa Trời và đem sự phán xét của Ngài đến. Trái lại, chính Đức Chúa Trời có hứa rằng dưới giao ước mới “Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa” (Gie 31:34 tham khảo câu 17). Tội lỗi vẫn chưa được giải quyết dứt khoát trước khi Chúa Giê-xu chịu chết trên thập tự giá, vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được. Sở dĩ Đức Chúa Trời đòi hỏi các sinh tế để dạy dân Y-sơ-ra-ên trông cậy vào Ngài để được tẩy sạch và để chứng minh sự cần thiết phải có một sự trừng phạt để trả nó cho tội lỗi (Le 17:11). Nhưng số phận của Đấng Mết-si-a là phải trả cho án phạt đó bằng cái chết của Ngài và như thế ban sự cứu rỗi đến cả cho những người đã phạm tội vào các thời kỳ Cựu Ước (He 9:15).
(He 10:5-10) Lời lẽ của Thi 40:6-8 đã được gán cho Chúa Cứu Thế lúc Ngài vào thế gian vì chúng hoàn toàn ứng nghiệm trong đời sống của Ngài. Tác giả Thi Thiên ấy là vua Đa-vít đã đi xa hơn nhiều trước giả Cựu Ước trong việc nhấn mạnh tích cách bất lực vô quyền của các của lễ trong việc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Bốn thuật ngữ đã được sử dụng – hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội – mô tả các loại của lễ khác nhau đã được luật pháp truyền dạy. Nhưng toàn bộ hệ thống ấy được hoạch định để khích lệ và khiến cho việc sẵn sàng dâng mình của dân sự cho Đức Chúa Trời trở thành khả thi, như câu Lạy Chúa, con đến để làm theo ý muốn Ngài. Trong thân thể đã được chuẩn bị cho Con Đức Chúa Trời, Ngài đã sống một cuộc đời hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Cha mà tột đỉnh là cái chết của Ngài như một con sinh không tì vít (He 9:14). Ngài đã đến để đặt qua một bên hệ thống tế lễ, và đem đến sự vâng phục trọn vẹn đối với Đức Chúa Trời, vốn luôn là mục đích ẩn phía sau các nghi lễ. Ngài nhận thấy ý chỉ Đức Chúa Cha được bày tỏ trong Kinh Thánh (trong sách có chép về tôi), và ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Giê-xu Christ một lần đủ cả. Sinh tế chỉ một lần là đủ cả của Ngài (10) đem đến sự tẩy sạch tội lỗi một lần đủ cả mà luật pháp không thể làm được (2). Một sự tẩy sạch như thế khiến cho các tín hữu có thể tận hiến một cách dứt khoát hay thánh hoá cho Đức Chúa Trời, là ý nghĩa của câu chúng ta được nên thánh (Hi văn hagiasmenoi esmen thì hoàn thành). Theo cách đó, trước giả gợi ý sự ứng nghiệm của lời hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ viết luật pháp Ngài vào trong lòng và trong trí họ (16, Gie 31:33). Một sự tận hiến như thế cho Đức Chúa Trời và cho công việc Ngài được thực hiện cho chúng ta nhờ Chúa Giê-xu là Đấng đã bày tỏ trọn vẹn một sự vâng phục hoàn toàn.
(He 10:11-14) Một số các ý niệm được nhấn mạnh trong He 9:25-28 và 10:1-4 giờ đây được nhắc lại. Các thầy tế lễ của Do Thái giáo hằng ngày tham gia các nghĩa vụ tôn giáo gồm có việc dâng đi dâng lại các của lễ đồng một thức là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được. Nhưng Chúa Giê-xu thì đã dâng chỉ một của lễ và có hiệu lực đời đời. Nét tương phản này được nhấn mạnh bằng bức tranh vị thầy tế lễ người Lê-vi đứng trước bàn thờ, cứ dâng đi dâng lại các của lễ chuộc tội, trong khi Chúa Giê-xu thì đã ngồi bên hữu Đức Chúa Trời vì công tác dâng tế lễ của Ngài đã hoàn tất. Cũng như trong Thi 110:1-7, vai trò làm vua của Đấng Mết-si-a được kết hợp với chức năng thầy tế lễ của Ngài, cho nên việc Ngài ngự ngôi trên trời cũng có nghĩa là Ngài cũng chờ những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy (110:1). Câu này báo trước lời truyền dạy trong câu 26-31, chỗ cho thấy là sự phán xét hầu đến sẽ “đốt cháy kẻ thù của Đức Chúa Trời”. Nhưng hàm ý tích cực của việc Chúa Cứu Thế ngự ngôi là nhờ dâng chỉ một của lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời (14). Như đã từng lưu ý trước đây, việc “hoàn thiện” các tín hữu gồm luôn việc khiến họ có được đầy đủ phẩm cách để đến gần Đức Chúa Trời hay khiến họ được vui hưởng niềm tin chắc chắn về một mối liên hệ giao ước mới với Đức Chúa Trời (He 7:11-12,9 9:9 10:1 11:40 12:23). Về cơ bản việc này có nghĩa là sự tha tội và làm sạch lương tâm khiến cho những kẻ nên thánh có thể tận hiến để phục vụ Đức Chúa Trời (xem phần chú thích c.10), và cuối cùng thì được nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình (9:15).
(He 10:15-18) Đức Thánh Linh nguyên là Đấng đã cảm thức các nhà tiên tri, cứ tiếp tục phán dạy qua các văn phẩm của họ cho các tín hữu thuộc mọi thế hệ (3:7). Qua lời tiên tri trong Gie 31:33-34 (được trích dẫn ở đây theo hình thức rút ngắn), Đức Thánh Linh đặc biệt làm chứng cho chúng ta về những điều đã được đề cập trong mấy câu trước đây. Lời tiên báo của tiên tri Giê-rê-mi về một sự tha tội dứt khoát cho thấy sẽ có lúc không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa. Nhưng gắn chặt với điều này là lời hứa về những tấm lòng và tâm trí được đổi mới, giúp định nghĩa sự hoàn thiện và thánh hoá mà trước giả vừa đề cập (10,14).
7. Một lời kêu gọi hãy nắm lấy những lợi ích của giao ước mới (He 10:19-39)
Đoạn này kết thúc cho tiểu mục chính của thư Hê-bơ-rơ được bắt đầu bằng lời kêu gọi trong He 5:11-6:20. Sau nhiều chương lý luận phức tạp liên quan đến giáo lý, trước giả rút ra nhiều hàm ý thực tiễn, nhắc lại một vài lời cảnh cáo và khích lệ đã được đưa ra trước đây. Như thế, một mối liên hệ chặt chẽ giữa thần học thuần chánh với đời sống trung tín của Cơ Đốc nhân đã được chứng minh. Nền tảng niềm tin quyết (dạn dĩ) của chúng ta với tư cách Cơ Đốc nhân là sự kiện chúng ta đã được đến gần Nơi Chí Thánh nhờ sự chết của Chúa Giê-xu và sự kiện Ngài cai trị như một thầy tế lễ lớn đã được) lập lên (để) cai trị nhà Đức Chúa Trời. Điều này phải thôi thúc chúng ta đến gần Đức Chúa Trời bằng đức tin hiểu các lời hứa của giao ước mới cách nghiêm túc để cầm giữ sự làm chứng và điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, và để suy xét xem đâu là cách tốt nhất khuyên giục nhau về lòng yêu thương và việc tốt lành.
Lời cảnh cáo tiếp theo đây (26-31) giống nhau về nhiều phương diện với lời truyền dạy ở 6:4-6 về tội lỗi của sự bội đạo. Từ ngữ huống chi cũng nhắc nhở về 2:1-5. Nếu những kẻ chối bỏ luật pháp Môi-se phải chịu sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, thì những kẻ chối bỏ Con Đức Chúa Trời và các phước hạnh của giao ước mới càng phải bị trừng phạt nghiêm khắc càng hơn biết bao nhiêu? Sinh tế độc nhất vô nhị của Ngài đã đưa ra một cơ sở cho sự tha tội. Chối bỏ điều đó, tức là chối bỏ luôn mọi hy vọng về sự cứu rỗi. Tuy nhiên cũng như trong chương 6, lời cảnh cáo được tiếp nối bằng một lời khích lệ hãy kiên trì (32-39). Các độc giả được nhắc nhở về sự đau đớn, sỉ nhục và gian nan (bắt bớ bách hại) mà họ từng trải nghiệm chẳng bao lâu sau khi họ trở thành Cơ Đốc nhân. Lòng dạn dĩ (lòng tin quyết) họ đã chứng tỏ lúc ấy và sự chăm sóc họ đã tự bày tỏ lẫn cho nhau cần phải được duy trì. Bằng một câu trích dẫn kết hợp Es 26:20 và Ha 2:2-3 trước giả nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có đức tin kiên trì để nhận lãnh được những gì Đức Chúa Trời đã hứa. Điều này chuẩn bị chúng ta đến với phần khai triển chủ đề về đức tin và việc chịu đựng trong đoạn chính yếu tiếp theo của phần lý luận này (He 11:1-12:13).
(He 10:19-21) Bằng lời lẽ đơn giản, mấy câu này tóm tắt luận cứ về giáo lý của mấy chương 7-10. Là anh chị em Cơ Đốc nhân với nhau, chúng ta có được hai điều, và trên cơ sở ấy, trước giả đưa ra lời khuyên răn theo ba phương diện trong 10:22-25. Một là, chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Giê-xu được dạn dĩ vào Nơi Chí Thánh. Từ ngữ đã được dịch là dạn dĩ được tìm thấy trong bốn văn cảnh quan trọng trong thư Hê-bơ-rơ (3:6 4:16 10:19 10:35). Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lòng dạn dĩ này trong Phúc Âm. Về cơ bản, nó là lòng dạn dĩ vì được tự do và công khai đến gần Đức Chúa Trời (dạn dĩ vào Nơi Chí Thánh) trên cơ sở là sinh tế có một không hai của Chúa Giê-xu (nhờ huyết Đức Chúa Giê-xu). Giữa việc Chúa Cứu thế vào nơi thánh trên trời và chúng ta cũng được vào đó có một mối liên hệ mật thiết với nhau (4:14-16 6:19-20). Ngài đã mở ra cho chúng ta một con đường mới và sống để chúng ta vào trước sự hiện diện Đức Chúa Trời ngang qua cái màn nghĩa là ngang qua xác Ngài. Cái màn trong đền tạm dưới đất là phương tiện để vị thầy tế lễ thượng phẩm vào Nơi Chí Thánh. Nói một cách ẩn dụ, thì sự chết hy sinh của Chúa Giê-xu là cái màn hay là phương tiện vào nơi thánh trên trời đối với Ngài và đối với tất cả những ai tin Ngài. Điều thứ hai chúng ta có làvới tư cách là anh chị em Cơ Đốc, là một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời. Theo câu 3:6 thì rõ ràng là “nhà Đức Chúa Trời” có nghĩa là dân sự Đức Chúa Trời. Thầy tế lễ lớn của chúng ta khiến chúng ta có thể cùng nhau đến gần Đức Chúa Trời để dự phần niềm hi vọng được sống mãi trong sự hiện diện Ngài (c.22-23). Nhưng sự đề cập bóng gió này về kinh nghiệm thông thường của chúng ta với tư cách Cơ Đốc nhân cũng có nghĩa là phải có trách nhiệm về nhau (c.24-25).
(He 10:22-25) Trong mấy câu này, có ba lời khuyến giục, cho thấy chúng ta phải đáp lại như thế nào với các chân lý của giáo lý quan trọng của mấy chương sách đi trước. Chúng đều thuộc thì hiện tại trong Hi văn, chỉ rõ chúng ta phải liên tục bày tỏ đức tin (22), hi vọng (23) và tình yêu thương (24-25) Sự kêu gọi hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn đến gần Đức Chúa Trời đặc biệt nhắc lại 4:16 và lời truyền dạy càng tổng quát hơn của trước giả về vấn đề nhờ Chúa Giê-xu để đến gần Đức Chúa Trời (xem phần chú thích của 7:25). Chúng ta được hưởng các lợi ích của sinh tế và quyền cai trị cõi trời của Ngài bằng cách lấy lòng tin quyết cầu xin ơn thương xót và sự giúp đỡ trong thì giờ có cần. Lòng thật thà với đức tin đầy dẫy là một tấm lòng chứng tỏ sự tin cậy và tận hiến hoàn toàn, làm ứng nghiệm lời hứa về một tấm lòng mới dành cho dân sự Đức Chúa Trời trong Gie 31:33 và Es 36:26-27. Điều khiến cho việc ấy có thể xảy ra được là chúng ta phải có một tấm lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu. Việc mở đầu giao ước cũ vốn được kết hợp với việc rảy huyết trên dân Y-sơ-ra-ên (He 9:18-20). Huyết Chúa Giê-xu đã đổ ra để mở ra giao ước mới. Điều này cũng được ứng dụng cho tấm lòng chúng ta để tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi ý thức phạm tội khi chúng ta tin nhận Phúc Âm và đặt lòng tin cậy vào sinh tế của Ngài chuộc tội cho chúng ta (9:13-14). Thân thể rửa bằng nước trong có lẽ chỉ về phép báp-tem như dấu hiệu bên ngoài chỉ việc “tẩy rửa” tấm lòng chúng ta.
Sự kêu gọi hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay nhắc lại 4:14. Đây là một lời nhắc nhở rằng sự cứu rỗi của chúng ta vẫn còn phải được nhận biết trọn vẹn (4:1 9:28 10:37-39 13:14) và đời sống chúng ta cần phải được kiểm soát bởi điều trông cậy của chúng ta. Mối liên hệ giữa đức tin và sự trông cậy sẽ được khai thác trong đoạn 11. Cơ sở để duy trì một lời làm chứng cho hi vọng của chúng ta, đó là Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
Tiếng gọi thứ ba trong phân đoạn này là hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành. Vì chúng ta đã được dự phần vào các lợi ích của công tác thầy tế lễ thượng phẩm của Chúa Cứu Thế với tư cách các anh chị em Cơ đốc, chúng ta có trách nhiệm phải chăm sóc, phục vụ lẫn nhau trong tình yêu thương (3:12-13 12:15-16). Hai vế trong câu 25 giải thích chúng ta có thể giục giã nhau để có được một đời sống tin kính như thế nào (hai vế này không phải là tách rời nhau ra như trong bản NIV). Về mặt tiêu cực, chúng ta có thể lo lắng chăm sóc lẫn nhau bằng cách không bỏ qua sự nhóm lại cùng nhau. Trước giả dùng một danh từ chỉ sự nhóm lại của họ (Hi văn episynagoge, hội chúng) có nghĩa giống như “nhà thờ” và gợi ý về một buổi nhóm lại chính thức thuộc một loại nào đó. Một vài người trong đám họ có thói quen bỏ qua trách nhiệm này. Lời cảnh cáo về sự bội đạo tiếp theo đây (26-39) hàm ý rằng những người đang cố ý và thường xuyên bỏ qua mối thông công của tín hữu Cơ Đốc đang gặp nguy cơ từ bỏ chính Chúa! Về mặt tích cực, chúng ta có thể giục giã nhau yêu thương và làm việc lành bằng cách nhóm lại để khuyên bảo (khích lệ) lẫn nhau. Như trong 3:13 một sự khích lệ như thế nên hiểu tốt nhất là bao gồm một sự khuyến giục dựa trên Kinh Thánh, noi theo gương của chính trước giả trong “lời khuyên bảo” của ông (13:22). Tính cấp bách của việc này được nhấn mạnh bằng một câu đề cập sự gần kề của kỳ tái lâm và sự phán xét sau cùng của Chúa Cứu Thế (và hễ anh em thấy Ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy).
(He 10:26-28) Mấy câu này đề cập sự phán xét của Đức Chúa Trời ở cuối câu 25 và triển khai lời cảnh cáo về việc chống nghịch Đức Chúa Trời, được tìm thấy trong những khúc sách trước (2:1-4 3:7-4:11 6:4-8). Cách dịch nếu chúng ta cố ý cứ phạm tội của bản NIV diễn đúng ý nghĩa của phân từ thì hiện tại, “phạm tội” trong Hi văn. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu tưởng rằng điều này chỉ đề cập cách ăn ở cư xử tội lỗi là điều hiển nhiên đáng buồn trong đời sống chúng ta. Văn cảnh và điểm giống nhau của nó với các khúc sách đi trước cho thấy trưởc giả đang nhìn vào một tội đặc thù là sự bội đạo hay cứ tiếp tục chối bỏ Chúa Cứu Thế. Nếu nhờ Phúc Âm người ta đã nhận biết lẽ thật (chân lý) rồi, nhưng lại quay lưng lại với chân lý ấy, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa. Chẳng còn có cách nào khác nữa để được tha tội và được Đức Chúa Trời chấp nhận ngoài sự chết của Con Ngài. Chối bỏ sinh tế chuộc tội một lần là đủ cả tức là chối bỏ mọi hy vọng đê có thể được sự cứu rỗi. Tất cả những gì còn lại cho những người như thế chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi. Số phận của họ cũng y như những người chưa hề quay lại với Chúa Cứu Thế hay cương quyết chống lại Phúc Âm! Ngay cả dưới giao ước cũ, bất cứ ai đã phạm (chối bỏ) luật pháp Môi-se và cố ý phản loạn cũng đều phải chết đi không thương xót nếu có hai ba người làm chứng (Phu 17:2-7). Huống chi kẻ khước từ và chống lại những điều khoản của giao ước mới sẽ càng bị trừng phạt nghiêm khắc hơn biết bao nhiêu?
(He 10:29-31) Tính chất đáng sợ của sự bội đạo được mô tả bằng ba vế song đối nhau. Kẻ quay lưng lại với Chúa Cứu Thế đã thật sự giày đạp Con Đức Chúa Trời, là khinh dể Ngài bằng cách chối bỏ bản tính và lai lịch thật sự của Ngài. Người như thế cũng coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ (để được) nên thánh là ô uế. Sự chết của Chúa Cứu Thế mở đầu cho các phước hạnh của giao ước mới và đưa chúng ta vào một mối liên hệ thánh khiết (hay được thánh hoá) với Đức Chúa Trời (He 10:10 13:12). Từ bỏ mối liên hệ ấy tức là xem huyết Ngài là ô uế (Hi văn koinon, tầm thường, bất khiết) chớ không phải là phương tiện thiêng liêng, đã được Đức Chúa Trời chọn để hoàn tất việc cứu rỗi chúng ta. Kẻ xây bỏ Chúa Cứu Thế cũng khinh lờn (sỉ nhục) Đức Thánh Linh ban ơn. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đưa chúng ta đến chỗ biết tin cậy vào ân điển Ngài và nắm lấy các lợi ích của công lao Chúa Cứu Thế cho chính mình (6:4-5). Thánh Linh cũng ban cho cách nhưng không các ân tứ của Đức Chúa Trời, xác nhận chân lý của Phúc Âm (2:4). Sự trừng phạt không tránh được đang chờ đợi các Cơ Đốc nhân bội đạo được gợi ý bằng hai câu trích dẫn từ Cựu Ước. Vai trò của Đức Chúa Trời là báo thù hay báo ứng đối với đủ loại tội lỗi (Phu 32:35). Nhưng Ngài từng mặc khải đặc biệt là sẽ xét đoán dân mình (Phu 32:36) bảo vệ những điều chân chính bằng cách cất đi cái sai cái giả. Sa vào tay Đức Chúa Trời lúc Ngài hành động như thế để phán xét thì thật là đáng kinh khiếp thay!
(He 10:32-34) Cũng như trong chương 6, tiếp sau một lời cảnh cáo nghiêm trọng là những lời khích lệ và hi vọng. Ở đây, chúng ta được ban cho một vài cái nhìn sáng suốt vào kinh nghiệm của các độc giả đầu tiên, chẳng bao lâu sau khi họ ăn năn quy đạo (sau khi anh em đã được soi sáng rồi). Họ được kêu gọi nhớ lại những gì họ đã chịu đựng (giữ vững lập trường, Hi văn hypemeinate). Những từ ngữ tương tự được dùng trong câu 36 và trong He 12:1,2,3,7 để nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục chịu đựng. Kinh nghiệm bị bắt bớ bách hại của họ được mô tả bằng một ẩn dụ về cuộc thi tài điền kinh: đây là một cuộc chạy đua lớn (chiến trận lớn) về những sự đau đớn (12:1-3). Bản thân họ từng chịu sỉ nhục, gặp gian nan như làm trò cho thiên hạ xem, cũng chia sẻ hoạn nạn với nhiều người khác cũng bị đối đãi cùng một cách. Trong phần Dẫn nhập, đã có lý luận cho rằng cuộc bắt bớ bách hại chưa đến nỗi đổ huyết này (12:4) có lẽ vốn có liên hệ với chuyện rắc rối đã xảy ra tại Rô-ma lúc Claudius làm hoàng đế. Sự cảm thông của họ đối với những người bị tù và việc họ vui vẻ chấp nhận bị tịch thu tài sản sở dĩ có được là nhờ họ tin chắc vào các lời hứa của Đức Chúa Trời. Họ biết rằng Chúa Giê-xu đã cho họ được thừa hưởng của cải quý hơn hằng còn luôn (13:14) và điều này đã chi phối suy nghĩ của họ về hiện tại và các giá trị của nó.
(He 10:35-36) Việc nhớ lại đức tin, hy vọng và tình yêu thương đó của họ vào những ngày đầu tiên trở thành nền tảng cho một lời kêu gọi chớ bỏ lòng dạn dĩ. Sự tin chắc mình được tự do và công khai đến gần Đức Chúa Trời, là điều mà huyết Đức Chúa Giê-xu ban cho (19 4:16), phải được nắm lấy và được công khai bày tỏ (3:6 4:14 10:23). Cho dù họ đang gặp khó khăn thế nào, niềm tin chắc vào Đức Chúa Trời mà các độc giả đã từng chứng minh trước đó không thể bị từ bỏ hay xem nhẹ. Niềm tin chắc đó sẽ được nhận phần thưởng lớn (6:10). Sự cứu rỗi không hề lệ thuộc vào nỗ lực của loài người, vì nó hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng bao lâu sự cứu rỗi hãy còn là một lời hứa, thì chúng ta cần phải nhịn nhục trong đức tin để làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời và nhận được như lời đã hứa cho mình.
(He 10:37-39) Một lời khích lệ đặc biệt hãy nhịn nhục trong đức tin được tìm thấy trong lời bảo đảm rằng Chúa Cứu Thế sẽ trở lại không chậm trễ để làm hoàn thành kế hoạch cứu rỗi của Ngài. Trước giả trích dẫn Ha 2:3-4 theo một hình thức dựa vào bản dịch Cựu Ước ra Hi văn (bản LXX). Bản dịch ấy đã biến chủ từ thành một con người, chớ không phải như một khải tượng hay một mặc khải như trong bản văn Hi Bá Lai văn và các bản dịch Anh văn. Theo bản Hi Bá Lai văn, hàm ý là Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng sắp đến và Ngài không chậm trễ đâu. Mấy lời mở đầu (Còn ít lâu nữa, thật ít lâu nữa) có lẽ vốn từ Es 26:20 nhấn mạnh luận điểm ở đây và gợi ý rằng các độc giả đang thắc mắc về vấn đề phải kiên nhẫn chờ đợi Chúa Cứu Thế tái lâm. Đây chắc phải là một trường hợp đặc biệt nếu họ thấy càng nhiều sự bắt bớ và hoạn nạn đang ở phía chân trời. Trước giả cũng thay đổi thứ tự các câu trong Ha 2:4 để làm sáng tỏ rằng những người đang sống bởi đức tin (người công bình của ta) chớ không phải là Đấng sẽ đến có thể bị cám dỗ để lui đi. Đức Chúa Trời sẽ chẳng đẹp lòng với những kẻ lui đi do vô tín: họ sẽ bị hư mất (tiêu diệt) trong cơn phán xét hầu đến. Tuy nhiên, trước giả kết thúc chương sách này bằng một âm hiệu tích cực gợi ý rằng các độc giả của ông là những kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi (nguyên văn: “những người có đức tin dẫn đến sự bảo tồn linh hồn”).
5. ĐỨC TIN VÀ SỰ NHỊN NHỤC (He 11:1-12:13)
Sau khúc sách cảnh cáo trong He 6:4-8 trước giả khích lệ các độc giả của mình kiên trì nhẫn nhục (6:9-12), rồi kết thúc bằng việc khuyến khích họ “bắt chước những người bởi đức tin và lòng nhịn nhục mà được hưởng đều đã được hứa ban cho họ”. Khuôn mẫu này cũng được tìm thấy ở cuối chương 10. Tiếp theo một lời cảnh cáo về hậu quả của việc chối bỏ Chúa Cứu Thế, là những lời khích lệ giữ vững “lòng tin quyết” và “kiên trì nhẫn nhục” trong đức tin để “nhận được lời đã hứa” (10:26-39). Rồi trong chương 11, nhiều tấm gương về đức tin từ Cựu Ước đã được nêu ra. Tuyệt đỉnh của bảng danh dự tuyên dương đức tin này là chân dung của Chúa Giê-xu, là “cội rễ và cuối cùng (tác giả và là người kiện toàn) của đức tin” (12:2-3). Các tín hữu phải nhìn vào “nhiều người chứng kiến… như đám mây rất lớn” này, đặc biệt là vào Chúa Giê-xu để được khích lệ mà chịu đựng sự chống đối cũng như đủ mọi gian khổ đủ loại (12:1-13).
Dù 11:1-40 là một chỉnh thể được định nghĩa thật rõ ràng và kết cấu cẩn thận, 12:1-13 vẫn có liên hệ chặt chẽ với nó. Mối liên hệ giữa đức tin và sự nhịn nhục được đề cập trong chương 11 đã trở thành cơ sở cho lời kêu gọi hãy bền đỗ trong 12:1-13. Như đã lưu ý, sự nhịn nhục của Chúa Giê-xu trên thập tự giá cũng như thái độ chịu sự sỉ nhục của hình phạt đó đã được trình bày như một tấm gương tối cao về đức tin. Trong cả đoạn này, trước giả nhấn mạnh vào điểm tương đồng giữa hoàn cảnh của các tín hữu trong thời Cựu Ước với các Cơ Đốc nhân đang chờ đợi sự ứng nghiệm các chủ đích của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, rõ ràng là công tác của Chúa Cứu Thế ban cho chúng ta một sự chắc chắn lớn hơn rằng mình sẽ nhận được điều Đức Chúa Trời đã hứa.
1. Ca ngợi đức tin (He 11:1-40)
Trước hết đức tin đã được định nghĩa (1-2) không phải theo một cách bao quát, nhưng nhằm chuẩn bị cho luận cứ của cả đoạn sách này. Giáo lý về vũ trụ đã được hình thành do lời của Đức Chúa Trời đã được chứng minh là nền tảng cho loại đức tin mà trước giả đang khích lệ (3). Di chuyển một cách có hệ thống từ Sáng Thế Ký đến sách Giô-suê, ông nêu cao vai trò của đức tin trong đời sống của các cá nhân vốn là tâm điểm các kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời (4-31). Sự chú ý đặc biệt được dành cho Áp-ra-ham với Sa-ra (8-19) và Môi-se (23-28). Tiếp theo là một hồi tưởng ngắn về thánh sử từ giai đoạn Các Quan xét cho đến cuộc khởi nghĩa của dân Maccabees vào thế kỷ thứ hai T.C. (32-38), tập trung vào những cơn thử thách mà những người vẫn tận trung với Đức Chúa Trời đã phải chịu đựng. Hai câu cuối cùng đối chiếu tình hình của các tín hữu thời Cựu Ứơc với tình trạng các Cơ Đốc nhân (39-40), tạo thành một nhịp cầu bắc sang chương tiếp theo.
Trong một thế giới mà nhiều người chối bỏ đức tin, xem đó chỉ là “tư tưởng viễn vông” hay đơn giản là đồng nhất nó với các tín ngưỡng và tập quán hành đạo của một tôn giáo cá biệt (thí dụ như Hồi giáo), thì thật tốt để có được một bức tranh bao quát về loại đức tin thật sự đẹp lòng Đức Chúa Trời. Thư Hê-bơ-rơ chỉ ra mối liên hệ giữa đức tin, hy vọng, sự vâng lời và kiên trì, minh hoạ rằng nó vượt hẳn sự nhìn nhận về tri thức đối với một số tín ngưỡng. Đức tin mà Đức Chúa Trời đề cao là loại đức tin hiểu Đức Chúa Trời ở Lời Ngài cũng như sống với thái độ trông chờ và vâng lời trong hiện tại, mong đợi Ngài sẽ làm ứng nghiệm các lời hứa của Ngài. Một đức tin như thế đem đến hoạn nạn và bắt bớ bách hại dưới nhiều hình thức.
(He 11:1-2) Ở đây, chúng ta khám phá được các đặc điểm thiết yếu của đức tin theo quan điểm của trước giả. Đức tin “đối phó” những việc tương lai (là… những điều mình đương trông mong) và những điều vô hình (những điều mình chẳng xem thấy). Bản NIV (dịch câu này là “chắc chắn về những gì chúng ta hi vọng”) nhấn mạnh đến đức tin như một sự bày tỏ lòng tin quyết của mình nơi các lời hứa của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, cũng có thể dịch “đức tin là bản chất (hypostasis) của những điều mà chúng ta kỳ vọng” (AV), hay “đức tin đem bản chất đến cho các hi vọng của chúng ta” (NEB). Một cách dịch như thế gợi ý rằng những điều mình đương trông mong sẽ trở thành có thật, có thực chất nhờ sự vận dụng đức tin. Điều này không có nghĩa là Phúc Âm là thật, nếu chúng ta tin nó! Đúng hơn, thực tại của điều mà chúng ta trông mong được xác nhận trong kinh nghiệm từng trải của chúng ta khi chúng ta sống bằng đức tin nơi các lời hứa của Đức Chúa Trời. Một lần nữa, đức tin biết chắc... những điều mình chẳng xem thấy. Nó là phương tiện để “chứng minh” hay “thử nghiệm” những thực tại vô hình, chẳng hạn như sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, sự thành tín của Ngài đối với lời phán của Ngài, và quyền kiểm soát của Ngài trên thế giới chúng ta và những sự việc trong đó. Nếu định nghĩa này có vẻ trừu tượng, ý nghĩa của nó sẽ trở nên cụ thể hơn trong minh hoạ tiếp theo. Vì có đức tin như thế mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt (2, “được khen ngợi”, Hi văn emartyrèthèsan, c.4,5,39). Theo ghi chép của Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã chứng thực cho đức tin của họ, và như thế là đã biến họ thành những nhân chứng (12:1 Hi văn martyres) của đức tin thật cho chúng ta.
(He 11:3) Trước giả bắt đầu tại khởi điểm của Sáng Thế Ký, vì đức tin vào Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá của muôn vật mọi loài hiện hữu là căn bản của quan điểm về thực tại của Thánh Kinh. Bởi đức tin chúng ta biết rằng thế gian (Hi văn aiơnas, như trong 1:2) đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời đang nắm quyền cai trị kiểm soát cả cõi thiên nhiên lẫn lịch sử, cả quá khứ lẫn hiện tại, thì mọi thế hệ các tín hữu đều có thể tin cậy vào các lời hứa của Ngài về tương lai, cho dù họ có phải trả bằng giá nào đi nữa. Khi trước giả viết những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến, là ông ngụ ý chỉ câu định nghĩa đức tin ở câu 1. Đức tin biện biệt được rằng cái vũ trụ của không gian và thời gian này vốn có một nguồn gốc vô hình, và nó cứ tiếp tục lệ thuộc vào lời của Đức Chúa Trời. Một đức tin như thế dựa trên sự mặc khải Ngài đã ban cho chúng ta trong Kinh Thánh.
(He 11:4-6) Lần mở các trang Cựu Ước, trước giả lưu ý rằng đức tin của A-bên đã được bộc lộ khi ông dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in. Chỗ khác nhau không phải là ở bản chất của các của lễ (Sa 4:3-4) mà là ở thái độ của hai anh em này (như hàm ý trong 4:4-7). Ca-in từng được dạy rằng của lễ của ông ta sẽ được vui nhận nếu ông ta làm điều thiện (Ch 15:8). Nhưng Đức Chúa Trời chứng thực cho sự công chính của A-bên và cho đức tin đã thôi thúc ông khi Đức Chúa Trời làm chứng (tốt) về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy. A-bên hãy còn nói theo nghĩa là ông đang làm chứng cho loại đức tin đẹp lòng Đức Chúa Trời. Từng trải của Hê-nóc để việc được cất lên (khi hãy còn sống) và không hề thấy sự chết, là dấu hiệu cho thấy ông đã được chứng (khen) rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời. Sa 5:22,24 nhấn mạnh rằng ông “đã đồng đi cùng Đức Chúa Trời” và người Hi Bá Lai hiểu câu đó theo nghĩa là đặc điểm của đời sống ông tức là đức tin của ông. Vì không có đức tin thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài (6). Cách nói chung chung này phù hợp với hai yếu tố trong định nghĩa về đức tin đã được đưa ra trong câu 1. Bất cứ ai đến gần Đức Chúa Trời (như ở He 4:16 7:25 10:22 12:22) đều phải tin rằng có Đức Chúa Trời (chắc chắn về một điều mình không nhìn thấy) và tin rằng Ngài là Đấng hay thưởng cho những kẻ tìm kiếm Ngài (tin rằng các lời hứa của Ngài sẽ ứng nghiệm).
(He 11:7) Lúc Nô-ê được mách bảo về những việc chưa thấy, ông được báo cho biết về cơn nước lụt đoán phạt đã gần kề (Sa 6:13-22). Ông đã phản ứng lại với lời phán đó của Đức Chúa Trời bằng thái độ thành tâm kính sợ hay “kính sợ đầu phục” (mà danh từ tương ứng đã được dùng mô tả Chúa Giê-xu trong He 5:9). Biểu hiện đức tin của mình bằng việc đóng một chiếc tàu, ông đã cứu được gia đình mình và định tội thế gian. Nô-ê đã trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin theo nghĩa rằng cách ăn ở cư xử công chính của ông (Sa 6:9 7:1) đã được chứng minh thật rõ ràng là nhờ biết vận dụng đức tin.
(He 11:8-10) Áp-ra-ham thật sự là trung tâm sự chú ý, cho đến câu 19, một phần vì ông là một tấm gương tuyệt vời về đức tin, và một phần vì ý nghĩa của việc ông hoàn thành kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Lời hứa cho Áp-ra-ham về xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp (12:1) đã được nhắc lại trước tiên. Trên cơ sở của lời hứa này, ông đã vâng lời đi mà không biết mình đi đâu. Đức tin của Áp-ra-ham đã bộc lộ ngay tức khắc bằng sự vâng theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời. Động cơ thúc đẩy sự vậng lời đó là hi vọng sở hữu đất hứa. Thế là ông đã kiều ngụ như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại cùng với những kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. Khi trước giả mô tả là Áp-ra-ham chờ đợi một thành có nền vững chắc mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập, ông muốn mô tả mục tiêu tối hậu của Áp-ra-ham là quê hương trên trời hay thành trên trời được đề cập trong He 11:13-16 12:22-24 và 13:14. Trông đợi Đức Chúa Trời ban cho mình một cơ nghiệp dưới đất này các tộc trưởng đã nhận thức rằng cuộc đời vốn không phải là mục đích của chính nó, mà chỉ là một cuộc hành hương hướng về một tương lai mà chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thể xây dựng cho dân Ngài.
(He 11:11-16) Lời hứa thứ hai của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham là Ngài sẽ ban cho ông thật nhiều con cháu và khiến chúng trở thành một dân tộc lớn (Sa 12:2 He 13:16 15:5). Tuy Áp-ra-ham đã quá tuổi chỉ còn chờ chết mà thôi và Sa-ra lại hiếm muộn nữa, nhưng bởi đức tin, ông đã có thể làm cha. Nền tảng cho lòng tin quyết của ông là lời Đức Chúa Trời và ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ thành tín với lời của Ngài (10:23). Cho nên sự ra đời của Y-sác là khởi đầu sự ứng nghiệm của lời hứa về hậu duệ (6:15). Nhưng cả Áp-ra-ham, Y-sác lẫn Gia-cốp đều chết đi mà vẫn chưa nhận được xứ Ca-na-an làm sản nghiệp dưới đất này. Những lời hứa ấy chỉ được trông thấy và chào mừng từ đằng xa (13). Khi họ thừa nhận mình chỉ là kẻ khách và bộ hành trên đất (Sa 23:4 47:4,9) họ cho thấy rõ ràng rằng họ đang đi tìm nơi quê hương riêng cho mình. Nếu họ chỉ luôn nhớ xứ Mê-sô-bô-ta-mi là nguyên quán của họ, chắc họ đã có đủ thì giờ để quay trở về đó và lấy đó làm quê hương. Trái lại, họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời. Như trong câu 10, trứơc giả vẽ ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa đức tin của các tổ phụ Y-sơ-ra-ên với đức tin của các Cơ Đốc nhân. Chúng ta đều là khách hành hương trên một hành trình của đức tin, bị buộc chặt vào với cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình. Nhờ học tập tin cậy Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh của họ, các vì tộc trưởng đã trông đợi phần thưởng nằm bên ngoài cơ nghiệp trên đất của họ. Họ không có được cùng một lời hứa rõ ràng về một quê hương trên trời như chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời đã đẹp lòng về đức tin của họ, và qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, đã sắm sẵn cho họ một thành (là thành Giê-ru-sa-lem trên trời, được đề cập ở He 12:22-24).
(He 11:17-19) Đức tin của Áp-ra-ham còn được thử nghiệm thêm nữa khi ông được Đức Chúa Trời yêu cầu dâng con một mình lên làm sinh tế (Sa 22:1-8). Vì Đức Chúa Trời đã tuyên bố cụ thể rằng hậu duệ của ông sẽ từ Y-sác mà ra (21:12), nên dường như chẳng có hy vọng gì nếu Y-sác phải chết đi. Tuy nhiên người tự nghĩ (lý luận) rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại. Ông trông mong mình sẽ có thể từ nơi dâng sinh tế trở về cùng với Y-sác (22:5) vì biết rằng sự ứng nghiệm các chủ đích của Đức Chúa Trời lệ thuộc vào sự tồn tại của Y-sác. Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giải quyết vấn đề ấy. Khi thư Hê-bơ-rơ kết luận rằng Áp-ra-ham đã nhận lại Y-sác từ cõi chết, nói theo nghĩa bóng (Hi văn en parabolè He 9:9), thì ý nghĩa có lẽ là biến cố này dự báo trước sự sống lại của Con một và duy nhất của Đức Chúa Trời.
(He 11:20-22) Đức tin của Y-sác được phơi bày đặc biệt lúc ông đã cao tuổi, khi ông chúc phước cho hai con trai mình về những sự hầu đến (Sa 27:27-40). Theo ý định của Đức Chúa Trời, trái với ý thích và ý định tự nhiên của Y-sác, kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ ứng nghiệm qua dòng dõi của Gia-cốp là người con trai út. Đức tin của Gia-cốp cũng bộc lộ tương tự lúc gần chết đã nương trên gậy mình mà lạy (47:31). Gia-cốp đã chúc phước cho hai con trai của Giô-sép, ban phước nhiều hơn cho đứa nhỏ (48:8-20). Rồi lúc gần qua đời, Giô-sép đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra khỏi Ai Cập để ứng nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời và truyền lệnh về hài cốt mình sẽ phải được chôn trong đất hứa (50:24-25). Trong ba biến cố này, các vị tộc trưởng đã nhìn xa hơn ngày chết của chính họ để thấy phần thưởng mà Đức Chúa Trời đã hứa cho dân Ngài.
(He 11:23-28) Trong đoạn này, đức tin được hình dung như một năng lực nâng đỡ dân sự của Đức Chúa Trời trong những thời kỳ họ bị chống đối và gặp hoạn nạn, giúp họ thắng hơn sợ hãi và cám dỗ cũng như làm ứng nghiệm các chủ đích của Ngài đối với họ. Thái độ của cha mẹ Môi-se đã được nêu cao trước nhất. Họ không hề bộc lộ nỗi sợ hãi đối với chiếu mạng của Pha-ra-ôn về việc sát hại các con trai của người Hê-bơ-rơ nên đã đem giấu Môi-se trong ba tháng lúc ông vừa mới sanh ra (23 Xu 1:22-2:2). Đức tin nơi Đức Chúa Trời không thể sống chung với nỗi lo sợ các lực lượng thù địch.
Lúc Môi-se khôn lớn ông đã chứng minh đức tin của mình bằng cách bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn (24 2:5-12). Cũng như Áp-ra-ham, ông đã từ bỏ các tiện nghi và sự an ninh trên đất này để phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật. Ông đã có thể trọn hưởng sự vui thú của tội lỗi (25) và mọi của châu báu xứ Ê-díp-tô (26), nhưng các mục tiêu của ông đều khác hẳn. Thật ra, khi ông từ bỏ địa vị của mình trong triều đình Ai Cập, ông đã chọn cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp. Với Môi-se thì chịu sỉ nhục vì Đấng Christ là loại của cải còn quan trọng hơn mà ông cần phải trải nghiệm. Đồng nhất hoá với dân được xức dầu của Đức Chúa Trời, Môi-se kinh nghiệm sự sỉ nhục và lời trách mắng mà Đấng Mết-si-a đã nhận chịu (He 12:2-3 13:13 Thi 89:50-51 IPhi 4:12-16). Môi-se đã nêu gương về đức tin như đã được định nghĩa trong câu 1, vì bí quyết của ông là ngửa trông sự ban thưởng (tham khảo câu 6) và kiên trì nhẫn nhục vì ông đã nhìn thấy Đấng không thấy được (26-27). Môi-se kính sợ Đức Chúa Trời mà không sợ dân Ai Cập! Tin rằng một sự đoán phạt khủng khiếp giáng trên các con đầu lòng của người Ai Cập chắc chắn sẽ xảy ra, Môi-se đã vâng lời Đức Chúa Trời để giữ lễ Vượt qua và làm phép rưới huyết (28 Xu 11-12). Huyết trên cửa nhà của những người Y-sơ-ra-ên nghĩa là Đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên. Đức tin của Môi-se là một yếu tố thiết yếu trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài.
(He 11:29-31) Đức tin của dân Y-sơ-ra-ên lúc họ vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô được cảm thúc bởi các lời hứa của Đức Chúa Trời mà Môi-se đã đem đến cho họ (Xu 14:13-14). Với các lực lượng Ai Cập đuổi theo, họ không hề được đức tin thúc giục nên bị nhận chìm bởi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Hai thí dụ cuối cùng về đức tin được đưa ra từ giai đoạn dân Y-sơ-ra-ên chiếm đất hứa. Các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống vì dân Y-sơ-ra-ên hành động đáp lại lệnh truyền lạ lùng của Đức Chúa Trời và đi vòng quanh bảy ngày (Giô-suê 6). Đức tin của kỵ nữ Ra-háp được bộc lộ khi bà sẵn sàng tiếp rước hai thám tử người Y-sơ-ra-ên (Gios 2:8-11). Bà kính sợ Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên hơn vua Giê-ri-cô, nên đã không chết khi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng trên những kẻ chẳng tin trong thành phố ấy (Gios 6:22-25). Là một phụ nữ, một người ngoại quốc và là một tội nhân công khai, bà đã tham gia đoàn người được cứu rỗi bởi đức tin.
(He 11:32-38) Trong khúc sách tóm tắt này, trước giả đặc biệt đề cập bốn quan xét (Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-the), một vị vua (Đa-vít), cùng với Sa-mu-ên và các đấng tiên tri như những gương tốt về đức tin. Rồi ông mô tả những việc đã thực hiện bằng đức tin như thế trong lãnh vực chính trị và quân sự (33-34), với một ám chỉ đặc biệt về Đa-ni-ên (bịt mồm sư tử, Da 6:22-23) và ba bạn thân của ông bị ném vào lò lửa hực tại Ba-by-lôn (tắt ngọn lửa hừng, 3:25-28). Thành tựu tối cao của đức tin là chiến thắng trên cái chết để được sống lại (35). Một số phụ nữ có được người nhà mình chết sống lại trong đời này (IVua 17:17-24 IIVua 4:17-37). Nhiều người khác đã chịu tra tấn mà không chịu giải cứu khỏi cảnh tù ngục để được sự sống lại tốt hơn, tức là sự sống vĩnh hằng. Một số tấm gương sinh động như thế đã được tìm thấy trong sách nguỵ kinh được soạn thảo sau giai đoạn lịch sử được chép trong Cựu Ước (thí dụ IIMacc. 6:19,28 7:9,11,14). Nhiều hình ảnh về cảnh bắt bớ tù đày được chồng chất lên nhau như thuyết phục các độc giả đầu tiên của thư Hê-bơ-rơ rằng kinh nghiệm của họ cũng giống như kinh nghiệm của các tín hữu thuộc các thế hệ về trứơc (36-38 He 10:32-34) để khích lệ họ kiên trì trong đức tin.
(He 11:39-40) Mấy câu này đưa ra một kết luận phù hợp với chương 11, và là một phần chuyển tiếp sang lời kêu gọi của chương 12. Hết thảy những người đó dầu nhân đức tin đã được chứng tốt theo nghĩa là Đức Chúa Trời đã chứng thực cho đức tin của họ và biến họ trở thành các chứng nhân của đức tin thật cho nhiều người khác (c.2 He 12:1). Song chưa hề nhận lãnh điều đã hứa cho mình (13). Tuy họ được thấy một số lời hứa đặc thù đã được ứng nghiệm ngay trong đời này (6:15 11:11,33), không ai trong số họ đã từng trải được các phước hạnh kỷ nguyên của Đấng Mết-si-a và của giao ước mới. Trong ý muốn nhân từ của Ngài, Đức Chúa Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta theo nghĩa rằng họ sẽ chỉ cùng được hưởng sự trọn vẹn nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu chung với chúng ta mà thôi. Luận điểm của trước giả là nhấn mạnh vào đặc ân lớn lao được sống “trong những ngày sau rốt này” (1:2). Về vấn đề hoàn thiện các tín hữu, xin xem các chú thích trong câu 10:14. Lợi ích tối hậu của công lao của Chúa Cứu Thế vì chúng ta là sự dự phần vào cơ nghiệp đời đời đã được hứa ban.
2. Một lời kêu gọi sự nhẫn nhục (He 12:1-13)
Chủ đề của khúc sách này là sự cần thiết phải kiên trì hay nhịn nhục chịu đựng khi gặp thử thách, như cách sử dụng thuật ngữ tương tự trong câu 1,2,37 cho thấy (10:32,36). Khai triển hình ảnh về một cuộc tranh tài điền kinh, trước giả khuyến giục độc giả của mình hãy nhìn vào nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn trong chương 11 để được khích lệ lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua của đức tin (1). Như một cao điểm cho phần trình bày của mình về các vị anh hùng đức tin, trước giả nhắc lại sự kiên trì chịu khổ của Chúa Giê-xu trước sự thương khó cùng cực, là điều sỉ nhục và sự đối nghịch, rồi liên hệ điều này với hoàn cảnh các độc giả của ông (2-4). Điều này dẫn tới một suy gẫm về cách Đức Chúa Trời sửa phạt con cái Ngài bằng gian khổ, căn cứ vào Ch 3:11-12 (5-11). Thử thách đối với chúng ta là để nhận thức được ý nghĩa và chủ định của việc Đức Chúa Trời sửa phạt trong đời sống chúng ta và để đáp ứng lại bằng lòng tin cậy và sẵn sàng đầu phục. Một lời kêu gọi cuối cùng vì sự kiên trì chịu đựng được đưa ra bằng lời lẽ nhấn mạnh sự cần thiết phải thêm sức cho những người yếu đuối hoặc kiệt sức và bị cám dỗ bỏ cuộc chạy đua (12-13).
(He 12:1) Lời kêu gọi hãy lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho chúng ta gợi ý rằng cuộc đời của một Cơ Đốc nhân giống một cuộc chạy đua đường trường hơn là một cuộc chạy đua nước rút ngắn ngủi. Chúng ta không nên hình dung ra nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn trong chương 11 như các khán giả trong một hí trường, đang cổ vũ cho chúng ta trong cuộc chạy thi đức tin. “Chủ điểm của trước giả là những gì chúng ta nhìn thấy nơi họ, chớ không phải là những gì họ nhìn thấy nơi chúng ta” (J. Moffatt, A CrI Tical and Exegetical Commentary on the Epistle to the Hebrew - Clark, 1924, p. 193). Họ là những người chứng kiến (Hi văn martyres), là các chứng nhân về đức tin thật cho chúng ta vì Đức Chúa Trời đã “làm chứng” (Hi văn emartyrçthçsan, He 11:2,4-5,39) cho đức tin của họ trong các trang Thánh Kinh. Họ chứng minh cho tính chất và các khả năng của đức tin cho các tín hữu trong mọi thế hệ. Như những người tham dự một cuộc chạy đua, chúng ta phải nhìn vào gương của họ để được khích lệ. Chúng ta phải quăng hết gánh nặng – hay bất cứ một sự liên kết hoặc hoạt động nào ngăn trở chúng ta - và tội lỗi dễ vấn vương (ở đây trước giả quan tâm đến chính “tội lỗi” chớ không phải “những tội lỗi dai dẳng” đặc biệt). Nếu không, chúng ta có thể bị mất phần thưởng, chính là sự sống đời đời được ban cho cách nhưng không của Đức Chúa Trời dành cho tất cả những ai hoàn tất cuộc chạy đua.
(He 12:2-4) Điều khích lệ lớn nhất sẽ đến khi chúng ta nhìn xem Đức Chúa Giê-xu (3:1) bản NIV mô tả Ngài là “tác giả và là người kiện toàn đức tin chúng ta” nhưng từ “chúng ta” vốn không thấy có trong nguyên văn. Ý muốn nói ở đây là đức tin theo nghĩa tuyệt đối hoặc khái quát (“Ngài là tác giả và người kiện toàn đức tin”). Chúa Giê-xu là tấm gương trọn vẹn về đức tin mà chúng ta phải bày tỏ. Từ ngữ đã được dịch là “tác giả” (cội rễ) (Hi văn archègon như trong 2:10) theo nghĩa đen thì Ngài là một nhà tiền phong hay người dẫn đầu trong cuộc chạy đua đức tin. Tuy nhiên, văn cảnh cũng gợi ý rằng Ngài là “tác giả” hay người khởi đầu đức tin thật vì Ngài mở ra con đường đi đến với Đức Chúa Trời, và giúp chúng ta noi theo các dấu chân Ngài. Lúc Ngài chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời, Ngài đã đạt được mục tiêu tối hậu của đức tin. Ngài là cuối cùng (Đấng hoàn thiện) của đức tin. Với tư cách Đấng đã hoàn thiện đức tin thật trọn vẹn từ đầu chí cuối, Ngài đã làm ứng nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời cho tất cả những ai tin nhận, nhờ chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của Ngài đem đến cho đức tin một nền móng hoàn thiện. Chúa Giê-xu chịu đựng được là vì Ngài nhìn xa hơn sự sỉ nhục và thương khó của thập tự giá để thấy sự vui mừng đã đặt trước mặt mình. Chúng ta cũng phải có cùng một cách nhìn giống như thế để được khích lệ bởi sự kiên trì nhịn nhục của Ngài trước sự đối nghịch của kẻ tội lỗi, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng. Căn cứ vào những kinh nghiệm của họ trong quá khứ, lời khích lệ này chắc phù hợp đặc biệt cho các độc giả đầu tiên (10:32-34), tuy họ vẫn chưa được kêu gọi phải chống trả đến nỗi đổ huyết.
(He 12:5-8) Nhưng tại sao người thuộc về Đức Chúa Trời lại phải chịu đựng sỉ nhục, chối bỏ và bắt bớ bách hại? Phải chăng các từng trải ấy đã đủ khiến họ nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời và ngã lòng? Trước giả đã dự đoán những thắc mắc như thế khi ông trách các độc giả là đã quên mất Ch 3:11-12. Lời khuyên này hướng vào toàn thể các tín hữu thuộc mọi thời đại, với tư cách các con trai hay “con cái Đức Chúa Trời” (He 2:10-13). Nó cho họ biết rằng địa vị làm con với sự thương khó phải đi đôi với nhau, vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu. Cơ Đốc nhân được kêu gọi phải chịu khổ như sự sửa phạt vậy, phải thừa nhận nó là một chứng cứ thực tế cho mối liên hệ đặc biệt của họ với Đức Chúa Trời (Đức Chúa Trời đãi anh em như con). Sửa phạt (Hi văn paideia) lắm khi bao hàm sự quở trách và trừng phạt như văn bản từ sách Châm Ngôn tuyên bố. Nhưng nó cũng gồm có sự dạy dỗ tích cực và phần rèn luyện mà các bậc cha mẹ yêu thương sẽ dành cho con cái trong mọi hoàn cảnh để đưa chúng đến chỗ trưởng thành. Thật vậy, trong kinh nghiệm thông thường của loài người và trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời, những kẻ không bị sửa phạt là con ngoại tình chớ không phải là con thật.
(He 12:9-11) Khi chúng ta được cha về phần xác sửa phạt, thì chúng ta kính sợ họ vì việc ấy. Huống chi những người được cha thuộc linh (Cha về phần hồn) của mình sửa trị, thì càng nên vâng phục để được sự sống là dường nào? Vì sự sửa phạt của Đức Chúa Trời là cần thiết cho chúng ta cứ noi đúng theo con đường dẫn đến sự sống đời đời. Sự sửa phạt của cha mẹ đời này bị giới hạn trong những năm tháng thơ ấu của chúng ta mà thôi (tạm thời) và không phải lúc nào cũng có thể được thực hiện một cách khôn ngoan (theo ý mình). Nhưng bằng tình yêu và sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, Đức Chúa Trời luôn luôn sửa phạt chúng ta suốt cả đời sống, là ích cho chúng ta mà sửa phạt để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là sự sống và cá tính cách đặc biệt của Ngài. Ngài sẽ chia sẻ nó tận cùng và trọn vẹn cho bất cứ người nào mà Ngài đưa vào Nước Ngài. Trong khi đó, Ngài sử dụng nhiều hình thức thử thách để nâng đỡ đức tin và tạo ra bông trái công bình và bình an cho những người đã chịu luyện tập bằng sự sửa phạt của Ngài. Nói khác đi, nhờ ân điển Ngài, chúng ta có thể bắt đầu dự phần sự sống thánh khiết và thuộc tính của Đức Chúa Trời ngay bây giờ.
(He 12:12-13) Lời kêu gọi hãy dở bàn tay yếu đuối của anh em lên, luôn cả đầu gối lỏng lẻo nữa nhắc lại hình ảnh về một cuộc tranh tài điền kinh. Đây là một lời thách thức để vứt bỏ nỗi lo sợ, chán nản thất vọng, và không trở nên mỏi mệt trong cuộc chạy đua đức tin (Es 35:3-4). Câu trích dẫn Ch 4:26 (khá làm đường thẳng cho chân anh em theo) là một lời cảnh cáo phải noi theo con đường mà Đức Chúa Trời đã vạch sẵn, không lệch sang bên phải hoặc bên trái. Đặc biệt quan trọng là phải giúp đỡ những người què thuộc linh để họ giữ đúng đường khỏi bị vấp ngã mà vĩnh viễn bị tàn tật, nhưng trái lại, sẽ được chữa lành. Nói khác đi, Cơ Đốc nhân có trách nhiệm chăm sóc và khích lệ lẫn nhau để khỏi có ai tẻ bước. Hàm ý thực tiễn của tất cả những điều này sẽ được trình bày trong đoạn tiếp theo.
6. NHỮNG LỜI KÊU GỌI MỘT NẾP SỐNG TÔN VINH ĐỨC CHÚA TRỜI (He 12:14-13:25)
Bây giờ, đoạn kết của thư Hê-bơ-rơ đưa ra một lời cảnh cáo hoà lẫn với một lời khích lệ quen thuộc. Tuy nhiên, điểm nhấn mạnh ở đây không phải chỉ là sự cần thiết phải kiên trì nhẫn nhục trong đức tin để nhận được điều Đức Chúa Trời đã hứa. Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho chúng ta “dự phần trong sự thánh khiết Ngài” (10) bắt buộc chúng ta phải “thánh khiết” ngay bây giờ (14). Vậy các hàm ý đạo đức của Cơ Đốc giáo đã được trước giả trình bày và giải thích. Về mặt tiêu cực, tấm gương của Ê-sau đã được dùng để cảnh cáo về nguy cơ bị hụt mất ân điển của Đức Chúa Trời (15-17). Về mặt tích cực, lời bảo đảm tuyệt vời rằng “chúng ta có phần trong một nước chẳng hay rúng động” trở thành nền tảng cho một lời kêu gọi phải biết ơn và có cách thờ phượng đẹp lòng Đức Chúa Trời (18-29). Việc này phải được biểu hiện bằng một nếp sống vâng lời đã được phác hoạ trong He 13:1-17.
Những người đầu tiên được nhận bức thư Hê-bơ-rơ này được khích lệ để nhớ đến những người dẫn dắt mình xưa kia và “học đòi đức tin” của họ (13:7). Sau này, nó còn được nhắc lại bằng lời kêu gọi hãy vâng lời các cấp lãnh đạo hiện hành và “chịu phục” uy quyền của họ (17). Giữa các lời kêu gọi ấy, ngôn ngữ về sinh tế đã được đưa vào (8-16) nhằm nêu rõ một lần nữa tính độc nhất vô nhị của sự thương khó của Chúa Cứu Thế và các hậu quả của nó. Thay vì “để cho mọi thứ đạo lạ dỗ dành mình” họ phải cứ giữ lòng tận trung với Chúa Giê-xu. Trong khi cùng đứng với Ngài “ngoài trại quân” của Do Thái giáo, họ phải sẵn sàng đồng chịu sỉ nhục với Ngài và đi tìm “thành hầu đến”. Tôn giáo của họ không hề bị trói buộc vào bất cứ ngôi đền thờ hay cách thờ phượng nào dưới đất này, nhưng gồm có việc xưng nhận Chúa Cứu Thế trong thế gian này và chia sẻ những gì họ có với tha nhân.
Tiếp sau một lời yêu cầu cầu nguyện là một lời chúc nguyện cho các độc giả, xin Đức Chúa Trời trang bị cho họ mọi sự lành đặng làm thành ý muốn Ngài (18-21). Rồi bằng một lời thách thức hãy nhận lấy “những lời khuyên bảo này” của ông và lời hứa về một cuộc thăm viếng có thể thực hiện, trước giả kết thúc tác phẩm của mình bằng mấy lời chào thăm vắn tắt (22-25).
1. Một lời cảnh cáo cuối cùng về sự sa ngã (He 12:14-17)
Hãy cầu sự bình an với mọi người có nghĩa là trước hết mà cũng là sau hết, duy trì sự hài hoà trong cộng đồng Cơ Đốc (13:1-3,7,16-17). Lời thách thức liên quan với lời thách thức này là hãy nên thánh (nguyên văn “theo đuổi sự thánh khiết”). Theo câu 10 thì rõ ràng là Đức Chúa Trời phải vận hành trong đời sống chúng ta để chúng ta có thể “được dự phần trong sự thánh khiết Ngài” (He 13:20-21), nhưng câu 14 nhấn mạnh rằng chúng ta cũng đóng một vai trò trong đó. Chúng ta phải tìm cầu sự nên thánh thực tế đó của đời sống (Hi văn hagiasmos, “sự thánh hoá”) vốn nảy sinh từ một sự tận hiến để phục vụ Ngài và vâng theo ý chỉ Ngài. Ngoài một sự nên thánh như thế thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời (nghĩa là có được sự sống đời đời). Các hàm ý của câu 14 được rút ra từ mấy câu tiếp theo sau đây.
(He 12:15) Các Cơ Đốc nhân cần cẩn thận về ích lợi thuộc linh của nhau trong Hội Thánh, phải cẩn thận để không ai trật phần ân điển của Đức Chúa Trời (nguyên văn: “hụt mất ân điển của Đức Chúa Trời”). Ân điển của Đức Chúa Trời luôn luôn có sẵn để giúp chúng ta “trong thì giờ có cần dùng” (4:16). Những người không trông cậy hoặc không đáp ứng lại với nó, sẽ không được vào Nước Trời (3:12-14). Thật vậy, họ có thể trở thành một rễ đắng gây rắc rối cho cả hội chúng và làm ô uế nhiều người. Một hình ảnh như thế nhắc nhớ lại Phu 29:18 chỗ Môi-se cảnh cáo về sự cay đắng có thể tràn lan khắp cộng đồng dân Chúa từ một thành viên chống nghịch.
(He 12:16-17) Ê-sau đã được chọn làm một thí dụ đáng buồn về người quay lưng lại đối với ân điển của Đức Chúa Trời, và chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng (Sa 25:29-34). Chẳng có gì để nghi ngờ rằng Ê-sau là khinh lờn (bất kính), nhưng Sáng Thế Ký không gợi ý gì cho rằng Ê-sau là kẻ gian dâm. Từ ngữ này có thể được dùng rất bao quát, không ám chỉ Ê-sau, như một phần lời kêu gọi của trước giả về sự thánh khiết trong thực tế (He 13:4). Nhưng nó cũng có thể được dùng theo nghĩa bóng nhằm mô tả sự bội đạo của Ê-sau là tội thông dâm “trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời (Phu 31:16 Cac 2:17). Sau một sự chối bỏ hoàn toàn ân điển của Đức Chúa Trời như thế, khi Ê-sau muốn hưởng phước hạnh của con trưởng nam, thì lại bị bỏ (Sa 27:30-40). Thư Hê-bơ-rơ đã chẳng nói gì đến sự lường gạt của Gia-cốp mà ngụ ý rằng Ê-sau chẳng đổi được ý (nguyên văn “ông chẳng còn có cơ hội để ăn năn”) vì đã từng bội đạo trước đó.
2. Đáp lại tiếng gọi của Đức Chúa Trời (He 12:18-29)
Về đặc điểm, trước giả chuyển từ sự cảnh cáo sang sự khích lệ, nhắc nhở các độc giả về những đặc quyền đã thuộc về họ nhờ ân điển của Đức Chúa Trời. Thế nhưng, những đặc quyền như thế đòi hỏi một sự đáp ứng liên tục của đức tin và sự vâng lời. Lúc dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại tại núi Si-na-i để nghe Lời Đức Chúa Trời, đó thật là cơ hội đáng sợ (18-21 tham khảo Xuất Ê-díp-tô Ký 19), khiến dân sự phải nài xin (Ngài) đừng nói với mình nữa. Mặt khác, các Cơ Đốc nhân đã lấy đức tin tới gần núi Si-ôn, gần thành Giê-ru-sa-lem trên trời, nơi Đức Chúa Trời đang ngự giữa một nơi nhóm lại vui vẻ của muôn vàn thiên sứ và Hội Thánh tức là các thánh đồ trọn vẹn thuộc mọi thế hệ (22-24). Điểm nhấn mạnh ở đây là sự tiếp nhận vì cớ Đức Chúa Giê-xu, là Đấng Trung Bảo của giao ước mới và sự chết chuộc tội của Ngài. Cho nên chúng ta chẳng có lý do gì để từ chối Đấng phán cùng mình hay cự Đấng truyền lời báo cáo từ trên trời (25-27). Tính chắc chắn về sự dự phần nước không hay rúng động của Đức Chúa Trời phải giục giã, thôi thúc chúng ta sống một cuộc đời tri ân và thờ phượng đẹp lòng Ngài (28-29).
He 12:18-21 Dân Y-sơ-ra-ên từng đến gần Đức Chúa Trời tại núi Si-na-i để nghe các điều kiện trong giao ước của Ngài và khám phá ý nghĩa của việc phục vụ Ngài với tư cách một dân thánh (Xu 19:5-6). Thư Hê-bơ-rơ nêu rõ những nỗi kinh hoàng thuộc thể trong biến cố ấy. Nhưng hiện tượng trọng tâm có ý nghĩa nhất là một tiếng nói kinh khiếp (19:16-24). Cuộc gặp gỡ đó với Đức Chúa Trời khủng khiếp đến nỗi đã khiến những người nghe tiếng phán của Ngài đều nài xin (Ngài) đừng nói với mình nữa (20:18-19). Ngay đến Môi-se là người đứng trung gian cũng run rẩy vì sợ sệt (Phu 9:19).
(He 12:22-24) Núi Si-ôn, có thể hiểu là mục tiêu cuối cùng của dân sự Đức Chúa Trời lúc họ rời Ai Cập, là điểm mà các Cơ Đốc nhân đã tới rồi. Tuy nhiên ý muốn nói ở đây là thành của Đức Chúa Trời hằng sống tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, chớ không phải là đích đến trên thế gian này (Ga 4:26 Kh 21:2). Những người nam người nữ có đức tin vào thời Cựu Ước đều trông chờ thành phố này (He 11:10,13-16), nhưng những người đã tới gần Đức Chúa Trời qua trung gian Chúa Cứu Thế Giê-xu (cùng một động từ đã được dùng ở 4:16 7:25 10:22 11:6), hiện đang dự phần vào cảnh trạng trên thiên đàng này. Đây là một cách sống động để nói rằng chúng ta đã có được quyền thừa kế cơ nghiệp đời đời được hứa ban nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu và công lao của Ngài. Trong thành phố trên trời đó, hiện có muôn vàn thiên sứ nhóm lại kết hợp với lễ mừng Hội Thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời. Đây là một khải tượng về đoàn dân cuối cùng, trọn vẹn của Đức Chúa Trời, tập họp chung quanh Chúa Cứu Thế trong các nơi trên trời (Eph 2:6-7 Kh 7:1-17). Hiện nay chúng ta có thể được làm thành viên của Hội Thánh ấy nhờ có đức tin. Nếu tên chúng ta đã được ghi trong quyển sách của thành phố trên trời rồi, thì sẽ có ngày chúng ta được hưởng đầy đủ các quyền lợi công dân thiên quốc. Đức Chúa Trời đang ở đó để làm quan án của mọi người ám chỉ rằng việc dò xét tỉ mỉ hay phán xét phải xảy ra trước nhất (He 9:27). Tuy nhiên, Hội Thánh trên thiên đàng này gồm có các linh hồn người nghĩa được vẹn lành, cho thấy họ là những người đã được khiến nên trọn vẹn đời đời nhờ sinh tế là Chúa Cứu Thế Giê-xu (10:14). Với cương vị Đấng Trung Bảo của giao ước mới, huyết rưới ra của Ngài hoàn toàn tẩy sạch mọi ô uế của tội lỗi (9:13-15 10:22). Huyết của A-bên đã kêu gào báo thù (11:4), nhưng huyết Chúa Giê-xu nói về một giao ước tốt hơn, bảo đảm cho chúng ta được tha tội và tiếp nhận. Mọi người đều phải trực diện với sự phán xét của Đức Chúa Trời, nhưng người nào tin cậy vào quyền năng chuộc tội ở sự chết của Chúa Giê-xu thì có thể trông mong được trắng án và sống đời đời trước sự hiện diện của Đức Chúa trời.
He 12:25-27 Lời cảnh cáo ở đây có vẻ đột ngột sau lời bảo đảm của mấy câu 22-24. Nhưng luận điểm của trước giả ở đây là Đức Chúa Trời, Đấng đã phán tại núi Si-na-i (truyền lời báo cáo ở dưới đất) vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta từ thành phố Giê-ru-sa-lem trên trời (truyền lời báo cáo từ trên trời). Đừng phận biệt giữa Đức Chúa Trời của Cựu Ước với Đức Chúa Trời của Tân Ước! Vì Đức Chúa Trời đã nhân từ phán dạy chúng ta về sự tha tội và tiếp nhận nhờ huyết Con Ngài, chúng ta không nên từ chối Đấng đang phán. Nếu dân Y-sơ-ra-ên đã không thoát được sự kết án của Đức Chúa Trời khi họ xây bỏ Ngài, thì huống chi chúng ta (He 2:1-4)? Lúc Đức Chúa Trời cất tiếng từ núi Si-na-i thì cả hòn núi đã rúng động dữ dội (Xu 19:18). Ag 2:6 hứa rằng đến ngày phán xét sau cùng và là ngày tận thế, Đức Chúa Trời sẽ chẳng những rúng động cả đất mà thôi, nhưng cũng rúng động trời nữa (26). Tất cả những gì còn lại sẽ là những vật không hề rúng động (27) tức là Nước mà Chúa Cứu Thế ban cho những người cứ tiếp tục tin cậy Ngài (28).
(He 12:28-29) Cách đáp ứng phải lẽ với việc Đức Chúa Trời nhân từ ban cho nước không hay rúng động là sự tạ ơn. Lòng tri ân ấy là cơ sở và là động cơ thúc đẩy việc thờ phượng thật, đẹp lòng Đức Chúa Trời. Động từ Hi văn ở đây (latreuein) cũng có thể dịch ra là “phục vụ” như trong He 9:14. Sự thờ phượng của Cơ Đốc nhân không thể bị giới hạn chỉ trong việc cầu nguyện và ca ngợi trong một bối cảnh toàn thể hội chúng mà thôi. Như chương 13 minh hoạ, chúng ta phải thờ phượng hoặc hầu việc Đức Chúa Trời bằng sự trung tín và vâng lời trong mọi phương diện của đời sống (đặc biệt chú ý He 13:15-16 Ro 12:1). Tuy nhiên, trước giả cũng nhấn mạnh rằng sự thờ phượng đẹp lòng Đức Chúa Trời có đặc điểm là thái độ kính sợ, rồi hậu thuẫn cho lời thách thức của mình bằng một phần mô tả Đức Chúa Trời là một đám lửa hay thiêu đốt. Việc này ám chỉ Phu 4:24 (Phu 9:3 Es 33:14) chỗ dân Y-sơ-ra-en bị cảnh cáo đừng chìm đắm trong sự thờ thần tượng, mà phải cứ tận trung với Đức Chúa Trời và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi, kẻo họ chọc giận Ngài chăng. Sự tin chắc vào ân điển của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ làm chúng ta mù quáng để không thấy chân lý rằng sự phán xét khủng khiếp của Ngài đang chờ đợi kẻ bội đạo.
3. Sự thờ phượng với sinh hoạt hằng ngày (He 13:1-17)
Các độc giả được thôi thúc phải kiên trì bộc lộ trong thực tế loại tình yêu thương và đức tin nhịn nhục đã từng được khen ngợi trước đây (He 6:10-12 10:32-26). Tiếp theo đoạn 12:28-29 khúc sách gợi ý rằng tầm quan trọng trong việc thờ phượng của chúng ta là phục vụ tha nhân sao cho đẹp lòng Đức Chúa Trời (16). Tuy nhiên điều cũng đúng là chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách dâng lên cho Ngài lời ca tụng thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu trong mọi lãnh vực của đời sống chúng ta (15). Khi trước giả lại quay trở lại để chứng minh Cơ Đốc giáo làm ứng nghiệm và thay thế cách thờ phượng có liên hệ với đền tạm như thế nào (10-14), thì điều trở nên hết sức rõ ràng là các đường lối suy nghĩ truyền thống về “tôn giáo” cần phải được Phúc Âm làm thay đổi tận gốc rễ.
(He 13:1-8) Chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách yêu thương các tín hữu khác như anh em, tiếp đãi khách lạ (một chức vụ lắm khi được ban thưởng thật bất ngờ như trong Sa 18:1-19:38), nhớ đến những kẻ mắc vòng xiềng xích và bị ngược đãi như thể cùng chia sẻ các từng trải của họ, kính trọng sự hôn nhân và tránh thói dâm ô. Đức Chúa Trời cũng được tôn vinh bởi những người không tham tiền, và hài lòng với điều mình có. Bí quyết của một sự hài lòng như thế là biết tin cậy Đức Chúa Trời về các nhu cầu của mình (như các trích dẫn từ Phu 31:6 và Thi 118:6-7 cho thấy). Các độc giả cũng được khích lệ làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách nhớ lại nếp sống của những người dẫn dắt họ đến với Phúc Âm lần đầu tiên và noi gương đức tin của họ. Những người dẫn dắt đều đến rồi đi, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng mà họ tin cậy và noi theo thì hôm qua và ngày nay vẫn y nguyên. Việc Ngài sẽ cứ vẫn không hề thay đổi như thế cho đến đời đời (He 1:8-12) là nền tảng tối hậu cho đức tin và sự vâng lời của Cơ Đốc nhân.
(He 13:9-10) Một âm hiệu tiêu cực đã được đánh lên với lời cảnh cáo chớ để cho mọi thứ đạo lạ dỗ dành mình. Trước giả chỉ đề cập đặc biệt các thứ đồ ăn là sự chẳng ích chi. Một số các thức ăn, và có thể là thức ăn nào đó thuộc loại nghi lễ, được giới thiệu với các độc giả như hữu ích cho việc bồi dưỡng đời sống thuộc linh của họ. Thế nhưng, lòng chúng ta được vững bền là nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, chớ không phải là nhờ các quy tắc về đồ ăn (Ro 14:17 ICo 8:8 Col 2:16,20-23). Luật lệ về các thức ăn vốn thuộc về “các luật lệ bề ngoài”, nay đã bị công lao của Chúa Cứu Thế vượt qua và khiến trở thành lỗi thời (He 9:10). Trong việc nhấn mạnh rằng chúng ta có một cái bàn thờ, trước giả quay trở lại với mẫu mực lý luận đã chiếm thế áp đảo trong các chương trung tâm của sách này: chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm, các của lễ và nơi thánh trong Cựu Ước đã ứng nghiệm nơi con người và công lao của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bàn thờ là một danh từ chỉ việc thờ lạy khác được dùng để nói tắt và theo nghĩa bóng chỉ sinh tế của Chúa Cứu Thế. Các thầy tế lễ Do Thái giáo đã hầu việc trong đền tạm và được phép hưởng các của lễ đó (Le 7:5-6 Dan 18:9-10) đều không có phép lấy gì từ bàn thờ (của giao ước mới) để ăn cả. Cùng với bất cứ người nào khác gắn bó với cách thờ phượng ấy, họ chỉ theo đuổi “cái bóng” chớ không phải là thực tại (He 8:5 10:1). Trước giả thư Hê-bơ-rơ không suy diễn ở đây rằng các Cơ Đốc nhân được quyền “ăn” từ “bàn thờ” của mình hay được hưởng lợi gì từ sinh tế chỉ một lần là đủ cả này dù chỉ là nói theo nghĩa bóng. Điều cần lưu ý là văn cảnh này không hề đá động gì đến Tiệc Thánh, cả ở bình diện nhằm sửa lại các quan điểm sai lầm về bữa ăn cộng đồng.
(He 13:11-14) Một phần suy nghĩ khác nữa về nghi lễ vào Ngày Đại lễ chuộc tội đưa trước giả tới một nhận xét quan trọng: thân thể của các con sinh đều bị thiêu bên ngoài trại quân (Le 16:27). Rời khỏi khu vực mà dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại trong sa mạc, dù là vì nhiệm vụ thiêng liêng ấy, thì khiến một người bị ô uế và cần được một nghi lễ tẩy rửa trước khi có thể trở vào trong trại quân (16:28). Cho nên khi Chúa Giê-xu đã chịu khổ tại ngoài cửa thành Giê-ru-sa-lem, thì theo các truyền thống ấy, của lễ của Ngài là ô uế và bất khiết. Thế nhưng, nghịch lý thay, chính sinh tế của Ngài lại khiến người ta được thánh khiết dưới giao ước mới (12 He 10:10). Sự chết của Chúa Giê-xu đánh dấu sự kết thúc của toàn bộ cách suy nghĩ về tôn giáo và việc thờ phượng. Các Cơ Đốc nhân đã được tẩy sạch và được biệt riêng cho Đức Chúa Trời bằng sinh tế của Chúa Cứu Thế không cần phải ẩn náu trong các nơi thánh và các hoạt động theo nghi lễ nữa, mà phải ra ngoài trại quân cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục (13, 12:2-4). Với các độc giả đầu tiên, điều này có nghĩa là sự cắt đứt dứt khoát với Do Thái giáo và đồng nhất hoá với Đấng đã bị xem như một kẻ bị nguyền rủa do cách chết của Ngài (Ga 3:13). Nơi để thờ phượng và phục vụ của Cơ Đốc nhân là chỗ bất khiết ô uế của thế gian này là nơi có sự vô tín và bắt bớ bách hại! Thế nhưng chúng ta sẽ chẳng tìm được nơi nào trên thế gian này những hi vọng được thực hiện, vì chúng ta đang đi tìm thành hầu đến (14 tham khảo các chú thích về He 4:3-5 12:22-24).
(He 12:15-17) Khúc sách này dẫn đến chỗ kết thúc bằng hai lời giải thích khác nữa về ý nghĩa của sự thờ phượng dưới giao ước mới. Cậy Đức Chúa Giê-xu, các Cơ Đốc nhân được liên tục dâng lên cho Đức Chúa Trời như của tế lễ bằng lời ngợi khen. Bằng ngôn ngữ vay mượn của Os 14:2 (LXX) của lễ này được mô tả là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài. Nói khác đi, nó là một của lễ gồm có lời ca ngợi công khai xưng nhận danh hoặc tính cách của Đức Chúa Trời, việc này có thể xảy ra khi các Cơ Đốc nhân cùng họp lại với nhau để khích lệ lẫn nhau (He 10:24-25), hay khi họ xưng nhận danh Chúa Cứu Thế trước mặt những người không tin trong thế gian này. Việc lành và lòng bố thí cũng là cách thờ phượng phải lẽ, vì sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời (Gia 1:26-27). Sự tế lễ dường ấy không thể bị xem là cách cầu cạnh để được đặc ân của Đức Chúa Trời, vì sự thờ phượng của Cơ Đốc nhân có nghĩa là sự bộc lộ lòng tri ân đối với tình yêu mà Ngài đã bày tỏ cho chúng ta trước (He 12:28). Mặc dù trước giả rất quan tâm đến những cách bộc lộ sự thông công thực tiễn ấy giữa các tín hữu với nhau (10:32-34 13:1-3) cũng còn có nhiều cơ hội để phục vụ cho nhu cầu của những người nằm ngoài mối thông công Cơ Đốc. Thay vì quay trở lại với cách suy nghĩ theo Do Thái giáo hay bị ảnh hưởng của những thứ đạo lạ từ các nguồn khác, các độc giả được khuyến giục phải vâng lời những người đang hướng dẫn họ và chịu phục các người ấy (17). Họ phải làm như thế để thừa nhận trách nhiệm đặc biệt của các lãnh đạo Cơ Đốc và sự cần thiết phải khích lệ họ trong vai trò mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ.
4. Những bức thông điệp cá nhân và lời chúc phước cuối cùng (He 13:18-25)
Đây là lần đầu tiên trước giả tự nói về mình bằng ngôi thứ nhất số ít, chỉ vào tấm gương là chính mình với tư cách một lãnh đạo và yêu cầu các độc giả cầu nguyện, hầu cho ông có thể sớm đến thăm họ một lần nữa (18-19). Âm hiệu về việc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời lại vang lên một lần nữa, trong lời chúc phước kết thúc (20-21). Tiêu điểm trước nhất là vào những gì mà Đức Chúa Trời bình an đã làm khi đem Đấng Chăn Chiên Lớn là Đức Chúa Giê-xu chúng ta ra khỏi từ trong kẻ chết (IPhi 2:25 5:4). Chúa Giê-xu đã được tôn cao là Đấng vẫn tồn tại đời đời để làm người chăn dắt và hướng dẫn bầy chiên của Đức Chúa Trời (c.7-8). Sự phục sinh của Chúa Giê-xu xác nhận rằng huyết Ngài rất linh nghiệm để thiết lập giao ước đời đời nhờ đó chúng ta kinh nghiệm sự bình an của Đức Chúa Trời và dự phần Nước Ngài. Cho nên, chúng ta có thể vững lòng cầu xin Đức Chúa Trời, trang bị cho chúng ta mọi sự lành đặng làm thành ý muốn Ngài và làm ra sự đẹp ý Ngài trong Đức Chúa Giêxu Christ. Sự thờ phượng được Đức Chúa Trời vui nhận trong mọi chiều kích của nó chỉ có thể được dâng lên thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhờ sự trợ giúp của Đức Chúa Trời.
Trước đây, trước giả từng thừa nhận rằng ông có nhiều điều muốn nói nhưng “khó cắt nghĩa” (He 5:11) nên bây giờ ông khuyên các độc giả vui lòng với những gì ông đã viết (22). Do các chủ đề của ông quá rộng lớn, ông chỉ bày tỏ chính mình thật vắn tắt mà thôi, nên tác phẩm này của ông chủ yếu là một lời khuyên bảo để khích lệ họ. Tin tức về việc Ti-mô-thê đã được thả ra gợi ý rằng rất có thể họ sẽ sớm cùng nhau đến thăm các độc giả (23). Câu này cho thấy có lẽ trước giả vốn có một mối liên hệ nào đó với Phao-lô và nhóm truyền giáo của ông, tuy chẳng hề có cơ sở nào cho truyền thống đồng nhất hoá ông với vị sứ đồ. Trước giả gởi lời chào thăm cuối cùng của mình chung với các thánh đồ ở Y-ta-li, ngụ ý rằng ông đang ở trong nhóm các Cơ Đốc nhân người Y-ta-li, có lẽ tại một nước ngoài nào đó, muốn khích lệ các tín hữu bạn ở quê nhà. Nguyền xin ân điển ở với anh em là một hình thức ước lệ cho lời chào từ biệt trong các bức thư của Tân Ước (Ro 16:20 IICo 13:13) nhưng thích hợp đặc biệt cho thư Hê-bơ-rơ với điểm nhấn mạnh liên tục vào ân điển mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.